BÍ ẨN LỊCH SỬ 94

(ĐC sưu tầm trên NET)

Bí ẩn lời nguyền đáng sợ của 2 vị vua bị “bức tử” chết trong lịch sử

Bị ép nhường ngôi, đi tu rồi bị giết giống hệt nhau cho cả hai ông vua cuối cùng của triều Lý và triều Trần. Phải chăng đây là kết quả của một lời nguyền?

Lời nguyền đáng sợ của vị vua Lý treo cổ tự vẫn
Số phận long đong khiến Lý Huệ Tông phải chạy loạn từ tuổi 15 và trên hành trình đó, ông đã gặp mối lương duyên định mệnh với Trần Thị Dung, người ông đã hết lòng yêu thương và bảo vệ những cũng chính mối tình ấy đã dẫn đến sự tuyệt diệt của nhà Lý.
Ngay từ khi lên ngôi, Lý Huệ Tông đã chẳng có mấy thực quyền bởi quần thần chia thành nhiều phe phái xâu xé nhau và cuối cùng, quyền lực lớn nhất về tay nhà Trần, đứng đầu là ông anh vợ Trần Tự Khánh. Khánh mất, địa vị đó lọt vào tay em họ ông ta là Trần Thủ Độ.
Chỉ một năm sau khi nắm quyền, Thủ Độ đã ép Huệ Tông phong cho công chúa Chiêu Thánh mới 7 tuổi làm thái tử rồi nhường ngôi. Huệ Tông thành thái thượng hoàng, xuất gia đi tu ở chùa Bút Tháp, lấy pháp danh là Huệ Quang.
Có vẻ như Huệ Tông đã an phận với đời tu hành, nhưng hai năm sau, vào năm 1226, Trần Thủ Độ sợ lòng dân vẫn nhớ vua cũ nên để khỏi “đêm dài lắm mộng”, ông quyết định kết liễu sinh mạng Huệ Tông.
Một hôm Thủ Độ đến chùa tìm Huệ Tông, thấy ông đang nhổ cỏ liền nói: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Huệ Quang đại sư đáp: “Điều người nói, ta đã hiểu”, và sau đó treo cổ tự tử.
 bi an loi nguyen dang so cua 2 vi vua bi “buc tu” chet trong lich su hinh anh 1
Bí ẩn lời nguyền đáng sợ của 2 vị vua bị “bức tử” chết trong lịch sử. Ảnh minh họa.
Tương truyền, trước khi chết, ông vua triều Lý có để lại lời nguyền: “Các ngươi đã cướp thiên hạ của ta, nay lại còn giết ta. Nay ta chết như thế nào, con cháu các ngươi sau này cũng bị như thế”.
Chuyện vua Lý nguyền rủa dòng họ Trần có lẽ chỉ do người sau thêu dệt, bởi trong những thời khắc hung hiểm như vậy, khó có ai làm chứng. Nhưng có một sự thật là kết thúc của dòng họ Trần sau đó gần 200 năm cũng có rất nhiều điểm tương đồng với kết cục của nhà Lý, nhất là cái chết của hai ông vua “cuối cùng”.
Liệu có phải là lời nguyền đã đúng?
Thứ nhất, vương triều của họ đều mất về tay ngoại thích – họ hàng của những người đàn bà được vua yêu dấu. Kẻ tiếm ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly, có hai người cô làm vợ vua Trần Minh Tông.
Đến đời Nghệ Tông, ông được tin dùng với quyền lực ngày một lớn, đến mức hầu như quần thần đều thấy rõ bụng dạ thoán đoạt, chỉ riêng Nghệ Tông vẫn mù quáng tin tưởng, giao hết quyền bính vào tay Quý Ly.
Sau này, Nghệ Tông nhường ngôi cho cháu là Trần Hiện (Trần Phế Đế), vị vua trẻ biết dã tâm của họ Hồ và có ý trừ bỏ, nhưng Quý Ly chỉ nói vài câu với thượng hoàng Nghệ Tông là Trần Hiện đã lập tức bị phế rồi giết chết.
Sau vụ đó, Thượng hoàng Nghệ Tông lập con trai mình, mới 11 tuổi, lên ngôi, là Trần Thuận Tông. Vị vua thiếu niên này được sắp đặt lấy con gái của Hồ Quý Ly, lập làm hoàng hậu.
Tay chân của họ Hồ nắm hết các chức vụ trọng yếu, và sau khi thượng hoàng Nghệ Tông mất thì ông ta chẳng còn kiêng nể gì nữa. Bên cạnh ông con rể hoàng đế ở tuổi thiếu niên, chính Quý Ly mới là ông vua thực sự.
Năm 20 tuổi, Thuận Tông bị ông bố vợ ép xuống chiếu nhường ngôi cho con trai mới 2 tuổi là thái tử An, với quyền nhiếp chính của Hồ Quý Ly. Tương tự Lý Huệ Tông, sau khi trở thành thái thượng hoàng, Thuận Tông bị ép đi tu ở đạo quán Ngọc Thanh, xung quanh có bao tay chân của họ Hồ giám sát.
Cũng như Trần Thủ Độ, Quý Ly cũng muốn nhổ cỏ tận gốc nên đã sai người đưa đến cho Thuận Tông một bài thơ, trong đó có câu: “Sao không sớm liệu đi/Để cho người nhọc sức?”. Thuận Tông uống thuốc độc nhưng không chết, bị tay chân của ông bố vợ tàn nhẫn thắt cổ, chết ở tuổi 21.
Đứa con của hai ông vua bị ép chết sau khi xuất gia này cũng đều mang số phận tốt thí. Lý Chiêu Hoàng vừa được đặt lên ngôi đã phải nhường ngai vàng cho họ Trần để làm hoàng hậu, sau đó bị giáng làm công chúa rồi bị chồng cũ gả cho bề tôi.
Còn con trai của Thuận Tông lên làm vua được hai năm đã bị ông ngoại cướp ngôi, giáng xuống làm Bảo Ninh Đại vương.
Theo H.T.H.T (Khoevadep)

Bí ẩn lớn nhất triều đại nhà Thanh: Ung Chính sửa di chúc để đoạt vị?

Trong lịch sử Trung Quốc bất cứ triều đại nào cũng có những nghi án lớn trong hoàng tộc, nhà Thanh cũng không ngoại lệ.

    Ung Chính là vị Hoàng đế thứ năm của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 1722 đến 1735. Ông dùng niên hiệu Ung Chính trong suốt thời gian 13 năm trị vì, nên các sử gia thường gọi ông là Ung Chính Đế.
    Là một vị Hoàng đế siêng năng, cần kiệm và có tinh thần chống tham nhũng, mục tiêu của Ung Chính là tạo ra một triều đình hiệu quả với chi phí thấp nhất và ông đã tiếp tục được sự thịnh trị gần 150 năm còn lại của Đại Thanh.
    Nghi án Tứ Hoàng Tử Dận Chân (Ung Chính) sửa di chúc của Khang Hy để có thể kế thừa vương vị
     bi an lon nhat trieu dai nha thanh: ung chinh sua di chuc de doat vi? hinh anh 1
    Chuyện bắt đầu từ năm 1708, tức năm Khang Hy thứ 47, tại hành cung Bố Nhĩ Cáp Tô Đài. Hôm đó, ngày 4.9, trước tất cả thân vương, đai thần, thị vệ, văn võ bá quan, Khang Hy tuyên bố, phế bỏ ngôi vị thái tử của Dận Nhưng. Sau đó ông vua đã ngoại ngũ tuần không kìm được bi thương mà rớt nước mắt.
    Nửa năm sau, Dận Nhưng được phục hồi ngôi vị thái tử. Tuy nhiên, hơn ba năm sau, Khang Hy lại một lần nữa phế bỏ ngôi vị của Dận Nhưng. Cũng từ đó cho tới lúc chết, Khang Hy không một lần nào nhắc tới chuyện lập người kế vị nữa. Vị trí thái tử bị bỏ trống 7 năm.
    Sử sách ghi chép lại rằng vào ngày 20.12.1722, hoàng đế Khang Hy đã gọi lại bên giường của mình 7 vị hoàng tử và Cửu môn đề đốc, Long Khoa Đa, người sẽ đọc di chiếu và tuyên bố Ung Chính là người kế vị ngai vàng.
    Một số chứng cứ chứng tỏ rằng Dận Chân đã có liên kết với Long Khoa Đa từ vài tháng trước khi di chiếu được tuyên bố bằng sự chuẩn bị lực lượng quân đội, vì trong dự định của họ, binh biến là không thể tránh khỏi.
    Việc lên ngôi của Ung Chính hoàng để còn có nhiều bí ẩn
    Các truyện dân gian cho rằng Ung Chính đã thay đổi di chiếu của vua cha bằng cách thêm dấu vào và sửa đổi k‎í tự. Nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là việc Ung Chính đã thay đổi chữ "thập tứ" (十四) thành chữ "vu tứ" (于四, vu nghĩa là "cho"), một số khác cho rằng từ "thập tứ" thành "đệ tứ" (第四).
    Khi các câu chuyện này truyền trong dân gian, cũng có một số ít chứng cứ cho quan điểm này, đặc biệt là dựa trên việc chữ "vu" (于) không được dùng rộng rãi trong suốt thời đại nhà Thanh, vì người ta thường dùng chữ "於".
    Tiếp đó, phong tục của nhà Thanh là di chiếu sẽ được viết cả bằng tiếng Mãn Châu và tiếng Hán, mà tiếng Mãn Châu khó viết hơn, trong trường hợp này việc sửa di chiếu có lẽ khó khăn hơn.
    Tuy nhiên, dù có nhiều nghi ngờ dấy lên khi mà di chiếu viết bằng tiếng Mãn bị thất lạc đâu đó và di chiếu bằng tiếng Hán, đang được lưu giữ trong viện Bảo tàng sử Trung Quốc, chỉ được ban bố 2 ngày sau cái chết của Khang Hy.
    Một số nhà sử đưa ra giả thuyết rằng Ung Chính không thay đổi di chiếu nhưng đã viết một bản khác.
    Theo H.T.H.T (Khoevadep)

    Bà phi bị thất sủng và cái chết bí ẩn của vua Lê Thánh Tông

    Sau một cuộc đời vẻ vang, hiển hách, vua Lê Thánh Tông vẫn âm thầm ra đi mang theo bí ẩn ngàn năm về cái chết kỳ lạ của mình.

      Là vị vua anh minh, có tài văn trị, võ công hiển hách, xứng đáng là vị vua cai trị giỏi nhất của thời phong kiến Việt Nam, nhưng cuối đời, vua Lê Thánh Tông lại ra đi bởi một cái chết đến giờ vẫn là một bí ẩn.
      Lê Thánh Tông là vua thứ 5 của triều Lê Sơ, ông lên ngôi sau sự biến tháng 6 năm Canh Thìn (1460), khi các đại thần lật đổ Lê Nghi Dân, vị vua cướp ngôi của vua Lê Nhân Tông. Lúc đó, ông đã 18 tuổi. Qua 38 năm trị vì, ông đưa đất nước phát triển rực rỡ về tất cả mọi mặt, từ kinh tế, vắn hóa, xã hội, giáo dục, quân sự.
      Tuy nhiên, cái chết của ông năm 1497 vẫn luôn là một bí ẩn của lịch sử. Sử sách chính thống của triều đại có ghi lại về điều này, trong đó, thủ phạm chính được đề cập rõ ràng là một bà quý phi, nhưng điều khá lạ là sau đó, dù mang tội giết vua bà vẫn nghiễm nhiên trở thành Thái hậu của triều sau.
      Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: “Tiếc rằng vua nhiều phi tần quá, nên mắc bệnh nặng. Trường Lạc hoàng hậu bị giam ở cung khác, đến khi vua ốm nặng mới được đến hầu bệnh, bèn ngầm giấu thuốc độc trong tay mà sờ vào chỗ lở, bệnh vua do vậy mới lại thêm nặng”.
      Sử gia Vũ Quỳnh viết rằng Lê Thánh Tông lâm bệnh phù thũng. Do bị bôi thuốc độc, bệnh của Thánh Tông càng nặng thêm; đến ngày 30.1 âm lịch (3.3 dương lịch) năm 1497, ông qua đời ở điện Bảo Quang, hưởng thọ 56 tuổi. Tương truyền, ngày hôm ấy, ấn thần và gươm thần đều biến mất.
       ba phi bi that sung va cai chet bi an cua vua le thanh tong hinh anh 1
      Tranh vẽ vua Lê Thánh Tông
      Về bà quý phi Nguyễn Thị Hằng, vốn là con gái Thái uý Trình Quốc công Nguyễn Đức Trung (người là tổ của chúa Nguyễn Hoàng và sau này là các vua nhà Nguyễn). Theo sử sách, trong số các phi tần, ban đầu bà được vua Thánh Tông yêu quý nhất.
      Bà đã sinh hạ hoàng tử Lê Tranh, được lập làm Hoàng Thái tử. Nhà vua từng mấy lần muốn lập bà làm hoàng hậu, nhưng thấy dòng họ nhà bà có thế mạnh, sợ rằng các tần thiếp không ai dám gần vua nữa, nên lại thôi.
      Tuy nhiên, về sau, bà bị ruồng bỏ, bạc đãi đến nỗi đem lòng thù ghét, lại sợ rằng vua sẽ thay di mệnh không cho con mình lên làm vua nữa, nên đã hạ độc giết vua.
      Về bệnh của vua, ở đoạn chép của Đại việt sử ký toàn thư, người ta cho rằng câu “vua nhiều phi tần quá, nên mắc bệnh nặng”, ám chỉ là vua mắc bệnh vì quan hệ với phi tần quá độ.
      Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường lại suy đoán, cũng có thể vua mắc bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, bởi vì không phải tất cả phi tần, cung nữ trong cung đều miễn nhiễm với các căn bệnh này.
      Ngoài ra vua Thánh Tông còn thu nạp vào cung những cung nữ người Chiêm Thành, trong đó có cả vợ của vua Chiêm sau những trận đánh của ông.
      Còn đoạn chép của sử gia Vũ Quỳnh lại chỉ ra rằng vua bị bệnh phong thũng. "Phong thũng" theo cách hiểu thông thường, và của cả y học ngày xưa, là chỉ hiện trạng bệnh lở lói, phong hủi.
      Mặc dù căn bệnh mà vua mắc phải không được nói rõ nhưng vua Lê Thánh Tông bị bệnh và mất rất nhanh. Vì trước đó 1 năm, tháng 2.1496, ông còn đi ngự thuyền về Lam Kinh bái yết các lăng tẩm. Hành trình mà ngày nay vẫn dài khoảng 130km, khi vua đã 55 tuổi, chứng tỏ sức khỏe của vua vẫn còn tốt.
      Mãi đến cuối năm, sử mới chép “mùa đông, tháng 11, ngày 17, vua không khoẻ”, và đến ngày 30 tháng Giêng năm sau thì vua đã băng hà. Do đó, khả năng vua mất vì chất độc ngấm vào cơ thể là chắc chắn nhất, còn trước đó, vua bị bệnh gì dẫn đến lở loét, thì vẫn không sử liệu nào nói đến.
       ba phi bi that sung va cai chet bi an cua vua le thanh tong hinh anh 2
      Ảnh minh họa
      Về chuyện bà Quý phi Nguyễn Thị Hằng giết vua mà sử xưa chép, các sử gia sau này cũng đặt nghi vấn, vì nếu chuyện đó có thật, thì dòng họ nhà bà sẽ bị tru di hết cả, không ở đời vua này thì ở đời vua khác.
      Tuy nhiên, sau khi Thánh Tông mất, triều đình vẫn cứ theo lệnh cũ, đưa hoàng tử Lê Tranh lên ngôi, lấy hiệu là Hiến Tông. Sau khi đăng quang, vua Hiến Tông tôn phong mẹ là Trường Lạc Hoàng Thái hậu. Điều lý giải duy nhất là vua Hiến Tông bảo vệ bà, bởi vì hành động của bà đã đem lại ngôi báu cho ông.
      Cuối cùng, sau một cuộc đời vẻ vang, hiển hách, vua Lê Thánh Tông vẫn âm thầm ra đi mang theo bí ẩn ngàn năm về cái chết kỳ lạ của mình.
      Về số phận Trường Lạc Hoàng hậu, sau khi Lê Hiến Tông qua đời, rồi Lê Túc Tông cũng mất, bà phản đối việc lập hoàng tử Lê Tuấn lên ngôi, nên khi hoàng tử này làm vua, tức vua Lê Uy Mục, đã sai người giết chết bà năm 1505, lúc đó bà thọ 65 tuổi.
      Theo Lê Tiên Long (Khám Phá)

      Những bí ẩn chưa có đáp án trong lịch sử Việt Nam

      Có rất nhiều sự kiện, nhân vật trong cả ngàn năm lịch sử dân tộc Việt Nam cho đến nay, hậu thế vẫn chưa có lời giải đáp.

      Xuyên suốt chặng đường lịch sử lâu dài hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, có biết bao câu chuyện bí ẩn, biết bao điều uẩn khúc mà qua lớp bụi phủ dày của thời gian có thể khiến hậu thế sẽ không bao giờ lý giải được. Đi tìm câu trả lời cho những ẩn số thiên cổ ấy, xét đến cùng mà nói, chính là cách lưu truyền, gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc vẹn toàn nhất.
      Vụ án Lệ Chi Viên
      Vụ án Lệ Chi Viên, tức vụ án vườn vải là vụ án mà Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ bị triều đình quy tội giết vua Lê Thái Tông, dẫn tới tru di tam tộc.
      Bản thân vụ án được 3 nguồn chính sử đề cập là Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục và Lịch triều hiến chương loại chí.
      Tại 3 nguồn nêu trên, đều nhắc đến thời điểm xảy ra vụ án là khoảng tháng 7 Âm lịch, tức năm Nhâm Tuất 1442, năm Nguyễn Trãi 63 tuổi (theo Lịch triều hiến chương loại chí) và vợ là Thị Lộ đón vua về ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi sau khi vua đi tuần ở miền Đông và duyệt quân ở thành Chí Linh (Hải Dương).
       nhung bi an chua co dap an trong lich su viet nam hinh anh 1
      Nguyễn Trãi sau khi đại thắng quân Minh đang thanh thản gác kiếm viết lại bài cáo Bình Ngô (bình Ngô Đại Cáo) lừng danh. (Ảnh: Internet)
      Ngày 4.8 Âm lịch vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay là thôn Đại Lai, xã Đại Lao, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), cùng đi với vua là thiếp của Nguyễn Trãi, bà Thị Lộ khi đó nhờ xinh đẹp, tài văn chương nên được vua phong chức Lễ nghi học sĩ, được vào hầu bên cạnh vua.
      Đêm đó, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi mất. Các quan bí mật đưa thi hài vua Lê Thái Tông về đến kinh, nửa đêm ngày 6.8 Âm lịch mới phát tang. Thị Lộ bị quy tội giết vua, sau khi thái tử Bang Cơ - tức Lê Nhân Tông - khi đó mới 2 tuổi lên nối ngôi, triều đình bắt Nguyễn Trãi rồi tru di tam tộc.
      Các bản chính sử đều cho rằng, đây là một vụ án oan. Vua Lê Nhân Tông sau này xem sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi từng cho rằng "Nguyễn Trãi là người trung thành…không may bị người đàn bà gây biến, để người lương thiện mắc tội là rất đáng thương".
      Vua Lê cho rằng Nguyễn Thị Lộ mới là người gây ra cái chết cho vua chứ không phải là Nguyễn Trãi, sau đó ban chiếu minh oan cho ông, truy tặng Nguyễn Trãi tước Tán Trù bá.
      Tuy nhiên, trong cuốn "Nhìn lại lịch sử" xuất bản năm 2003 của nhóm tác giả Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ lại cho rằng, chủ mưu vụ án là Nguyễn Thị Anh, vợ thứ vua Lê Thái Tông. Cho đến nay, thủ phạm thực sự là ai vẫn còn là một bí ẩn.
      Các vua Hùng trị vì bao nhiêu năm?
      Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, triều đại các vua Hùng ở Việt Nam bắt đầu khi vua Kinh Dương Vương lên ngôi năm Nhâm Tuất (2879 TCN). Triều đại này kéo dài đến năm Quý Mão (258 TCN) thì kết thúc với 18 đời vua Hùng nối nhau trị vì trong 2.622 năm. Tính trung bình, mỗi thời vua Hùng Vương kéo dài tới... 150 năm.
      Đây rõ ràng là một con số khó tin. Vì vậy, nhiều sử gia đã tỏ ý nghi ngờ và đưa ra các cách lý giải khác nhau về niên đại của thời kỳ Hùng Vương.
       nhung bi an chua co dap an trong lich su viet nam hinh anh 2
      18 vua hùng
      Theo đó, con số 18 ở đây không phải 18 đời vua mà là 18 ngành vua, mỗi ngành gồm nhiều đời vua mang chung vương hiệu, khi hết một nhành mới đặt vương hiệu mới. Nếu tính như vậy thì có thể có đến 180 đời vua Hùng, và thời gian trị vì trong 2.622 năm là hoàn toàn hợp lý.
      Cũng có một số nhà nghiên cứu cho rằng nước Văn Lang của các vua Hùng chỉ tồn tại trong khoảng 300 - 400 năm và niên đại kết thúc là khoảng năm 208 TCN chứ không phải là năm 258 TCN.
      Vì sao có bể xương chùa Thầy?
      Hang Cắc Cớ thuộc khu di tích chùa Thầy ở xã Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội) được dư luận quan tâm đặc biệt vì trong hang này có một chiếc bể chứa hàng nghìn bộ xương người.
      Theo lời kể được truyền qua nhiều thế hệ, khi tìm thấy hang, người ta chứng kiến những bộ hài cốt này nằm trong một hố như cái giếng, nằm chồng chất lên nhau. Cách đây hàng trăm năm, người dân xây một chiếc bể vuông, tựa vào vách dùng để chứa hài cốt. Trên tấm bia ghi bên ngoài bể bằng tiếng Hán, dịch ra đại ý là “Lữ Gia chống Hán lưu sử sách/Bể hận ngàn xương mãi mãi ghi”.
       nhung bi an chua co dap an trong lich su viet nam hinh anh 3
      Những bộ hài cốt này nằm trong một hố như cái giếng, nằm chồng chất lên nhau.(Ảnh: Internet)
      Mới đây, chúng tôi đã phát hiện ra một số tài liệu giải mã chủ nhân của hàng ngàn bộ xương bí ẩn này. Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, trước các công phu của các nhà sử học lỗi lạc Lê Văn Hưu, Ngô Sỹ Liên… câu chuyện đau thương bắt đầu từ một viên ngụy quan Lộ Văn Luật, người ở Thạch Thất (Hà Tây cũ), không rõ năm sinh, năm mất.
      Nhà Hồ làm mất nước, Lộ Văn Luật đem thân phụng sự giặc Minh, giúp giặc đàn áp người dân Việt đang chịu muôn vàn khổ nhục dưới ách đô hộ. Được giặc sử dụng làm tướng, không rõ Lộ Văn Luật đã tham gia đàn áp bao nhiêu trong số hơn 60 cuộc khởi nghĩa của người Việt đương thời.
      Chỉ biết đến tháng 7.1419, Lộ Văn Luật đã là tướng tiên phong của Tổng binh Lý Bân, đem quân đi đàn áp cuộc binh biến ở thành Nghệ An. Nguyên trước đó có một viên ngụy quan khác là Phan Liêu, tri phủ Nghệ An, do không chịu bức bách phải nộp vàng bạc cho quan quân nhà Minh, đã nổi dậy giết các quan nhà Minh.
      Bị Lý Bân kéo đến đàn áp, Phan Liêu không hạ nổi thành Nghệ An, bèn theo đường Thanh Hóa chạy trốn sang Lào. Lý Bân sai Lộ Văn Luật làm tiên phong truy đuổi, nhưng sai đi rồi lại gọi về bàn việc khác, khiến Luật lo sợ, hoài nghi, bỏ quân trốn đi mất. Bân bèn bắt hết người nhà và gia thuộc của Lộ Văn Luật.
       nhung bi an chua co dap an trong lich su viet nam hinh anh 4
      Những lương dân nước Việt, mến nghĩa đem thân chống giặc, chẳng may sa cơ bỏ mình.(Ảnh minh hoạ: Internet)
      Lộ Văn Luật bỏ trốn về quê ở Thạch Thất, tập hợp nhân dân dựng cờ khởi nghĩa. Người dân thấy có người tụ nghĩa chống Minh thì ùn ùn kéo theo. Lý Bân đem quân đến đánh, tháng 4.1420 thì dập tắt cuộc khởi nghĩa đang trong thời kỳ trứng nước.
      Vẫn sách đã dẫn, chép rất cô đọng: “Lộ Văn Luật chạy sang Ai Lao (Lào – PV), dân chúng thì trốn vào hang núi Phật Tích và An Sầm (những tên cũ của hang động núi Chùa Thầy mà PV VTC News đã khám phá). Quân Minh dỡ nhà hun động, người trong động bị khói lửa hun đều chết, người nào ra hàng cũng bị giết sạch, vợ con thì bị bắt làm nô tỳ”.
      Nhưng chỉ ít dòng đó thôi, cũng vẽ rõ chân dung người cầm đầu cuộc khởi nghĩa. Giặc đến thì bán nước cầu vinh, giết hại đồng bào. Khi có chút tỉnh ngộ về bản chất kẻ thù, ông ta tỏ chút chí khí, bỏ giặc mà đi, họp dân khởi nghĩa.
      Khi bị thua trận, chút chí khí ít ỏi của ông biến mất. Một thân bỏ chạy hàng trăm dặm trốn sang xứ khác, để mặc những lương dân mến nghĩa chịu số phận thảm khốc trong ngọn lửa hung tàn của quân giặc. Có thể thấy rõ họ là những lương dân nước Việt, mến nghĩa đem thân chống giặc, chẳng may sa cơ bỏ mình. Đây cũng là một giả thiết rất hợp tình hợp lý.
      Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lữ Gia là tướng nhà Triệu, nước Nam Việt (thế kỷ 2 TCN). Dưới triều Thuật Dương Vương (111 TCN), ông giữ chức Tể tướng. Tuy vậy, giới sử học và khảo cổ Việt Nam đưa ra nhiều phỏng đoán khác về nguồn gốc bể xương này.
      Vậy câu trả lời chính xác cho chủ nhân của những di cốt tại hang động núi Chùa Thầy là ai?
      Theo Trang Trang (Khoevadep)

      Những huyền thoại “đả hổ” trong lịch sử Việt Nam

      Ít ai biết, trong lịch sử Việt Nam cũng từng có nhiều huyền thoại đả hổ nổi tiếng, được mọi người biết đến.

      Huyền thoại đả hồ Việt Nam gồm có danh tướng Phùng Hưng, bà Ngô Thị Kỷ, cụ Cử Tốn. Họ đã mạnh mẽ một mình hạ gục loài thú dữ và được truyền tụng khắp nhân gian.
      Phùng Hưng - người hùng “đả hổ” đất Đường Lâm
      Phùng Hưng có tên tự là Công Phấn, Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh, là cháu 7 đời của Phùng Tói Cái - người đã từng vào trong cung vua Đường Cao Tổ, thời niên hiệu Vũ Đức (618-626) dự yến tiệc và làm quan lang ở đất Đường Lâm (nay là xã Đường Lâm, Sơn Tây, TP Hà Nội ).
      Theo sự tích, Phùng Hạp Khanh có một người vợ họ Sử. Ông bà sinh một lần được ba người con trai khôi ngô tuấn tú, lớn lên ai cũng có sức khỏe, có thể đánh trâu, quật hổ.
      Anh cả là Phùng Hưng, em thứ hai là Phùng Hải và em út là Phùng Dĩnh. Đến năm ba anh em 18 tuổi thì bố mẹ đều mất. Trong ba anh em, anh cả Phùng Hưng là người có sức khỏe và khí phách hơn người. Ông chính là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam viết nên truyền thuyết “anh hùng đả hổ”.
      Chuyện kể rằng thuở Phùng Hưng đang thời trai tráng, bỗng vùng Đường Lâm, Hà Tây quê ông có một con hổ dữ từ rừng về giết người, bắt gia súc, khiến mọi người hết sức hoang mang sợ hãi. Phùng Hưng bèn tìm cách trị hổ cứu dân.
       nhung huyen thoai “da ho” trong lich su viet nam hinh anh 1
       Phùng Hưng là một trong Huyền thoại đả hổ Việt Nam. Ảnh: Internet
      Vài ngày sau, khi đã chuẩn bị kỹ lưỡng, người anh hùng đất Đường Lâm một mình vào rừng tiêu diệt chúa Sơn Lâm. Ông làm con bù nhìn bằng rơm, cho mặc quần áo như người thật, đặt ở nơi hổ thường xuất hiện. Hổ đi qua thấy bù nhìn tưởng người, lao vào cắn xé nhưng chỉ có cọc gỗ độn rơm.
      Vài lần như thế, hổ không còn chú ý tới bù nhìn rơm nữa. Một hôm trời nhá nhem tối, Phùng Hưng cởi trần, thân đóng khố, trát bùn khắp người đứng thế vào chỗ hay đặt bù nhìn rơm, nín thờ chờ húa cọp dữ xuất hiện.
      Khi hổ tới gần, hơi bùn non át hơi người nên chú Sơn Lâm không phân biệt được, cứ đảo qua như mọi khi. Phùng Hưng chỉ chờ có vậy, bất ngờ xông tới nhảy lên mình hổ, ghì chặt con mãnh thú, tiếp sau đó ông dùng ngón tay chọc mù đôi mắt của cọp dữ và quần thảo với con quái vật suốt một thời gian dài.
      Khi thấy con hổ đã đuối sức, ông dùng đá giáng một cú thôi sơn lên sọ. Hổ chết, mối họa cho dân được trừ từ đó Phùng Hưng nổi tiếng khắp vùng.
      Thiếu nữ giết hổ dữ cứu bạn ở tuổi 15
      Người viết lên huyền thoại ấy chính là bà Ngô Thị Kỷ quê ở Quảng Bình. Câu truyện diễn ra cách đây đã 51 năm, khi ấy bà Kỷ vẫn còn là thiếu nữ tuổi trăng tròn. Hồi đó là vào năm 1962 bà Kỷ cùng người bạn của mình tên Quốc ra đồng làm ruộng.
      Khi đi qua xóm bên (cách làng 2 km, là cánh rừng hoang vắng, nhiều thú dữ) bỗng hai người hoảng hồn, bởi phái trước là một con cọp to tới hơn tạ, đang nhe vuốt như muốn nuốt chửng con mồi.
      Chưa kịp bỏ chạy, con hổ đã lao tối chồm lên anh Quốc, nó cào cấu con mồi khiến anh đau đớn rồi ngất lịm. Thấy tính mạng người bạn thân bị đe dọa, bà Kỷ chẳng nghĩ ngợi nhiều liền rút đòn gánh xông tới phang tới vào đầu con quái vật mong cứu bạn.
       nhung huyen thoai “da ho” trong lich su viet nam hinh anh 2
       Bà Ngô Thị Kỷ. Ảnh: Đất Việt
      Con hổ đói bị dính đòn đau liền nhẩy chồm tới toan vồ lấy cô gái nhưng bị hụt, ngã dúi. Nhanh như cắt bà Kỳ liền tận dụng cơ hội quý giá, lao tới dùng chiếc đòn gánh dùng hết sức bình sinh, bổ xuống đầu con mãnh thú khiến cọp dữ gầm nên đau đớn.
      Khi thấy hổ đuối sức và choáng váng khi nhận đòn đau, lấy hết dũng cảm bà Kỷ xông tới ôm lấy cổ con hổ, ghì chặt không buông, hai bên quần nhau giữ dội bụi bay mù mịt làm láo loạn cả một vùng rừng núi.
      Bất chợt trong lúc đang quần nhau với hổ bà Kỷ chợt nhớ tới cây liềm sắt dắt ở sau lưng, bà liền rút cây liềm cứa một nhát vào cổ con hổ, chiếc liền sắc găm chặt vào yết hầu con thú dữ, khiến mãnh thú, máu chảy sối xả, bỏ chạy vào rừng sâu rồi chết trong đau đớn.
      Sau chiến tích ấy tên tuổi cô gái Ngô Thị Kỷ được vang danh khắp nơi. Báo chí trong và ngoài nước nô nức loan tin, Bác Hồ nghe chuyện đã viết thư khen ngợi lòng dũng cảm của cô gái nhỏ bé và trao tặng huy hiệu “tuổi trẻ dũng cảm” .
      Tay không đánh chết hai hổ dữ
      Người viết lên huyền thoại bất tử còn mãi với thời gian ấy chính là Võ sư Mùi Đen, đệ tử ruột của cụ Cử Tốn (Cử nhân võ học cuối cùng thời kỳ phong kiến ở Việt Nam).
      Truyện kể rằng, vốn có tố chất thông minh lại đam mê võ thuật, Mùi Đen đã sớm theo cụ Cử Tốn học võ, trước là để rèn luyện sức khỏe sau là để đánh giặc.
      Thời bấy giời võ sư Mùi Đen được ví như người anh hùng bất khả chiến bại của bán đảo Đông Dương, khi không có đổi thủ trong khu vực Đông Nam Á, các sới võ Campuchia, Lào, Thái Lan, Hồng Kông… không nơi nào không ghi dấu chiến tích của cụ.
      Tuy nhiên, giai thoại nổi tiếng nhất của Mùi Đen không phải là những lần hạ gục đối thủ trên sàn đấu ở các nước láng giềng mà chính là huyền thoại tay không đánh chết hai con hổ dữ giữa lòng Thủ đô.
      Giai thoại kể lại rằng, trước năm 1945, Việt Nam bị Đế quốc Pháp đô hộ, bọn chúng nên đã ban hành luật cấm tập võ trong cả nước. Bất chấp lệnh cấm gắt gao của chính quyền thực dân, cụ Cử Tốn vẫn âm thầm mở lò võ và nhận đệ tử truyền dạy võ học. Trong đám đệ tử của cụ Cử Tốn thời đó nổi tiếng nhất là cụ Mùi Đen, học trò xuất sắc nhất của Chí tôn võ học Việt Nam thời bấy giờ.
      Biết tin cụ Cử Tốn mỏ lò võ nhưng thực dân Pháp không dám công khai đàn áp và bắt bớ bởi danh tiếng và vị thế của Cử Tốn lúc đó rất lớn, chúng liền áp dụng kế sách “mượn đao giết giặc” nhằm tiễu trừ cụ.
      Thực dân Pháp liền loan tin thông báo khắp Đông Dương, ai thượng đài đánh thắng được cụ Cử Tốn sẽ được thưởng hàng trăm đồng bạc Đông Dương. Tuy nhiên khi thi đấu bắt buộc phải có kẻ sống, người chết trận đấu mới được dừng lại.
      Cụ Cử Tốn và đệ tử Mùi Đen đã gặp nhau bàn bạc kế hoạch đối phó.
      Hai thầy trò quyết định diễn lại tích “Võ Tòng đả hổ” thời xưa và người được lựa chọn để đánh hổ không phải ai khác chính là Mùi Đen, học trò cưng của cụ Cử Tốn.
      Hôm đó sau khi đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng, trước sự chứng kiến của hàng nghìn người hiếu kỳ cùng hàng trăm lính Pháp, ở sở thú Hà Nội, trong một ngày chủ nhật kín người.
      Cụ Cử Tốn thông báo ý nghĩa của việc làm hôm nay. Tiếp đó, cụ Mùi Đen đích thân lên võ đài và đối thủ của cụ chính là một con hổ đói, đang nhe lanh múa vuốt khí thế như muốn nút chửng con mồi.
       nhung huyen thoai “da ho” trong lich su viet nam hinh anh 3
      Võ sĩ mùi đen đánh hổ. Ảnh minh họa.
      Sau một tiếng gầm kinh người con mãnh thú lao người về phía trước chồm lên người võ sĩ tay không tấc sắt. Nhanh như chớp, cụ Mùi Đen xoay người tránh được cú vồ đáng sợ của chú Sơn Lâm, đồng thời tặng cho mãnh thú một cú đá ngàn cân vào bụng con hổ dữ, khiến con hồ ngã nhoài tức tối. Hổ dữ liền lao về đối thủ tấn công tới tấp với những cú tát trời giáng nhưng vốn có thân thủ phi phàm và võ công cao cường, võ sư Mùi Đen liền lùi lại phía sau đồng thời tặng cho mãnh thú một cú đấm cực mạnh vào đầu.
      Thấy đối thủ dính đòn bị té nhào, biết rằng thời cơ đã tới, cụ Mùi Đen nhanh chóng tiến tới dùng tay trái siết chặt cổ con mãnh thú đồng thời dùng tay thuận chọc mù đôi mắt của chúa Sơn Lâm, tiếp đó dùng bàn tay thép chặt ngang yết hầu vốn là điểm yếu nhất của hổ dữ, khiến cho mãnh thú không thể cắm ngoạm phản kháng.
      Liền sau đó là hàng chục cú đấm thôi sơn dáng xuống đầu con cọp dữ, sau hơn hai mươi phút dính đòn, con hổ đói vỡ sọ mà chết.
      Sau khi hạ gục mãnh thú, nghỉ ngơi chừng nửa tiếng, cụ Mùi Đen tiếp tục bước vào trận chiến thứ hai, con hổ lần này còn to và dữ hơn con trước, là một con cọp cái và đã hơn một tuần chưa có thức ăn.
      Trận chiến lần này thậm chí còn diễn ra quyết liệt hơn lần trước gấp nhiều lần tuy nhiên sau một giờ giao chiến, phần thắng vẫn thuộc về võ sư người Việt, khiến cho người dân và cả bọn quan Pháp chỉ còn biết tái mặt và khâm phục.
      Sau khi viết lên điển tích tay không giết một lúc hai hổ dữ, tên tuổi của Mùi Đen lan truyền khắp nơi, các võ sĩ trong và ngoài nước không còn ai nghĩ tới chuyện thách đấu với cụ Cử Tốn nữa, bởi họ cho rằng, Mùi Đen mới chỉ là học trò của Cử Tốn mà có thể tay không giết hổ dữ, thì Cử Tốn chắc hẳn võ công còn thâm hậu hơn gấp bội, thế nên nếu thách đấu chẳng khác nào tìm đường tự sát.
      Theo Nguyễn Hưng (Đời sống Plus)

      Chuyện về nữ trạng nguyên duy nhất trong lịch sử Việt Nam

      Ở tuổi đôi mươi, Nguyễn Thị Duệ giả nam đi thi và đỗ trạng nguyên. Tài năng, đức độ của nữ tiến sĩ đầu tiên được vua trọng dụng, dân kính trọng.

      Giáo dục Việt Nam thời phong kiến coi trọng Nho học, phụ nữ không có quyền tham gia thi cử. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Duệ là ngoại lệ. Bà không chỉ là nữ tiến sĩ đầu tiên ở nước ta, mà còn là nữ trạng nguyên duy nhất trong lịch sử khoa bảng.
      Nguyễn Thị Duệ (hay Nguyễn Thị Du) sinh năm 1574 trong một gia đình nhà nho nghèo ở Chí Linh, Hải Dương. Theo Hải Dương phong vật chí, tên chính xác của bà là Nguyễn Thị Ngọc Toàn.
      Thuở nhỏ, bà nổi tiếng xinh đẹp, tài hoa. Tương truyền, bà biết viết văn, làm thơ khi mới 4 tuổi. Danh tiếng lan xa khiến nhiều người người ngưỡng mộ tài sắc, đến xin hỏi cưới nhưng bà không đồng ý.
      Dù hiếu học nhưng sống dưới thời phong kiến trọng nam khinh nữ, bà phải giả nam để có thể theo nghiệp đèn sách.
       chuyen ve nu trang nguyen duy nhat trong lich su viet nam hinh anh 1
      Lăng mộ bà Nguyễn Thị Duệ ở Hải Dương. Ảnh: VNC Garden.  
      Theo ghi chép của sử sách, cuộc đời bà trải qua nhiều thăng trầm. Khi chúa Trịnh Tùng đem quân đánh chiếm Thăng Long, nhà Mạc thất thế, chạy lên Cao Bằng. Nguyễn Duệ cùng cha theo lên đây.
      Nhà Mạc mở khoa thi, bà giả nam tham dự và đỗ đầu. Khi vào cung dự yến tiệc, vua Mạc Kính Cung rất bất ngờ khi biết tân khoa trạng nguyên là nữ. Vua quý mến hiền tài, không trách tội nhưng theo phép tắc, bà không thể tiếp tục mang danh trạng nguyên. Tiếc nuối cho tài năng của người con gái trẻ, vua cho phép bà ở lại triều, theo Chuyện kể về các nhà khoa bảng.
      Nguyễn Thị Duệ được mời vào cung, phụ trách việc dạy học cho các phi tần. Một thời gian sau, Mạc Kính Cung lập bà làm phi, ban hiệu Tinh Phi. Vì thế, dân gian còn gọi bà là bà chúa Sao.
      Năm 1625, quân Trịnh tiến lên Cao Bằng đánh nhà Mạc. Khi bị bắt, nữ trạng nguyên vẫn rất trấn định. Bà dùng gươm kề cổ, uy hiếp quân lính phải giải bà đến trước chúa Trịnh. Nhờ tài đối đáp xuất sắc, Nguyễn Thị Duệ thoát tử tội.
      Mến mộ tài năng, khí độ hiếm có của bà, chúa Trịnh giao trọng trách trông coi việc học của phủ chúa và rất trọng dụng. Sau này, bà được phong là Nghi ái quan.
      Thời làm quan, Nguyễn Thị Duệ rất coi trọng việc học và bồi dưỡng nhân tài. Bà còn xin triều đình cấp nhiều mẫu ruộng cho canh tác lấy huê lợi, giúp đỡ học trò nghèo biết chăm chỉ.
      Tương truyền, để thúc đẩy phong trào học tập địa phương, cách một khoảng thời gian, bà cùng các bậc túc nho đến giảng dạy tại các khu vực ấn định rồi soạn đề, tổ chức thi. Bài thi được gửi lên cho bà chấm, kết quả được gửi trở lại các địa phương.
      Cách làm này đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao giáo dục tại các vùng xa kinh kỳ.
      Nguyễn Thị Duệ sống dưới tư tưởng trọng nam khinh nữ nhưng tài năng của bà khiến người khác không thể không nể phục. Vì thế, trong phần lớn các kỳ thi Đình, thi Hội thời đó, bài thi đều qua tay bà chấm.
      Không chỉ tài năng, nữ trạng nguyên còn là người đức độ. Theo dân gian truyền lại, trước đây, khi còn nghèo khó, anh trai bà bị người trong làng hãm hại. Nhưng khi vinh hiển, bà không hề nghĩ đến thù riêng.
      Khi cao tuổi, bà cáo quan về quê, mở am Đào Hoa, tiếp tục đọc sách và chỉ bảo các sĩ tử trong làng. Nhờ những đóng góp quan trọng cho giáo dục, thi cử, bà được triều đình hậu đãi. Tuy nhiên, nữ tiến sĩ vẫn sống cần kiệm, dành phần lớn bổng lộc để giúp đỡ người dân, đặc biệt các nho sĩ nghèo.
      Trong Công dư tiệp ký, danh sĩ Vũ Phương Đề ghi: “Văn thơ của bà rất nhiều, nhưng nay không còn bài nào. Bà có làm bài Gia ký bằng Quốc âm thuật lại các việc riêng và tự ví mình như Bạc Thị” (phi tần của Hán Cao Tổ, mẹ vua Văn Đế, một phụ nữ nổi tiếng hiền đức trong lịch sử Trung Quốc).
      Kém gì một chút đảo điên
      So le Bạc Thị vốn duyên Hán hoàng.
      Nữ nhi dù đặng có lề
      Ắt là tay thiếp kém gì trạng nguyên.
      Vũ Phương Đề cũng khen ngợi bà: “Lễ sư thông tuệ, nhất kính chiếu tam vương”.
      Sau khi Nguyễn Thị Duệ mất, người dân làng Kiệt Đặc lập đền thờ bà chúa Sao. Bà còn được thờ tại Văn miếu Mao Điền cùng nhiều danh nhân, học sĩ danh tiếng khác. 
      Theo Nguyễn Sương (Zing)

      Nhận xét

      Bài đăng phổ biến từ blog này

      NHÂN TÍNH 37

      BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

      ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32