LÊNH ĐÊNH NỖI NHỚ (ĐL)
- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác
Nỗi nhớ (Phú Quang) - Thanh Lam
LÊNH ĐÊNH NỖI NHỚ
Xốn xang sực nhớ khôn cùng
Dạt dào nỗi nhớ..., mà lòng nhớ ai?
Biết bao nhiêu chặng đời trai
Bến bờ đã phủ lấp dày thời gian
Quanh co ngờ ngợ lạ, quen
Loay hoay chẳng nhớ chẳng quên chặng nào!
Nụ cười lúng liếng nơi nao
Ánh nhìn đằm thắm ở đâu đã từng?
Lênh đênh về lại trời thương
Tìm người tạc khối vấn vương tơ lòng...
Trời chiều óng ả dòng sông
Bập bềnh theo sóng long đong bóng hình
Hỏi dò từng đám lục bình
Có ai thuở trước gửi tình thăm chăng?
Dạt vào bao bến đò ngang
Thấy không cô gái mắt chan chứa buồn
Má hồng đắm đuối hoàng hôn
Bước đi mê hoặc nước non mây ngàn?...
Phương nào ơi tấm lòng lành
Dấn thân nhan sắc xây thành uyên ương?
Quên thời áo trắng tơ tương
Dửng dưng mà nhớ mà thương một người?
Trai tơ cũng si tình vùi
Chẳng ai biết cách tỏ lời cùng ai
Đành xa biền biệt đến nay
Chuông chiều bóng đổ cho ai rộn buồn!
Buồn dâng ào ạt ngập hồn
Tâm linh hú gọi muôn lần nhớ ai
Tan trường, hiện cảnh, vui thay
Ai ngày xưa đó thương ai nhớ thầm!?...
Trần Hạnh Thu
‘Giang tuyết’: Nỗi cô đơn tột cùng của con người trước mênh mang vũ trụ

Chỉ 20 chữ ngắn ngủi mà thực đã
vẽ nên một cảnh tượng lạnh lẽo hoang vu… Tác giả thả mình vào sơn thủy,
rèn giũa nội tâm trong sự cô đơn, tịch mịch mà ngộ ra chân lý.
Liễu Tông Nguyên (773 – 819), tự Tử Hậu,
là một nhà thơ nổi tiếng thời trung Đường. Ông được hậu thế xếp vào
hàng “Đường Tống bát đại gia” (8 nhà văn nổi tiếng nhất thời Đường,
Tống), ngang hàng với những Tô Thức, Âu Dương Tu, Hàn Dũ… Họ Liễu có tài
nhưng con đường hoạn lộ lắm trắc trở, chông gai. Ông bèn trút cả tâm
tình vào thơ văn. “Giang tuyết” là một trong những bài thơ nổi tiếng
nhất của Liễu Tông Nguyên, được hậu thế ca ngợi là tuyệt bút.
Liễu
Tông Nguyên từ nhỏ đã được khen là thần đồng, ông “tinh nhanh tuyệt
luân”, 21 tuổi đỗ tiến sỹ cập đệ, vợ ông là con gái Dương Phùng – Lễ bộ,
binh bộ lang trung. Năm 24 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Mật thư tỉnh
hiệu thư lang. Năm 31 tuổi, ông đã làm Giám sát ngự sử của kinh thành. Quả là tiền đồ vô lượng!
Ông lại
được Vương Thúc Văn, thầy của vua, đánh giá cao, được đề bạt làm Lễ bộ
viên ngoại lang, chuẩn bị được trọng dụng hơn nữa. Không ngờ, điều này lại thở thành vết thương chí mạng của cuộc đời Liễu Tông Nguyên.
Thời kỳ
Trung Đường là những năm hỗn loạn, hoàng triều bề ngoài yên bình thực tế
đã bị chia năm xẻ bảy vỡ vụn rồi. Hoàng đế Thuận Tông hết lòng coi
trọng Vương Thúc Văn, mong muốn cứu vãn cục diện quốc gia nguy cấp hỗn
loạn.
Vương Thúc Văn áp dụng một số biện pháp đổi mới, xóa bỏ tệ nạn cũ (lịch sử gọi là Đổi mới Vĩnh Trinh),
kết quả lại gây ra triều thần và hoàng thân quốc thích liên kết chống
lại. Vua Thuận Tông thoái vị, Vương Thúc Văn bị ban cho cái chết, đổi
mới thất bại, tổng cộng chỉ kéo dài 180 ngày.
Liễu
Tông Nguyên do có quan hệ với Vương Thúc Văn mà bị giáng chức lưu đày.
Ông thụ mệnh đến Thiệu Châu (Thành phố Thiệu Dương tỉnh Hồ Nam ngày nay)
đảm nhiệm chức Thứ sử. Vẫn chưa kịp đến nhậm chức thì giữa đường lại bị
giáng chức làm Tư mã Vĩnh Châu (thành phố Vĩnh Châu tỉnh Hồ Nam ngày
nay). Bị rơi thẳng xuống vực sâu như thế, mỗi bước lại càng rời xa kinh
thành, cũng rời xa tất cả hy vọng trên con đường quan lộ.
Vĩnh
Châu là một vùng đất chó ăn đá gà ăn sỏi. Liễu Tông Nguyên, một người
từng được người người ca ngợi là một kỳ tài, đường quan lộ chưa bao giờ
trắc trở, lại đột nhiên bị giáng lưu đày đến vùng hoang vu hẻo lánh này,
nỗi đau khổ trong lòng thật khó mà nói nên lời.
Lúc mới
đến vùng đất heo hút này, thậm chí còn không có phòng ốc để ở, không
quen phong thổ khí hậu lại trong ngoài lo lắng suy nghĩ, ông bị bệnh tật
dày vò: “Thân mang trăm bệnh, lá nách sưng kết cục, không ăn mà vẫn thấy no. Lúc thì sốt rét, lúc nóng lúc lạnh”. (Thư gửi Hứa Kinh Triệu Mạnh Dung).
Ông cũng
đã từng nghĩ đến việc học theo Khuất Nguyên trầm mình xuống sông tự tử,
nhưng lại nghĩ đến gia đình chưa có con trai kế tự, không thể có lỗi
với gia tộc. Thế là ông cắn răng chịu đựng, khổ cực chống chọi suốt 10
năm trời.
Tháng
Giêng năm Nguyên Hòa thứ 10 (năm 815), Liễu Tông Nguyên cuối cùng cũng
nhận được chiếu thư hồi kinh. Ông bôn ba mấy tháng, khó khăn lắm mới về
tới Tràng An, nhưng ở Tràng An chưa được bao lâu, lại bị giáng đày đến
Liễu Châu (Thành phố Liễu Châu tỉnh Quảng Tây ngày nay). Lần này, ông không còn cơ hội hồi kinh nữa.

Liễu
Tông Nguyên từ nhỏ đã thích Phật giáo và Đạo giáo. Lần này không chỉ
còn là về lý luận, ông đã buộc phải tu luyện tâm tính của mình một cách
thực sự. Liễu Tông Nguyên thả
mình vào sơn thủy, rèn giũa nội tâm trong sự cô đơn, tịch mịch mà ngộ ra
chân lý. Ông đã tiêu trừ được kiêu ngạo và phù phiếm. Văn thơ ông như
núi tuyết ngưng kết trong trẻo, thanh cao thoát tục.
Một mình đứng ngoài hạnh phúc nhân gian, trong sương gió, ông đã viết “Giang Tuyết”, bài thơ được truyền tụng qua ngàn năm:
Thiên sơn điểu phi tuyệt,
Vạn kính nhân tông diệt.
Cô chu thoa lạp ông,
Độc điếu hàn giang tuyết.
Vạn kính nhân tông diệt.
Cô chu thoa lạp ông,
Độc điếu hàn giang tuyết.
Dịch nghĩa:
Nghìn ngọn núi chim bay hết,
Vạn con đường không có dấu tích con người.
Một con thuyền cô độc, có ông lão mặc áo tơi, đội nón lá
Một mình câu trên con sông tuyết lạnh.
Vạn con đường không có dấu tích con người.
Một con thuyền cô độc, có ông lão mặc áo tơi, đội nón lá
Một mình câu trên con sông tuyết lạnh.
Tạm dịch thơ:
Chim ngàn bay đi hết,
Muôn lối chẳng người qua.
Áo tơi nón lá thuyền không,
Một mình câu cả dòng sông tuyết hàn.
Muôn lối chẳng người qua.
Áo tơi nón lá thuyền không,
Một mình câu cả dòng sông tuyết hàn.
Chỉ 20
chữ ngắn ngủi mà thực đã vẽ nên một cảnh tượng lạnh lẽo hoang vu: Tuyết
trắng vây kín núi, không bóng người qua lại, không dấu chim bay. Giữa
cảnh tượng khắc nghiệt ấy, nét bút chợt bừng lên khi có sự xuất hiện của
con người. Ngư ông kiên nhẫn đội gió tuyết buông câu.
Hai câu trước còn đang lạnh lẽo, khiến
người ta bủn rủn chân tay. Hai câu sau đã thấy ánh lên khí chất bừng
bừng. Ngư phủ là một hình ảnh quen thuộc của thơ ca cổ điển. Ngư phủ
buông câu lại càng quen hơn. Nhưng giữa cảnh tượng này, hình ảnh đó lại
trở nên vô cùng đặc biệt.
Tuyết rơi chừng như đông cứng cả dòng
sông. Ông lão ấy buông câu thử hỏi là để câu gì? Rõ ràng, không phải là
câu cá. Cũng giống như Khương Tử Nha năm nào buông câu ở sông Vị mà câu
cá bằng lưỡi thẳng vậy.
Lão ngư phủ xuất hiện giữa bức tranh
tuyết lạnh, cô liêu nhưng không hề chìm lấp. Ngược lại khí độ thanh
thản, tâm thái tĩnh như nước hồ, sự nhẫn nại đã làm ông nổi bật lên hẳn.
Có thể thấy góc nhìn của bài thơ thu phóng rất tuyệt diệu. Đầu tiên là
từ những ngọn núi xa xăm, đến con đường vắng người lại qua, thu đến dòng
sông băng tuyết, rồi thu đến chiếc thuyền câu lẻ bóng, cuối cùng thu
đến chiếc cần câu của ông lão.
Và tuyết vẫn không ngừng rơi. Ngư
ông, bỗng nhiên vung cần câu, chừng như chờ đợi điều kỳ diệu xuất hiện
dưới làn nước sông băng tuyết. Điều đó chẳng phải là tâm sự của họ Liễu
đó sao? Giữa khó nạn khắc nghiệt, giữa khổ đau ngang trái, Liễu Tông
Nguyên vẫn nhẫn nại, nhẫn nại, vẫn thanh thản để ngoài tai thế sự. Đó
chẳng phải là cái tĩnh đáng kinh ngạc của người tu Phật, tu Đạo đó sao?

Ngày qua ngày, Liễu Tông Nguyên dần quên đi nỗi đau của mình, chuyển sang thương cảm cho nỗi khổ đau của người dân. Liễu
Châu là mảnh đất “bệnh đói”, dân nghèo thường phải đem con cái mình đi
cầm cố để đổi mấy đồng sống qua nạn đói. Một khi quá hạn không có tiền
chuộc lại, con cái họ trở thành nô tì suốt đời cho nhà giàu.
Người
trong cảnh khốn cùng phải chăng không được lựa chọn? Phải chăng chỉ có
thể bất lực sống lay lắt qua ngày trong đau khổ trước cảnh gia đình tan
nát? Liễu Tông Nguyên không thể thay đổi được vận mệnh của mình, nhưng ông đã quyết định đi cứu người, thay đổi vận mệnh của người.
Ông dùng gia sản của nhà, tìm cách tạo
việc làm cho dân nghèo để họ có thể tự lực chuộc được con cái về. Những
đứa trẻ mà người nhà đã chết, không ai chuộc về, ông liền dùng tiền
lương của mình để mua lại chúng. Rất nhiều gia đình đã đoàn tụ, đã chấm
dứt nỗi đau cốt nhục chia lìa. Rất nhiều đứa trẻ đã lại có tương lại.
Mọi người cảm ơn ông không nói nên lời.
Tấm lòng
ông rộng lớn nhân ái biết bao, ông chăm nom, bảo vệ người dân thật vô
tư biết nhường nào! Sĩ tử miền Nam đều ngưỡng mộ ông mà tìm đến, xin ông
chỉ bảo và giúp đỡ. Liễu Tông Nguyên không từ chối, ông lại gánh vác
trọng trách, dạy dỗ các sĩ tử làm người, chỉ bảo họ văn chương. Nhiều
người đã thành danh, nhân dân như gặp nước cam lồ, tôn kính gọi ông là
“Liễu Liễu Châu” (Ông Liễu – Liễu Châu)
Liễu Liễu Châu được mọi người kính trọng, đã đi hết cuộc đời ông ở nơi hoang vu xa xôi này. Như ông lão ôm cần câu trong gió tuyết, ông chẳng câu cái gì cho mình, mà dùng sức nhỏ bé của mình chống lại gió rét.
Cũng giống như lương thiện không thỏa hiệp với tà ác, nhiệt tình cũng không chịu thỏa hiệp với tuyết sương. Một
bậc quân tử trong thời loạn, rốt cuộc phải gánh chịu bao nhiêu? Liễu
Tông Nguyên chẳng thể hoàn thành lý tưởng lúc thiếu thời, nhưng lại xây
thành tương lai cho biết bao nhiêu người.
Ngư ông
trên con thuyền cô liêu vẫn không chịu buông cần. Màu trắng thanh khiết
vô biên kia, như tâm hồn và ý chí ông không gì có thể ô uế được! “Giang tuyết”, rốt cuộc chính là có ý tứ đó: Muốn vượt khỏi thân người thường, ắt là phải nhẫn chịu sự cô đơn, ngàn vạn cô đơn.
Nam Phương biên dịch
Lý Bạch, ánh trăng nghìn năm toả sáng bầu trời thi ca (P.1): Thi tiên hạ phàm, ngâm thơ múa kiếm

Lời toà soạn:
Lịch sử 5000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá
cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần
thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với
mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống
đạo đức quý báu, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Á Đông gửi đến
quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay.
Lý Bạch (701 – 762), tự Thái
Bạch, được đánh giá là một trong những ngôi sao chói lọi nhất của thi ca
thời Đường. Ông được người đời sau tôn kính gọi là “Thi Tiên”, đã làm
hàng ngàn bài thơ. Thơ Lý Bạch thấm đẫm phong cách lãng mạn, trữ tình,
phong thái siêu trần, thoát tục, từ hàng ngàn năm qua đã in sâu vào lòng
độc giả Á Đông. Loạt bài về Lý Bạch sẽ giúp bạn có được cái nhìn toàn
diện nhất về thi nhân vĩ đại này.
Có bài thơ rằng:
“Tràng Canh Tinh Tinh thanh liên thủy,
Kim Túc Như Lai Chủ Phật quy.
Thi Tiên chuyên bút phong lôi động,
Kiếm hiệp thanh mang nghĩa khí phi.
Nho Thích Đạo pháp tồn hung nội,
Tiên gia Hoàng viện nhậm truy tùy.
Thi phong thành tựu thước thiên cổ,
Thần truyền văn minh bảo trung khôi”.
Kim Túc Như Lai Chủ Phật quy.
Thi Tiên chuyên bút phong lôi động,
Kiếm hiệp thanh mang nghĩa khí phi.
Nho Thích Đạo pháp tồn hung nội,
Tiên gia Hoàng viện nhậm truy tùy.
Thi phong thành tựu thước thiên cổ,
Thần truyền văn minh bảo trung khôi”.
Dịch nghĩa:
Ông tiên Tràng Canh ở Thanh Liên (Tràng Canh là tên khác của sao Thái Bạch, cũng là biệt hiệu của Lý Bạch), là chuyển thế của Chủ Phật Kim Túc Như Lai (Kim Túc Như Lai Phật là tiền kiếp của Đại Bồ Tát Duy Ma Cật). Ông Tiên thơ vung bút gió thổi sấm động. Hiệp khách vung kiếm nghĩa khí bay. Trong lòng chứa cả đạo Nho Thích Lão. Ông Tiên chẳng màng danh lợi chốn Hoàng cung. Thơ phong nổi danh rực sáng ngàn năm. Là viên ngọc quý của nền văn minh Thần truyền.

Tạm dịch thơ:
“Tràng Canh thần tiên ở Thanh Liên,
Kim Túc Như Lai giáng sỹ hiền.
Thi Tiên vung bút vang trời đất,
Kiếm khách sáng lòa nghĩa khí bay.
Trí lớn chứa cả Nho Thích Đạo,
Cung đình chẳng sánh thú tiêu dao.
Thơ phong rực rỡ ngàn năm sáng,
Báu vật văn minh bởi Thần truyền”.
Kim Túc Như Lai giáng sỹ hiền.
Thi Tiên vung bút vang trời đất,
Kiếm khách sáng lòa nghĩa khí bay.
Trí lớn chứa cả Nho Thích Đạo,
Cung đình chẳng sánh thú tiêu dao.
Thơ phong rực rỡ ngàn năm sáng,
Báu vật văn minh bởi Thần truyền”.
Trong vũ trụ mênh mông này, các
sinh mệnh nhiều vô số. Trái Đất không phải là nơi duy nhất tồn tại sự
sống và sinh mệnh, bởi các hệ thiên thể khác nhau cũng có sinh mệnh và
sắc thái văn hóa khác nhau.
Khi Sáng Thế Chủ toàn năng sắp đặt cho
các hệ thiên thể khác nhau đưa tinh túy văn hóa đặc trưng của mình xuống
Trái Đất, thì nền văn hóa đó đã được đặt định ở chốn này cho nhân loại
thừa hưởng.
Cụ thể
thơ hay, văn hay, kịch hay… không chỉ nuôi dưỡng tâm tính, tình cảm,
tiết tháo của tác giả, mà còn giúp độc giả thọ ích, thăng hoa, giúp đạo
đức toàn xã hội nâng cao trở lại. Đương nhiên chỉ khi trở về nguồn cội,
truyền thống, người ta mới cảm nhận được điều đó.
Văn hoá Á
Đông quan niệm những người do các hoàng đế, quân vương chuyển sinh đến
thế gian đều có sứ mệnh thay đổi triều đại, kết nhân duyên với các chúng
sinh trên mặt đất này, xoay chuyển càn khôn, thúc đẩy cả xã hội và
thiên tượng thay đổi, biến hoá.
Những
người do các quan, tướng, tài tử, chân nhân đến với thế gian này cũng có
các sứ mệnh đặc biệt của họ, kết mối nhân duyên, đặt ra nội hàm cho văn
hoá theo phong cách riêng, ở những lĩnh vực đặc biệt.
Lý Bạch
là thi nhân, đã khai sáng văn phong, thi phong chính thống, dẫn dắt đạo
lý chân chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, chỉ rõ cho mọi người
biết trong nghệ thuật thì sự tu luyện và đề cao quan trọng thế nào, con
đường mà văn nghệ sỹ phải đi là gì, thế nào là văn hóa nghệ thuật Thần
truyền chính thống.
Nhìn
khắp nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm, mỗi một triều đại khác nhau lại
sử dụng các loại chữ viết, các hình thức nghệ thuật khác nhau để truyền
tải lịch sử, văn hóa của mình. Từ các thần thoại thời thượng cổ, tản văn
thời tiên Tần, đến từ phú thời lưỡng Hán, văn biền ngẫu thời Ngụy Tấn,
cho đến Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, tiểu thuyết thời Minh Thanh,
văn học các triều đại rực rỡ sắc màu.
Nó không
chỉ làm phong phú văn hóa chốn nhân gian, mà còn để đặt định cho con
người nhân gian tiến nhập vào tương lai. Đồng thời tất cả những điều này
cũng được dùng để chuyển tải nền văn hóa Thần truyền, để con người đời
sau có thể nghe được tiếng kêu gọi của Sáng Thể Chủ toàn năng thời viễn
cổ.
Khi
người đời sau đã không còn tin vào Thần nữa, đã bị những thứ biến dị, ma
tính bên ngoài phá hoại, con người phảng phất vẫn có thể thông qua các
tác phẩm văn học nghệ thuật lưu truyền thiên cổ này để thấy được thần
ngôn, thần tích, giữ được mối liên hệ giữa Thần với con người. Có như
thế người ta mới không bị hoàn toàn tiêu huỷ vào trong hư vô.

Cùng
với suy đồi đạo đức nhân loại, thần ngôn, thần tích trong văn hóa Thần
truyền bị cắt xén, chỉ còn lại lác đác. Trên vùng đất Thần Châu rộng
lớn, nhiều đời Thánh vương như: Tần Hoàng, Hán Vũ, Ngụy Vũ, Đường Tông
vẫn thắt chặt mối quan hệ giữa Thần và con người.
Nhưng
đến các triều đại sau, đặc biệt thời cận đại, nhân loại đã bị phong bế
ngày càng chặt hơn. Cuộc sống vật chất thực tiễn đã làm cho con người
hoàn toàn xa rời khỏi vị Thần tạo ra họ. Trong “Đại cách mạng văn hóa” ở
Trung Quốc, nền văn minh Thần truyền huy hoàng 5000 năm bị coi là 4 cái
thủ cựu và bị phá hủy không thương tiếc.
Nhưng bề
dày văn hóa Thần truyền truyền thống 5000 năm, văn học, nghệ thuật, thi
từ, ca phú truyền tải văn hóa Thần truyền đã để lại dấu ấn không cách
nào xóa bỏ được trong tư tưởng, cốt tủy và ý thức của con người.
Trong
“Đại cách mạng văn hóa”, nội hàm văn hóa Thần truyền, người – Trời hợp
nhất, tín ngưỡng Thần Phật, bất chấp việc thẩm tra kiểm soát vô cùng
nghiêm ngặt vẫn cứ phản ánh trong những vở kịch, tác phẩm thơ văn, nghệ
thuật nhân văn… Thi từ của Thi Tiên Lý Bạch vẫn cứ xuất hiện trên sách
giáo khoa và trong văn hóa truyền miệng của người đời.
Chính là
tất cả những điều này đã làm cho tâm hồn của con người tiếp tục không
ngừng được gột rửa. Cũng bởi thế, người ta còn giữ lại được chút thuần
khiết chân thực cuối cùng của mình và đang đợi chờ được cứu độ khỏi bể
khổ trần ai.
Thời
thịnh thế Đại Đường, hoàng đế Đường Thái Tông mở ra một thời đại thiên
triều mới, khai sáng, bảo vệ và hoằng dương văn hóa Thần truyền Á Đông,
gây dựng thời kỳ toàn thịnh trong lịch sử Trung Hoa, thúc đẩy tam giáo
Nho, Thích, Đạo và văn hóa nghệ thuật đều hưng thịnh.
Nhưng
sau đó là lúc Cao Tông kế vị, Võ Tắc Thiên hồi cung, cuối cùng đắc thế
đổi Lý Đường thành Võ Chu, suýt nữa giết chết giang sơn Đại Đường. Sau
thời đại ngắn ngủi của Trung Tông và Duệ Tông, Lý Long Cơ (Đường Huyền
Tông sau này) quả quyết ra tay, dẹp bỏ Vi Hậu và Thái Bình Công chúa,
đoạt quyền rồi lên ngôi.
Huyền
Tông dốc sức trị quốc, mở ra thời thịnh trị Thịnh Đường, mở mang bờ cõi,
kế tục vẻ vang võ công của hoàng đế Đường Thái Tông. Huyền Tông làm
Thiên tử, không những trọng dụng hiền thần, sửa sang triều chính, mà còn
thúc đẩy văn hóa, thơ ca, nghệ thuật, thư pháp, hội họa của Đại Đường
lên cực đỉnh, bản thân cũng ra sức thực hiện.
Là thi
nhân, Đường Huyền Tông thông qua chính sáng tác của mình đã ảnh hưởng
tích cực lên thơ đàn Thịnh Đường. Thơ của ông lưu truyền đến nay vẫn còn
trên 70 bài, chỉ sau Đường Thái Tông.
Duyên
phận của ông với Thi Tiên Lý Thái Bạch rất sâu sắc. Chính vì vậy, Thần
đã an bài Lý Bạch làm Thi Tiên, làm kiếm khách chuyển sinh thế gian, dẫn
dắt phong cách đặc sắc, thúc đẩy cả nền văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là
thơ ca nghệ thuật thời đó đã lên đến cực đỉnh.

Lý Bạch có một cuộc đời rất năng động,
phóng khoáng. Ông là con nhà thương nhân giàu có, do vậy tính tình rất
hào sảng, coi nhẹ bạc tiền, vật chất. Lúc nhỏ Lý Bạch học đạo, ca vũ,
múa kiếm, lớn lên lại thích ngao du sơn thuỷ, “chống kiếm viễn du”, từng
đặt dấu chân lên khắp mảnh đất Trung Hoa.
Năm 25 tuổi, ông lên núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ, “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng. Cúi đầu nhớ cố hương” rồi xuôi dòng Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông thăm người bạn cũ ở núi Thái Sơn cùng “ẩm tửu hàm ca”
(uống rượu ca hát). Sau này ông được tiến cử vào cung vua Đường, về
kinh đô Trường An trong 3 năm. Cuộc sống cung đình nhàm chán và có phần
vô vị không níu giữ được bước chân lãng du của thi nhân. Ông lại từ tạ
nhà vua, lên đường ngao du sơn thuỷ.
Đến Lạc Dương, Lý Bạch gặp được tri âm
của đời mình là Đỗ Phủ, kết làm bạn vong niên (Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11
tuổi), lại quen biết thêm Cao Thích, cùng nhau săn bắn, vui chơi, ngắm
hoa, thưởng trăng suốt nửa năm. Lý Bạch lại chia tay bạn, đi về phương
nam.
Những năm cuối đời, ông ẩn cư ở Lư Sơn.
Người ta truyền nhau rằng, một lần ông đi chơi thuyền trên sông Thái
Thạch (An Huy), uống say, thấy trăng soi lung linh đáy nước, nhảy xuống
ôm trăng mà chết.
Sau khi ông qua đời, di sản thơ văn của
ông được người đời sưu tầm lại. Tương truyền ông làm tới 20.000 bài
nhưng thường không có thói quen cất giữ nên chỉ còn lưu lại được khoảng
1.800 bài. Thơ ông phóng khoáng, lãng mạn nhưng cũng rất nhân văn, sâu
sắc, ẩn chứa triết lý tu Đạo thâm sâu.
Để kết lại bài viết này, chúng ta hãy
cùng thưởng thức lại một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của ông –
“Tĩnh dạ tư”, viết trong lúc Lý Bạch lên núi Nga My múa kiếm, ẩn cư,
ngắm trăng, uống rượu:
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.
Dịch thơ:
Trước giường trăng mênh mang
Ngỡ sương móc rơi tràn
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.
Ngỡ sương móc rơi tràn
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.
Theo Đại Kỷ Nguyên Tiếng Trung
Nam Phương biên dịch
Nam Phương biên dịch
Lý Bạch, ánh trăng nghìn năm toả sáng bầu trời thi ca (P.2): Chim bằng tung cánh, thơ phú vang danh

Lời toà soạn:
Lịch sử 5000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá
cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần
thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với
mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống
đạo đức quý báu, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Á Đông gửi đến
quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay.
Lý Bạch (701 – 762), tự Thái
Bạch, được đánh giá là một trong những ngôi sao chói lọi nhất của thi ca
thời Đường. Ông được người đời sau tôn kính gọi là “Thi Tiên”, đã làm
hàng ngàn bài thơ. Thơ Lý Bạch thấm đẫm phong cách lãng mạn, trữ tình,
phong thái siêu trần, thoát tục, từ hàng ngàn năm qua đã in sâu vào lòng
độc giả Á Đông. Loạt bài về Lý Bạch sẽ giúp bạn có được cái nhìn toàn
diện nhất về thi nhân vĩ đại này.
Xem thêm: Phần 1
Lý Bạch sinh vào năm thứ nhất đời Đường Trung Tông (năm 701) ở làng
Thanh Liên, Quảng Hán (nay là Chương Minh), Tứ Xuyên. Làng này tên gốc
là Thanh Liêm, sau này do tên hiệu của Lý Bạch là “Thanh Liên cư sỹ”,
nên đã đổi tên thành làng Thanh Liên.
Tương
truyền, mẹ Lý Bạch mơ thấy sao Tràng Canh rơi vào trong thai (tức là sao
Thái Bạch Kim Tinh), do đó đặt tên tự cho Lý Bạch là Thái Bạch. Lý
Dương Băng trong “Thảo Đường Tập Tự” đã gọi Lý Bạch là “Thái Bạch Tinh
Tinh” (Thần tiên sao Thái Bạch). Phạm Truyền Chính sau này viết văn bia
cho Lý Bạch cũng dùng cách gọi tên này: “Phu nhân mộng Tràng Canh là điềm lành, nên đặt tên tự cho tiên sinh, lấy theo thiên tượng”.

Sau này, Lý Bạch tự lấy tên hiệu cho mình là Thanh Liên cư sỹ. Ông đã tự thuật thân thế trong “Đáp tộc điệt tăng Trung Phu tặng Ngọc Tuyền Tiên Nhân Chưởng trà – Tự” (Lời tự – trả lời cháu họ tăng nhân Trung Phu đã tặng trà Ngọc Tuyền Tiên Nhân Chưởng):
Thanh Liên cư sỹ trích tiên nhân,
Tửu tứ tàng danh tam thập xuân.
Hồ Châu cư sỹ hà tu vấn,
Kim Túc Như Lai hậu thế thân.
Tửu tứ tàng danh tam thập xuân.
Hồ Châu cư sỹ hà tu vấn,
Kim Túc Như Lai hậu thế thân.
Dịch nghĩa: Cư sỹ Thanh Liên là ông tiên bị giáng xuống trần. Ẩn danh nơi quán rượu 30 năm. Cư sỹ Ôn Châu sao phải hỏi. Chính là hậu thân của Kim Túc Như Lai chuyển thế.
Dịch thơ:
Cư sỹ Thanh Liên thực Trích Tiên,
Ẩn danh tửu quán mấy mươi niên.
Ôn Châu cư sỹ đâu cần hỏi,
Kim Túc Như Lai tại nhãn tiền.
Ẩn danh tửu quán mấy mươi niên.
Ôn Châu cư sỹ đâu cần hỏi,
Kim Túc Như Lai tại nhãn tiền.
Thanh
Liên vốn có nguồn gốc từ Tây Vực, trong tiếng Phạn gọi là hoa Ưu bát la
(cũng có tên là hoa Ưu đàm bà la), trắng xanh rõ ràng, không nhiễm bụi
trần. Kinh Phật viết: “Khi hoa Ưu bát la nở, Pháp Luân Thánh Vương – Vương của vạn vương sẽ đến thế gian phổ độ chúng sinh“.
Lý Bạch
tự xưng là Thanh Liên, và “hậu thân của Kim Túc Như Lai”, ngụ ý khi hoa
Ưu bát la nở, Chuyển Luân Thánh Vương đem chân lý như ý xuống thế gian.

Từ các bài thơ dưới đây của Lý Bạch, chúng ta cũng có thể nhìn ra chút thân thế của ông. Trong bài thơ “Thù vương bổ khuyết Huệ Dực Trang Tống Thừa Thử tống biệt” (Mời rượu tiễn biệt Tống Thừa Thử được vua bổ nhiệm Huệ Dực Trang), ông viết:
Học đạo tam thập niên,
Tự ngôn Hy Hoàng nhân.
Hiên cái uyển nhược mộng,
Vân tùng trường tương thân.
Tự ngôn Hy Hoàng nhân.
Hiên cái uyển nhược mộng,
Vân tùng trường tương thân.
Dịch nghĩa: Học đạo ba mươi năm. Tự nói là vua Phục Hy chuyển sinh. Chốn triều đình như giấc mộng. Nên làm bạn lâu dài với mây và tùng.
Dịch thơ:
Học Đạo ba mươi xuân,
Vốn Phục Hy hạ trần.
Cung đình như giấc mộng,
Mãi mãi bạn mây tùng.
Vốn Phục Hy hạ trần.
Cung đình như giấc mộng,
Mãi mãi bạn mây tùng.
Trong bài thơ: “Hý Trịnh Lật Dương” ông cũng viết:
Thanh phong bắc song tiểu,
Tự vị Hy Hoàng nhân.
Hà thời đáo Lật lý?
Nhất kiến bình sinh thân.
Tự vị Hy Hoàng nhân.
Hà thời đáo Lật lý?
Nhất kiến bình sinh thân.
Dịch nghĩa:
Gió mát thổi nhẹ ngoài cửa sổ phía bắc. Tự nói là vua Phục Hy chuyển sinh. Khi nào đến vùng sông Lật Thủy. Thoáng nhìn sẽ thấy rất thân quen.
Dịch thơ:
Ngoài song cơn gió nhẹ,
Hy Hoàng xuống trần gian.
Lúc đến sông Lật Thủy,
Ắt sẽ rất thân quen.
Hy Hoàng xuống trần gian.
Lúc đến sông Lật Thủy,
Ắt sẽ rất thân quen.
“Hy Hoàng” trong thơ Lý Bạch tức là vua Phục Hy, vị vua đứng đầu trong “Tam Hoàng” của lịch sử văn minh Hoa Hạ.
Lý Bạch từ nhỏ đã đọc sách, luyện chữ, 5 tuổi đã bộc lộ tài năng thiên bẩm hơn người. Trong “Thượng An châu Bùi Trường Sử thư” (Thư gửi Bùi Trường Sử châu Thượng An), ông có viết:
“Ngũ tuế thông lục giáp, thập tuế quan bách gia” (Năm
tuổi đọc thông lịch pháp, mười tuổi đọc Chư tử Bách gia – Nho gia, Đạo
gia, Âm Dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tạp gia, Nông gia, Tiểu
Thuyết gia, Tung Hoành gia).
Và “Thường hoành kinh tịch tư, chế tác bất quyện” (Thường đọc thư tịch, sáng tác không mệt mỏi). Lục Giáp là lịch pháp dạy cách tính ngày tháng năm, còn Bách gia là các trước tác của Bách gia Chư Tử.
Lúc Lý Bạch 5 tuổi, cha ông đã cho đọc “Tử Hư phú” (Tác phẩm thơ phú thời Hán do Tư Mã Tương Như viết). Năm lên 10, ông đã sáng tác “Minh đường phú” (Tập thơ Minh đường), đã có thể sánh vai với Tư Mã Tương Như.
Trong bài “Tặng Trương Tương Cảo”, Lý Bạch cũng tự nhận rằng: “Thập ngũ quan kỳ thư, tác phú lăng Tương Như” (15 tuổi xem được sách kỳ lạ, làm thơ phú vượt cả Tương Như).
Cha Lý Bạch đã từng gửi ông đến núi Tượng Nhĩ (My Châu) học. Ban đầu Lý Bạch học không chuyên tâm, vẫn còn trốn học. Theo “Phương dư thắng lãm – My Châu – Ma Châm khê”
ghi chép, Lý Thái Bạch học trong núi, chưa học xong đã trốn đi chơi. Đi
qua con suối nhỏ, gặp một bà lão bên bờ suối đang mài một cái gậy sắt
to bằng cái chày giã gạo.

Lý Bạch lấy làm lạ hỏi, bà lão trả lời: “Mài thành cái kim thêu”. Lý Bạch hỏi: “Gậy sắt mài thành kim, có thể được không?”. Bà lão đáp: “Chỉ cần công phu sâu!”.
Lý Bạch
nghe xong rất cảm động, quay về núi khổ công học tập, đạt được bước tiến
lớn. Bà lão vốn họ Vũ, ngày nay bên Ma Châm Khê (suối mài kim) có hòn
đá Vũ Thị Nham (hòn đá bà Vũ). Đời sau lưu truyền điển cố “Mài sắt nên
kim” là bắt nguồn từ đây.
Năm Khai
Nguyên thứ 6 (năm 718) Lý Bạch rời nói Tượng Nhĩ, ẩn cư ở núi Đai
Khuông đọc sách, học thuật Tung Hoành của Triệu Nhuy. Ở núi Đại Khuông
mấy năm, ông đến Bàng Quận, dạo chơi Kiếm Các, Tử Châu.
Năm 20
tuổi du ngoạn Thành Đô, yết kiến Tô Đĩnh, Trường Sử Ích Châu. Lúc đó, Tô
Đĩnh và Trương Thuyết là hai cây bút lớn, Lý Bạch đem thơ văn của mình
ra xin thỉnh giáo.
Tô Đĩnh đọc xong ca ngợi rằng: “Ông
thiên tài hoa lệ, hạ bút không dừng. Tuy phong cách chưa định hình
nhưng có thể thấy cốt cách riêng, nếu học rộng thêm, có thể sánh cùng
Tương Như đó”.
Sách “Thiên Bảo di sự”
viết, Lý Thái Bạch lúc thiếu thời mơ thấy các cây bút ông đã dùng trên
đầu đều sinh hoa, sau này thiên tài vòi vọi, nổi danh khắp thiên hạ.
Người đời sau thường nói đến câu “Diệu bút sinh hoa” (đầu bút nở hoa) là có xuất xứ từ đây.
Năm Khai
Nguyên thứ 13 (năm 725), Lý Bạch 25 tuổi, sau khi đã du ngoạn khắp Thục
Trung, bắt đầu xách kiếm viễn du. Ở Giang Lăng, ông tình cờ gặp Đan
Khâu Sinh, qua Đan Khâu Sinh đã kết giao với Tư Mã Thừa Trinh, đạo sỹ
Thiên Thai nổi tiếng.
Tư Mã
Thừa Trinh, tự Tử Vi, hiệu Bạch Vân Tử, là đạo gia danh tiếng triều
Đường. Ông đã nhiều lần được 3 đời Hoàng Đế: Võ Tắc Thiên, Duệ Tông, và
Huyền Tông triệu kiến.
Tư Mã
Thừa Trinh không chỉ là một đạo sỹ nổi tiếng, đạo thuật tinh sâu, mà còn
là viết chữ Triện rất đẹp, thơ cũng bay bổng như tiên. Vua Huyền Tông
rất tôn kính ông, đã từng mời ông vào nội cung, thỉnh giáo đạo pháp, rồi
lại xây Dương Đài Quán cho ông. Em gái Huyền Tông là công chúa Ngọc
Chân còn bái ông làm thầy.
Lý Bạch
phong độ hiên ngang, tư chất bất phàm, Tư Mã Thừa Trinh vừa thấy đã rất
vui thích, vừa ý. Đến khi đọc thơ Lý Bạch, Tư Mã Thừa Trinh càng kinh
ngạc khen ngợi không ngớt : “Có cốt cách thần và đạo, có thể cùng thần tiên du chơi bát cực”.
Đây là
thiên tài mà mấy chục năm qua, khắp trong ngoài triều đình, ông chưa
từng gặp. Tư Mã Thừa Trinh đã dùng từ khen ngợi cao nhất của Đạo gia
dành để ca ngợi Lý Bạch.
Nói Lý
Bạch có “Tiên căn”, tức là có mang cốt cách thần tiên. Sau này Hạ Tri
Chương cũng ca ngợi Lý Bạch là “Trích tiên nhân” (Ông tiên bị đày giáng
trần) là cũng cùng một ý, cả hai người đều coi Lý Bạch không phải là
người phàm trần.

Sau khi gặp Tư Mã Thừa Trinh, Lý Bạch viết “Đại bằng ngộ hy hữu điểu phú” (Bài phú chim bằng gặp chim hiếm). Đây chính là bài phú khiến tên tuổi Lý Bạch nổi danh thiên hạ.
“Đại bằng ngộ hy hữu điểu phú cập tự” (Bài phú và lời tựa chim bằng gặp chim hiếm)
“Tôi từng hội ngộ Tư Mã Thừa Trinh ở
Giang Lăng, ông nói tôi có cốt cách thần và đạo, ông có thể cùng tôi
vân du bát cực. Tôi liền sáng tác “Bài phú chim bằng gặp chim hiếm” để
mở rộng ý này. Bài phú này đã truyền ra thế gian, người thường cũng đã
thấy. Vì là tác phẩm thiếu thời, chưa hết được ý rộng lớn thoáng đạt,
nên đến trung niên thì vứt bỏ.
Đến khi đọc “Tấn thư”, thấy Nguyễn
Tuyên Tử viết bài thơ “Ca ngợi đại bằng”, tự cho là chỉ có vậy mà thôi.
Nhớ lại năm xưa viết “Bài phú đại bằng gặp chim hiếm”, nó có nhiều chỗ
khác với bản đang lưu truyền thế gian. Hiện còn lưu bản thảo, không phải
truyền cho mọi người, chỉ muốn cho các đệ tử xem mà thôi.
Trang tử ở Tất Viên có linh cơ thiên
phú, nói ra lời đàm luận cao chót vót, giảng lời kỳ lạ mênh mông. Từ
sách “Tề Hòa” thu thập các chuyện quái dị, nói về Bắc Hải có con cá lớn,
tôi không biết nó dài mấy nghìn dặm, tên nó là Côn.
Côn hóa thành Đại Bằng, bản thể
ngưng kết thành phôi thai hỗn độn. Thoán rụng vây trên hải đảo, trước
cổng trời giương cánh, Bột Hải trỗi vạn dặm sóng xuân, bay về phía đông
nơi triều dương ấm áp. Lừng lẫy vũ trụ, bay vút cao vượt Côn Luân. Mỗi
lần vỗ cánh, khói mây mù mịt, đất cát mịt mù. Ngũ Nhạc vì vậy mà rung
chuyển, trăng sông vì vậy mà sạt trôi.
Đạp đất vút lên, xông thẳng thiên
không, xuyên qua chín tầng mây, vượt qua các trùng dương. Bắn ra ba ngàn
con sóng lớn, bay vọt chín vạn tầng trời xanh. Sống lưng như dãy núi
nguy nga, đôi cánh như mây dài ngang dọc. Lắc lư quay tròn, quấy đảo cả
bỗng nhiên sáng rực, đột nhiên tối mịt.
Thân thể cường tráng bay xuyên các
tầng trời, bay đến cổng trời cao vòi vọi. Làm chấn động thiên giới hỗn
nguyên, bùng lên vạn sấm sét lôi đình. Các sao dịch chuyển, thiên thượng
động, núi cao rung lắc, biển lớn lộn nhào. Nổi giận, chẳng ai dám đánh
nhau với nó. Xưng hùng, chẳng ai dám cùng nó cạnh tranh. Phảng phất có
thể thấy khí thế và hùng tư của nó.
Chân có cầu vồng bao quanh, mắt nó
sáng như nhật nguyệt. Bay lượn xoay tròn, vun vút như chớp nhoáng. Phun
khí, bốn phương rực sáng mây màu. Rũ lông, ngàn dặm tuyết hoa bay. Từ
nơi hoang sơ cực bắc, bay đến cực nam. Hoặc vung cánh xoay tròn, hoặc
cưỡi gió bay thẳng. Bắc cực Chúc Long Hàm Hỏa Tinh chiếu sáng cho nó,
thần phóng điện vung roi dài vì nó mở đường.
Ba trái núi chỉ là mấy hòn đất, ngũ
hồ nhỏ như mấy bát nước. Nó động thì có Thần hưởng ứng, nó đi thì có Đạo
tùy tùng. Nhiệm Công Tử nhìn thấy chẳng buông câu, Hữu Cùng Thị không
dám giương cung bắn tiễn, ném cần câu, vứt cung tên, chỉ biết ngửa mặt
lên trời kêu kinh ngạc.
Dáng nó oai hùng hoành tráng, che cả
đất trời. Trên chạm trời xanh, dưới trùm mặt đất. Bàn Cổ khai thiên
nhìn mà cũng chẳng biết làm sao, Hy Hòa dựa mặt trời chỉ biết nhìn than
thở. Đất bát hoang cũng cảm thọ khí thế ngút trời, tứ hải quá nửa bị che
khuất.
Ngực nó chắn mặt trời như mà đêm che
phủ, mịt mù như lúc trời đất chửa khai thiên. Đột nhiên thân thể lật
nghiêng quay tròn bay, lập tức thấy ráng chiều phổ chiếu, mây khói tiêu
tan.
Sau bay tận 6 tháng chỉ nghỉ có 1
lần, hạ xuống bờ biển. Bỗng bay ngang che kín mặt trời, bỗng từ trên
trời lao thẳng xuống. Hơi thở khắp vô biên đồng nội, mỏ mổ giữa hồ lớn
mênh mông.
Nó bay dũng mãnh, gió lốc nổi lên,
biển xanh gào thét, núi biếc đổi màu. Thủy thần Thiên Ngô kinh hoàng
kiếp sợ, Đông Hải Thần run sợ bất an. Cự Ngao đội núi còn giấu đầu tháo
chạy, Trường Kình nhào lộn cũng ẩn dưới biển sâu. Ngao co đầu, Kình giấu
râu, chỉ nhìn còn không dám. Tôi cũng chẳng ngờ nó lại thần kỳ quái dị
như thế này, đó là Tạo Hóa làm ra vậy!
Đại Bằng chẳng sánh nổi Hoàng Hộc
đảo Bồng Lai, khoe xiêm y vàng bạc với cúc vàng? Đại Bằng cũng thẹn với
Phượng Hoàng Thương Ngô, khoe bộ lông rực rỡ hoa vân. Những loài chim
muông này, đã từ lâu bị thần tiên sai khiến, đã từ lâu thuần phục trong
lồng.
Tinh Vệ cần cù ngậm cành lấp biển,
Viên Cư bi sầu chẳng uống ăn. Thiên Kê trên cây bàn đào báo sáng, Kim Ô
phát sáng giữa mặt trời. Chẳng thể khoáng đạt thỏa thích, lại câu nệ thủ
thường thế này? Đều chẳng được như Đại Bằng tiêu dao, chẳng có loài nào
sánh nổi với Đại Bằng.
Đại Bằng chẳng kiêu căng hung bạo,
luôn luôn thuận thời ứng thế. Tham ngộ Đại Đạo, trường thọ diên niên,
uống no nguyên khí của trời đất. Ở Dương Cốc nơi mặt trời mọc đùa giỡn
bồi hồi, du ngoạn Viêm Châu nơi Nam Hải, thỏa sức vẫy vùng.
Chẳng bao lâu, con chim hiếm gặp Đại
Bằng, nói: “Đại Bằng vĩ đại thay! Thật là thỏa chí. Cánh phải của tôi
che kín cực Tây, cánh trái phủ kín cõi Đông, vượt qua đất lớn, bay lượn
vòm trời, lấy mơ hồ làm tổ, lấy hư vô làm chỗ chơi. Tôi mời anh du
ngoạn, tôi với anh cùng bay”. Đại Bằng đồng ý, vui vẻ đi cùng. Hai con
chim khổng lồ này đã bay vào thiên không bát ngát, mà mấy con chim sâu
nhỏ bé lại đứng bên bờ giậu mà cười chê”.
|
Bài phú đọc lên nghe tràn đầy khí phách
tiêu dao, trong lời văn thấy có giọng của Trang Tử trong “Tiêu dao du”
(Nam Hoa Kinh). Lý Bạch lại ví mình như con chim Bằng, ngao du sơn thuỷ,
uống đầy tinh khí đất trời mà gặp được con chim hiếm khác cùng nhau
tiêu dao tự tại. Khí phách ấy đúng là không có ở người thường.

“Hai con chim khổng lồ này đã bay vào thiên không bát ngát, mà mấy con chim sâu nhỏ bé lại đứng bên bờ giậu mà cười chê“.
Bài phú kết thúc với một giọng điệu cảm khái như vậy, cũng chính là nói
lên ý tứ rằng người quân tử như chim Bằng không mong được loài chim sâu
nhỏ bé hiểu được chí hướng của mình. Người quân tử cũng chắc chắn không
thể ở cùng chỗ kẻ tiểu nhân.
Lý Bạch từng vào cung vua, làm thượng
khách của Đường Minh Hoàng, lại được Dương Quý Phi vô cùng mến mộ. Thế
nhưng cuộc sống cung đình thực là ngột ngạt, chốn gai góc cũng không
phải là nơi chim loan, chim phượng đậu. Lý Bạch chán nản, ngày đêm chỉ
biết làm bạn với bầu rượu, túi thơ, lại bị Dương Quốc Trung gièm pha,
xúc xiểm.
Không lâu sau, Lý Bạch từ giã Đường Minh
Hoàng. Vua tặng cho biết bao vàng bạc cũng không cầm một nén. Cuối cùng
Đường Minh Hoàng tuyên bố Lý Bạch có thể uống rượu tại bất cứ quán hàng
nào ông đi qua, triều đình sẽ trả tiền rượu. Vậy là Lý Bạch lại tiếp
tục chống kiếm lên đường, ngao du bốn biển như loài chim Bằng ngạo nghễ,
khí phách kia.
Để thay lời kết cho kỳ này, mời quý độc
giả thưởng thức lại một trong những bài thơ rất được yêu mến của Lý
Bạch: “Nguyệt hạ độc chước” (Một mình uống rượu dưới trăng).
Hoa gian nhất hồ tửu
Độc chước vô tương thân
Cử bôi yêu minh nguyệt
Đối ảnh thành tam nhân
Nguyệt ký bất giải ẩm
Ảnh đồ tùy ngã thân
Tạm bạn nguyệt tương ảnh
Hành lạc tu cập xuân
Ngã ca nguyệt bồi hồi
Ngã vũ ảnh linh loạn
Tỉnh thì đồng giao hoan
Tuý hậu các phân tán
Vĩnh kết vô tình du
Tương kỳ mạc Vân Hán
Tạm dịch thơ:
Có rượu không có bạn
Một mình chuốc dưới hoa
Cất chén mời trăng sáng
Mình với bóng là ba
Trăng đã không biết uống
Bóng chỉ quấn theo ta
Tạm cùng trăng với bóng
Chơi xuân cho kịp mà!
Ta hát, trăng bồi hồi
Ta múa, bóng rối loạn
Lúc tỉnh cùng nhau vui
Say rồi đều phân tán
Gắn bó cuộc vong tình
Hẹn nhau tít Vân Hán.
(Bản dịch của Tương Như)
Theo Đại Kỷ Nguyên Tiếng Trung
Sơn Hải biên dịch
- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác
Nhận xét
Đăng nhận xét