Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
QUÁI KIỆT LÀNG CỜ 22
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Ván Cờ Tướng Rung Động Lòng Người
Liễu Đại Hoa – Vua Cờ Mù – Tiểu Sử Và Giai Thoại
Chơi cờ tướng để trở thành cao thủ đã khó, chơi cờ mù,
cờ tưởng còn khó hơn gấp vạn bởi nó không chỉ đòi hỏi người chơi phải
có công lực chơi cờ tốt mà còn đòi hỏi phải có một trí nhớ tuyệt vời.
Không nhiều người có được điều đó như Liễu Đại Hoa Người được mệnh danh
là vua cờ mù, người nắm giữ nhiều kỷ lục thế giới và được phong cấp quốc
tế đặc cấp đại sư. Trong bài viết hôm nay của Cờ Thủ chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu về cuộc đời, tiểu sử và những câu chuyện xoay quanh kỳ thủ nổi tiếng này nhé!
Tiểu sử cuộc đời Liễu Đại Hoa – Kỳ Vương Cờ Tướng Trung Quốc
Sinh ra tại huyện Hoàng Bì, Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc năm vào năm
1950, sớm bộc lộ tư chất thiên tài cờ tướng khi được người anh trai của
mình chỉ dạy. Chỉ 9 tuổi Liễu Đại Hoa đã nổi tiếng khi giành chức quán
quân ở nhiều giải cờ tướng trẻ, năm 13 (năm 1963) tuổi đạt quán quân
trong giải đấu dành cho lứa tuổi thiếu niên toàn tỉnh Hồ Bắc.Năm 1974
khi Liễu Đại Hoa 24 tuổi ông giành quyền tham gia thi đấu tại giải vô
địch toàn quốc khi đoạt chức quán quân tại giải vô địch Hồ Bắc. tuy
nhiên phải đến năm 1980 ông mới lần đầu tiên đoạt chức vô địch quốc gia
sau khi đả bại một cao thủ nổi danh khác là Hồ Vinh Hoa (người trước đó
đã đả bại ông ở trận chung kết năm 1979), 1 năm sau đó 1981 ông tiếp tục
lên ngôi vô địch. Trong suốt những năm thập niên 1980 cái tên Liễu Đại
Hoa thường xuyên nằm trong top đầu của làng cờ Trung Quốc.
Liễu Đại Hoa Vua Cờ Mù Trung Quộc Đến Việt Nam
Chiến thắng của Liễu Đại Hoa tại chung kết toàn quốc năm 1980 là một
chiến thắng vang dội khiến làng cờ Trung Quốc sửng sốt bởi đối thủ của
ông khi đó Hồ Vinh Hoa được mệnh danh là “Phượng Hoàng Tái Sinh” với
thành tích vô tiền khoáng hậu “Thập Liên Bá”, cách chơi tàn cuộc và
trung cuộc của Hồ Vinh Hoa còn trở thành hình mẫu cho đến tận ngày nay.
Chiến thắng này của Liễu Đại Hoa cũng chấm dứt thời kỳ thống trị làng cờ
Trung Quốc của các kỳ thủ đến từ miền nam. Chính Hồ Vinh Hoa khi nhận
xét về ông cũng đã nói “Liễu Đại Hoa của tỉnh Hồ Bắc có tài làm quán
quân đấy” – lời nói của Hồ Vinh Hoa càng khẳng định thêm tư chất và bản
lĩnh cũng như công lực chơi cờ của Liễu Đại Hoa
Ở các giải đấu danh giá khác như Ngũ Dương Bôi giải đấu dành cho các
cao thủ trên toàn Trung Hoa, Liễu Đại Hoa cũng giành được nhiều thành
công khi lên ngôi quán quân vào các năm 1981 và 1983. Với các thành tích
đã đạt được ông được phong danh hiệu cao quý nhất trong làng cờ tướng
là Đặc Cấp Quốc Tế Đại Sư vào năm 1988 khi mới chỉ 38 tuổi.Sở hữu những
đòn tấn công biến hóa, sắc sảo, mạnh bạo và hung hãn cũng là lý do mà
giới cờ thủ Hồ Bắc khi đó còn gọi ông với một danh xưng là “Tây Sở Bá
Vương”. Một danh xưng khác thường gặp hơn của Liễu Đại Hoa là “Vua Cờ
Mù”. Cờ mù hay cờ tưởng thể loại cờ tướng mà người chơi khi chơi ko sử
dụng bàn cờ mà sử dụng trí nhớ và trí tưởng tượng của mình để đánh cờ
bằng cách đọc ra nước đi của mình. Chơi cờ mù và cờ tưởng đòi hỏi người
chơi phải có trí nhớ cực tốt bên cạnh công phu chơi cờ thông thường.
Liễu Đại Hoa bắt đầu tập luyện chơi cờ mù lần đầu vào năm ông 11
tuổi, đối thủ và cũng là thầy của ông không ai khác là anh trai của ông.
Để rồi từ đó 10 năm liên tiếp ông rèn luyện chơi cờ mù và trở nên nổi
tiếng với thể loại này. Tuy sở hữu khả năng chơi cờ mù tuyệt đỉnh cùng
trí nhớ siêu phàm nhưng Liễu Đại Hoa lại cho rằng trí nhớ không phải là
yếu tố số 1 để trở thành một cao thủ, ông từng nói điều kiện tiên quyết
để trở thành một cao thủ đó là có kinh nghiệm chơi cờ lâu năm, có dụng
đam mê và trí tưởng tượng phong phú và thường xuyên tập luyện giao đấu.
Cờ tướng được xem là một trong những môn thể thao trí tuệ, là kiệt
tác của người xưa khi thử thách trí thông minh, khả năng tư duy cùng trí
nhớ của con người và là nơi mà sức sáng tạo có thể trở nên vô hạn và
Liễu Đại Hoa chính là một trong những người sở hữu tất cả những điều đó.
Giai thoại và những kỷ lục về Liễu Đại Hoa
Đả Bại Hồ Vinh Hoa
Một trong những câu truyện nổi tiếng nhất gắn liền với tên tuổi Liễu
Đại Hoa chính là chiến thắng vang dội của ông trước “Thập Liên Bá” hay
“Phương Hoàng Tái Sinh” Hồ Vinh Hoa tại giải đấu vô địch toàn Trung Quốc
Năm 1980.
Khi bước chân vào làng cờ chuyên nghiệp, Liễu Đại Hoa dần khẳng định
được vị thế và tên tuổi của mình tại Hồ Bắc nói chung và Trung Quốc nói
riêng nhờ sở hữu lối chơi tấn công sắc sảo đầy hung hãn cùng công phu
vây hãm sát tuyệt. Tuy nhiên năm 1979 khi tham dự giải vô địch toàn quốc
được tổ chức tại Bắc Kinh tuy đã đến được trận chung kết nhưng lại bị
đả bại bởi nhà đương kim vô địch khi đó là Liễu Đại Hoa khiên ông phải
cảm thán mà than rằng chẳng lẽ nghiệp cờ của ông chỉ đến thế. Cũng chính
vì trận thua cay đắng và đầy tiếc nuối đó mà ông đã tự giam mình luyện
công để rồi một năm.
Đặc Cấp Quốc Tế Đại Sư Liễu Đại Hoa (Bên Trái)
Năm 1980 giải vô địch cá nhân toàn quốc được tổ chức tại núi Lăng Vân
thuộc huyện Lạc Sơn Tỉnh Tứ Xuyên. Núi Lăng Vân là địa điểm nổi tiếng
khi thi sĩ Tô Đông Pha đã từng đến uống rượu làm thơ và ca ngợi cảnh đẹp
nơi đây. Lăng Vân cũng là ngọn núi sở hữu Lăng Vân Cổ Tự, cảnh sắc nơi
đây từ lâu đã nổi tiếng và thơ mộng hữu tình nay lại là nơi những kỳ thủ
nổi tiếng toàn quốc về tranh tài thi đấu quả không thể hợp hơn được
nữa.Cũng chính tại nơi đây tên tuổi của Liễu Đại Hoa và chiến thắng vang
dội của ông khiến toàn thể làng cờ Trung Quốc khi đó phải rung chuyển.
Chiến thắng của ông trước Hồ Vinh Hoa khi ấy đã giúp ông lần đầu tiên
đoạt ngôi quán quân cá nhân toàn quốc trở thành Kỳ Vương thứ 4 lên ngôi
tại Trung Quốc, để rồi từ đó tên tuổi của ông ngày càng nổi tiếng trong
làng cờ tướng Trung Quốc.
Giật kỷ lục thế giới
Cờ mù hay cờ tưởng được cho là thách thức thực sự với mọi kỳ thủ khi
nó đòi hỏi trí tưởng tượng cùng trí nhớ tuyệt vời để có thể chơi. Đây
cũng là thể loại cờ khiến tên tuổi của Liễu Đại hoa được khẳng định một
lần nữa với danh xưng “Vua Cờ Mù” hay “Đông Phương Điện Não” nhờ trí nhớ
tuyệt vời cùng tư duy sáng tạo vô hạn.Danh xưng “Đông phương điện não” –
Máy tính của phương đông được giới cờ thủ đặt cho ông vào năm 1988 khi
ông đã phá kỷ lục thế giới trong thể loại cờ tưởng do Phượng hoàng tái
sinh – Hồ Vinh Hoa nắm giữ trước đó. Để đạt được kỷ lục này ông đã cùng
lúc chơi cờ tưởng với cùng lúc cờ tưởng với 15 cao thủ và giành kết quả
chung cuộc là 11 trận thắng, 3 trận hòa và chỉ để thua duy nhất 1 trận
(kỷ lục này trước đó là chơi cùng lúc với 12 người).
Liễu Đại Hoa Vua Cờ Mù Trung Quộc Đến Việt Nam
Năm 1995 Liễu Đại Hoa lại một lần nữa làm thế giới sửng sốt kinh ngạc
khi phá kỷ lục của chính mình khi thi đấu với cùng lúc 19 cao thủ và
giành kết quả 16 trận thắng 1 trận hòa và để thua 2 trận. Kỷ lục vô tiền
khoáng hậu này của ông còn tồn tại cho đến tận bây giờ và vẫn chưa bị
phá vỡ.
Trên đây chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về tiểu sử cuộc đời cùng
những câu chuyện nổi tiếng xung quanh kỳ vương Trung Quốc Liễu Đại Hoa
một người nổi danh làng cờ với trí nhớ siêu phàm và khả năng chơi cờ
tuyệt diệu. Hãy theo dõi Cờ Thủ để đón đọc những bài viết hấp dẫn và
đừng quên tham gia vào những trận đấu kỳ đài căng thẳng và hấp dẫn cùng
cộng đồng cờ thủ đông đảo từ khắp nơi trên thế giới tại Cờ Thủ – Game
chơi cờ hay nhất hiện nay nhé!
Sự khác biệt giữa cờ Tướng Việt Nam và Tượng kỳ Trung Hoa
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lưu Đức Hải nguyên là thành
viên của Tiểu ban Huấn luyện của Liên đoàn từ năm 1980. Ông cũng là đấu
thủ lưỡng kỳ (cờ Tướng và cờ Vua), vô địch cờ Tướng Hà Nội 1975, vô địch
cờ Vua Hà Nội 1980, 1981, vô địch cờ Vua quốc gia đầu tiên 1980.
Nhân dịp Xuân Giáp Ngọ, PGS.TS Lưu Đức Hải đã gửi
đến bạn đọc Vietnamchess như một món quà đầu Xuân, một bài viết về sự
khác nhau giữa cờ Tướng Việt Nam và cờ Tượng Trung Hoa.
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CỜ TƯỚNG VIỆT NAM VÀ TƯỢNG KỲ TRUNG HOA
Trong số các quốc gia có môn cờ Tướng phát triển thì Việt Nam và
Trung Hoa là 2 quốc gia nằm trong số đó, với thời gian khoảng trên 1.300
năm, bởi cờ Tướng hình thành ở 2 nước từ thế kỷ 7-8.
Mặc dù có tới trên 1000 năm Bắc thuộc (từ năm 179TCN-939), cờ Tướng ở
Việt Nam và Trung Hoa đã hình thành và phát triển ở thế kỷ 7-8 (trong
thời kỳ Bắc thuộc bởi phong kiến phương Bắc xâm chiếm Việt Nam) song vẫn
có những sự khác biệt giữa cờ Tướng ở Việt Nam và Tượng kỳ ở Trung Hoa,
nhất là ở thời kỳ độc lập tự chủ hoàn toàn của Việt Nam, kể từ khi Ngô
Quyền xưng vương vào năm 939.
1. Sự khác nhau về tên gọi của môn cờ
Từ cổ xưa cho đến tận bây giờ người Việt Nam vẫn dùng thuật ngữ "Cờ
Tướng" để chỉ môn cờ mà ở đó có 32 quân (mỗi bên gồm 16 quân viết bằng
chữ Hán với 1 Tướng, 2 Sĩ, 2 Tượng, 2 Xe, 2 Pháo, 2 Mã và 5 Tốt), được
bày trên một bàn cờ với 10 đường kẻ ngang và 9 đường kẻ dọc, có cửu cung
ở giữa và có dòng sông (được gọi là hà) ngăn đôi ở giữa bàn cờ. Người
Việt Nam gọi tên môn cờ này theo tên gọi của quân Tướng là quân quan
trọng nhất trên bàn cờ, đó là "Cờ Tướng" (General Chess).
Cũng môn
cờ đó ở Trung Hoa từ xa xưa người ta gọi môn cờ này là "Tượng kỳ" theo
nghĩa chữ Hán là cờ hình tượng (không phải vì có quân Tượng trên bàn
cờ). Cách gọi này ở Trung Hoa có từ thời trò chơi Chaturanga mới du nhập
vào Trung Hoa, khi đó các quân cờ có hình tượng và có độ cao như cờ Vua
ngày nay (Hình 1). Sau này khi chuyển đổi thành quân cờ tròn và dẹt, có
chữ Hán viết ở trên, người Trung Hoa vẫn giữ nguyên tên gọi là "Tượng
kỳ" (Xiangqi).
Đó là sự khác nhau thứ nhất về tên gọi của môn cờ.
Hình 1: Bộ quân Tượng kỳ thời kỳ quân cờ có hình tượng (Ảnh: Tác giả, 2013).
2. Sự khác nhau về tên gọi của các quân cờ
Từ xa xưa ở Việt Nam có 2 loại trò chơi mà quân của chúng gần giống
hệt nhau, đó là "Cờ Tướng" và trò chơi bài lá có tên gọi là "Tam cúc".
Trong bộ bài Tam cúc có 32 quân, gồm 16 quân đỏ và 16 quân đen. Mỗi bên
có 1 Tướng, 2 Sĩ, 2 Tượng, 2 Xe, 2 Pháo, 2 Mã và 5 Tốt. Chữ Hán dùng để
thể hiện 7 loại quân này giống hệt nhau ở cả 2 bên và chỉ khác nhau về
mầu sắc (đỏ và đen)
Hình 2: Bộ bài "Tam cúc" ở Việt Nam có 7 loại quân được viết chữ Hán giống hệt nhau cho cả 2 bên (Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt) đỏ và đen (Ảnh: Tác giả, 2013).
Từ cổ chí kim 7 loại quân cờ trên bàn cờ Tướng Việt Nam vẫn thống
nhất với tên của 7 loại lá bài trong bộ Tam cúc Việt Nam là: Tướng, Sĩ,
Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt và cách viết chữ Hán cổ (Tiếng Việt cổ của
người Việt Nam bao gồm 3 loại chữ: Hán, Nôm và chữ quốc ngữ) trên 7 loại
quân cờ Tướng và trên bộ bài lá Tam cúc là thống nhất hoàn toàn cho cả 2
bên và chỉ phân biệt bằng màu (đỏ và đen, trắng và đen, đỏ và xanh...):
Đó là bộ quân cờ Tướng của Việt Nam (Hình 3 và Hình 4).
Hình 3: 7 loại quân cờ Tướng trong bộ cờ Tướng của Việt Nam là Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt có chữ Hán viết giống hệt nhau cho cả 2 bên và chỉ khác nhau bằng màu sắc (Ảnh: Tác giả, 2013).
Hình 4: Bàn cờ treo trong Giải cờ Tướng chợ phiên Hà Nội 1953, với chữ Hán viết trên 7 loại quân cờ ở hai bên giống hệt nhau, chỉ khác nhau về màu sắc (Ảnh: Tác giả sưu tầm từ Trịnh Đình Tạo).
Trong bàn cờ cổ Chaturanga và trong bàn cờ Vua hiện đại, 6 loại quân
(Vua, Hoàng Hậu, Xe, Tượng, Mã, Tốt) của 2 bên là giống hệt nhau và chỉ
khác nhau về màu sắc (trắng và đen). Đó là cách làm khoa học và công
bằng nhất.
Về tên gọi của quân cờ trong cách ghi biên bản ván cờ Tướng bằng
tiếng Việt hiện nay và trước đây, ghi ký hiệu viết tắt thống nhất cho cả
2 bên, được quy ước như sau:
Tướng = Tg
Sĩ = S
Xe = X
Mã = M
Tượng = T
Pháo = P
Tốt = B
Trong tiếng Việt có 3 quân cờ mà chữ viết tắt bị trùng nhau, đó là
Tướng, Tượng và Tốt. Vì thế Luật cờ Tướng của Việt Nam đã quy định Tướng
viết tắt là Tg.
Có một thời (ở nửa sau của thế kỷ 20) chúng ta đã
quy định Tượng viết tắt là V (tức Voi) và Tốt viết tắt là T. Cách quy
định này tránh được sự trùng lặp và lại giữ được sự trong sáng của tiếng
Việt. Song từ năm 1999, sau khi có Luật cờ Tướng sửa đổi cách ghi biên
bản với quân Tượng là T và với quân Tốt là B (tức Binh, âm Hán cũng có
nghĩa là người lính, tức Tốt). Ghi theo cách này chúng ta đã vay mượn
chữ Hán (tức Trung Hoa hóa) cả 2 từ Tượng và Binh để chỉ tên gọi của
quân cờ.
Trong khi đó quân "Tượng kỳ" (cờ Tượng) của Trung Hoa lại có sự khác
nhau trong cả cách viết chữ Hán lẫn mầu sắc của 7 loại quân cờ của 2
bên. Từ nhiều thế kỷ qua đến tận bây giờ ở Trung Hoa tồn tại 2 loại bộ
quân Tượng kỳ có cách viết chữ Hán khác nhau.
Loại thứ nhất, một bên
có 7 loại quân là Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Binh (Hình 5, nhóm 7
quân bên dưới), còn bên kia có 7 loại quân là Soái, Sĩ, Tương, Xe, Pháo,
Mã, Tốt (Hình 5, nhóm 7 quân bên trên).
Hình 5: Sự khác nhau của 7 loại quân cờ ở 2 bên của bộ Tượng kỳ đang được lưu hành ở vùng nói tiếng Quảng Đông (phía Đông Nam Trung Hoa, Hồng Kông, Ma Cao) (Ảnh: Tác giả, 2013).
Như vậy cả 7 loại quân cờ của 2 bên khác nhau hoàn toàn về chữ viết.
Loại quân Tượng kỳ này thường được lưu hành ở vùng nói tiếng Quảng Đông,
chủ yếu là ở vùng Đông Nam Trung Hoa xưa, Hồng Kông, Ma Cao… Hiện nay
một số người Hoa sinh sống ở Việt Nam, có nguồn gốc, quê hương xa xưa từ
Quảng Đông, Phúc Kiến thường hay sử dụng loại quân Tượng kỳ này.
Loại thứ hai, một bên có 7 quân là Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã,
Tốt (Hình 6, 7 quân bên trên), còn bên kia có 7 loại quân là Soái, Sĩ,
Tương, Xe, Pháo, Mã, Binh (Hình 6, 7 quân bên dưới). Như vậy 2 bên có 3
loại quân Xe, Pháo, Mã viết chữ Hán giống hệt nhau, song 4 loại quân còn
lại có chữ Hán viết khác nhau. Loại quân Tượng kỳ này thường được lưu
hành ở khu vực nói tiếng phổ thông Trung Hoa (miền Bắc, Trung và Tây Nam
Trung Hoa, là khu vực đa dạng ngôn ngữ được biết đến dưới tên chung là
tiếng Quan Thoại; Đài Loan; Đây cũng là 1 trong 4 ngôn ngữ chính thức
tại Singapore).
Hình 6: Sự khác nhau của 7 loại quân cờ ở 2 bên của bộ Tượng kỳ đang được lưu hành ở vùng nói tiếng phổ thông Trung Hoa (phía Bắc, Trung, Tây Nam Trung Hoa, Đài Loan) (Ảnh: Tác giả, 2013).
Như vậy khi thi đấu cờ Tướng ở Việt Nam mà lại dùng quân của 1 trong 2
loại bộ Tượng kỳ Trung Hoa thì thật là khập khiễng, nhất là khi ghi
biên bản ván cờ, chữ viết tắt của 2 bên như nhau (Tướng: Tg, Sĩ: S,
Tượng: T, Xe: X, Pháo: P, Mã: M, Tốt: B), trong khi tên quân cờ chữ Hán
lại khác nhau, nghĩa dịch sang tiếng Việt cũng khác nhau thì quả là điều
bất cập!
Vậy là ở Việt Nam chỉ có 1 loại bộ quân cờ Tướng truyền thống, với 7
loại quân Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo (bộ thạch), Mã, Tốt được viết bằng
chữ Hán, giống nhau cho cả 2 bên, song chỉ khác nhau về màu sắc. Còn ở
Trung Hoa có 2 loại bộ quân Tượng kỳ, với 7 loại quân cờ được viết bằng
chữ Hán khác nhau cho cả 2 bên, đồng thời cũng khác nhau về mầu sắc. Một
loại bộ quân Tượng kỳ thường dùng ở vùng nói tiếng Quảng Đông, loại bộ
quân Tượng kỳ còn lại thường dùng ở vùng nói tiếng phổ thông Trung Hoa.
Đó là sự khác nhau thứ 2, giữa bộ quân cờ Tướng Việt Nam và bộ quân Tượng kỳ Trung Hoa.
3. Sự khác nhau về cách ghi biên bản ván cờ
Từ năm 1954 trở về trước, cách ghi biên bản ván cờ Tướng của Việt Nam
khác hẳn với cách ghi biên bản ván cờ ngày nay. Trên bàn cờ Tướng Việt
Nam xưa, 9 cột dọc được ký hiệu bằng chữ in hoa, thứ tự từ trái qua phải
là: A, B, C, D, Đ, E, G, H, I; Còn 10 hàng ngang được ký hiệu bằng số,
thứ tự từ dưới (bên đi trước) lên (bên đi sau) là: 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4,
3, 2, 1 (xem hình 4 bên trên).
Hình 4 là ảnh chụp ván cờ của trận chung kết Giải vô địch cờ Tướng
chợ phiên Hà Nội 1953, thi đấu tại khu vực Võ sĩ đoàn, đối diện với nhà
hàng Thủy Tạ bên bờ hồ Hoàn Kiếm, giữa danh thủ Nguyễn Tấn Thọ (Hà Nội,
bên đi trước) và danh thủ Đặng Đình Yến (Hà Nội, bên đi sau, người đã
thắng ván cờ này và đoạt giải quán quân 1953). Sau 4 nước đi đầu tiên
biên bản ván cờ được ghi (theo 3 cách để có sự so sánh: trước 1955,
trước 1999 và từ 1999 đến nay) như sau:
Bên đi trước: Nguyễn Tấn Thọ (Hà Nội), Bên đi sau: Đặng Đình Yến (Hà Nội)
1. M2+3 (Mã 2 tiến 3)
... M2+3 (Mã 2 tiến 3)
2. T3+1 (Tốt 3 tiến 1)
... T3+1 (Tốt 3 tiến 1)
3. X1+1 (Xe 1 tiến 1)
… M8+7 (Mã 8 tiến 7)
4. X1.6 (Xe 1 bình 6)
1. M2.3 (Mã 2 tiến 3)
… M2.3 (Mã 2 tiến 3)
2. B3.1 (Tốt 3 tiến 1)
… B3.1 (Tốt 3 tiến 1)
3. X1.1 (Xe 1 tiến 1)
… M8.7 (Mã 8 tiến 7)
4. X1-6 ( Xe 1 bình 6)
Qua cách ghi biên bản ván cờ của 3 thời kỳ khác nhau ta thấy rằng
cách ghi biên bản ván cờ Tướng truyền thống của Việt Nam trước năm 1955
là hết sức khoa học: ghi theo tọa độ của điểm mà quân cờ sẽ đi đến mà
không cần có thêm các ký hiệu tiến, thoái, bình nữa. Cách ghi biên bản
này gần giống với cách ghi biên bản cờ Vua ngày nay.
Trong khi đó cách ghi biên bản ván Tượng kỳ của Trung Hoa gần giống
cách ghi biên bản của Việt Nam từ sau năm 1999. Đó là sự khác nhau thứ 3
về cách ghi biên bản ván cờ giữa cờ Tướng truyền thống của Việt Nam và
Tượng kỳ Trung Hoa.
4. Sự khác nhau về tính phù hợp của 4 binh chủng hợp thành
Môn chơi thời cổ Chaturanga ở Ấn Độ có nghĩa là 4 binh chủng quân đội
thời đó hợp thành: chiến xa, tượng binh, kỵ binh và bộ binh, trong đó 3
loại binh chủng chiến xa, kỵ binh và bộ binh thì rất phổ biến và hầu
như quốc gia nào cũng có. Chỉ có tượng binh là binh chủng rất đặc biệt
bởi đầu tiên nước đó phải có nhiều voi và sau đó voi phải được huấn
luyện để tham gia chiến đấu.
Voi chiến (tượng binh) là voi được huấn luyện dưới sự chỉ huy của con
người để giao chiến. Mục đích chính là tấn công đối phương, dày xéo và
phá vỡ hàng ngũ của quân địch. Chúng được sử dụng đầu tiên ở Ấn Độ, sau
phép dùng voi chiến lan sang vùng Đông Nam Á và Trung Đông tới tận Địa
Trung Hải. Theo sử cũ Hy Lạp cổ đại, quân Ấn Độ đã dùng tượng binh chống
trả khi Nữ hoàng Semiramis của Đế quốc Assyria mở cuộc hành chinh đánh
sang Ấn Độ. Cyrus Đại Đế của Đế quốc Ba Tư (năm 530 TCN) và Alexandros
Đại Đế của Vương quốc Macedonia (năm 326 TCN) cũng gặp phải đoàn tượng
binh của Ấn Độ. Thời kỳ cổ đại, văn minh Ấn Độ đề cao giá trị của loài
voi trong chiến tranh. Họ ví rằng "Quân đội mà không có tượng binh thật
đáng coi thường, khác gì rừng không có sư tử, nước không có vua, hay
lòng can đảm mà đánh bằng tay không” (Wikipedia, 2013). Voi chiến còn
phát triển mạnh ở Myanmar, Thái Lan...
Tại Việt Nam, kỹ thuật sử dụng voi chiến đã có từ khá sớm. Các tài
liệu Việt Nam và Trung Quốc từng ghi nhận trong cuộc khởi nghĩa ở Mê
Linh của Hai Bà Trưng năm 40 (thế kỷ 1 sau Công nguyên) đã sử dụng lực
lượng voi chiến đánh lại quân nhà Đông Hán. Rất nhiều hình ảnh ghi nhận
Hai Bà chỉ huy trên mình voi (Hình 7). Một hình ảnh tương tự ghi nhận
rằng Bà Triệu năm 248 cũng sử dụng voi chiến trong cuộc khởi nghĩa chống
quân Ngô (thời Tam Quốc).
Hình 7: Năm 40, Hai Bà Trưng (Việt Nam) đánh đuổi Tô Định (Đông Hán, Trung Hoa) (Nguồn: Tranh dân gian Đông Hồ, Bắc Ninh).
Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, voi chiến được xem là một lực
lượng đặc biệt sử dụng trong chiến trận. Do thế phòng thủ trước các
triều đại phương Bắc, vốn không có tượng binh, thì ưu thế của phía Việt
Nam về lực lượng tượng binh là rõ rệt, chẳng hạn như việc sử dụng tượng
binh trong chiến dịch nghĩa quân Lam Sơn ra Bắc hay quân Tây Sơn công
phá thành Ngọc Hồi vào ngày mùng 5 tết Kỷ Dậu, 30/1/1789. Sự phát triển
vượt bậc chính là sự kiện vua Quang Trung đã đặt pháo trên lưng voi
trong chiến dịch đánh thành Ngọc Hồi làm quân Mãn Thanh phải khiếp sợ.
Thực tế là các lực lượng quân sự Việt Nam đã huấn luyện và sử dụng lực
lượng voi chiến trong cả nghìn năm lịch sử.
Khi hình thái chiến tranh hiện đại bắt
đầu, voi chiến trở nên lỗi thời trước sức mạnh của đại bác, nhà Nguyễn
vẫn tiếp tục huấn luyện lực lượng voi chiến trong đội tượng binh của
quân đội nhà Nguyễn. Các cuộc tử chiến giữa voi và hổ nhằm tế thần trong
ngày hội và phục vụ nhu cầu giải trí tiêu khiển cho vua, quan lại và
người dân vẫn được tổ chức tại Hổ Quyền (kinh thành Huế). Trận đấu voi -
hổ cuối cùng được ghi nhận vào năm 1904, dưới triều vua Thành Thái
(Hình 8 và 9).
Hình 8: Nghi vệ voi chầu của triều đình Huế (Ảnh: Wikipedia, 2013).
Hình 9: Voi được đưa ra sân đấu tại Hổ quyền ở kinh thành Huế (Ảnh: Wikipedia, 2013).
Ở Trung Hoa, việc sử dụng những con voi chiến tương đối hiếm so
với các nơi khác. Những ghi chép sớm nhất về việc sử dụng voi của họ
diễn ra vào cuối năm 554 khi nhà Tây Ngụy triển khai hai con voi chiến
mặc giáp sắt từ Lĩnh Nam trong trận chiến, điểu khiển bởi những nô lệ Mã
Lai, và được trang bị tháp bằng gỗ và những thanh gươm gắn chặt vào cái
vòi của chúng. Các con voi đã phải quay đầu bỏ chạy bởi các mũi tên của
cung thủ.
Điều đó cho thấy tại sao khi Chaturanga vào Việt Nam được chuyển đổi
thành cờ Tướng dễ được người Việt Nam chấp nhận và phổ biến nhanh chóng
không chỉ ở tầng lớp trên mà cả trong quân đội và nhân dân ở tất cả các
lễ hội trong mọi vùng đất nước, bởi hình ảnh quân Tượng có liên quan mật
thiết đến tượng binh (voi chiến) trong lịch sử đấu tranh chống giặc
ngoại xâm của dân tộc ta. Vì thế trong tiếng Việt người Việt Nam chưa
bao giờ gọi quân Tượng là quân Tương (bộ Tượng kỳ của Trung Hoa có quân
Tương, 相) và trong bộ cờ Tướng truyền thống của người Việt Nam chỉ có
duy nhất một chữ Hán cổ của người Việt gọi là chữ Tượng (象, tức voi).
Trong số các quốc gia có môn cờ Tướng phát triển thì Việt Nam và Trung
Hoa là 2 quốc gia nằm trong số đó, với thời gian khoảng trên 1.300 năm,
bởi cờ Tướng hình thành ở 2 nước từ thế kỷ 7-8.
Mặc dù có tới trên 1000 năm Bắc thuộc (từ năm 179TCN-939), cờ Tướng ở
Việt Nam và Tượng kỳ ở Trung Hoa đã hình thành và phát triển ở thế kỷ
7-8 (trong thời kỳ Bắc thuộc bởi phong kiến phương Bắc xâm chiếm Việt
Nam) song vẫn có những sự khác biệt giữa cờ Tướng ở Việt Nam và Tượng kỳ
ở Trung Hoa, nhất là ở thời kỳ độc lập tự chủ hoàn toàn của Việt Nam,
kể từ khi Ngô Quyền xưng vương vào năm 939.
Với ý nghĩa đó tác giả đề xuất đưa cờ
Tướng và cờ Vua Việt Nam bổ sung vào bản đồ Cờ Thế giới với tên đầy đủ
tiếng Việt và tiếng Anh để làng cờ thế giới hiểu rõ hơn về bản sắc văn
hóa - lịch sử của cờ Tướng nước ta (Hình 10).
Hình 10: Bản đồ phân bố các môn cờ trên thế giới (Ảnh: Google, 2013 và tác giả bổ sung phần Việt Nam, 2013).
Vì sự trong sáng của Tiếng Việt và vì sự giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa truyền thống của Việt Nam trong môn cờ Tướng, mong rằng ngành
Thể dục thể thao và Liên đoàn Cờ Việt Nam sớm có những điều chỉnh thích
hợp với các bộ quân cờ đang được sử dụng thi đấu và cách ghi biên bản
ván cờ bằng tiếng Việt trong các giải đấu phong trào và đỉnh cao ở Việt
Nam./.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét