Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 264
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Cuộc Đời Kỳ Lạ Của Một Tình Báo Viên - Truyện Ngắn| Hoàng An
Hành trình siêu điệp viên Israel xâm nhập giới chóp bu nhà nước Syria
Trung Hiếu |
Eli Cohen cùng đoàn tùy tùng của Tổng thống Syria Amin Hafiz. Ảnh: Albert Abraham Cohen.
Điệp viên Israel Eli Cohen lên kế hoạch xâm nhập hàng loạt bộ
trọng yếu của Syria. Tuy nhiên ông đã bị phát giác và treo cổ.
Chuẩn bị “hồi hương”, điệp viên Eli Cohen bí mật quay trở lại Israel qua ngả Zurich, gặp lại gia đình và nghiên cứu về Syria.
Em
trai ông, Albert, nói: “Anh ấy trở về Israel trong 3 tuần do cha chúng
tôi qua đời. Sau khi chịu tang một thời gian, anh ấy rời Israel để sang
Italy, tại đó anh đi tàu thủy sang Alexandria. Rồi từ đó, anh lại lênh
đênh trên biển sang Beirut, Lebanon”.
Vượt biên vào Syria
Theo
em trai của Cohen, một đặc vụ địa phương đã hộ tống Cohen tới biên giới
Syria sau khi Cohen tới Lebanon. Tại đây hai người hối lộ một lính biên
phòng để được nhập cảnh.
Albert kể lại câu chuyện của
anh mình: “Việc vượt biên không khó lắm, vì biên giới không được bảo vệ
nghiêm ngặt. Và sau khi đặt chân lên lãnh thổ Syria, cả hai thẳng tiến
về thủ đô Damascus”.
Cohen
định cư ở thủ đô Syria vào năm 1962. Ở thành phố này, các mối liên hệ
mà Cohen có được hồi ở Argentina đã phát huy tác dụng.
Trước
tiên là mối liên hệ với Tướng Amin Hafiz, nhân vật trở thành Tổng thống
Syria sau cuộc đảo chính vào năm 1963. Viên tướng này thấy ở “Kamel
Amin Thaabet” (tức Cohen) một con người có giáo dục, yêu nước, và một
doanh nhân thành đạt sẵn lòng đầu tư vào Syria.
Albert kể
tiếp: “Bất cứ ai muốn làm một người nói dối giỏi thì phải có một trí
nhớ xuất sắc. Cohen có một trí nhớ phi thường, và chính điều này cho
phép anh ấy đánh lừa đối phương và tiến hành cuộc chơi nghiệp vụ đánh
lừa ban lãnh đạo cao nhất của Syria”.
Em trai của điệp
viên Cohen đưa cho Sputnik xem văn bản ông khai trước tòa sau khi bị
bắt. Albert nói rằng lời khai này cho thấy Cohen đã xâm nhập sâu đến cỡ
nào vào giới chóp bu của nền chính trị Syria.
Đoạn khai
của Cohen trước một tòa án Syria: “Tôi đã nỗ lực xâm nhập vài bộ và vài
cơ quan khác của chính phủ. Trong số đó có bộ quốc phòng, bộ kinh tế, bộ
thông tin, bộ các vấn đề đô thị, ngân hàng trung ương và một số cơ quan
nữa...”.
Với
sự giúp đỡ của một số nguồn tin tin cậy sẵn lòng cung cấp thông tin,
Cohen đã gửi về trung tâm các chi tiết quý giá về tình hình chính trị,
kinh tế và quân sự ở Syria vào đầu thập niên 1960.
Trong
các thông tin trên, đặc biệt quý giá là thông tin về hợp tác quân sự của
Syria với Iraq, thông tin mật về vũ khí Liên Xô cung cấp cho Damascus,
cũng như việc tái bố trí lực lượng vũ trang Syria, gồm pháo binh và hệ
thống công sự ở Cao nguyên Golan.
Cohen cũng đánh cắp
được kế hoạch của Syria dịch chuyển dòng chảy của sông Jordan nhằm tước
đi của Israel một trong các nguồn nước ngọt chính.
Ngoài
ra, điệp viên Cohen còn đều đặn gửi về Tel Aviv các hình ảnh, bản đồ
quân sự và các tài liệu có tầm quan trọng chiến lược khác.
Levi
Eshkol, từng làm thủ tướng Israel giai đoạn 1963-1969, ca ngợi Cohen
hết lời. Ông nói, các nỗ lực của điệp viên Cohen “đã cứu mạng sống của
nhiều người lính Israel”, và “thông tin do ông cung cấp đã chứng tỏ là
vô giá, giúp đất nước giành chiến thắng áp đảo trong cuộc Chiến tranh
Sáu Ngày”.
Quân đội Israel tiến vào bán đảo Sinai trong cuộc Chiến tranh Sáu Ngày vào tháng 6/1967. Ảnh: AP.
Cuộc
chiến Sáu Ngày diễn ra từ ngày 5-10/6/1967, bắt đầu khi Israel mở các
cuộc không kích vào Ai Cập, quét sạch lực lượng không quân nước này.
Syria, Jordan, Iraq và Lebanon tham gia cuộc chiến này vào các ngày tiếp
theo để rồi bị quân đội Israel đánh cho thua tan tác. Phía Israel vượt
trội về các khía cạnh chỉ huy, huấn luyện và cả thông tin tình báo.
Cuộc
chiến Sáu Ngày kết thúc bằng việc Israel chiếm đóng Bờ Tây, Dải Gaza,
Cao nguyên Golan và toàn bộ Bán đảo Sinai (bán đảo này mãi về sau Ai Cập
mới giành lại được trong cuộc Chiến tranh Yom Kippur năm 1973).
Trong
sử liệu Israel và phương Tây, người ta viết rằng Cohen có cơ hội trở
thành một Thứ trưởng Quốc phòng Syria và tên của ông được cân nhắc cho
chức vụ Tổng thống nước này.
Tuy nhiên, chuyên gia chính trị người Syria chuyên theo dõi về Israel, Tahsin Halabi, phủ nhận điều này.
Nói với Sputnik, nhà quan sát này cho rằng thành công của điệp viên Cohen đã bị phóng đại.
Halabi
giải thích: “Các báo cáo nói rằng Eli Cohen suýt trở thành Tổng thống
hay Bộ trưởng Quốc phòng Syria chỉ là việc nhai lại chuyện hoang đường
mà tình báo Israel đã phát tán về bản thân, tạo ra hình ảnh về một cơ
cấu quyền năng có thể kiểm soát bất cứ một hệ thống chính trị hoặc quân
sự nào trên hành tinh”.
Bại lộ và bị hành quyết
Cohen
đã bị tình báo Syria bắt giữ tại căn hộ của mình vào tháng 1/1965. Một
tháng sau, điệp viên này bị đưa ra xét xử rồi bị kết án tử hình. Ông bị
treo cổ vào ngày 18/5/1965 tại một quảng trường ở Damascus. Thi thể ông
bị treo lơ lửng trong 6 tiếng đồng hồ liền.
Yakov Kedmi,
một nhà bình luận chính trị Israel và cựu giám đốc cơ quan an ninh
Nativ, nói chi tiết với Sputnik về vụ bắt giữ và hành quyết Cohen.
Kedmi
nói: “Mossad và cộng đồng tình báo Israel nói chung đã nhiều lần phân
tích sâu vấn đề ông ấy bị bắt giữ và xử tử. Vai trò của Liên Xô trong
chuyện này là rất thú vị, liên quan đến việc cung cấp các thiết bị chặn
thu sóng vô tuyến điện”.
Theo Kedmi, các điều tra của
Israel chỉ rõ ra rằng Cohen đã phạm phải một số sai lầm nhất định và
điều này cộng với sự xuất hiện của thiết bị Xô viết đã kéo theo việc ông
bị lật tẩy.
Điệp viên Eli Cohen tại tư gia ở thủ đô Damascus của Syria. Ảnh: CCO.
Mặc
dù vậy vẫn có bức màn bí ẩn bao quanh câu chuyện chính thức về Cohen.
Người em trai Albert nói với Sputnik rằng có thể có 3 lý do khiến anh
trai bị lộ thân phận.
Thứ nhất, Đại sứ
quán Ấn Độ ở Damascus khi ấy than phiền về việc gặp nhiễu trong liên lạc
vô tuyến với New Delhi. Điều này dẫn tới một cuộc điều tra, mà trong đó
thiết bị vô tuyến điện hiện đại của Liên Xô đã vào cuộc để xác định
chính xác nguồn gây nhiễu và cho phép an ninh Syria bắt quả tang Cohen
lúc ông đang truyền thông tin mật bằng điện đài từ căn hộ của mình.
Thứ hai,
tình báo Ai Cập tuyên bố Cohen lần đầu bị người của họ phát hiện trong
một bức ảnh chụp một buổi họp của bộ tổng tham mưu quân đội Syria và
quân đội Ai Cập ở Cao nguyên Golan. Phía Ai Cập sau đó xác định Cohen là
một gián điệp của Israel.
Lý do thứ ba, chi tiết
nhất, do Ahmad Suwaidani, cựu giám đốc tình báo Syria, đưa ra. Theo ông
trùm mật vụ này, hồi đầu thập niên 1960, lực lượng phản gián Syria cảm
nhận được có 2 người Syria đang làm cho CIA (Cơ quan Tình báo Trung ương
Mỹ) và bí mật lên kế hoạch đưa sang Síp tên lửa mà Damascus nhận được
từ Liên Xô. Sau 7 tháng theo dõi, cơ quan đặc biệt của Syria phát hiện
ra rằng cả hai nghi phạm đều thường xuyên lui tới căn hộ của Cohen.
Hai
nghi phạm nói trên bị bắt vào cuối năm 1964, họ cuối cùng bị xét xử vì
tội phản quốc và bị hành quyết ở Damascus vào tháng 1/1965. Còn Cohen
ngay sau vụ bắt giữ cũng bị theo dõi sát sao.
Theo kịch
bản do Suwaidani đưa ra, cơ quan an ninh Syria thực sự đã đột nhập vào
căn hộ của Eli Cohen vào ngày 18/1/1965 nhưng chỉ thấy ông đang nghe
đài, chứ không phải là đang truyền thông tin mật. Trong cuộc lục soát
căn hộ này, các điều tra viên phát hiện một máy phát vô tuyến điện và
các đồ khả nghi khác.
Albert Cohen nhớ lại, các bút lục
của tòa án Syria có đề cập đến việc Eli Cohen và một tòng phạm có nói
với một viên sĩ quan hải quân Syria rằng người Mỹ sẵn sàng trả 50.000
USD cho thông tin về hải quân Syria. Điều này được sử dụng để tố cáo Eli
hợp tác với tình báo Mỹ.
Người em của Cohen cũng chỉ ra
rằng việc bắt ông được Syria công bố vào ngày 22/1/1965, tức là chỉ 5
ngày sau khi bắt ông. Điều này, theo cách hiểu của Albert, cho thấy
người Syria đã đưa ông vào diện nghi ngờ từ lâu rồi.
Albert
nhất trí với đánh giá của Suwaidani cho rằng chính việc 2 người Syria
bị bắt giữ do làm việc cho CIA là dấu hiệu khởi đầu cho thất bại của anh
trai mình.
Siêu điệp viên Eli Cohen của Israel suýt
trở thành Tổng thống Syria VOV.VN - Eli Cohen là một điệp viên cự phách
và trung thành của tình báo Israel, từng xâm nhập sâu vào bộ máy nhà
nước Syria và suýt trở thành Tổng thống.
50 năm kể từ đó, chính quyền Syria vẫn từ chối gửi hài cốt Cohen về cho gia đình ông ở Israel.
Yakov Kedmi tin rằng việc từ chối này có liên quan tới thực tế là họ không còn biết đích xác ông nằm ở đâu nữa.
Kedmi
nói: “Israel liên tục cố gắng định vị mộ của ông và đã thực hiện thương
lượng, nhưng sự thực là Damascus đơn giản chẳng biết thi thể Eli Cohen
giờ nằm ở đâu nữa. Trong bối cảnh nội chiến, càng không thể tìm ra được.
Trước họ từ chối có thể là vì lý do chính trị, giờ thì đơn giản là vì
họ không biết gì cả”.
Anh hùng Bất tử với một số người, Kẻ thù Vĩnh viễn với người khác
Ở
Israel, Eli Cohen được xem là một biểu tượng, một anh hùng dân tộc và
một điệp viên thành công nhất trong lịch sử quốc gia này.
Albert
Cohen cho biết, anh trai mình là người can đảm. “Eli Cohen là một chiến
binh quả cảm, một người lính âm thầm phục vụ nhà nước Israel. Anh ấy là
một quân nhân không có quân phục, và sẽ mãi là một anh hùng dân tộc
trong trí nhớ của chúng tôi”.
Ngược lại, Tahsin Halabi tin rằng sứ mệnh của Cohen là phá hủy Syria.
Nhà
quan sát chính trị người Syria này nói: “Kể từ năm 1949, Mỹ đã cố gắng
vài bận để tiến hành đảo chính ở Syria, nhưng tất cả các nỗ lực đó đều
thất bại. Người Mỹ không hài lòng với chính quyền Syria có quan hệ tốt
với Liên Xô. Khi thất bại trong mưu đồ đảo chính, CIA đặt ra nhiệm vụ
phá hủy nhà nước Syria. Chính vì lý do này mà Cohen được cử sang Syria”.
Cựu
lãnh đạo cơ quan Nativ Yakov Kedmi thì cho rằng cuối cùng Cohen đã
thành công. “Cohen là một trong các gián điệp thành công nhất của Israel
và ông phải trả giá bằng mạng sống của chính mình. Ở bất cứ đất nước
nào, một người như vậy đều được coi là anh hùng dân tộc, và toàn thể
nước Israel tôn vinh ký ức về ông”./.
theo VOV
Hé lộ sốc về âm mưu khủng khiếp của cựu thiếu tướng tình báo Israel với TT Syria Assad
Vũ Thu Hương |
Thiếu tướng Kovachi được cho là từng tuyên bố rằng sự
tồn tại của chế độ Tổng thống Assad sẽ mang lại tai họa cho Israel khi
chịu ảnh hưởng từ Iran, Hezbollah, các tổ chức nổi dậy và ảnh hưởng của
Nga trong khu vực. Và nhân vật này từng đưa ra ý tưởng gây sốc với Tổng
thống Syria Bashar al-Assad.
Theo Sputnik, Tham mưu trưởng Lực lượng phòng vệ Israel (IDF) Aviv Kochavi được cho là từng đưa ra ý tưởng ám sát Tổng thống Syria Bashar al-Assad.
Tuy
nhiên, đề nghị của thiếu tướng Aviv Kochavi đã bị quân đội Israel bác
bỏ. Quân đội Israel lâu nay vẫn muốn tập trung vào việc kiềm chế Iran mở
rộng phạm vi hoạt động ra khắp Syria cũng như chuyển vũ khí tân tiến
cho nhóm Hezbollah.
Ông Aviv Kochavi
đưa ra ý tưởng gây sốc trên từ thời còn làm Giám đốc Cơ quan tình báo
quân đội Israel (Aman). Sở dĩ ông mong muốn lật đổ Tổng thống Assad vì
ông này ủng hộ lực lượng Hezbollah.
Tổng thống Syria Assad
Ông Kovachi còn định lên kế hoạch ám sát lãnh đạo Syria nếu ông Assad không tự nguyện từ nhiệm.
Ông
Kovachi được cho là từng tuyên bố rằng sự tồn tại của chế độ Tổng thống
Assad sẽ mang lại tai họa cho Israel khi chịu ảnh hưởng từ Iran,
Hezbollah, các tổ chức nổi dậy và ảnh hưởng của Nga trong khu vực.
Thông
tin trên được báo Elaph của Saudi Arabia đăng tải. Dẫn thông tin từ một
quan chức cấp cao giấu tên Israel, tờ Elaph cho hay trong thời gian giữ
chức Giám đốc Cơ quan tình báo Israel, ông Kovachi từng đưa ra ý kiến
lật đổ Tổng thống Assad nhằm hạ thấp tầm ảnh hưởng của lực lượng
Hezbollah.
Tuy nhiên, ý kiến của ông
Kovachi về việc ám sát Tổng thống Assad đã nhanh chóng bị dập tắt, bởi
cơ quan tình báo Israel đã có phương án khác để đối phó với lực lượng
Hezbollah ở Syria.
Israel triển khai
rất nhiều cuộc không kích vào lãnh thổ Syria với tuyên bố rõ ràng rằng
mục tiêu của họ là các cơ sở của quân đội Iran và ngăn chặn các vụ vận
chuyển vũ khí. Tel Aviv khẳng định Tehran đang chuyển vũ khí cho
Hezbollah, lực lượng từng là kẻ thù với Israel.
Về
phần mình, Iran phủ nhận duy trì sự hiện diện quân sự ở Syria và nước
này chỉ có lực lượng cố vấn quân sự ở Syria để giúp đỡ nước này theo lời
đề nghị của Damascus. Cả Tehran và chính phủ Syria đều liên tục chỉ
trích các cuộc không kích của Israel.
Căng
thẳng giữa Israel và Iran gia tăng sau hàng loạt vụ không kích của Tel
Aviv nhằm vào lực lượng Tehran đang triển khai tại Syria, khiến nhiều
công dân Iran thiệt mạng. Iran đã "thề" Israel sẽ phải gánh hậu quả nặng
nề cho hành động này.
Leo thang xung
đột Israel - Iran thời gian gần đây gia tăng do Israel lo ngại bị thất
thế. Trong thời gian trước, Israel không thể hiện sự phản đối mạnh mẽ
đối với sự hiện diện quân sự của Iran ở Syria, nhưng những tháng gần
đây, Israel đã đặt sự hiện diện quân sự của Iran ở vị trí đầu tiên trong
danh sách các thách thức mà nước này phải đối mặt.
Thủ
tướng Netanyahu đã nhiều lần tuyên bố rằng chính quyền của ông sẽ không
chấp nhận việc Iran tăng cường hiện diện quân sự ở Syria và lực lượng
quân sự Israel sẵn sàng hành động để đạt được điều đó.
Tham
mưu trưởng quân đội Israel Gadi Eizenkot nói rằng Syria đang chuyển
sang một giai đoạn mới và Iran đang tăng cường sự hiện diện quân sự của
mình tại đó trên nhiều lĩnh vực.
Trong
các cuộc tấn công chống lại sự hiện diện quân sự của Iran ở Syria,
Israel đã nhằm vào các cơ sở, các nhà máy của Iran, cũng như loại bỏ các
lực lượng Iran khỏi đường biên giới Syria-Iran.
Sự
thay đổi chính sách của Israel có 2 lý do chính: Một là, cuộc chiến tại
Syria đã bước vào giai đoạn quyết định về mặt quân sự sau khi Iran và
Nga đặt toàn bộ sức nặng của họ phía sau chính phủ Syria với mục tiêu
đánh bại phe đối lập.
Thứ hai, việc
tăng cường hiện diện quân sự của Iran ở Syria và việc tìm cách tiếp tục
duy trì lâu hơn nữa tại đây sau khi cuộc chiến kết thúc là nhằm mục đích
sử dụng sự hiện diện này như một lực lượng dự phòng chống lại Israel
khi cần thiết.
theo Người đưa tin
Điệp viên đan len
Nguyên Khang |
Thời Chiến tranh Thế giới lần I và II, phụ nữ được khuyến khích đan len gửi ra mặt trận.
Trong thời Chiến tranh Thế giới lần I, một bà ngoại ở Bỉ ngồi
đan áo len bên cửa sổ, mắt dõi theo đoàn tàu hỏa chạy ngang qua. Khi một
đoàn tàu chạy qua, bà dùng hai cây kim đan thực hiện môt mũi đan nhô
lên trên nền vải. Khi một đoàn tàu khác chạy qua, bà lại hạ mũi kim
xuống dưới nền vải tạo thành một cái lỗ...
Sau đó, bà không quản ngại nguy hiểm, băng mình giữa bom đạn để mang tấm vải đó trao cho một người lính – cũng là một điệp viên đồng nghiệp với bà trong quân kháng chiến Bỉ, chiến đấu nhằm đánh đuổi quân Đức xâm lược.
Đó
là câu chuyện điển hình về một điệp viên sử dụng kỹ thuật đan móc, hay
đan len để truyền tải thông điệp bí mật. Lịch sử đã ghi nhận những người
phụ nữ thời chiến dùng các kỹ thuật đan len, đan móc, thêu,… cho mục
đích truyền thông tin tình báo bằng hình thức mật mã và ký hiệu.
Điệp
viên đan len thuộc nhóm những người phụ nữ này. Họ sử dụng kỹ thuật đan
len để tạo ra một thông điệp, và thông điệp đó trở thành một hình thức
của kỹ thuật giấu thư, tức là bằng cách nào đó người điệp viên che giấu
thông điệp, hình ảnh bên trong một hình ảnh khác hoặc dưới hình thức mật
mã.
Mật mã thời kỳ khoa học kỹ thuật chưa tiến bộ còn sơ
khai, và kỹ thuật đan len được xem là một công cụ hiệu quả để mã hóa
thông điệp. Mỗi tấm áo đan len có kiểu đan riêng được tạo nên bởi hai
mũi kim đan theo hình chữ “v”, còn mũi đan móc tạo ra những gờ nổi trên
mặt vải, trông giống như đường chân trời.
Bằng cách kết
hợp giữa hai kiểu đan theo một mô thức định sẵn, các điệp viên đan len
có thể truyền tải thông điệp trên tấm áo (hoặc khăn) đan và người nhận
tấm áo (khăn) đó có thể đọc được thông điệp mà không bị phát hiện.
Phyllis
Latour Doyle, điệp viên bí mật của Anh thời Chiến tranh Thế giới lần
II, đã dành trọn thời gian tham gia cuộc chiến để truyền thông tin về
cho nước Anh bằng hình thức mật mã đan len.
Bà nhảy dù
xuống vùng Normandy vào năm 1944 và đạp xe đạp lòng vòng, trò chuyện
cùng đám lính Đức chiếm đóng tại đây, làm ra vẻ sẵn sàng giúp đỡ khi bọn
lính cần đến, rồi sau đó bà trở về ngồi đan len truyền tải thông tin
vào trong những đường len đan, sử dụng công cụ mật mã để che giấu thông
tin.
“Tôi luôn mang theo bộ đồ nghề đan len theo mình, vì
bộ mật mã của tôi được giấu trên một tấm vải lụa. Tôi có khoảng 2.000
ký hiệu mật mã để sử dụng. Tôi quấn tấm vải lụa đó quanh cây kim đan và
dùng nó để cài búi tóc” – bà Doyle kể với tờ báo New Zealand Army News.
Đối
với người không biết đan len thì khi nhìn vào một kiểu đan sẽ không
hiểu gì cả, không thể dịch mật mã để đọc thông tin giấu bên trong. Điều
này khiến họ tưởng tượng, phỏng đoán đủ thứ xung quanh kiểu hình đan.
Trong
quyển sách nhan đề “Stitches in Time”, Lucy Adlington viết về một bài
báo đăng trên tờ báo UK Pearsons Magazine số tháng 10-1918, trong đó nói
rằng người Đức đã sử dụng kỹ thuật đan áo len để gửi thông tin mật.
Adlington
viết: “Khi các cơ quan chính quyền Đức giở tấm áo đó ra xem, họ thấy nó
được đan lấm chấm những nốt sần trên mặt vải. Bằng cách đánh dấu một
khung cửa đứng với các mẫu tự Latin, cách nhau khoảng 2,5cm, người nhận
áo có thể giải mã các nốt sần đó.” Adlington viết thêm rằng bài báo trên
tạp chí Pearsons khẳng định phương pháp này “an toàn và khó bị phát
hiện hơn”.
Bởi rất khó tìm bằng chứng xác thực đối với
việc đan len mật mã. Vả lại, những điệp viên sử dụng kỹ thuật đan để
truyền thông tin tình báo thường không gây chú ý, ít bị nghi ngờ hơn,
bởi có mấy ai sử dụng được kỹ thuật đan len để giấu mật mã này.
Câu
chuyện trên tạp chí Pearsons có thể có thật, có thể không có thật,
nhưng thực tế thời chiến tranh thế giới, phụ nữ được khuyến khích đan
tất, mũ và khăn choàng cổ bằng len gửi ra mặt trận cho những người lính
sử dụng khi mùa đông về.
Sản phẩm vải dệt thông thường
và đan len được sử dụng phổ biến trong chiến tranh, và trong số đó có
thể có những sản phẩm được lợi dụng cho mục đích tình báo.
Trong
quyển sách nhan đề “Writing Secret Codes and Sending Hidden Messages”,
hai tác giả Gyles Daubeney Brandreth và Peter Stevenson viết rằng không
lâu sau khi mật mã Morse được phát minh, người ta phát hiện rằng sợi vải
và len rất thích hợp để tạo mật mã.
“Một
nút thắt thông thường có thể tương ứng với một chấm và nốt trong hệ 8
ký tự có thể được hiểu tương đương với một gạch ngang” - Daubeney
Brandreth và Stevenson viết.
Câu chuyện đan len giấu mật
mã nổi tiếng nhất có lẽ là câu chuyện trong tiểu thuyết hư cấu “A Tale
of Two Cities” (Câu chuyện của hai thành phố), trong đó một quý bà “máu
lạnh” người Pháp tên là Madame Defarge thản nhiên ngồi đan len giữa đám
đông nhốn nháo chứng kiến cảnh đồ tể chém đầu các quý tộc Pháp.
Bà đã tạo ra một chuỗi những mũi đan mã hóa tên họ của các quý tộc sẽ bị hành quyết tiếp theo.
Câu
chuyện của quý bà Defarge có thể rất hay, nhưng nguồn gốc của việc sử
dụng kỹ thuật đan len để mã hóa thông tin tinh báo được giới nghiên cứu
cho là xuất phát từ nước Anh trong cuộc Đại chiến chống quân Napoleon.
Trong
giai đoạn nước Anh cấm đan len theo kiểu hình khác lạ để ngăn ngừa mã
hóa thông tin tình báo, các điệp viên Cơ quan Tình báo bí mật của Anh đã
thuê các điệp viên trong vùng tạm chiếm giả dạng dân thường làm những
công việc thông thường hàng ngày, trong đó có đan len.
Levengle
là một phụ nữ điển hình như thế. Bà ngồi trên bậu cửa sổ vừa đan len,
vừa đập đập gót chân vào vách nhà theo nhịp mật mã Morse để những người
con của bà ở trong phòng giả vờ ngồi học bài nhưng thực chất là ghi chép
lại các mật mã của bà trong khi một thống soái Đức đang hiện diện trong
nhà.
Những phụ nữ như Madame Levengle thường xuyên được
mạng lưới tình báo và quân kháng chiến Alice Network ở châu Âu sử dụng
để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống quân Đức.
theo An ninh thế giới
Báo Mỹ: Gián điệp xinh đẹp người Nga bị lộ vì chiếc ốp điện thoại có hình ông Putin ngực trần
Hồng Anh |
Ảnh: ZUMAPRESS/Getty Images
Tờ Washington Post tiết lộ: "Chiếc ốp lưng điện thoại của cô
Butina có hình ảnh cưỡi ngựa ngực trần nổi tiếng của Tổng thống Nga
Vladimir Putin".
Tuần trước, cô gái 29 tuổi nghi là điệp viên Nga Maria Butina
đã bị cảnh sát Mỹ bắt giữ. Phía Washington đã liên tục đưa ra nhiều
bằng chứng để kết tội cô Butina, như mối quan hệ tình ái với nhân vật có
ảnh hưởng chính trị tại Mỹ, hay đoạn chat với chính trị gia Nga
Alexander Torshin.
Đến
nay cô Butina và luật sư vẫn tiếp tục bác bỏ các cáo buộc trên. Tuy
nhiên, theo thông tin mới được tờ Washington Post đăng tải, trước khi bị
bắt giữ, cô gái 29 tuổi người Nga này đã có một số biểu hiện đáng nghi
kể từ khi còn đang theo học tại trường Đại học Mỹ.
Cụ thể, theo
Washington Post, việc Butina thẳng thắn thể hiện "quan điểm chính trị
bảo thủ" và "sự ủng hộ nhiệt thành đối với tổ quốc" đã khiến những người
bạn đại học của cô này phải đặc biệt lưu tâm. Ngoài ra, chiếc ốp lưng
điện thoại của Butina cũng khá đáng nghi.
Tờ Washington Post tiết lộ: "Chiếc ốp lưng điện thoại của cô Butina có hình ảnh cưỡi ngựa ngực trần nổi tiếng của Tổng thống Nga Vladimir Putin".
Một trong những bức hình ngực trần nổi tiếng của Tổng thống Putin. Ảnh: Ria Novosti.
Dù
chiếc ốp lưng có vẻ khả nghi, nhưng có thể Butina chỉ là một cô gái
bình thường - một công dân Nga thần tượng ông Putin - và có thể chiếc ốp
lưng điện thoại ấy chỉ đơn thuần là một phụ kiện trang trí.
Tuy
nhiên, những hành vi khác, ví dụ như việc Butina khoe với những người
bạn cùng lớp rằng cô này "từng làm việc cho chính phủ Nga" đã khiến nhà
trường và các quan chức thực sự lo ngại.
Một
số sinh viên cùng trường Butina đã báo cáo với nhà trường về những động
thái công khai ủng hộ nước Nga của Butina. Thế nhưng lãnh đạo trường
Đại học Mỹ đã không tiến hành bất kì động thái nào để giải quyết vấn đề
này. "Một số người đã tỏ ra lo ngại, tuy nhiên đó là môi
trường đại học, và bạn biết đấy, mọi người đều có quan điểm rất mạnh mẽ.
Mọi người [được tự do] tranh luận, nêu quan điểm, và nhất là khi trường
Đại học Mỹ là môi trường có rất nhiều sinh viên quốc tế. Bởi
vậy nên ban đầu nhà trường chưa thấy có vấn đề gì [với những phát ngôn
của Butina], nhưng bây giờ họ đang bắt đầu dần tỉnh ngộ và lo ngại về
những âm mưu và kế hoạch của cô gái này", phóng viên của tờ Washington Post cho biết.
Gây tiếng vang với thành tích tuyển mộ được nhiều điệp viên, thu
thập được nhiều thông tin tình báo vô cùng quan trọng, nhưng cơ quan
tình báo Liên Xô KGB trong lịch sử hoạt động của mình cũng phải nếm trải
không ít thất bại. Trong đó, thất bại nặng nề nhất có thể nói là vụ để
“điệp viên tỉ đô” của cơ quan tình báo đối thủ của Mỹ CIA “qua mặt” suốt
bảy năm.
Năm lần tiếp cận
Tháng 1/1977, khi đang chờ đổ xăng tại một cây xăng dành cho các nhà ngoại giao ở Moscow, người đứng đầu CIA
tại Liên Xô (trong vỏ bọc một nhà ngoại giao) ngạc nhiên khi thấy một
người đàn ông trung niên người Nga tiến lại gần và hỏi ông có phải là
người Mỹ không bằng tiếng Anh.
Sau khi nhà ngoại giao Mỹ xác nhận,
người đàn ông liền bỏ vào ghế xe một mảnh giấy rồi rời đi. Trong mảnh
giấy, người đàn ông cho biết là một kỹ sư người Liên Xô, muốn gặp một
quan chức Mỹ để trao đổi thông tin.
CIA không tỏ ra hào hứng với
lời đề nghị bất ngờ nói trên vì nó được đưa ra trong lúc KGB được cho là
đã thành lập lực lượng “mồi nhử” chuyên tìm cách khiến các điệp viên
của CIA đang hoạt động tại Liên Xô lộ diện rồi trục xuất về nước.
Thêm
vào đó, tại thời điểm diễn ra cuộc gặp, Ngoại trưởng Mỹ Cyrus Vance
cũng đang có kế hoạch tới thăm Liên Xô để đặt nền tảng cho quan hệ song
phương. Do đó, phía Mỹ không muốn có bất cứ hành động mạo hiểm nào có
thể cản trở kế hoạch của chính quyền mới. CIA đã quyết định không hồi
đáp thông tin nhận được.
Bẵng đi gần một tháng, người đàn ông lạ
mặt lại tiếp cận người đứng đầu CIA ở Moscow khi ông này đang đậu xe gần
tòa Đại sứ Mỹ. Người đàn ông tiếp tục để lại một mẩu giấy rồi bỏ đi,
trong đó nhắc lại đề nghị. Dựa trên quyết định được đưa ra trước đó, CIA
tiếp tục lặng im. Hai tuần sau, lại thêm một mẩu giấy nữa được gửi đi.
Lần
này, để giải tỏa lo ngại của CIA, người viết thư nói hiểu được những lo
ngại của cơ quan tình báo Mỹ, đồng thời tiết lộ bản thân đang làm việc
tại một đơn vị bí mật của Liên Xô.
Người viết thư cũng lặp lại yêu
cầu được tiếp xúc cũng như đưa ra cách thức liên lạc hai bên. Ấn tượng
trước sự kiên trì của người đàn ông người Nga, người đứng đầu CIA tại
Moscow đã xin ý kiến cấp trên được thăm dò người này. Tuy nhiên, trụ sở
chính của CIA tại Mỹ không đồng ý.
Bẵng đi tới gần ba tháng, khi
phía Mỹ tưởng chừng như mọi việc đã khép lại thì tháng 5/1977, người đàn
ông tiếp tục tiếp cận người đứng đầu CIA tại Moscow nhưng vẫn không
được hồi đáp. Đó là lần thứ tư đề nghị của ông ta bị phớt lờ. Sau lần
này, phải hơn sáu tháng sau, người đàn ông người Nga mới lại tiếp cận
trở lại với phía Mỹ.
Để tạo lòng tin, ông ta gửi kèm theo một tài
liệu dài hai trang, trong đó có các thông tin liên quan đến hệ thống
điện tử của một máy bay Liên Xô.
Thời điểm tập tài liệu được gửi
đi vào lúc CIA tại Liên Xô đã có một người đứng đầu mới. Sau khi xem
xét, nhận thấy giá trị của thông tin do người đàn ông cung cấp, lãnh đạo
CIA tại Liên Xô quyết định gửi điện về trụ sở, đề nghị được tìm hiểu về
điệp viên tình nguyện người Nga. Lần này, giới chức tình báo Mỹ đồng ý.
Tháng
3/1978, người đàn ông người Nga cung cấp thêm 11 trang tài liệu viết
tay, trong đó có thông tin về các nỗ lực nghiên cứu và chế tạo máy bay
quân sự của Nga. Lần này, ông ta thông báo sẽ bỏ cuộc nếu không nhận
được hồi âm từ phía Mỹ. Nhận được tuyên bố này, sau nhiều do dự, CIA đã
quyết định chính thức đồng ý cử người gặp người đàn ông người Nga. Điệp viên tỉ đô
Người
đàn ông người Nga trên là Adolf Tolkachev, một kỹ sư chuyên về radar
trên không tại Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật điện (Phazotron) của
Liên Xô.
Việc tuyển mộ được người này được đánh giá là sự kiện có
tính chất bước ngoặt trong triển khai các hoạt động tình báo của Mỹ ở
Liên Xô. Bởi trong những năm đầu thời kỳ Chiến tranh Lạnh, CIA dù đã
tuyển được một số nguồn tin nhưng chưa bao giờ có thể thực sự thiết lập
được mạng lưới gián điệp ngay trong lòng nước Nga.
KGB
lúc bấy giờ thắt chặt việc theo dõi, khiến các công dân hay quan chức
Liên Xô không dám hoạt động gián điệp. Về phía Mỹ, việc phân tích các
nguồn tin để quyết định thu nhận ai hay bỏ qua cũng rất chật vật như đã
nói ở trên, khiến họ có thể đã để vuột mất nhiều nguồn tin quan trọng.
Với
sự xuất hiện của Tolkachev, mọi việc đã thay đổi hoàn toàn. Tolkachev
là điệp viên thành công và có giá trị bậc nhất mà Mỹ có được tại Liên Xô
trong suốt hai thập kỷ. Trong hơn bảy năm làm việc cho CIA, ông ta đã
21 lần đánh lạc hướng những tai mắt của KGB của Liên Xô để chuyển tài
liệu cho các nhân viên CIA ngay trên đường phố ở thủ đô nước Nga. Những
tài liệu và bản vẽ của ông ta đã mở ra những bí mật về hệ thống radar
cũng như các nghiên cứu về vũ khí trong tương lai của Liên Xô.
Đặc
biệt, hoạt động gián điệp của người này còn giúp nước Mỹ tìm ra rõ
những điểm yếu của hệ thống phòng thủ trên không của Liên Xô để từ đó
nghiên cứu được những tên lửa và máy bay ném bom có thể bay dưới tầm các
radar của Liên Xô.
Theo một số báo cáo, không quân Mỹ ước tính
hoạt động gián điệp của Tolkachev đã giúp Washington tiết kiệm được 2 tỉ
USD cho các hoạt động nghiên cứu phát triển vũ khí. Điệp viên này vì
thế đã được đặt cho biệt danh “điệp viên tỉ USD”.
Ngoài ra,
Tolkachev cũng trở thành một nhân vật “truyền thuyết”, một điển hình để
nghiên cứu về hoạt động gián điệp khi có thể gặp được CIA ngay trước mũi
KGB.
Với công lao như vậy, Tolkachev đã được Mỹ tưởng thưởng khá
hậu hĩnh. Tuy nhiên, có một sự thật ít người biết là động cơ của
Tolkachev khi phản bội đất nước không phải vì tiền. Trên thực tế, ông
hợp tác với CIA để gây tổn hại cho Liên Xô nhằm trả thù việc mẹ vợ ông
ta đã bị xử tử, còn bố vợ ông ta thì bị đưa tới trại lao động vì tội
không tố giác vợ hồi những năm 1930.
Vì thế số tiền mà Mỹ đưa cho
dù đều nhận nhưng Tolkachev không hề đếm xỉa mà xem đó là biểu hiện của
việc người Mỹ tôn trọng những việc mà ông ta đã làm. Cũng vì không cần
tiền nên Tolkachev đôi khi chỉ yêu cầu phía Mỹ “trả công” cho ông ta
bằng những các album nhạc của Beatles, Led Zeppelin… mà con trai của ông
ta thích. Cái kết
Từ giữa năm 1982, CIA đột ngột mất
liên lạc với nguồn tin quý giá. Trong suốt năm cuộc gặp đã được lên kế
hoạch, người của Mỹ cứ đến điểm hẹn rồi lại phải về tay không vì
Tolkachev không xuất hiện. Cùng lúc, CIA cũng nhận thấy lực lượng do
thám của KGB bỗng nhiên trở nên dày đặc trên đường phố, cho thấy rất có
thể đã có chuyện xảy ra.
Buổi tối ngày 7/12/1982, ngày diễn ra cuộc hẹn tiếp theo theo thỏa thuận, phía Mỹ giao sỹ quan Bill Plunkert gặp gỡ nguồn tin.
Vào
khoảng giờ cơm tối, Plunkert và vợ cùng vợ chồng người đứng đầu tình
báo Mỹ tại Liên Xô tới Đại sứ quán Mỹ ở Liên Xô dưới vỏ bọc dự tiệc sinh
nhật một nhân viên của tòa đại sứ. Hai bà vợ đều mặc đồ đen và mang
theo một chiếc bánh sinh nhật lớn, thực chất là một thiết bị tạo hình
nộm.
Biết rõ nguồn tin của KGB đang theo sát mình, chiếc xe vòng
vèo qua nhiều đoạn đường rồi đến một góc phố khuất, với sự hỗ trợ của
thiết bị tạo hình nộm và những người đi cùng, Plunkert đã nhảy xuống xe
và biến mất.
Trong
khi đó, trên xe, chiếc bánh sinh nhật được dỡ ra, tạo hình ảnh giống
đầu và thân viên sỹ quan vừa nhảy ra, khiến phía Nga không nghi ngờ gì.
Cắt đuôi tình báo Liên Xô thành công, Plunkert đến điểm hẹn, đứng chờ
khá lâu nhưng Tolkachev vẫn không xuất hiện.
Mãi đến tháng
10/1983, Tolkachev mới gặp lại nhân viên của CIA. Lần này, ông ta đã
chuyển cho phía Liên Xô 16 trang tài liệu cùng một mảnh giấy ghi ra
những yêu cầu mới của ông ta cũng như các lưu ý về những cuộc gặp trong
tương lai.
Trong giấy, Tolkachev cũng cho biết cơ quan của ông ta
đã tiến hành điều tra về việc rò rỉ thông tin và ông ta có thể sẽ bị bắt
bất cứ lúc nào nên ông ta đã hủy toàn bộ các tài liệu cũng như vật dụng
có liên quan đến việc trao đổi thông tin với CIA.
Trong mẩu tin
nhắn, Tolkachev vẫn khẳng định sẽ tiếp tục hợp tác với CIA nhưng kể từ
lần gặp cuối cùng đó, ông ta đã không xuất hiện thêm bất cứ một lần nào
nữa.
Các tài liệu về sau được công bố cho thấy hoạt động gián điệp
của Tolkachev bị phát giác vào khoảng cuối năm 1984, đầu năm 1985 do bị
một nhân viên của CIA phản bội tố cáo với KGB. Tolkachev bị bắt giữ năm
1985 và bị tử hình vào tháng 10/1986 vì tội phản quốc.
theo Pháp luật Việt Nam
Siêu điệp viên lừng lẫy trong lịch sử KGB: Lấy cắp bí mật quốc gia Anh, dâng cho Liên Xô
Aozora |
Ảnh minh họa.
Làm thế nào một thư ký văn phòng bình thường lại đóng vai trò
then chốt giúp Liên Xô bắt kịp Mỹ trong cuộc chạy đua sản xuất vũ khí
nguyên tử thời Chiến tranh Lạnh?
Cuộc sống êm đềm của bà lão Melita Stedman Norwood
tưởng như sẽ vẫn tiếp diễn như mọi ngày, cho đến một buổi sáng tháng
Chín năm 1999. Lúc bấy giờ đã 87 tuổi và mất chồng được 13 năm, bà
Norwood vẫn sống lặng lẽ trong ngôi nhà nhỏ ở vùng Bexleyheath, ngoại ô
Đông Nam London, Anh.
Ở cái tuổi mà không nhiều người
sống tới được, bà Norwood vẫn yêu thích công việc làm vườn và chăm sóc
cây hoa rau cỏ trong sân nhà. Cứ mỗi sáng thứ Bảy, sau khi nhấm nháp hết
cốc trà, bà sẽ đi bộ quanh khu mình sống để giao báo. Đó là một tờ báo
mang tên "Ngôi sao Buổi sáng" (The Morning Star).
Bà Melita Stedman Norwood.
Nhưng
buổi sáng thứ Bảy hôm đó, ngày 11 tháng Chín năm 1999, mọi chuyện lại
diễn ra hoàn toàn khác, vượt xa mọi sự tưởng tượng của chính bà Norwood.
Hôm đó bà không thể đi giao báo được, vì con đường trước nhà đã chật
kín cánh phóng viên, những tay săn ảnh và các đoàn làm truyền hình đứng
chờ sẵn.
Toàn bộ giới truyền thông đã đổ dồn về Đại lộ
Garden sau khi một tin tức "động trời" về người phụ nữ mang tên Melita
Norwood được tiết lộ trên một tờ báo phát hành sáng hôm đó.
Bài báo nói rằng bà Norwood chính là một điệp viên
làm việc cho Liên Xô và đã làm lộ những thông tin quý giá bậc nhất của
nước Anh, trong đó có cả bí quyết phát triển bom nguyên tử. Nhưng điều
gây sửng sốt hơn nữa là nữ điệp viên này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
của mình trong suốt 40 năm trời mà chưa hề bị lật tẩy.
Có thể nói bà Norwood đã "phản bội" đất nước mình nhưng vẫn "thoát tội", như chính bà thừa nhận, một cách cực kỳ ngoạn mục.
Vậy
toàn bộ câu chuyện đã bắt đầu ra sao? Và "thế lực" nào đã buộc siêu
điệp viên sau gần cả đời người ẩn mình lặng lẽ rốt cuộc phải bước ra ánh
sáng?
Câu trả lời có lẽ nằm trong chính những tờ báo mà bà Melita Norwood vẫn đều đặn đi giao mỗi ngày.
Melita Norwood: Nữ điệp viên người Anh quan trọng nhất trong lịch sử KGB
Alexander
Sirnis, cha của Melita Norwood, là người theo chủ nghĩa xã hội, và bất
chấp việc đã định cư tại Anh từ năm 1903, ông vẫn luôn muốn chống đối
chế độ tư bản đang thống trị đất nước này.
Trong khi đó,
mẹ của Norwood là bà Gertrude Stedman cũng tham gia Đảng Lao động, và
theo những dòng mà Tiến sỹ sử học David Burke đã viết trong tiểu sử của
Melita Norwood, thì tư tưởng của bà Gertrude cũng "không kém phần tiến
bộ so với người chồng".
Như vậy ngay từ lúc mới chào đời
vào năm 1912 tại Bournemouth, Melita Norwood đã được nuôi lớn trong bầu
không khí chống đối chế độ tư bản. Melita Norwood không chỉ nhận ảnh
hưởng từ cha mẹ mà còn tiếp thu tư tưởng chính trị từ nhiều nhân vật
cánh tả khác giống như họ.
Trong số đó người có tác động
mạnh mẽ nhất là Theodore Rothstein, một nhà văn, nhà báo và đồng thời
là "môn đồ" của Lenin. Cũng chính ông là người lập ra Đảng Cộng sản Anh
(CPGB) vào năm 1920 trước khi bị trục xuất khỏi đất nước cũng trong năm
đó.
Sau khi cha mất do bệnh lao, cô bé Norwood sáu tuổi
được mẹ đưa tới sống với dì tại vùng Bitterne gần Southampton. Việc bà
Gertrude vẫn tiếp tục duy trì mối liên hệ với phe cánh tả hiển nhiên đã
góp phần quan trọng khiến cô con gái quyết định gia nhập CPGB.
Sau
khi tốt nghiệp phổ thông, Norwood được nhận vào Đại học Southampton,
nhưng đã bỏ dở giữa chừng và đến sống ở Đức một thời gian. Chính lúc này
cô đã có dịp tận mắt chứng kiến sự trỗi dậy của Đức Quốc xã ngay từ
buổi sơ khai.
Bà Melita Norwood hồi trẻ.
Năm
1932, Norwood khi đó 20 tuổi bắt đầu làm việc trong bộ phận văn thư của
Hiệp hội Nghiên cứu Các kim loại ngoài sắt của Anh (British Non-Ferrous
Metals Research Association - BN-FMRA). Đó chính là bước ngoặt thay đổi cuộc đời của Melita Norwood, và có lẽ là cả cán cân quân sự của thế giới nữa.
Tập
đoàn chuyên nghiên cứu về luyện kim BN-FMRA không lâu sau đã trở thành
mắt xích quan trọng tham gia vào dự án tối mật của chính phủ Anh nhằm
phát triển một loại vũ khí hạt nhân được đặt mật danh là "Ống Hợp Kim"
(Tube Alloys).
Ban đầu cô thư ký Melita Norwood không hề
có ý định đánh cắp các bí mật về bom nguyên tử, mà chỉ tự hỏi liệu
những công việc bình thường đang được tập đoàn này nghiên cứu thực hiện
có thể mang lại lợi ích gì chăng.
Nhưng chỉ hai năm sau
đó, như chính cụ bà cựu điệp viên đã thừa nhận với chuyên gia viết tiểu
sử David Burke vào năm 2000, bà đã chủ động tìm đến bắt liên lạc với
NKVD – tiền thân của Ủy ban An ninh Quốc gia Liên Xô (KGB) – và được
giao trọng trách trở thành điệp viên "nằm vùng".
Thú vị ở
chỗ, người ra quyết định "chiêu mộ" Norwood chính là Andrew Rothstein,
con trai của người sáng lập Đảng Cộng sản Anh, Theodore Rothstein.
Kể từ thời điểm đó, Melita Norwood bắt đầu cuộc sống "hai mặt"
dưới vỏ bọc là một công dân trung lưu bình thường như bao người khác.
Năm 1935 cô kết hôn với Hilary Norwood, một giáo viên dạy hóa học. Hai
năm sau đó họ chuyển đến sống tại ngôi nhà trên Đại lộ Garden, và đến
năm 1943 gia đình nhỏ đón chào thêm một thành viên mới là cô con gái
Anita.
Chính trong khoảng thời gian vừa bắt đầu làm mẹ
này, "Đặc vụ Hola" - biệt danh mà cấp trên tại Liên Xô đặt cho Melita
Norwood – đã chuyển đi những tài liệu vô cùng giá trị liên quan đến
chương trình "Ống Hợp Kim" của Anh.
Cô mở két an toàn
của các lãnh đạo, chụp hình những thứ được cất giữ bên trong và gửi các
bản sao cho phía Liên Xô thông qua một "đường dây" liên lạc nhiều bước.
"Đôi
khi nếu đang đánh máy thứ gì đó, tôi sẽ đánh thêm một bản sao nữa," bà
lão Norwood tiết lộ về công việc năm xưa của mình. "Tôi đánh máy lại
biên bản các cuộc họp. Tôi chuyển các bản sao đi bằng cách thỏa thuận
trước, đặt chúng ở chỗ đã được dàn xếp trước hoặc gặp ai đó và đưa tận
tay cho họ."
Với lòng trung thành tuyệt đối khi thực hiện nhiệm vụ, không ngạc nhiên khi Melita Norwood dần trở thành cái tên gây chú ý trong đội ngũ của KGB. Bà được nhận xét là "tận tụy, đáng tin cậy và có kỷ luật", luôn "nỗ lực để hỗ trợ đến mức tối đa".
Theo hồ sơ tại KGB, "Đặc vụ Hola" đã chuyển giao một lượng lớn tài liệu
khoa học và kỹ thuật giúp ích rất nhiều cho các ứng dụng trong thực tế,
mà quan trọng nhất phải kể đến một vấn đề về chế tạo vũ khí nguyên tử
lúc bấy giờ đang khiến các nhà nghiên cứu tại Liên Xô phải đau đầu vắt
óc.
Vốn
dĩ việc xây dựng các lò phản ứng hạt nhân để tinh luyện plutonium đến
mức đủ chế tạo bom là không hề dễ dàng. Một trong những thách thức lớn
là ngăn chặn sự ăn mòn xảy ra đối với các thanh hợp kim nhôm dùng làm vỏ
bọc cho lõi phóng xạ khi chúng được làm nguội trong nước.
Đó là câu đố nan giải mà các nhà khoa học Liên Xô không thể tìm được câu trả lời, cho đến khi Norwood "ra tay".
Như
một cấp trên của cô là Pavel Sudoplatov thuộc Bộ an ninh Quốc gia Nga
sau này đã thừa nhận, lời giải cho những vấn đề kiểu như vậy đến từ
"những nguồn tin tại Anh", rõ ràng là đang ám chỉ "Đặc vụ Hola".
Nhờ sự đóng góp mang tính then chốt của nữ điệp viên này, Liên Xô đã
cho nổ thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên của mình vào năm
1949, sớm hơn dự kiến ban đầu tới 4 năm.
Hình minh họa.
Đáng
chú ý là, không như nhiều điệp viên khác chỉ phục vụ cho chế độ của
Stalin khi nhân vật này còn cùng phe với nước Anh, Melita Norwood vẫn
tiếp tục làm việc cho Liên Xô sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai đã
kết thúc.
Sứ mệnh kép của nữ điệp viên Anh
Thậm chí lòng trung thành của bà đã vượt ra khỏi hoạt động đánh cắp tài liệu đơn thuần: Điệp viên kỳ cựu này còn giúp Liên Xô chiêu mộ thêm những đặc vụ mới nữa.
Một
ví dụ là vào năm 1967, bà đã "tuyển" được một công dân Anh với mật danh
"Hunt" về làm việc, với nhiệm vụ khai thác các thông tin liên quan đến
hoạt động kinh doanh vũ khí của nước Anh trong suốt 14 năm. Cho đến nay
danh tính thật sự của "Hunt" vẫn là một bí ẩn lớn.
Điều
đáng khâm phục nhất là suốt gần bốn thập kỷ hoạt động bí mật, Melita
Norwood chưa hề bị lật tẩy một lần nào, dù đã phải trải qua bảy cuộc
điều tra trong giai đoạn từ năm 1938 đến năm 1965.
Thậm
chí Cơ quan Mật vụ Anh vào năm 1965 đã được cảnh báo thẳng thừng về mối
nguy hiểm đến từ cô thư ký có vẻ ngoài rất bình thường này, nhưng rốt
cuộc vẫn "để yên" – mà theo một giả thuyết là vì họ không muốn mất công
làm ảnh hưởng đến những vụ việc điều tra khác.
Sự sơ suất
đó đã giúp nữ điệp viên tài ba cuối cùng đã "hạ cánh an toàn" vào năm
1972. Đó là thời điểm cô thư ký Melita Norwood nghỉ hưu tại công ty,
đồng thời "Đặc vụ Hola" cũng thôi làm gián điệp cho Liên bang Xô viết.
Bị phản bội....
Toàn bộ câu chuyện ly kỳ về cuộc đời và sự nghiệp của bà có lẽ sẽ chìm vào lớp bụi thời gian, nếu không xảy ra một sự phản bội khác, lần này là tại chính KGB. Một
nhân vật của cơ quan này là Vasili Mitrokhin vào năm 1999 đã đánh cắp
khối tài liệu khổng lồ và loan đi khắp châu Âu, khiến danh tính của "Đặc
vụ Hola" được đưa ra ánh sáng.
Hiển nhiên sự kiện này là
một cú sốc lớn đối với chính phủ và Cơ quan Mật vụ Anh. Để tránh bẽ mặt
trước công chúng, giới chức nước này đã phải khăng khăng rằng điệp viên
Norwood chỉ đóng vai trò "bên lề" mà thôi.
Nhưng
đáng chú ý hơn nữa là bà Norwood đã không hề bị truy tố về tội phản bội
đất nước, bởi theo lời Ross Cranston, một quan chức cấp cao về tư pháp
của chính phủ Anh, thì "rõ ràng là bất kỳ sự truy tố nào cũng sẽ thất
bại thôi".
Rốt cuộc bà cụ Melita Norwood đã được thanh
thản sống hết những năm tháng cuối cùng. Qua đời vào tháng Sáu năm 2005,
nữ điệp viên hàng đầu của Liên Xô vẫn không một lần bị xử tội.
Dấu
ấn của Melita Norwood để lại đối với lịch sử thế giới đã khiến chuyên
gia sử học đầu ngành, giáo sư Christopher Andrew phải công nhận bà là "nữ đặc vụ người Anh quan trọng nhất trong lịch sử KGB và phục vụ lâu năm nhất trong số tất cả các điệp viên Liên Xô tại Anh".
Và thay cho sự trừng phạt, cái tên Melita Norwood đã trở thành nguồn cảm hứng cho một bộ phim tiểu sử mang tên "Red Joan" được làm phỏng theo cuộc đời của bà, với nữ minh tinh Judi Dench thủ vai chính.
Cả cuộc đời sống trong bí mật, cuối cùng bà cụ Norwood đã có thể yên lòng nơi trời xa.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét