Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN VỤ ÁN 191
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
“Chiếm đoạt” người yêu rồi nhẫn tâm tước đoạt mạng sống
Mới quen nữ công nhân hơn 20 ngày, Thực rủ bạn gái đi chơi, tán tỉnh yêu
đương rồi đòi quan hệ tình dục thì bị cự tuyệt. Bực tức trước thái độ
của bạn gái, hắn cầm gạch lạnh lùng đập nhiều nhát vào đầu nạn nhân rồi
kéo vào nơi vắng vẻ tiến hành xâm hại tình dục. Thỏa mãn xong xuôi, kẻ
thú tính hất chị Huệ xuống mương nước (lúc đó nạn nhân chưa tử vong).
Khám phá thảm án tại phố Hoàng Văn Thụ năm 1946: Kẻ sát nhân man rợ
Giữa những ngày bão táp của Cách mạng
tháng Tám lịch sử 1945, Ty Công an Hải Phòng được thành lập. Vừa ra đời,
lực lượng CAHP tuy còn non trẻ nhưng đã lập một kỳ tích đặc biệt xuất
sắc trên mặt trận đấu tranh chống tội phạm hình sự: Điều tra khám phá vụ
án giết người, cướp tài sản vô cùng dã man, tàn bạo tại hiệu vàng Vĩnh
Tường ở nhà số 33 phố La-Côm (phố Hoàng Văn Thụ ngày nay). Chiến công
này đã được ghi trong biên niên sử của CAND Việt Nam…
Sáng sớm 4.8.1946, chuông điện thoại tại trụ sở Ty CAHP đổ dồn cấp
báo: Đêm qua, tại hiệu vàng bạc Vĩnh Tường do ông Nguyễn Thế Toàn (45
tuổi) làm chủ hiệu ở nhà số 33 phố La-Côm, xảy ra một vụ cướp của giết
người. Lập tức, các nhân viên Ban trật tự-tư pháp của Ty xuống ngay hiện
trường tiến hành mở cuộc điều tra.
Nhà ông Nguyễn Thế Toàn (một nhà buôn lớn ở Hải Phòng) nằm giữa phố
La-Côm, bên phải có một ngõ nhỏ sát một hiệu giầy, bên trái là hiệu may
Tân Tân. Toàn bộ hàng hóa trưng bày gồm các đồ vàng, bạc, các hàng thêu,
hàng len dạ đều bị bọn cướp lấy đi hết. Tỉ mỉ tiến hành vẽ sơ đồ, chụp
ảnh hiện trường, các nhà chức trách thu được các dấu vết vân tay nghi
bọn cướp để lại trên những hộp sơn mài đựng đồ vàng bạc.
Mới bước chân vào cửa, ở buồng 1 bên trái (theo lối đi vào), các nhà
chức trách đã thấy xác một cháu bé tên Mẫn (con út ông Toàn) mới 9 tháng
tuổi. Cháu bị nhiều nhát dao đâm ở ngực và bẹn. Cháu bé miệng còn hơi
sữa đã phải chết thảm thương dưới lưỡi dao tàn bạo của bọn sát nhân
khiến những người chứng kiến cuộc khám nghiệm đã không cầm được nước
mắt.
Cũng xin nói thêm, thời điểm tháng 8.1946, tình hình Hải Phòng cũng
như cả nước đang cực kỳ rối ren, thù trong giặc ngoài, quân Tàu-Tưởng,
sự trở lại của quân Pháp đều là mối lo chung cho hòa bình dân tộc. Trong
bối cảnh ấy cực kỳ phức tạp như vậy, lực lượng cách mạng vẫn kiên quyết
giữ vững mặt bằng về TTATXH, ổn định cuộc sống thường nhật cho quần
chúng nhân dân, nên tất cả mọi tội ác phải được phanh phui, vạch trần.
Bước đầu, Ty CAHP đã nắm được cốt lõi sự việc của vụ án.
Phố Hoàng Văn Thụ ngày nay
Có thể tóm tắt như sau: Biết gia đình chủ cửa hiệu vàng bạc Vĩnh
Tường giầu có, chiều hôm đó lại mới mua thêm hàng hóa nên một số kẻ đang
là binh sỹ trong quân đội Pháp nhòm ngó, lập kế hoạch cướp bóc. Khoảng
8h ngày 3.8.1946, có 1 chiếc xe cam-nhông (loại xe ô-tô vận tải của quân
đội Pháp) đến đỗ trước cửa hiệu thuốc Trương Văn Vinh, xế cửa hiệu vàng
Vĩnh Tường. Khi xe tắt máy, một người Pháp bước xuống băng ngang đường
rồi xộc thẳng vào cửa hiệu Vĩnh Tường và đóng sập ngay cửa lại. Bà con
hàng phố ít ai chú ý đến sự kiện này, bởi từ trước tới nay trong việc
giao dịch với khách, ông Vĩnh Tường vẫn kín đáo như vậy. Vả lại trong
thời buổi loạn lạc thế, cố thủ trong nhà là trên hết.
Tuy vậy chừng nửa giờ sau, có người nhìn thấy xuất hiện bốn người mặc
áo màu vàng, quần soóc (sắc phục của quân đội Pháp) đi chân tay không,
nhưng trong người hình như đều thủ dao mác, đẩy cửa xộc vào cửa hiệu
Vĩnh Tường. Không nghi ngờ gì nữa, đấy chính là bọn cướp!
Cô Sen - người ở trong nhà - mới 22 tuổi là nhân chứng sống sót của
vụ thảm sát trên nhớ lại: Khi bọn cướp ập vào, trong nhà lúc ấy có 13
người, ông Vĩnh Tường và vợ con ông gồm 9 người, 2 người ở và 2 người
bạn là ông Di, bà Xuân (bạn ông Vĩnh Tường) vừa từ Hà Nội xuống chơi.
Bọn chúng khống chế cả gia đình và cử hai tên xộc vào buồng ông Vĩnh
Tường. Đoạn dẫn chủ nhân ra quầy để lấy chìa khóa, rồi chúng đẩy ông vào
buồng bên phải (buồng số 3).
Còn cả nhà bị hai tên giơ súng đe dọa dồn vào buồng số 1. Lát sau,
mọi người nghe thấy tiếng ông Vĩnh Tường kêu thất thanh. Nhân lúc tên
gác cổng xách súng chạy vào buồng số 3, cô Sen liền dắt hai cháu nhỏ
chạy xuống bếp, chui vào gầm chiếc bệ bằng xi-măng, kéo mấy chiếc chậu,
thùng và tấm tôn che lại.
Sau đó là cuộc tàn sát 9 mạng người dân vô tội. Hành vi giết người
tàn bạo, dã man như vậy diễn ra trong suốt 2-3 giờ đồng hồ mà nạn nhân
không ai kêu cứu, thét gào là cớ làm sao? Rất có thể bọn cướp sau khi
dồn tất cả mọi người ra buồng số 1, sau đó đưa từng nạn nhân sang buồng
số 3 để đầu độc họ bằng một loại thuốc gây mê cực mạnh rồi mới đâm chém
họ.
Đến 11h đêm, cô Sen mới nghe có nhiều tiếng giầy lộp cộp đi ra ngoài
ngõ. Cho tới khi trời hửng sáng, trong nhà im ắng, cô Sen dìu hai em nhỏ
đi tắt lối nhà vệ sinh qua hiệu may Tân Tân, rồi ra đường đến nhà ông
Nguyễn Thế Thược (là em ruột ông Vĩnh Tường) ở gần đó.
Từ chứng cứ tài liệu thu thập được, Ty Công an Hải Phòng đã xác định
rõ chân dung những tên kẻ cướp: Chúng là bọn vô lại đang tại ngũ trong
quân đội Pháp. Ba tuần sau khi vụ án xảy ra đã chứng minh nhận định
trên, lực lượng trinh sát của Ty Công an Hải Phòng đã thu thập được một
số tang vật của vụ án, trong đó có một số ít đồ bằng bạc bị ném bên bờ
sông, cạnh trại lính Pháp ở Hạ Lý.
Khi thu thập một số dấu vết vân tay của các đối tượng nghi vấn để so
điểm chỉ (giám định đường vân), Ty Công an Hải Phòng đã tìm ra các đối
tượng đã gây vụ thảm sát và cướp của tại hiệu vàng Vĩnh Tường. Những kẻ
mặt người dạ thú ấy có cả người Việt lẫn Tây, chúng là: Jean Jacque,
Presil, George và tên Yến ở Trại lính Pháp đóng tại “Căng” Lạc Viên
(quận Ngô Quyền).
Với những chứng cứ không thể chối cãi, quân đội Pháp buộc phải trừng
trị đích đáng những tên tội phạm giết người, cướp của lẩn khuất trong
bóng tối mà các nhà chức trách Việt Nam đã vạch mặt, lôi chúng ra ánh
sáng. Chiến công của Ty Công an Hải Phòng không những lật mặt dã tâm của
những kẻ xâm lược, mà đã đem lại niềm tin cho quần chúng nhân dân về
lực lượng Công an nhân dân ngày đầu còn trứng nước…
Theo Xuân Ngọc (An Ninh Hải Phòng)
Cuộc đời ly kỳ của sát thủ gốc Việt Charles Sobhraj (Kỳ 1): Sinh ra để lừa
Trong hơn 90 năm hoạt động của Tổ chức
Cảnh sát quốc tế (Interpol), có 10 vụ án được cơ quan này xem như "lớn
nhất lịch sử" bởi lẽ nó là một chuỗi những tình tiết, hành vi, phương
thức hoạt động cũng như hậu quả và hệ lụy nặng nề cho xã hội mà thủ phạm
đã gây ra. Tác giả của một trong 10 vụ án ấy là một người đàn ông gốc
Việt tên Charles Sobhraj, biệt danh "Sát nhân bikini", "Người rắn".
Theo Interpol, đây là một trong những sát thủ nguy hiểm nhất nhưng
cũng nổi tiếng nhất thế giới vào thập niên 70, 80 của thế kỷ trước vì đã
thực hiện 24 vụ giết người cướp của ở Ấn Độ, Thái Lan, Nepal, Iran và
Thổ Nhĩ Kỳ… Vào đời
Sinh ngày 6.4.1944 tại Sài Gòn, tên đầy đủ trong giấy tờ của Charles
Sobhraj là Hatchand Bhaonani Gurumukh Charles Sobhraj. Sự có mặt của
Sobhraj là kết quả mối tình chớp nhoáng giữa một phụ nữ người Việt và
một người đàn ông Ấn Độ làm nghề buôn bán tơ lụa. Khi Sobhraj chưa đầy
tháng, gã đàn ông Ấn Độ "quất ngựa truy phong", bỏ rơi cô vợ hờ cùng đứa
bé vẫn còn đỏ hỏn.
Sobhraj năm 19 tuổi.
Sobhraj lớn lên mà chẳng biết cha mình là ai. 3 năm sau, mẹ Sobhraj
đi bước nữa với với một trung úy trong đội quân viễn chinh Pháp ở Việt
Nam là Alphonse Darreaux rồi sinh thêm một con trai, đặt tên là André.
Năm 1954, sau khi đại bại trong trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneve ký
kết, quân Pháp rút về nước, Sobhraj và André được người cha dượng đem
theo.
Trong cuốn hồi ký "Charles Sobhraj - Cuộc đời tội phạm", anh ta kể:
"Tình cảm của tôi với ông ấy rất nhợt nhạt, hầu như chẳng có ấn tượng
gì. Tôi như một thứ trái cây chín hoang. Ngoài giờ học ở trường, tôi
lang thang cùng đám du thử du thực trên đường phố Paris, chuyên ăn cắp
để kiếm tiền chơi bời nhưng ngược lại, bên cạnh tiếng Pháp cùng một ít
tiếng Việt, tôi còn học được 4 ngoại ngữ và có thể nói thành thạo".
Năm 1963, Sobhraj bị bắt vì tội trộm cắp và bị giam tại nhà tù
Poissy, Paris. Tại đây, nhờ biết ngoại ngữ nên thỉnh thoảng anh ta vẫn
được ban giám thị gọi đi phiên dịch. Cảm thương cho cậu bé mặt mũi sáng
sủa, thông minh nhưng sớm vướng vòng lao lý, ông Felix d'Escogne, một
nhà hảo tâm giàu có thường đến thăm tù nhân, giúp họ chuyển thư từ và
trợ giúp họ về một số vấn đề pháp lý, đã gặp gỡ, động viên Sobhraj, mang
sách báo cho anh ta đọc.
Sobhraj kể: "Nhờ ông Felix, tôi học hỏi được rất nhiều điều, chủ yếu
là kỹ năng sống, cách ứng xử trong giao tiếp. Chính tác phong của ông
Felix đã làm tôi bỏ hẳn tật chửi thề - là thói quen mà tôi tiêm nhiễm
trong những ngày lê la trên đường phố".
Ba năm sau, Sobhraj được ân xá. Nơi đầu tiên anh ta tìm đến là nhà
ông Felix. Chỉ vài tháng, anh ta như lột xác. Với những bộ quần áo vest
cắt may rất khéo, giày da Italia, cravat lụa tơ tằm Ấn Độ, Sobhraj
thường xuyên cùng Felix xuất hiện trong những bữa tiệc của giới thương
lưu. Rất tế nhị, ông Felix không bao giờ kể về quá khứ của Sobhraj mà
chỉ nói rằng anh ta là con của một sĩ quan Pháp ở Việt Nam. Và vì chiến
tranh nên gia đình buộc anh ta phải sang Pháp.
Tuy nhiên, đã mang cái mác là con "sĩ quan" thì phải có tiền trong
lúc Sobhraj không một xu dính túi. Ngay cả ly cà phê buổi sáng cũng phải
nhờ vào ông Felix nên cuối cùng, Sobhraj quay lại nghề trộm cắp. Phi vụ
đầu tiên của anh ta là một chiếc xe hơi Citroen DS19. Chỉ mất vài phút,
Sobhraj đã nổ máy, lái nó đi. Liên lạc với đám bạn bè du thủ du thực
ngày nào, Sobhraj tìm ra nơi tiêu thụ không chút khó khăn. Theo hồ sơ
của Interpol, chỉ trong 4 tháng, Sobhraj đã trộm được tổng cộng 9 chiếc
xe hơi, chủ yếu là loại DS19 và DS21 - hai loại xe thời thượng ở nước
Pháp lúc bấy giờ. Nồi nào vung nấy
Có tiền, Sobhraj thỏa sức ăn chơi. Trong một bữa tiệc, anh ta gặp
Chantal Compagnon, một cô gái trẻ người Paris. Choáng ngợp trước vẻ đẹp
trai, lịch lãm của Sobhraj, tình yêu đến với Chantal rất nhanh chóng.
Sobhraj lúc bị cảnh sát Ấn Độ bắt.
Trưa ngày 24.9.1968, Sobhraj điện thoại cho Chantal, hẹn cô đi ăn
tối. Dự định của Sobhraj là trong bữa ăn, anh ta sẽ ngỏ lời cầu hôn
Chantal với lễ vật là một chiếc nhẫn kim cương trị giá 15.000 franc.
Hồ sơ Interpol ghi lại: "Vào thời điểm những vụ mất cắp xe hơi liên
tục xảy ra, nhân viên lễ tân của khách sạn Imperial đã nhớ được khuôn
mặt Sobhraj khi hắn trộm một chiếc Cadillac, lái khỏi sân khách sạn".
Dựa vào lời mô tả của lễ tân, cảnh sát phác họa chân dung Sobhraj nên
6 giờ chiều ngày 24.9.1968 - là ngày mà anh ta chuẩn bị cầu hôn
Chantal, lúc Sobhraj dừng chiếc DS21 ở một ngã tư chờ đèn đỏ thì bị cảnh
sát kiểm tra. Do không có giấy tờ xe, lại thêm chiếc DS21 vừa ăn cắp
được, chưa kịp thay bảng số khác nên Sobhraj bị bắt
Ra tòa, do Sobhraj khai rằng anh ta chỉ có ý muốn "mượn" chiếc xe một
lát vì sợ trễ bữa hẹn cầu hôn với Chantal và khi xác minh, cô gái cũng
khai đúng như vậy nên Sobhraj chỉ chịu mức án 8 tháng tù giam. Sau vụ
việc ấy, những tưởng Chantal sẽ hoảng sợ mà xa lánh một kẻ tội phạm có
lớp vỏ ngoài quý phái nhưng thật bất ngờ, cô gái trẻ vẫn vào thăm anh ta
đều đặn. Sobhraj viết: "Trong tất cả những lần gặp tôi, Chantal không
hề có một lời nhắc đến lý do tôi vào tù. Cô ấy chỉ an ủi và hứa sẽ đợi
tôi. 8 tháng không phải là dài lắm".
Được tha, Chantal và Sobhraj lấy nhau mặc dù gia đình cô gái đã hết
sức ngăn cản. Để có tiền sinh sống, Sobhraj lại ăn cắp xe hơi nhưng anh
ta hiểu rằng mình sẽ quay vào tù bất cứ lúc nào vì với tiền án như thế,
chắc chắn cảnh sát Paris sẽ để mắt đến anh ta mỗi khi có một chiếc xe
hơi nào đó biến mất. Sobhraj viết: "Đầu năm 1970, lúc ấy vợ tôi đang
mang thai, một gã bạn tôi báo tin gara Covignon - nơi tôi thường bán
những chiếc xe ăn cắp bị cảnh sát lục soát. Biết rằng sớm muộn gì cũng
bị bắt, tôi nhờ đám chiến hữu làm cho mình một cuốn hộ chiếu giả rồi
cùng Chantal, chúng tôi đi Ấn Độ qua ngả Đông Âu".
Giữa tháng 9.1970, vợ chồng Sobhraj đến thành phố Mumbai, Ấn Độ. Trên
đường đi, chẳng hiểu Sobhraj thuyết phục thế nào mà cô vợ Chantal lại
trở thành đồng lõa với Sobhraj trong những vụ lừa đảo, trộm cắp. Trong
vai một cặp vợ chồng trẻ, sở hữu hàng trăm nghìn hecta cao su ở Đông
Dương đi nghỉ mát, hoặc một thương gia ngành dệt may ở Lebanon, Sobhraj
làm quen với những khách du lịch châu Âu giàu có rồi mời họ uống rượu
pha thuốc ngủ. Khi nạn nhân đã mê man, vợ chồng Sobhraj lục túi lấy
tiền, thẻ tín dụng, hộ chiếu, đồng hồ, nhẫn, máy chụp ảnh, dây chuyền…
Theo hồ sơ Interpol, không rõ tổng số tài sản mà Sobhraj đã chiếm
đoạt trong năm 1970 là bao nhiêu vì có những nạn nhân chọn cách im lặng,
coi như "của đi thay người" nhưng với những người đến cảnh sát khai
báo, số tài sản mà họ bị mất ước khoảng 145.000 franc.
Nét mặt thông minh đã giúp Sobhraj thực hiện thành công nhiều vụ chiếm đoạt tài sản.
Cuối tháng 9.1970, Chantal hạ sinh một bé gái, đặt tên là Usha. Hai
vợ chồng mướn một căn hộ sang trọng trong khu người Anh ở Mumbai. Để có
tiền chi trả cho cuộc sống xa hoa cũng như ném vào những sòng bạc,
Sobhraj lại tiếp tục trộm cắp xe hơi và buôn lậu nhiều thứ, kể cả ma
túy.
Sobhraj kể: "Chỉ một thời gian ngắn, tôi đã kết bạn với những nhóm
tiêu thụ đồ ăn cắp ở Mumbai, Calcutta và New Dehli. Khác với Paris,
những băng nhóm phương Đông "tiền trao cháo múc" xong phi vụ là xem như
chưa hề quen biết, có gặp nhau ngoài đường cũng chẳng thèm chào. Điều ấy
đã khiến nguy cơ bị lộ giảm thiểu đến mức thấp nhất".
Tháng 4.1971, Sobhraj quyết định làm một vụ táo bạo. Nhận thấy quầy
bán vàng bạc đá quý tại khách sạn Ashoka, thủ đô New Dehli, Ấn Độ chỉ có
một nhân viên duy nhất trông coi vào giờ nghỉ trưa, Sobhraj một mình
một dao găm, vờ như khách mua hàng bước vào uy hiếp cô nhân viên, nhưng
chưa kịp lấy đi thứ gì thì cô này đã kịp thời dùng chân ấn vào nút báo
động đặt ở dưới đất. Bị bắt tạm giam tại đồn cảnh sát, trong khi chờ lấy
lời khai, Sobhraj giả vờ lên cơn đau ruột thừa. Được đưa vào bệnh viện,
Sobhraj toan tính sẽ lợi dụng cơ hội này để bỏ trốn nhưng không ngờ anh
ta lại phải…mổ!
Ra viện, trở lại nhà giam, Sobhraj nhắn tin cho Chantal. Sử dụng vỏ
bọc y tá, Chantal nhờ cảnh sát gửi cho Sobhraj một ít thuốc, trong đó có
cả thuốc ngủ. Theo Sobhraj, do vẫn còn trong thời gian dưỡng bệnh, anh
ta được cho nằm ở một phòng riêng, việc canh gác có phần lỏng lẻo nên
anh ta sẽ tìm cách bỏ thuốc ngủ vào bình nước uống của người lính gác.
Khi lính gác đã mê man, Sobhraj trốn.
Thiên bất dung gian, âm mưu của Sobhraj bại lộ. Đối diện với mức án
12 năm tù vì tội cướp có vũ trang và cố ý đào tẩu, Sobhraj đành phải cầu
cứu cha dượng mình bằng cách mượn tiền đóng thế chân để được tại ngoại.
Trong cuốn hồi ký "Cuộc đời tội phạm", Sobhraj kể: "Thông qua vợ tôi,
cha dượng tôi - là viên trung úy quân đội Pháp ở Đông Dương năm xưa -
đã gửi cho tôi 70.000 franc, đồng thời cho biết đứa em trai cùng mẹ khác
cha với tôi là André, hiện đang ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu cần thêm gì
thì cứ liên lạc với nó".
Được tại ngoại, Sobhraj nhanh chóng cùng vợ bỏ trốn đến Kabul,
Afghanistan. Tại đây, đôi vợ chồng lại tiếp tục sử dụng bài bản mời rượu
có pha thuốc ngủ cho những khách du lịch châu Âu mà họ chủ động làm
quen rồi chiếm đoạt tài sản.
Giữa năm 1971, vài ngày sau khi thực hiện thành công một phi vụ, lấy
được gần 6.000 USD, một nạn nhân đã nhận ra Sobhraj khi anh ta đang đi
trên phố. Bị cảnh sát Kabul mời về trụ sở, Sobhraj liên tục chối bai
bải, rằng "đã có một sự nhầm lẫn nào đó".
Theo Sobhraj thì: "Dù chối cãi nhưng tôi tin là cảnh sát Afghanistan
sẽ xác minh với cảnh sát Ấn Độ qua con dấu xuất nhập cảnh đóng trên tờ
hộ chiếu, và nếu như thế thì vụ việc sẽ bung bét hết. Do mới chỉ bị câu
lưu để lấy lời khai, tôi lại giả vờ đau bao tử rồi nhắn vợ tôi mang
thuốc đến, trong đó dĩ nhiên có cả thuốc ngủ. Lần này, tôi đã thành
công".
Thoát khỏi tay cảnh sát Kabul, Sobhraj lập tức bảo vợ trốn sang Iran.
Thế nhưng, mặc cho Sobhraj năn nỉ, thuyết phục, Chantal vẫn cương quyết
không đi theo. Sobhraj nói: "Chantal muốn rũ bỏ quá khứ phạm tội để có
thể yên ổn nuôi con. Thậm chí lúc tôi đưa tiền cho cô ấy làm lộ phí, cô
ấy cũng không nhận". Bằng cách bán sợi dây chuyền có gắn mấy hạt kim
cương nhỏ, được mẹ cho từ hồi còn bé, Chatal mua vé máy bay và sắm sửa
thêm mấy đồ dùng cần thiết cho con gái Usha trong chuyến đi dài.
Khuya ngày 27.6.1971, Chantal lên máy bay về Pháp. Từ đó, Sobhraj
không bao giờ còn gặp lại vợ. Trong gần 2 năm tiếp theo, Sobhraj lang
bạt nhiều nơi, từ Bắc Âu đến Trung Đông và vẫn kiếm sống bằng cách mời
rượu có thuốc ngủ nhưng trong các phi vụ ấy, thay vì là "chủ đồn điền
cao su ở Đông Dương" hoặc "thương gia kinh doanh vải vóc tơ lụa" thì
Sobhraj trở thành "người môi giới mua bán kim cương, hồng ngọc" hoặc
"đại lý cho một tập đoàn dược phẩm nổi tiếng".
Hồ sơ Interpol cho thấy để đi từ quốc gia này sang quốc gia khác,
Sobhraj lần lượt sử dụng 10 cuốn hộ chiếu đã đánh cắp được với những tên
tuổi khác nhau, chỉ thay vào đó bằng ảnh của mình…
Theo PV (An ninh thế giới)
Cuộc đời ly kỳ của sát thủ gốc Việt Charles Sobhraj (Kỳ 2): Sát thủ bikini
Thấy Rennelleau đột nhiên biến mất, linh
tính của một kẻ tội phạm đã khiến Sobhraj cảnh giác. Lập tức, anh ta đưa
cô vợ và tay trợ thủ Ajay đi Calcutta, Ấn Độ. Tại nơi này, vẫn bằng
cách làm quen, mời ăn uống, Sobhraj giết một người Istrael tên Avoni
Jacob để lấy cuốn hộ chiếu. Bằng cái tên Jacob, Sobhraj cùng vợ và Ajay
đi Singapore…
Cuộc đời ly kỳ của sát thủ gốc Việt Charles Sobhraj (bài 3): Lưới trời lồng lộng
Ở Thái Lan, tin tức về những vụ giết người
của "Sát thủ bikini" Sobhraj tràn ngập trên các phương tiện thông tin
đại chúng. Lập tức, nó thu hút nhiều nhà báo và ngay cả những nhà làm
phim vào trại giam gặp anh ta để phỏng vấn. Lẽ dĩ nhiên Sobhraj đâu bỏ
qua cơ hội kiếm tiền có một không hai này...
Bị bắt
Tháng 3-1976, Sobhraj quay lại Bangkok bằng cái tên “Jacob” trong
cuốn hộ chiếu đã lấy được. Thời điểm này, sau cái chết của 2 người Hà
Lan và 2 người Israel, cảnh sát Thái Lan bắt đầu nghi ngờ "một người đàn
ông lai Ấn, Á cùng một phụ nữ phương Tây".
Theo Richard Neville, người chắp bút viết cuốn hồi ký "Cuộc đời tội
phạm" cho Sobhraj, vì anh ta sử dụng hộ chiếu giả nên cảnh sát không
biết anh ta vào, ra đất Thái lúc nào. Hơn nữa, họ cũng chưa rõ tên thật
của Sobhraj.
Bên cạnh đó, nếu công khai vụ việc có thể sẽ khiến Sobhraj lặn mất,
đồng thời cũng có thể làm ảnh hưởng đến ngành công nghiệp du lịch nên
mặc dù đã thu thập được nhiều chứng cứ dựa trên bức thư thú tội của
Rennelleau, cảnh sát Thái Lan chỉ lặng lẽ điều tra thay vì phát thông
báo, đề nghị những ai biết về hung thủ hãy đến trình báo với nhà cầm
quyền.
Nhưng người Hà Lan thì không! Một cán bộ phụ trách công tác lãnh sự ở
Đại sứ quán Hà Lan tại Bangkok là ông Herman Knippenberg bắt tay vào
việc điều tra. Theo ông Knippenberg, tất cả những nạn nhân xấu số đều có
chung một điểm là trước khi chết, họ đều gặp gỡ, ăn uống, đi chơi với
vợ chồng Sobhraj.
Mất nhiều thời gian, công sức tìm hiểu qua những khách du lịch, những
người lái taxi, xe tuk tuk, ông Knippenberg có được địa chỉ căn hộ nơi
vợ chồng Sobhraj cư trú. Thuyết phục cảnh sát Thái Lan cho phép khám xét
căn hộ, Knippenberg và cảnh sát phát hiện khá nhiều bằng chứng về việc
Sobhraj liên quan đến những vụ giết người. Đó là hộ chiếu của một số nạn
nhân cùng các giấy tờ liên quan đến họ như vé máy bay, thư từ, hình
ảnh. Bên cạnh đó, ông Knippenberg còn tìm thấy một lượng lớn thuốc ngủ
và bột lá cây Majiad.
Thời điểm xảy ra vụ khám xét, vợ chồng Sobhraj cùng Ajay đang ở
Singapore. Lúc trở lại Bangkok và lúc xuống taxi để đi bộ vào nhà thì
bất ngờ một đứa bé hàng xóm nhanh ẩu đoảng, đã báo cho Sobhraj biết:
"Mấy bữa trước có nhiều cảnh sát đến nhà chú". Lập tức, bộ ba quay lưng
tháo lui rồi thuê một chiếc xe hơi, chạy một mạch xuống tỉnh Surat
Thani, miền Nam Thái Lan.
Nghỉ lại đó một đêm, hôm sau Sobhraj cùng vợ và Ajay đi Songkhla rồi
qua biên giới, vào đất Malaysia. Hồ sơ Interpol về Sobhraj cho thấy tại
Kuala Lumpur, theo lệnh Sobhraj, Ajay đã nhiều lần đột nhập vào các cửa
hàng đá quý để ăn trộm nhưng sau đó cậu bé Ấn Độ này biến mất không tăm
tích. Interpol tin rằng Sobhraj đã giết Ajay để xóa hết dấu tích trước
khi đến Geneva, Thụy Sĩ, nơi vợ chồng anh ta xuất hiện như những người
chuyên mua bán đá quý.
Tiêu thụ xong phần lớn số hàng do Ajay trộm được, tháng 7-1976,
Sobhraj cùng vợ đi Bombay, Ấn Độ. Tại đây, anh ta thu nạp hai thiếu nữ
người Mỹ là Barbara Smith và Mary Ellen Eather. Nạn nhân đầu tiên của
"gia đình tội ác" Sobhraj là một thanh niên người Pháp tên Jean Luc
Solomon. Vẫn bằng cách pha thuốc ngủ vào rượu để cướp tài sản nhưng do
pha quá liều, Solomon ngộ độc chết.
Đến cuối tháng 7-1976, tại New Delhi, "gia đình" Sobhraj lừa một nhóm
sinh viên Pháp bằng cách giới thiệu mình là những hướng dẫn viên du
lịch chuyên nghiệp. Do tin tưởng, nhóm sinh viên này đã nhờ Sobhraj đưa
đi thăm thú nhiều nơi. Một buổi chiều, trước bữa ăn tại khách sạn
Vikram, Sobhraj đưa cho mỗi sinh viên một viên thuốc, nói là thuốc ngừa
bệnh kiết lị vì điều kiện ăn uống ở Ấn Độ không bảo đảm vệ sinh.
Tuy nhiên, có 3 sinh viên chỉ giả bộ uống rồi khi nhìn thấy bạn bè
mình lần lượt ôm bụng quằn quại, họ đã xông vào túm chặt lấy Sobhraj,
lôi anh ta đến đồn cảnh sát. Khi bị thẩm vấn, hai cô gái người Mỹ nhanh
chóng thú nhận âm mưu cướp tài sản của Sobhraj đồng thời khai luôn về vụ
đầu độc Jean Luc Solomon.
Riêng vợ chồng Sobhraj, trước sau cặp đôi này chỉ nói rằng họ đã bất
cẩn trong việc mua thuốc ngừa kiết lị đồng thời chối bay chối biến về
việc bỏ thuốc ngủ quá liều dẫn đến cái chết của anh thanh niên người
Pháp. Dù vậy, cảnh sát cũng xác định được Sobhraj là kẻ đã đánh thuốc mê
lính gác để trốn trại ở Kabul, Afghanistan hồi năm 1971 qua vết mổ…
ruột thừa!
Việc hỏi cung hoàn tất, Sobhraj, Marie, Barbara Smith và Mary Ellen
Eather bị đưa đến nhà tù Tihar ở New Delhi chờ ngày xét xử. Chịu không
nổi cuộc sống khủng khiếp trong buồng giam, Barbara và Mary Ellen tự sát
nhưng nhờ những người ở chung buồng phát hiện, gọi lính canh đưa đi cấp
cứu nên cả hai thoát chết. SoBhraj trả lời phỏng vấn của các nhà báo trên đường ra tòa án Kathmandu.
Riêng Sobhraj, do còn giấu được mấy viên đá quý đựng trong một cái
ống bằng nhôm rồi nhét vào hậu môn, anh ta móc nối với mấy người lính
canh, nhờ họ đem bán. Trong hồi ký, anh ta kể: "Dù ở tù nhưng bữa sáng
của tôi luôn có bánh mì, trứng chiên, patê gan ngỗng, thịt jambon muối
và pho mai hảo hạng, còn rượu thì khỏi nói".
Ra tòa, Sobhraj lĩnh án 12 năm tù giam về tội cướp thay vì phải chịu
hình phạt treo cổ bởi những chứng cứ buộc tội anh ta giết Solomon không
rõ ràng. Với Marie, cô ta bị phạt 7 năm tù nhưng chỉ hơn 2 năm, Marie
được ân xá vì mắc bệnh ung thư buồng trứng. Trở về Canada, Marie trước
sau vẫn khẳng định rằng mình vô tội. Đến khi chết vào tháng 4-1984, cô
ta cho biết mình luôn trung thành với tình yêu dành cho Sobhraj còn hai
cô gái người Mỹ, mỗi cô nhận mức án 2 năm tù về tội đồng lõa cướp tài
sản. “Sát thủ bikini” biến thành… “người rắn”
Khi Sobhraj ở tù tại Ấn Độ thì ở Thái Lan, cảnh sát Thái và Sứ quán
Hà Lan vẫn kiên nhẫn điều tra. Hai năm sau đó, họ đã có đủ bằng chứng về
việc băng nhóm Sobhraj giết 2 người Israel và 2 người Hà Lan cùng 1 cô
gái Mỹ và 1 thanh niên Pháp. Đầu năm 1980, một nhóm quan chức thuộc Bộ
Tư pháp Thái Lan sang New Delhi, làm việc với Bộ Tư pháp Ấn Độ để bàn về
việc dẫn độ Sobhraj về Thái Lan xét xử khi anh ta mãn hạn tù ở Ấn Độ.
Lúc này, Sobhraj sống như một ông hoàng trong nhà tù Tihar. Với số
tiền bán những viên đá quý mà viên rẻ nhất cũng có giá 50.000USD, buồng
giam Sobhraj chẳng thiếu thứ gì, tivi, máy lạnh, tủ lạnh, điện thoại,
bồn tắm nước nóng còn ăn uống thì sơn hào hải vị. Thỉnh thoảng, Sobhraj
còn tổ chức những bữa tiệc, mời lính gác nhà tù tham dự nên họ đã làm
ngơ để một nữ luật sư của Sobhraj là Sneha Senger vào buồng giam ngủ với
anh ta!
Ở Thái Lan, tin tức về những vụ giết người của "Sát thủ bikini"
Sobhraj tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng. Lập tức, nó
thu hút nhiều nhà báo và ngay cả những nhà làm phim vào trại giam gặp
anh ta để phỏng vấn. Lẽ dĩ nhiên Sobhraj đâu bỏ qua cơ hội kiếm tiền có
một không hai này. Với những cuộc phỏng vấn chỉ kéo dài 30 phút, Sobhraj
bỏ túi 2.000USD.
Trong những cuộc phỏng vấn ấy, Sobhraj luôn chối bỏ việc giết người
mà chỉ giải thích về hành động của mình "là nhằm chống lại chủ nghĩa đế
quốc phương Tây ở châu Á". Riêng hai cuốn hồi ký, một là "Sobhraj - Cuộc
đời tội phạm" do Richard Neville chắp bút và cuốn "Người rắn" do Thomas
Thompson chắp bút, đã mang về cho Sobhraj 4 triệu USD. Tác giả Thomas
Thompson cho biết: "Sở dĩ tôi đặt tên cho Sobhraj là "người rắn" vì dù
bị giam ở nơi nào, anh ta cũng luồn lách trốn thoát được". Với cuốn phim
nói về cuộc đời phạm tội của Sobhraj, một hãng sản xuất ở Bolywood - là
kinh đô điện ảnh Ấn Độ đã trả cho Sobhraj 6 triệu USD tiền bản quyền!
Và mặc dù có tiền, nhưng Sobhraj vẫn canh cánh lo âu về việc sẽ bị
dẫn độ sang Thái Lan, nơi anh ta phải đối mặt với án tử hình. Theo cố
vấn của cô luật sư nhân tình anh ta, tháng 3-1986, khi đã ở tù được 10
năm, Sobhraj tổ chức một bữa tiệc hoành tráng, chiêu đãi toàn bộ lính
gác và bạn tù nhưng thức ăn được bỏ thuốc ngủ. Lúc tất cả đã vật vã dưới
tác dụng của thuốc, Sobhraj mở cửa nhà giam bước ra.
Hai ngày sau, anh ta bị thanh tra Madhukar Zende thuộc Sở cảnh sát
Mumbai bắt tại nhà hàng O'Coquero. Theo hồ sơ Interpol, Sobhraj cố ý để
bị bắt nhằm kéo dài thời gian ở tù vì theo luật Thái Lan, một vụ trọng
án sau 20 năm mà vẫn không bắt được thủ phạm thì sẽ hết thời hiệu truy
cứu hình sự.
Quả đúng như vậy. Vụ đầu độc, trốn trại mang lại cho Sobhraj thêm 10
năm tù giam, tổng cộng là 22 năm. Ngày 17-2-1997, lúc đã 52 tuổi,
Sobhraj được trả tự do, chính quyền Ấn Độ cho phép anh ta về Pháp. Lưới trời lồng lộng
Sobhraj sống thoải mái ở ngoại ô Paris với tài sản 15 triệu USD - là
tiền kiếm được từ những lần trả lời phỏng vấn, viết hồi ký và bán bản
quyền làm phim. Thế nhưng, chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào mà
Sobhraj quay lại Nepal, nơi anh ta đã giết người thanh niên Canada là
Laurent Carriere và cô gái người Mỹ Connie Bronzich. Một số tờ báo Thái
Lan gọi đó là "luật nhân quả". Sobhraj cùng "vợ" là Nihita Biswas ở nhà tù Nepal, năm 2014.
Ngày 17-9-2003, một nhà báo tình cờ nhìn thấy Sobhraj trên đường phố ở
thủ đô Kathmandu. Hai ngày sau, anh ta bị bắt lúc đang đánh bài trong
casino của khách sạn Yak&Yeti. Gần 1 năm sau - ngày 20-8-2004,
Sobhraj bị tòa án Kathmandu kết án tù chung thân vì tội giết Carriere và
Bronzich. Hầu hết các bằng chứng dùng để buộc tội Sobhraj do lãnh sự Hà
Lan là ông Knippenberg và Interpol thu thập được.
Cuối năm 2007, luật sư của Sobhraj gửi một bản thỉnh nguyện thư đến
tổng thống Pháp là ông Nicolas Sarkozy, đề nghị Chính phủ Pháp can thiệp
với Chính phủ Nepal, phóng thích Sobhraj vì lý do nhân đạo bởi lẽ anh
ta đã ở tù Ấn Độ suốt 22 năm rồi nhưng thỉnh nguyện thư bị từ chối. Và
mặc dù tù chung thân có nghĩa là suốt đời sẽ không bao giờ còn được bước
chân ra khỏi nhà giam nhưng một thiếu nữ Nepal 20 tuổi là Nihita Biswas
lại quyết định lấy Sobhraj làm chồng!
Sobhraj kể: "Tôi yêu Nihita Biswas ngay từ cái nhìn đầu tiên. Cô ấy
là con của bà Shakuntala Thapa, luật sư của tôi khi bà đưa Nihita Biswas
vào trại giam để làm thông dịch viên tiếng Pháp cho tôi", còn Nihita
Biswas thì: "Dù đã 64 tuổi nhưng Sobhraj vẫn là một người đàn ông tuyệt
vời. Tôi sẽ đợi anh ấy".
Ngày 9-10-2008, nhân lễ hội Bada Dashami của người Nepal, Sobhraj và
Nihita Biswas tuyên bố đính hôn. Hôm sau, ban giám thị nhà tù Kathmandu
bác bỏ thông tin này. Giám đốc nhà tù cho biết Nihita Biswas cùng gia
đình được phép vào trại giam để thực hiện nghi lễ Tika cùng với những
người thân của hàng trăm tù nhân khác, nhưng đó không phải là lễ đính
hôn vì khi vị trưởng lão bôi một dấu son lên trán họ thì đó chỉ là một
phần nghi thức của lễ hội Bada Dashami.
Ngày 30-7-2010, Tòa án tối cao Nepal bác đơn kháng cáo của Sobhraj
đồng thời bổ sung hình phạt 2.000 Rupi (tiền Nepal) về hành vi sử dụng
hộ chiếu giả. Bên cạnh đó, tòa cũng ra lệnh phong tỏa tất cả mọi tài sản
của Sobhraj.
Mẹ "vợ" anh ta - luật sư Shakuntala Thapa cho rằng "con rể" của mình
đã bị đối xử bất công vì số tài sản của Sobhraj là do anh ta kiếm được
qua việc trả lời phỏng vấn, viết hồi ký, bán bản quyền làm phim chứ
không phải giết người cướp của. Riêng Nihita Biswas, "vợ" Sobhraj cười
như mếu khi nghe tin gần 14 triệu USD của "chồng" mình không còn có thể
rút ra được…
Cũng cần nói thêm là khi hồi ký "Charles Sobhraj - Cuộc đời tội phạm"
xuất bản, Sobhraj đã phủ nhận tất cả những thông tin về mình trong cuốn
sách này, và dọa sẽ kiện nhưng theo Richard Neville, người chắp bút cho
cuốn hồi ký thì mọi lời kể của Sobhraj đều đã được ông ghi âm nên anh
ta có kiện đằng trời!
Theo Cao Trí (dịch theo "Charles Sobhraj - Cuộc đời tội phạm)
An ninh thế giới
Cuộc đời ly kỳ của sát thủ gốc Việt Charles Sobhraj (Kỳ cuối): Lưới trời lồng lộng
Ở Thái Lan, tin tức về những vụ giết
người của "Sát thủ bikini" Sobhraj tràn ngập trên các phương tiện thông
tin đại chúng. Lập tức, nó thu hút nhiều nhà báo và ngay cả những nhà
làm phim vào trại giam gặp anh ta để phỏng vấn. Lẽ dĩ nhiên Sobhraj đâu
bỏ qua cơ hội kiếm tiền có một không hai này...
Bị bắt
Tháng 3.1976, Sobhraj quay lại Bangkok bằng cái tên “Jacob” trong
cuốn hộ chiếu đã lấy được. Thời điểm này, sau cái chết của 2 người Hà
Lan và 2 người Israel, cảnh sát Thái Lan bắt đầu nghi ngờ "một người đàn
ông lai Ấn, Á cùng một phụ nữ phương Tây".
Theo Richard Neville, người chắp bút viết cuốn hồi ký "Cuộc đời tội
phạm" cho Sobhraj, vì anh ta sử dụng hộ chiếu giả nên cảnh sát không
biết anh ta vào, ra đất Thái lúc nào. Hơn nữa, họ cũng chưa rõ tên thật
của Sobhraj.
Bên cạnh đó, nếu công khai vụ việc có thể sẽ khiến Sobhraj lặn mất,
đồng thời cũng có thể làm ảnh hưởng đến ngành công nghiệp du lịch nên
mặc dù đã thu thập được nhiều chứng cứ dựa trên bức thư thú tội của
Rennelleau, cảnh sát Thái Lan chỉ lặng lẽ điều tra thay vì phát thông
báo, đề nghị những ai biết về hung thủ hãy đến trình báo với nhà cầm
quyền.
Nhưng người Hà Lan thì không! Một cán bộ phụ trách công tác lãnh sự ở
Đại sứ quán Hà Lan tại Bangkok là ông Herman Knippenberg bắt tay vào
việc điều tra. Theo ông Knippenberg, tất cả những nạn nhân xấu số đều có
chung một điểm là trước khi chết, họ đều gặp gỡ, ăn uống, đi chơi với
vợ chồng Sobhraj.
Mất nhiều thời gian, công sức tìm hiểu qua những khách du lịch, những
người lái taxi, xe tuk tuk, ông Knippenberg có được địa chỉ căn hộ nơi
vợ chồng Sobhraj cư trú. Thuyết phục cảnh sát Thái Lan cho phép khám xét
căn hộ, Knippenberg và cảnh sát phát hiện khá nhiều bằng chứng về việc
Sobhraj liên quan đến những vụ giết người. Đó là hộ chiếu của một số nạn
nhân cùng các giấy tờ liên quan đến họ như vé máy bay, thư từ, hình
ảnh. Bên cạnh đó, ông Knippenberg còn tìm thấy một lượng lớn thuốc ngủ
và bột lá cây Majiad.
Thời điểm xảy ra vụ khám xét, vợ chồng Sobhraj cùng Ajay đang ở
Singapore. Lúc trở lại Bangkok và lúc xuống taxi để đi bộ vào nhà thì
bất ngờ một đứa bé hàng xóm nhanh ẩu đoảng, đã báo cho Sobhraj biết:
"Mấy bữa trước có nhiều cảnh sát đến nhà chú". Lập tức, bộ ba quay lưng
tháo lui rồi thuê một chiếc xe hơi, chạy một mạch xuống tỉnh Surat
Thani, miền Nam Thái Lan.
Nghỉ lại đó một đêm, hôm sau Sobhraj cùng vợ và Ajay đi Songkhla rồi
qua biên giới, vào đất Malaysia. Hồ sơ Interpol về Sobhraj cho thấy tại
Kuala Lumpur, theo lệnh Sobhraj, Ajay đã nhiều lần đột nhập vào các cửa
hàng đá quý để ăn trộm nhưng sau đó cậu bé Ấn Độ này biến mất không tăm
tích. Interpol tin rằng Sobhraj đã giết Ajay để xóa hết dấu tích trước
khi đến Geneva, Thụy Sĩ, nơi vợ chồng anh ta xuất hiện như những người
chuyên mua bán đá quý.
Tiêu thụ xong phần lớn số hàng do Ajay trộm được, tháng 7.1976,
Sobhraj cùng vợ đi Bombay, Ấn Độ. Tại đây, anh ta thu nạp hai thiếu nữ
người Mỹ là Barbara Smith và Mary Ellen Eather. Nạn nhân đầu tiên của
"gia đình tội ác" Sobhraj là một thanh niên người Pháp tên Jean Luc
Solomon. Vẫn bằng cách pha thuốc ngủ vào rượu để cướp tài sản nhưng do
pha quá liều, Solomon ngộ độc chết.
Đến cuối tháng 7.1976, tại New Delhi, "gia đình" Sobhraj lừa một nhóm
sinh viên Pháp bằng cách giới thiệu mình là những hướng dẫn viên du
lịch chuyên nghiệp. Do tin tưởng, nhóm sinh viên này đã nhờ Sobhraj đưa
đi thăm thú nhiều nơi. Một buổi chiều, trước bữa ăn tại khách sạn
Vikram, Sobhraj đưa cho mỗi sinh viên một viên thuốc, nói là thuốc ngừa
bệnh kiết lị vì điều kiện ăn uống ở Ấn Độ không bảo đảm vệ sinh.
Tuy nhiên, có 3 sinh viên chỉ giả bộ uống rồi khi nhìn thấy bạn bè
mình lần lượt ôm bụng quằn quại, họ đã xông vào túm chặt lấy Sobhraj,
lôi anh ta đến đồn cảnh sát. Khi bị thẩm vấn, hai cô gái người Mỹ nhanh
chóng thú nhận âm mưu cướp tài sản của Sobhraj đồng thời khai luôn về vụ
đầu độc Jean Luc Solomon.
Riêng vợ chồng Sobhraj, trước sau cặp đôi này chỉ nói rằng họ đã bất
cẩn trong việc mua thuốc ngừa kiết lị đồng thời chối bay chối biến về
việc bỏ thuốc ngủ quá liều dẫn đến cái chết của anh thanh niên người
Pháp. Dù vậy, cảnh sát cũng xác định được Sobhraj là kẻ đã đánh thuốc mê
lính gác để trốn trại ở Kabul, Afghanistan hồi năm 1971 qua vết mổ…
ruột thừa!
Việc hỏi cung hoàn tất, Sobhraj, Marie, Barbara Smith và Mary Ellen
Eather bị đưa đến nhà tù Tihar ở New Delhi chờ ngày xét xử. Chịu không
nổi cuộc sống khủng khiếp trong buồng giam, Barbara và Mary Ellen tự sát
nhưng nhờ những người ở chung buồng phát hiện, gọi lính canh đưa đi cấp
cứu nên cả hai thoát chết.
SoBhraj trả lời phỏng vấn của các nhà báo trên đường ra tòa án Kathmandu.
Riêng Sobhraj, do còn giấu được mấy viên đá quý đựng trong một cái
ống bằng nhôm rồi nhét vào hậu môn, anh ta móc nối với mấy người lính
canh, nhờ họ đem bán. Trong hồi ký, anh ta kể: "Dù ở tù nhưng bữa sáng
của tôi luôn có bánh mì, trứng chiên, patê gan ngỗng, thịt jambon muối
và pho mai hảo hạng, còn rượu thì khỏi nói".
Ra tòa, Sobhraj lĩnh án 12 năm tù giam về tội cướp thay vì phải chịu
hình phạt treo cổ bởi những chứng cứ buộc tội anh ta giết Solomon không
rõ ràng. Với Marie, cô ta bị phạt 7 năm tù nhưng chỉ hơn 2 năm, Marie
được ân xá vì mắc bệnh ung thư buồng trứng. Trở về Canada, Marie trước
sau vẫn khẳng định rằng mình vô tội. Đến khi chết vào tháng 4.1984, cô
ta cho biết mình luôn trung thành với tình yêu dành cho Sobhraj còn hai
cô gái người Mỹ, mỗi cô nhận mức án 2 năm tù về tội đồng lõa cướp tài
sản. “Sát thủ bikini” biến thành… “người rắn”
Khi Sobhraj ở tù tại Ấn Độ thì ở Thái Lan, cảnh sát Thái và Sứ quán
Hà Lan vẫn kiên nhẫn điều tra. Hai năm sau đó, họ đã có đủ bằng chứng về
việc băng nhóm Sobhraj giết 2 người Israel và 2 người Hà Lan cùng 1 cô
gái Mỹ và 1 thanh niên Pháp. Đầu năm 1980, một nhóm quan chức thuộc Bộ
Tư pháp Thái Lan sang New Delhi, làm việc với Bộ Tư pháp Ấn Độ để bàn về
việc dẫn độ Sobhraj về Thái Lan xét xử khi anh ta mãn hạn tù ở Ấn Độ.
Lúc này, Sobhraj sống như một ông hoàng trong nhà tù Tihar. Với số
tiền bán những viên đá quý mà viên rẻ nhất cũng có giá 50.000USD, buồng
giam Sobhraj chẳng thiếu thứ gì, tivi, máy lạnh, tủ lạnh, điện thoại,
bồn tắm nước nóng còn ăn uống thì sơn hào hải vị. Thỉnh thoảng, Sobhraj
còn tổ chức những bữa tiệc, mời lính gác nhà tù tham dự nên họ đã làm
ngơ để một nữ luật sư của Sobhraj là Sneha Senger vào buồng giam ngủ với
anh ta!
Ở Thái Lan, tin tức về những vụ giết người của "Sát thủ bikini"
Sobhraj tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng. Lập tức, nó
thu hút nhiều nhà báo và ngay cả những nhà làm phim vào trại giam gặp
anh ta để phỏng vấn. Lẽ dĩ nhiên Sobhraj đâu bỏ qua cơ hội kiếm tiền có
một không hai này. Với những cuộc phỏng vấn chỉ kéo dài 30 phút, Sobhraj
bỏ túi 2.000USD.
Trong những cuộc phỏng vấn ấy, Sobhraj luôn chối bỏ việc giết người
mà chỉ giải thích về hành động của mình "là nhằm chống lại chủ nghĩa đế
quốc phương Tây ở châu Á". Riêng hai cuốn hồi ký, một là "Sobhraj - Cuộc
đời tội phạm" do Richard Neville chắp bút và cuốn "Người rắn" do Thomas
Thompson chắp bút, đã mang về cho Sobhraj 4 triệu USD. Tác giả Thomas
Thompson cho biết: "Sở dĩ tôi đặt tên cho Sobhraj là "người rắn" vì dù
bị giam ở nơi nào, anh ta cũng luồn lách trốn thoát được". Với cuốn phim
nói về cuộc đời phạm tội của Sobhraj, một hãng sản xuất ở Bolywood - là
kinh đô điện ảnh Ấn Độ đã trả cho Sobhraj 6 triệu USD tiền bản quyền!
Và mặc dù có tiền, nhưng Sobhraj vẫn canh cánh lo âu về việc sẽ bị
dẫn độ sang Thái Lan, nơi anh ta phải đối mặt với án tử hình. Theo cố
vấn của cô luật sư nhân tình anh ta, tháng 3.1986, khi đã ở tù được 10
năm, Sobhraj tổ chức một bữa tiệc hoành tráng, chiêu đãi toàn bộ lính
gác và bạn tù nhưng thức ăn được bỏ thuốc ngủ. Lúc tất cả đã vật vã dưới
tác dụng của thuốc, Sobhraj mở cửa nhà giam bước ra.
Hai ngày sau, anh ta bị thanh tra Madhukar Zende thuộc Sở cảnh sát
Mumbai bắt tại nhà hàng O'Coquero. Theo hồ sơ Interpol, Sobhraj cố ý để
bị bắt nhằm kéo dài thời gian ở tù vì theo luật Thái Lan, một vụ trọng
án sau 20 năm mà vẫn không bắt được thủ phạm thì sẽ hết thời hiệu truy
cứu hình sự.
Quả đúng như vậy. Vụ đầu độc, trốn trại mang lại cho Sobhraj thêm 10
năm tù giam, tổng cộng là 22 năm. Ngày 17.2.1997, lúc đã 52 tuổi,
Sobhraj được trả tự do, chính quyền Ấn Độ cho phép anh ta về Pháp. Lưới trời lồng lộng
Sobhraj sống thoải mái ở ngoại ô Paris với tài sản 15 triệu USD - là
tiền kiếm được từ những lần trả lời phỏng vấn, viết hồi ký và bán bản
quyền làm phim. Thế nhưng, chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào mà
Sobhraj quay lại Nepal, nơi anh ta đã giết người thanh niên Canada là
Laurent Carriere và cô gái người Mỹ Connie Bronzich. Một số tờ báo Thái
Lan gọi đó là "luật nhân quả".
Sobhraj cùng "vợ" là Nihita Biswas ở nhà tù Nepal, năm 2014.
Ngày 17.9.2003, một nhà báo tình cờ nhìn thấy Sobhraj trên đường phố ở
thủ đô Kathmandu. Hai ngày sau, anh ta bị bắt lúc đang đánh bài trong
casino của khách sạn Yak&Yeti. Gần 1 năm sau - ngày 20.8.2004,
Sobhraj bị tòa án Kathmandu kết án tù chung thân vì tội giết Carriere và
Bronzich. Hầu hết các bằng chứng dùng để buộc tội Sobhraj do lãnh sự Hà
Lan là ông Knippenberg và Interpol thu thập được.
Cuối năm 2007, luật sư của Sobhraj gửi một bản thỉnh nguyện thư đến
tổng thống Pháp là ông Nicolas Sarkozy, đề nghị Chính phủ Pháp can thiệp
với Chính phủ Nepal, phóng thích Sobhraj vì lý do nhân đạo bởi lẽ anh
ta đã ở tù Ấn Độ suốt 22 năm rồi nhưng thỉnh nguyện thư bị từ chối. Và
mặc dù tù chung thân có nghĩa là suốt đời sẽ không bao giờ còn được bước
chân ra khỏi nhà giam nhưng một thiếu nữ Nepal 20 tuổi là Nihita Biswas
lại quyết định lấy Sobhraj làm chồng!
Sobhraj kể: "Tôi yêu Nihita Biswas ngay từ cái nhìn đầu tiên. Cô ấy
là con của bà Shakuntala Thapa, luật sư của tôi khi bà đưa Nihita Biswas
vào trại giam để làm thông dịch viên tiếng Pháp cho tôi", còn Nihita
Biswas thì: "Dù đã 64 tuổi nhưng Sobhraj vẫn là một người đàn ông tuyệt
vời. Tôi sẽ đợi anh ấy".
Ngày 9.10.2008, nhân lễ hội Bada Dashami của người Nepal, Sobhraj và
Nihita Biswas tuyên bố đính hôn. Hôm sau, ban giám thị nhà tù Kathmandu
bác bỏ thông tin này. Giám đốc nhà tù cho biết Nihita Biswas cùng gia
đình được phép vào trại giam để thực hiện nghi lễ Tika cùng với những
người thân của hàng trăm tù nhân khác nhưng đó không phải là lễ đính hôn
vì khi vị trưởng lão bôi một dấu son lên trán họ thì đó chỉ là một phần
nghi thức của lễ hội Bada Dashami.
Ngày 30.7.2010, Tòa án tối cao Nepal bác đơn kháng cáo của Sobhraj
đồng thời bổ sung hình phạt 2.000 Rupi (tiền Nepal) về hành vi sử dụng
hộ chiếu giả. Bên cạnh đó, tòa cũng ra lệnh phong tỏa tất cả mọi tài sản
của Sobhraj.
Mẹ "vợ" anh ta - luật sư Shakuntala Thapa cho rằng "con rể" của mình
đã bị đối xử bất công vì số tài sản của Sobhraj là do anh ta kiếm được
qua việc trả lời phỏng vấn, viết hồi ký, bán bản quyền làm phim chứ
không phải giết người cướp của. Riêng Nihita Biswas, "vợ" Sobhraj cười
như mếu khi nghe tin gần 14 triệu USD của "chồng" mình không còn có thể
rút ra được…
Cũng cần nói thêm là khi hồi ký "Charles Sobhraj - Cuộc đời tội phạm"
xuất bản, Sobhraj đã phủ nhận tất cả những thông tin về mình trong cuốn
sách này, và dọa sẽ kiện nhưng theo Richard Neville, người chắp bút cho
cuốn hồi ký thì mọi lời kể của Sobhraj đều đã được ông ghi âm nên anh
ta có kiện đằng trời!
Theo PV (An ninh thế giới)
Băng lừa đảo đa quốc tịch
Cuối năm 1973, Sobhraj đi Thổ Nhĩ Kỳ. Tại Istanbul, anh ta gặp người
em cùng mẹ khác cha là André. Chỉ một thời gian ngắn, bị người anh dụ
dỗ, André nhanh chóng nghe theo Sobhraj, cùng Sobhraj hợp thành một cặp
bài trùng, chuyên ăn trộm xe hơi, buôn lậu thuốc lá rồi chuyển sang Hy
Lạp tiêu thụ.
Sobhraj và Marie Andrée Leclerc ở Bangkok, Thái Lan.
Giữa năm 1974, đường dây vận chuyển, tiêu thụ xe ăn trộm bị cảnh sát
Hy Lạp phát giác, Sobhraj và André cùng một số đồng phạm bị bắt. Theo hồ
sơ Interpol, đã có khoảng 140 chiếc xe rơi vào tay băng nhóm Sobhraj.
Bị giam trong nhà tù ở Athens, một lần nữa Sobhraj lại giả ốm rồi trốn
thoát. Riêng André, cảnh sát Hy Lạp đồng ý cho dẫn độ anh ta về Thổ Nhĩ
Kỳ. Ra tòa, André lĩnh án 18 năm tù giam.
Thoát khỏi Hy Lạp, Sobhraj đến Thái Lan bằng hộ chiếu giả. Xuất phát
từ Athens, anh ta băng qua Iran, Pakistan, Ấn Độ, Miến Điện (nay là
Myanmar) và điểm cuối cùng là Bangkok. Sobhraj kể: "Để tránh bị phát
hiện, trong hành trình xuyên Ấn Độ, tôi luôn mua vé khoang hạng nhất -
loại khoang dành cho 2 người vì cảnh sát biết hành khách khoang này đều
là tầng lớp thượng lưu nên họ ít chú ý".
Và để có tiền chi tiêu, Sobhraj "bổn cũ soạn lại". Cứ khoảng 2 tiếng
trước khi đến ga - nơi anh ta sẽ chuyển tàu - Sobhraj mời người khách ở
chung khoang với mình uống rượu: "Khi họ đã mê man, tôi khoắng sạch. Lúc
nhân viên phục vụ khoang phát hiện vị khách ngủ say như chết thì tôi đã
ở trên một chuyến tàu khác rồi".
Những ngày đầu tiên ở Bangkok, Sobhraj thuê một căn phòng của một
khách sạn nhỏ nằm trên đường Charoen Krung rồi lang thang đây đó tìm
cách "làm ăn". Một hôm, tại khu chợ nổi trên sông Chao Phraya, anh ta
tình cờ gặp một cô gái người Canada - là thư ký y khoa, đến từ thành phố
Quebec, tên Marie Andrée Leclerc. Trong vai một du khách từng trải,
Sobhraj kể cho cô gái nghe về những nơi anh ta đã đi qua như Iran, Ấn
Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp…, về phong tục, tập quán và về cuộc sống của
người dân ở đó. Bị thu hút bởi tính lãng tử của Sobhraj, chỉ sau vài lần
gặp gỡ, Marie đã thu dọn đồ đạc về ở chung với Sobhraj như vợ chồng!
"Xe hơi ở Bangkok phần lớn là xe đời cũ, có bán cũng chẳng được bao
nhiêu. Hơn nữa, tôi vẫn chưa tìm được đầu mối tiêu thụ nào vì tôi không
biết tiếng Thái trong khi đa số người Thái không nói tiếng Anh hoặc
tiếng Pháp…", Sobhraj kể trong hồi ký: "Vì thế, tôi phải chuyển hướng
hoạt động bằng cách tuyển mộ thêm một số tay chân".
Người đầu tiên mà Sobhraj tuyển mộ là một thanh niên Pháp, quê ở Côte
D'azur, tên Dominique Rennelleau. Mời Rennelleau đi ăn tối cùng với cô
vợ Marie của mình, Sobhraj kín đáo bỏ vào đĩa thức ăn của Rennelleau một
ít bột lá cây Majiad - loại cây mọc ở Ấn Độ, có khả năng gây ra những
triệu chứng giống như bệnh kiết lị. Ăn xong, chiều hôm sau Sobhraj đến
khách sạn nơi Rennelleau trú ngụ, vờ như ghé thăm. Thấy Rennlleau nằm ôm
bụng nhăn nhó trên giường, Sobhraj đã "hào phóng" mời anh chàng này về ở
chung với mình để tiện việc chữa trị.
Cảm kích trước cử chỉ nghĩa hiệp của Sobhraj, dần dà Rennlleau tự
nguyện làm bất cứ việc gì mà Sobhraj sai bảo mặc dù cậu trai người Côte
D'azur thừa biết đó đều là những việc phi pháp.
Tuy nhiên, trợ thủ đắc lực nhất của băng nhóm Sobhraj lại là một
thiếu niên Ấn Độ tên Ajay Chowdhury. Sobhraj gặp Ajay khi cậu bé đang
đói lả trong công viên. Được cho ăn uống, mua sắm quần áo, cho chỗ trú
ngụ, Ajay ngoan ngoãn vâng lời Sobhraj chẳng khác gì đầy tớ nghe lời
chủ.
Sobhraj đọc bài báo viết về mình trên tờ Người Paris.
Trong hồi ký, Sobhraj kể: "Để đánh giá khả năng và cũng là để thử
lòng trung thành của Ajay, một hôm tôi đưa cậu ta chiếc đồng hồ đeo tay
bằng vàng hiệu Rolex - dĩ nhiên là đồ giả - đã được tháo một cái chốt ở
dây đeo để làm ra vẻ nó bị đứt rồi dặn cậu ta "diễn" cho đúng bài".
Ajay cầm đồng hồ đến những quán bia nằm dọc theo đại lộ Maha Rat, nơi
mà ngày cũng như đêm, lúc nào cũng có những người lính Mỹ mới từ Sài
Gòn rút về, ngồi nhâm nhi với những cô tiếp viên. Theo kịch bản, Ajay
bước vào, chìa chiếc đồng hồ ra, nói rằng mình vừa mới nhặt được rồi mời
lính Mỹ mua. Đúng lúc ấy, Sobhraj xuất hiện, tỏ ý cũng muốn mua nhưng
Ajay không bán.
Kỳ kèo một lúc, Sobhraj rút lui. Thấy chiếc đồng hồ trị giá 1.200USD
nhưng thằng bé Ấn Độ chỉ bán có 500 vì là "của nhặt" nên lắm anh lính
ham rẻ, mua ngay. Sobhraj kể: "Có bữa, cả Marie lẫn Rennelleau và Ajay
xoay tua đóng kịch, bán được 6 chiếc. Trừ đi giá vốn mỗi chiếc 50USD,
chúng tôi cũng đủ sống qua ngày nhưng tôi biết trò kiếm ăn ấy không thể
kéo dài mãi". “Sát thủ bikini” trên đất Thái Lan
Giữa tháng 9.1975, vợ chồng Sobhraj làm quen với một cô gái người Mỹ
tên Teresa Knowlton, đến từ thành phố Seattle, bang Washington (trong
cuốn sách "Người rắn" viết về cuộc đời Sobhraj, tác giả Thomas Thompson
nói cô này tên là Jennie Bollivar).
Thi thể của cô gái người Mỹ Teresa Knowlton.
Cũng như những con mồi khác, Teresa được vợ chồng Sobhraj mời đi ăn,
đi thuyền du lịch trên sông Chao Phraya. Khoảng ba tuần sau, những đợt
sóng thủy triều đưa thi thể Teresa lên bãi biển Kolkata, trên người chỉ
mặc mỗi bộ đồ tắm (bikini) 2 mảnh.
Thoạt đầu, cảnh sát Thái Lan cho rằng Teresa chết đuối vì uống bia và
hút cần sa quá mức như vẫn thường thấy ở một số thanh niên nam nữ Mỹ
khi du lịch Thái Lan.
Tuy nhiên, theo yêu cầu của gia đình nạn nhân thông qua Sứ quán Mỹ,
một nhóm chuyên gia pháp y từ Mỹ bay sang Bangkok. Kết quả khám nghiệm
tử thi cho thấy Teresa bị trấn nước đến chết rồi mới ném xuống biển vì ở
vùng sau gáy cô gái, vẫn còn lờ mờ những dấu thâm tím của mấy ngón tay.
41 năm trôi qua, cho đến hiện tại, khi Sobhraj đang còn chịu án tù
chung thân ở Nepal vì tội giết người, vẫn không ai biết vì sao Teresa
chết. Giả thuyết vợ chồng Sobhraj giết cô gái để cướp tài sản xem ra
không có lý vì theo lời khai của những người bạn Teresa thì cô này thuộc
dạng "Tây balô, du lịch bụi", tiền nong chẳng có nhiều. Cũng có giả
thuyết đặt câu hỏi là phải chăng vợ chồng Sobhraj làm quen cô gái với
mục đích kết nạp cô vào băng nhóm lừa đảo, trộm cắp. Nhưng lúc thấy
Teresa từ chối, sợ cô gái tố cáo mình, Sobhraj hạ thủ cô ta để bịt đầu
mối?
Nạn nhân thứ hai của băng nhóm Sobhraj là một thanh niên Israel tên
Vitali Hakim, thi thể bị đốt cháy đen, được phát hiện tại một bãi biển
hoang vắng trong khu nghỉ mát Pattaya. Cũng như cô gái người Mỹ Teresa,
nhiều nhân chứng cho biết trước khi Hakim chết, họ gặp anh ta đi chơi
chung với nhóm Sobhraj. Kiểm tra khách sạn nơi Hakim thuê phòng, cảnh
sát Thái Lan thấy quần áo và đồ dùng cá nhân của của Hakim vẫn còn
nguyên vẹn, chỉ không có hộ chiếu và tiền bạc. Nhân viên nhà hàng trong
khách sạn nói mỗi lúc Hakim trả tiền ăn, anh ta đưa tiền mặt là đôla Mỹ.
Tiến hành điều tra, vợ chồng Sobhraj cùng hai gã đàn em là Ajay và
Rennelleau đều khai rằng họ có quen Hakim nhưng chỉ đi chơi chung vài
lần. Khu nghỉ mát Pattaya khách du lịch người nước ngoài đông như kiến,
họ quen nhau chớp nhoáng rồi chia tay nhau cũng nhanh không kém, biết
đâu mà lần nên theo nhận định của cảnh sát Thái, có thể Hakim đã gây ra
một xích mích nào đó với những băng nhóm xã hội đen người Thái ở Pataya
và bị giết.
Không liên lạc được với Hakim, người yêu của Hakim là Charmayne
Carrou từ Tel Aviv, Israel bay sang Bangkok. Trước đó, Hakim nhiều lần
điện thoại cho Carrou, nói rằng mình "đã gặp những người bạn tốt bụng và
thường xuyên đi chơi chung với họ, về nhà họ tiệc tùng…".
Đến Bangkok, Carrou nhanh chóng tìm ra nơi băng nhóm Sobhraj trú ngụ.
Lo sợ trước sự truy vấn của cô gái Israel về việc bạn trai tự dưng biến
mất bởi lẽ hôm cuối cùng trước khi chết, Hakim điện thoại cho Carrou,
nói rằng mình sẽ đi Pattaya với vợ chồng Sobhraj nên anh ta đề nghị đưa
cô gái đến một resort ở Pattaya, nơi Hakim thuê phòng để tìm hiểu.
Chín ngày sau đó, xác Carrou nổi lên trên biển Pattaya, trên người
cũng chỉ mặc một bộ bikini y hệt Teresa. Và cũng như cái chết của
Teresa, cảnh sát Thái Lan một lần nữa kết luận rằng Carrou đuối nước
trong lúc trên trang nhất của những tờ báo phát hành ở Bangkok, cụm từ
"The Bikini Killer - Sát nhân bikini" lần đầu tiên xuất hiện
Ngay trong thời điểm Carrou từ Tel Aviv sang Bangkok tìm Sobhraj thì
tên này đã giết thêm hai người nữa. Đó là một sinh viên người Hà Lan tên
Henk Bintanja và vị hôn thê là Cornelia Hemker. Sobhraj quen cặp đôi
này ở Hongkong khi hắn ta qua đó đặt làm đồng hồ giả. Bằng cách mời họ
sang Bangkok du lịch, lúc họ tìm đến chỗ ở của Sobhraj thì cũng là lúc
Carrou đang chất vấn Sobhraj về sự mất tích của người yêu mình. Sợ bị
bại lộ, Sobhraj đầu độc Henk Bintanja và Cornelia Hemker bằng thuốc ngủ
bỏ trong thức ăn rồi cùng cậu bé Ấn Độ Ajay giết họ.
Ngày 16.12.1975, thi thể của Henk Bintanja và Cornelia Hemker được
tìm thấy trong tình trạng một người bị đánh gãy đốt sống cổ còn người
kia thì cháy thành than. Thay ảnh trong hộ chiếu của nạn nhân, Sobhraj
cùng vợ đi Nepal.
Đến ngày 28, cặp đôi này giết 2 du khách, một anh chàng người Canada
là Laurent Carriere cùng một cô gái người Mỹ là Connie Bronzich. Bằng
cách rủ họ đi thám hiểm núi Everest, mọi chi phí Sobhraj lo hết, vợ
chồng Sobhraj đưa 2 du khách đến một nơi hoang vắng, nói là để gặp những
người Nepal dẫn đường.
Lợi dụng lúc Laurent Carriere và Connie Bronzich sơ ý, Sobhraj cầm
cây gậy vốn dùng để chống đi cho thăng bằng, đánh vào gáy Laurent
Carriere nhiều cú trong lúc cô vợ đâm Connie Bronzich bằng dao. Sau khi
lục lấy hết tiền bạc, hộ chiếu, Sobhraj định đốt xác họ nhưng do lượng
xăng mà anh ta mang theo trong bình - ngụy trang là bình nước uống,
không đủ nên chỉ có xác của Connie Bronzich bị đốt.
Vẫn với thủ đoạn sử dụng hộ chiếu của hai nạn nhân Laurent Carriere và Connie Bronzich, vợ chồng Sobhraj quay lại Thái Lan.
Tại Bangkok, Rennelleau - người đã bị Sobhraj bỏ bột lá cây vào thức
ăn, gây ra bệnh kiết lị rồi sau đó chữa trị để kết nạp vào nhóm - lúc
nhìn thấy những tấm hộ chiếu họ tên là của người khác nhưng hình ảnh lại
là hình vợ chồng Sobhraj - và nhất là thông tin về việc tìm thấy xác
hai người Hà Lan tràn ngập trên các trang báo thì Rennelleau biết rằng
Sobhraj không chỉ bán đồng hồ giả, mà anh ta còn cướp của, giết người.
Lo sợ trước án tù nặng nề treo trên đầu mình vì tội đồng lõa, Rennelleau
viết một lá thư, kể rõ tất cả những việc mình đã chứng kiến, gửi cảnh
sát Thái Lan rồi trốn về Paris.
Thấy Rennelleau đột nhiên biến mất, linh tính của một kẻ tội phạm đã
khiến Sobhraj cảnh giác. Lập tức, anh ta đưa cô vợ và tay trợ thủ Ajay
đi Calcutta, Ấn Độ. Tại nơi này, vẫn bằng cách làm quen, mời ăn uống,
Sobhraj giết một người Istrael tên Avoni Jacob để lấy cuốn hộ chiếu.
Bằng cái tên Jacob, Sobhraj cùng vợ và Ajay đi Singapore…
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét