SỰ NGU XUẨN CỦA CUỘC SỐNG 33

-Xét được sống còn trong no đủ là mưu cầu cơ bản và ước nguyện chính đáng của mọi cuộc đời, thì sẽ phân biệt được chiến tranh phi nghĩa và chiến tranh chính nghĩa, sự phòng vệ chính đáng cũng như sự bắt buộc hạ sát lực lượng đối kháng. Và khi phải hành động xả thân vì lẽ phải, con người trở nên vô cùng cao quí.
-Nhưng xét trên bình diện đánh giá sự sống là thứ quí giá nhất trên đời, thì giết chóc lẫn nhau, dù là giết chóc bắt buộc, là hành động điên rồ tột bậc của con người và chiến tranh, dù là chiến tranh chính nghĩa, vẫn là sự ngu xuẩn vô hạn, dù là sự ngu xuẩn tự giác, nhân danh bảo vệ sự sống! 
-Đứng lên trên tất cả mà phán xét, thì:
trí tuệ siêu việt của con người thậm ngu ngốc!
-Chân lý là đây:
Chiến tranh là mệnh lệnh tối thượng của tự nhiên mù quáng đối với trí tuệ sáng suốt của loài người: hãy giết chóc lẫn nhau!
-Như vậy, muốn không còn chiến tranh nữa, con người hoặc không còn lòng tham và tính tư hữu hoặc trở lại suy nghĩ tăm tối như hươu, nai.
-Nhưng hết chiến tranh rồi, xã hội loài người có hết bạo tàn? 

-----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Japanese KAMIKAZE
  
Quân Cảm Tử Của Nhật Đánh Bom Liều Chết 

Kamikaze at Okinawa: "The Fleet that Came to Stay" pt2-2 1945 US Navy World War II

Quân Anh kinh hoàng trước các phi công cảm tử Thần Phong của Nhật Bản

VOV.VN - Chiến thuật phi công cảm tử Thần Phong (kamikaze) của người Nhật vào cuối Thế chiến 2 đã khiến quân đội Anh phải căng óc đối phó.

Tháng Giêng năm 2016 đánh dấu ngày kỷ niệm một sự kiện lớn trong lịch sử hải quân Anh mà ít người biết đến.


Phi công cảm tử Thần Phong của Nhật Bản trong Thế chiến 2. Ảnh: Getty.
Vào ngày 24 và 29 tháng 1/1945, máy bay Anh đã thực hiện 2 cuộc tấn công táo bạo giữa ban ngày vào các nhà máy lọc dầu của Nhật Bản ở Palembang, Sumatra. Với hơn 100 máy bay xuất kích từ hàng không mẫu hạm và 200 phi hành đoàn, đây là chiến dịch không vận riêng lẻ lớn nhất của hải quân Hoàng gia Anh trong Thế chiến thứ 2.
Anh tổn thất 41 máy bay Anh trong 378 phi vụ. 30 phi công Anh thiệt mạng, trong số này có 10 phi công bị lính Nhật hành quyết.
Vụ tấn công trực diện do quân Đồng minh tiến hành nhằm vào một trong các vị trí chiến lược nhất bên trong lãnh thổ do Nhật Bản kiểm soát khi ấy cho thấy phe Đồng minh điều chỉnh chiến lược theo hướng đẩy nhanh nhịp độ cuộc chiến trong bối cảnh cuộc chiến tranh chống phát xít Nhật Bản đang bước sang một ngã rẽ mới.
Khơi mào đòn cảm tử
Tuy nhiên cuộc tấn công của Anh đã “chọc vào ổ kiến lửa”. Phía Nhật đã đáp trả, bằng loạt tấn công cảm tử bằng máy bay nhằm vào chiến hạm Anh lần đầu tiên.
Một sĩ quan Anh sau đó thừa nhận: “Với tư cách là một vũ khí khủng bố, chiêu kamikaze này thực sự gây ra những trở ngại nhất định... Cho dù bạn ở đâu, những phi công cảm tử này chỉ chăm chăm lao vào bạn.”
Thủ tướng Anh Winston Churchill đã hối thúc các chỉ huy “đào sâu suy nghĩ để tìm ra giải pháp cho mối nguy hiểm lớn này”.
Những người dám liều mình như thế này là ai và tại sao Nhật Bản dùng đến các biện pháp cực đoan như vậy?
Hồi tháng 10/1944 quân Mỹ bắt đầu cuộc chiến giành giật lại Philippines mà Nhật Bản đã chiếm đóng từ 2 năm trước đó.
Tàu sân bay Formidable của Anh bị Kamikaze (Thần Phong) tấn công.
Nhật Bản biết lực lượng không quân của mình không phải là đối thủ của không quân phe Đồng mình. Họ đã nhanh chóng chịu tổn thất về phi công và máy bay. Trước tình cảnh này, Nhật Bản quyết định gắn những quả bom nặng hơn 2 tạ vào máy bay của họ rồi lao thẳng những chiếc phi cơ này vào mục tiêu nhằm gây ra thiệt hại lớn hơn so với các cuộc tấn công thông thường.
Trong một cuộc tấn công liều chết, cơ may đánh trúng một chiến hạm tăng lên thêm 15-20%. Ban lãnh đạo Nhật Bản tính toán rằng, nếu người Mỹ bị đổ máu đến một ngưỡng nào đó thì Tổng thống Mỹ Roosevelt sẽ phải chịu nhượng bộ trước áp lực của công chúng, sẽ không còn bụng dạ nào để mở một cuộc xâm lược tổng lực nhằm vào Nhật Bản. Khi ấy hai bên có thể đi tới đàm phán hòa bình.
Khái niệm “Thần Phong” bắt nguồn từ một trận cuồng phong đã cứu Nhật Bản thoát khỏi họa xâm lược của hạm đội Mông Cổ vào năm 1281.
Đòn Thần Phong giết 100 quân Mỹ
Lúc 7h25 vào ngày 25/10/1944, Yukio Seki – một học viên tốt nghiệp học viện hải quân Nhật, đồng thời là con trai của một người buôn đồ cổ, nâng cốc chúc mừng Nhật hoàng Hirohito, rồi trèo lên máy bay của mình và chuẩn bị “làm nên lịch sử”. Seki lúc đó 23 tuổi, lớn lên ở vùng nông thôn Nhật Bản.
Anh ta đặc biệt ham mê vẽ và đã đem lòng yêu rồi kết hôn với người con gái của một gia đình sống gần trường bay mà anh ta theo học. Nhưng hạnh phúc của đôi uyên ương chẳng tày gang. Seki sau đó xung phong tham gia cuộc tấn công kamikaze.
Một phi cơ Thần Phong (Kamikaze) bị chắn gần tàu sân bay, vào năm1941. Ảnh: Getty.
Seki nói với cha mẹ mình: “Con sẽ dùng cả chiếc máy bay con lái để lao trực diện vào tàu sân bay của địch, nhằm đáp lại lòng tốt của Thiên hoàng”.
Khoảng 3 tiếng đồng hồ rưỡi sau khi cất cánh từ một sân bay ở Philippines, Seki lao nguyên chiếc phi cơ Mitsubishi Zero vào boong của tàu chiến Mỹ USS St Lo. Quả cầu lửa lớn từ vụ va chạm mạnh này xuyên thủng khu vực boong và nhà chứa máy bay trên hàng không mẫu hạm Mỹ, giết chết hơn 100 quân nhân Mỹ.
Seki đã “làm nên lịch sử” và được người Nhật coi là anh hùng. Người Nhật nhanh chóng hình thành các “đơn vị tấn công đặc biệt” dựa trên một lực lượng tình nguyện viên đông đảo sẵn sàng hy sinh mạng sống của họ. Nhiều người trong số họ muốn chết vì một cái gì đó tốt đẹp hơn, nhưng cũng có nhiều người hành động đơn thuần vì thể diện.
Hàng trăm phi công non trẻ được nhanh chóng đào tạo cho các phi vụ kamikaze. Đa số những người này ở độ tuổi 18-24. Người trẻ nhất mới chỉ 17 tuổi. Vào đêm trước khi thực thi nhiệm vụ, một số phi công nghe nhạc hoặc biên những lá thư cuối cùng gửi cho gia đình.
Các bức ảnh ghi lại khuôn mặt đang mỉm cười của họ dù cho họ sắp đối mặt với cái chết gần như cầm chắc trong tay. Tại sân bay, các nhóm nữ sinh vẫy các bông hoa anh đào tiễn biệt những chiếc phi cơ cất cánh.
Chiến thuật kamikaze rất đa dạng. Một số phi công khéo léo ẩn nấp trong mây để tránh các tiêm kích cơ bảo vệ của phe Đồng minh. Họ cũng sử dụng mồi nhử để đánh lạc hướng các máy bay tiêm kích đối phương trong khi các máy bay Nhật khác chia thành các nhóm nhỏ trước khi bổ nhào tấn công tàu địch.
Một khi một chiếc phi cơ Thần Phong va đập mạnh với boong tàu, các thủy thủ phe Đồng minh sẽ phải đối mặt với cái chết hoặc thương tích kinh hoàng khi mà hàng ngàn tấn nhiên liệu ở nhà chứa máy bay trên tàu bắt lửa. Và chẳng bao lâu sau người Anh được “nếm mùi” đòn hiểm này của người Nhật.
Trận chiến Anh-Nhật
Vào tháng 3/1945, Hạm đội Thái Bình Dương của Anh – hạm đội lớn nhất của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế chiến thứ 2, đi gần 6.500km đường biển về phía bắc từ căn cứ ở Sydney để hội quân với Hạm đội 5 của Mỹ.
Phi công Yukio Seki thuộc hải quân Đế quốc Nhật Bản trong Thế chiến 2. Ảnh: Getty.
Đội hình này được dẫn đầu bởi 4 tàu sân bay, với hơn 250 máy bay và 10.000 thủy thủ và phi công. Người Mỹ chuẩn bị xâm chiếm đảo Okinawa ở Thái Bình Dương, từ đó họ có thể đánh chiếm Nhật Bản, chỉ cách hơn 560km về phía bắc.
Người Nhật nghênh chiến một cách dữ dội. Các phi công của Hạm đội Thái Bình Dương của Anh được trao nhiệm vụ săn các phi cơ Thần Phong.
Vào ngày 1/4, radar của Hạm đội Anh đóng cách 322km về phía đông nam phát hiện một đội hình khoảng 20 máy bay địch đang lao nhanh tới.
Máy bay của hải quân Anh được lệnh lao lên đánh chặn. Các máy bay khác từ các tàu sân bay cũng cất cánh để củng cố thế trận phòng thủ.
Một chiếc phi cơ Zero Nhật Bản đột phá qua lưới lửa cao xạ của hạm đội. Chiếc Zero này bị một chiếc phi cơ Seafire của Anh theo sát. Chiếc Seafire này do viên phi công Dickie Reynolds 22 tuổi quê ở Cambridge (Anh) điều khiển. Dickie Reynolds có kỹ thuật tốt trong việc bắn hạ máy bay đối phương.
Nhưng trước khi Reynolds ra đòn hạ gục đối phương, chiếc Zero đã kịp nghiêng cánh và lao thẳng xuống boong chiếc tàu sân bay Indefatigable, tạo ra một quả cầu lửa khổng lồ khiến 3 sĩ quan chết ngay tại chỗ.
Bất chấp việc chiếc tàu bị tổn hại nặng, gần một tiếng đồng hồ sau đó, các máy bay vẫn cất và hạ cánh trên chiếc tàu này.
Không như các tàu sân bay Mỹ có boong bay bằng gỗ, tàu Anh có các boong bay với lớp thép dày hơn 10cm. Một sĩ quan liên lạc Mỹ đánh giá: “Khi một phi cơ Thần Phong đánh trúng một tàu sân bay Mỹ, thì kiểu gì tàu này cũng mất 6 tháng sửa chữa ở Trân Châu cảng.”
Vào ngày 4/5, các phi cơ kamikaze tiếp tục tấn công, đánh trúng tàu sân bay Formidable của Anh. Một thủy thủ khác, đến từ Portsmouth, từng nếm trải các cuộc không kích của Đức, nhớ lại: “Đó là lần đầu tiên cả một chiếc máy bay lao thẳng vào tôi”.


Từ 1/4 đến 9/5/1945, tất thảy mọi tàu sân bay Anh đi riêng lẻ ngoài mặt trận đều bị các máy bay kamikaze của Nhật “thăm hỏi”, khiến Anh hứng chịu tổn thất là 44 quân nhân bị chết, gần 100 người khác bị thương. Các phi công của Anh bắn hạ hơn 40 máy bay Nhật – đa số là các máy bay tấn công tự sát.
Mặc dù vậy, Đô đốc Mỹ Chester Nimitz vẫn ghi nhận vai trò của Hạm đội Anh đã giúp tàu Mỹ giảm bớt áp lực từ phía kamikaze khi tàu của họ đóng ngoài khơi Okinawa. Theo ông này, vai trò của Anh vừa là bắn hạ phi cơ Thần Phong, vừa là hứng chịu các đòn tấn công cảm tử từ các máy bay này./.
Trung Hiếu/VOV. VN Theo Express UK

Những trận đánh một ngày đẫm máu nhất lịch sử quân sự thế giới

VOV.VN - Trong những trận đánh diễn ra trong 1 ngày này, trận huyết chiến Borodino trên đất Nga được coi là đẫm máu nhất khi có tới 80.000 lính thương vong.
Dưới đây là 8 “trận đánh một ngày” đẫm máu nhất trong lịch sử (không liệt kê những trận đánh đẫm máu hơn nhưng diễn ra trong nhiều ngày):
1. Mỹ
Nội chiến Mỹ bước vào tháng thứ 18. Hai đội quân miền bắc và miền nam đụng độ ở Maryland chỉ cách thủ đô Washington 96km về phía tây bắc.
Trận Antietam.
Vào ngày 13/9/1862, các quân nổi dậy dưới quyền chỉ huy của Robert E. Lee đã chiếm một bang biên giới trung lập với hy vọng sự hiện diện của một đội quân lớn của miền nam sẽ ép các cư dân ở đây gia nhập lực lượng nổi dậy.
Hơn 75.000 quân của Liên minh miền Bắc Hoa Kỳ dưới quyền chỉ huy của George McClelland dàn đội hình để đánh chặn quân Liên minh miền Bắc Hoa Kỳ. Đây là một trận đánh quyết định, diễn ra bên ngoài thị trấn Sharpsburg gần một dòng suối nhỏ tên là Antietam.
Chiến sự bắt đầu vào lúc rạng sáng ngày 17/9 và tiếp tục đến chiều muộn. Các lực lượng đối địch chiến đấu đến khi kiệt sức hoàn toàn. Khoảng 18h thì im tiếng súng. Khi đó, tổng số thương vong là 20.000 người, trong đó có 4.000 người tắt thở.
Nội chiến Mỹ kéo dài thêm hai năm rưỡi nữa nhưng cho tới tận hôm nay, trận đánh Antietam vẫn là trận đánh đẫm máu nhất diễn ra trong một ngày trong toàn bộ lịch sử Mỹ, thậm chí còn đẫm máu hơn cả trận Trân Châu cảng và vụ tấn công 11/9.
Nhưng đấy là Mỹ. Còn các quốc gia khác không có may mắn ít thương vong hơn.
2. Anh
Nước Anh đã mất gần như từng ấy sinh mạng chỉ trong vài giờ đầu của trận tắm máu kéo dài vài tháng trong trận tấn công Somme.
Trận Somme.
Vào ngày 1/7/1916 hơn 54.000 lính Anh thuộc Tập đoàn quân số 3 và 4 đã bị nghiền nát bằng súng máy và trọng pháo khi họ lê bước qua vùng đất trống tiến về phòng tuyến quân Đức nằm phía đông thị trấn Albert.
Cuộc tấn công này khiến 20.000 người chết. Nhiều đơn vị gần như bị xóa sổ hoàn toàn. Các đơn vị như là Trung đoàn Newfoundland Hoàng gia hứng chịu tổn thất quá 90%.
Mặc dù các lực lượng liên quân Anh-Pháp cố gắng đột phá chiến hào quân Đức ở một số điểm nhất định dọc theo tuyến mặt trấn 20km, nỗ lực của họ cuối cùng bị sa lầy và tạo ra thế giằng co trong 141 ngày với hơn 1 triệu thương vong. Cho đến nay, mức độ đổ máu ở Somme vẫn là biểu tượng hùng hồn về sức hủy diệt của chiến tranh chiến hào.

Ấy thế nhưng, ngày 1/7/1916 chưa phải là ngày chết chóc nhất trong lịch sử Anh Quốc. Một trận huyết chiến khác xảy ra vào thời điểm 453 năm trước Thế chiến thứ nhất. Trận chiến đó diễn ra trong Cuộc chiến tranh Hoa hồng.
Vào ngày 29/3/1461, 30.000 lính của vua Edward IV giáp mặt 35.000 lính trung thành với dòng họ Lancaster gần thị trấn Towton. Quân hai bên chém giết lẫn nhau trong cả ngày giữa lúc có một trận cuồng phong vây quanh họ.
Các sử gia đương thời ước tính con số thương vong vào thời điểm ngưng chiến là 27.000 lính Anh bị chém chết – tương đương với 1% dân số toàn nước Anh khi đó. Trong vài năm gần đây, một số sử gia đã ước tính số thi thể đếm được ở mức thấp hơn 10.000, nhưng số khác vẫn duy trì con số thương vong ban đầu.
3. Pháp
Không có gì mập mờ về số lượng binh sĩ Pháp tử trận ở Rossignol gần Ardennes vào ngày 22/8/1914. Các binh sĩ Pháp đã dốc sức chặn đà tiến của quân Đức trong trận Biên giới Bắc Pháp. Kết quả là hơn 27.000 lính của Đệ tam Cộng hòa đã chết như ngả rạ dưới tay quân đội của hoàng đế Đức. Trận này là trận đẫm máu nhất trong một ngày trong lịch sử Pháp.
Trận Rossignol.
Ngày 18/6/1815 là một ngày đen tối khác của Pháp. Khi đó Đại quân của Napoleon đã thảm bại tại Waterloo. Tới 1/3 số quân của Napoleon (tổng cộng 25.000 người) bị thương vong trong cuộc đấu kéo dài hơn 10 tiếng đồng hồ. Phía Anh hứng chịu tổn thất là 15.000 người chết và bị thương, còn Phổ bị thương vong 7.000 người. Trước khi màn đêm buông xuống, có tới 30.000 lính phơi thây trên chiến trường.
Trận Waterloo.
Người ta kể rằng số tử sĩ nhiều đến nỗi mà những kẻ chuyên trục lợi từ xác chết đã kiếm lời bằng cách bán những chiếc răng lấy từ miệng của các thi thể nằm rải rác trên chiến trường. Các nha sĩ mua cả ngàn chiến lợi phẩm như thế này để sử dụng vào việc chế các răng giả trong các năm tới.
Trên thực tế, đối với một thế hệ sinh sau vụ chém giết này, các bộ răng giả trên khắp Tây Âu còn được đặt biệt danh “răng Waterloo”.
4. Ba Tư
Nhằm chinh phục toàn bộ Hy Lạp, hoàng đế Ba Tư Xerxes I lên kế hoạch sử dụng 900 tàu chiến cỡ lớn để đưa quân của mình đi vòng qua Attica và đổ bộ lên eo đất Corinth, thọc vào giữa các thành bang Hy Lạp.
Chiến hạm ba tầng chèo dùng thời diễn ra trận hải chiến Salamis.
Hy vọng về một cơ hội giáng đòn chí tử cho đội quân xâm lược, chính khách-tướng Themistocles tập hợp một đội tàu nhỏ và đợi đến khi hạm đội cồng kềnh của Ba Tư đi vào con kênh rộng hơn 3km giữa đảo Salamis và đất liền. Khi thời cơ tới, vị tướng thành Athens tung ra đòn sát thủ. Dù có số lượng ít hơn (với tỷ lệ 1 chọi 3), tàu Hy Lạp vẫn hiên ngang lao thẳng vào đội hình tàu Ba Tư, sử dụng việc đâm va để làm thủng vỏ tàu đối phương. Các lính bộ binh được trang bị vũ khí đầy mình đã xông lên các con tàu bị thương, thả sức xọc gươm vào bất cứ kẻ thù mà họ gặp. Bản thân em trai của hoàng đế Xerxes, Đô đốc Ariabignes là một trong những quân nhân Ba Tư đầu gục ngã trước gươm đao của quân Hy Lạp.
Cuộc chém giết tiếp diễn và cơn hoảng loạn ngập tràn hạm đội Ba Tư. Các con tàu Ba Tư chòng chành tìm cách tẩu thoát khỏi tàu Hy Lạp và va chạm vào nhau. Một số tàu Ba Tư bị mắc cạn, số khác bị lật khiến hàng ngàn thành viên thủy thủ đoàn (mỗi tàu có 150 người) bị hất xuống dòng nước dữ. Theo sử gia thời cổ đại Herodotus, nhiều quân Ba Tư không... biết bơi trong khi số khác bị trọng lượng của bộ giáp trên người dìm xuống đáy biển.
Chỉ trong vài phút, tới 300 tàu Ba Tư bị nước vào và có tới 40.000 quân xâm lược chết đuối. Từ trên bờ, hoàng đế Ba Tư Xerxes kinh hãi nhìn toàn cảnh cuộc chiến đang diễn ra với thất bại thuộc về hải quân của ông ta.
5. La Mã
Cộng hòa La Mã hứng chịu một thất bại thậm chí còn ê chề hơn thất bại của người Ba Tư. Vào ngày 2/8 năm 216 trước Công nguyên, một đội quân gồm 50.000 chiến binh do tổng thống lĩnh Hannibal của thành bang Carthage chỉ huy đã bao vây và “làm thịt” một đội quân gồm 90.000 lính Italy do Gaius Terentius Varro chỉ huy tại Cannae.
Trận Cannae.
Mặc dù đông hơn quân xâm lược một chút xíu, các “giáo thủ” La Mã trang bị giáp dày không phải là đối thủ của lực lượng bộ binh địch cơ động hơn. Quân của tổng thống lĩnh Hannibal nhanh chóng vu hồi và bao vây quân La Mã. Trong vòng vài tiếng, lính của Hannibal chém giết tơi tả lính La Mã.
Theo các ước tính thời đó, hơn 50.000 lính La Mã đã bị tiêu diệt trong cuộc cận chiến này - tương đương với khoảng 20% dân số nam đủ tuổi phục vụ trong quân đội La Mã.
Sau vụ chém giết này, Hannibal đã cho thu thập nhẫn của các tử sĩ đối phương và gửi số nhẫn này về quê nhà, nơi những chiếc nhẫn được chất đống trên thềm Hội đồng Carthage.
Thành Rome điên loạn trước nguy cơ bị người Carthage cướp phá. Nhằm tránh họa thất trận hoàn toàn, các công dân thành La Mã thậm chí còn dùng đến việc hiến tế người sống để lấy lòng thần linh.
Viện nguyên lão La Mã vội vã tập hợp một đội quân mới và gửi ra mặt trận để chặn bước tiến của quân thù.
Tổng tư lệnh Hannibal gửi sứ giả tới đề nghị ký hòa ước. Thế nhưng Cộng hòa La Mã vẫn thách thức ông ta. Thậm chí thành bang La Mã còn ra lệnh cấm sử dụng từ “hòa bình” trong một thời gian. Cuộc kháng cự mạnh dần lên và Hannibal bỏ dở chiến dịch hãm thành và lui đội quân mệt mỏi của mình về Bắc Phi.
6. Nga
Trận chiến đẫm máu nhất trong 1 ngày của toàn lịch sử nhân loại là trận đánh diễn ra trên đất Nga ở Borodino vào cuối mùa hè năm 1812. Chỉ 3 tháng sau đó, Napoleon đã xâm lược đế chế của Sa hoàng Alexander bằng một đội quân được dự báo là lực lượng lục quân lớn nhất từng tập hợp được tại thời điểm đó: 680.000 người.
Trận Borodino.
Trong toàn mùa hè, vị hoàng đế Pháp điều đội quân lê dương của mình vượt qua các vùng đồng bằng bụi bặm để thẳng tiến đến Moscow.
Sau đó một chuỗi trận đánh cộng với bệnh dịch typhus đã làm giảm phân nửa số binh sĩ Pháp.
Vào tháng 9 năm đó, gần 150.000 lính Nga tập hợp lại để cản bước quân Pháp ở khu vực ngôi làng Borodino cách thủ đô lịch sử của Nga khoảng 120km.
Trận huyết chiến bắt đầu vào đầu giờ sáng ngày 7/9 và diễn ra quyết liệt trong cả ngày hôm đó. Đến lúc xế chiều, quân đội Nga đã tan tác – tới 45.000 lính Sa hoàng bị chết hoặc bị thương. Thương vong của quân Pháp thấp hơn chút ít, nhưng vẫn là con số khủng: 35.000 người, trong đó có 49 vị tướng.
Tuy đổ nhiều máu, Napoleon vẫn giành được chiến thắng và tiến nhanh về Moscow. Trong vòng một tuần lễ, cờ của quân Pháp đã tung bay trên Nhà thờ Lớn Saint Basil.
Nhưng người Nga đã thực hiện vườn không nhà trống, đốt thành phố này trước khi rút đi. Hệ quả là, quân Napoleon chỉ kiểm soát một thành phố hoang tàn, trong khi mùa đông đang tới gần và lực lượng Nga tăng viện đang tập trung ở phía nam.

Trước tình cảnh đó, Napoleon vội hạ lệnh cho quân đội viễn chinh từ bỏ chiến quả và rút về nước. Thế nhưng người Nga đâu có để yên. Các kỵ binh Cossack của Sa hoàng cộng với thời tiết lạnh dưới 0 độ đã biến cuộc rút lui trong 2 tháng của quân Pháp thành địa ngục trần gian. Trong tổng số lực lượng xâm lược ban đầu (gần 700.000), chỉ có chưa tới 100.000 lính Pháp và quân đồng minh là sống sót ra khỏi nước Nga./.
Trung Hiếu/VOV.VN Dịch từ Military History

Tại sao khủng bố sẵn sàng tự sát?


Những vụ đánh bom liều chết liên tiếp thời gian qua cướp sinh mạng của hàng trăm người. Tại sao những kẻ cực đoan không sợ chết, sẵn sàng giật bom nổ tung thân thể thành vạn mảnh?


Hồi tháng 10/2015, hai kẻ đánh bom tự sát giết hơn 100 người bên ngoài một nhà ga tàu hỏa ở Ankara, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ. Tháng 11/2015, một nhóm cực đoan đánh bom và xả súng ở Paris, thủ đô Pháp, khiến 130 người thiệt mạng. Ngày 22/3, ba vụ đánh bom liều chết tại Brussels, thủ đô Bỉ, làm 31 người chết và hơn 300 bị thương.
Tất cả đều là “tác phẩm” của tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS). Hôm qua (27/3), có tới 69 người thiệt mạng và hơn 300 bị thương, bao gồm nhiều phụ nữ và trẻ em, trong vụ đánh bom ở Lahore, Pakistan. Lần này, lực lượng Taliban tại Pakistan là thủ phạm cuộc thảm sát kinh hoàng.
Tất nhiên không phải bây giờ khủng bố mới liên tục đánh bom liều chết. Theo các tính toán sơ bộ, từ vụ khủng bố Đại sứ quán Mỹ tại Beirut (Lebanon) tháng 4/1983 đến nay đã có hơn 4.800 vụ tấn công tự sát trên khắp thế giới. Và sau mỗi cuộc tắm máu, người ta lại đặt ra hai câu hỏi lớn.

Mang đậm bản chất chính trị

Thứ nhất, vì sao các tổ chức khủng bố lựa chọn phương án đánh bom liều chết? Thứ hai, tại sao những kẻ cực đoan được lựa chọn lại sẵn sàng tự giết mình?
Nhiều người khẳng định những kẻ cực đoan tin rằng sau khi hy sinh vì “thánh chiến” sẽ được lên thiên đường, nơi có 72 cô trinh nữ chờ sẵn, cung phụng chúng tới thiên thu. Nhưng thực tế, đó chỉ là quan niệm sai lầm. Kinh Koran của đạo Hồi không có chỉ dẫn như vậy.
Tai sao khung bo san sang tu sat? hinh anh 1
Hiện trường một vụ đánh bom ở Beirut, Lebanon hồi tháng 1/2014. Ảnh: AFP
Với câu hỏi đầu tiên, nghiên cứu của trung tâm Cơ sở dữ liệu khủng bố tự sát (CTD) thuộc Đại học Flinders (Australia) khẳng định chủ nghĩa tôn giáo cực đoan, cuồng tín không phải là lý do dẫn tới làn sóng đánh bom tự sát. Quả thật, các tổ chức khủng bố dùng tôn giáo để chiêu mộ và kích động thanh niên cực đoan.
Tuy nhiên làn sóng tấn công tự sát xuất phát từ một loạt nguyên nhân, từ ý đồ chính trị cho đến tâm lý. Đầu tiên, các vụ đánh bom tự sát có giá trị biểu tượng cao, cho thấy những kẻ thực thi quyết tâm và sẵn sàng dâng hiến cả tính mạng vì mục tiêu.
Đánh bom liều chết trở thành biểu tượng của đấu tranh (theo quan niệm của những kẻ cực đoan), giúp các tổ chức khủng bố kích động sự ủng hộ về cả tinh thần và tài chính, trở thành công cụ để chúng chiêu mộ thêm cực đoan. Như vậy, đánh bom tự sát là hiện tượng mang đậm bản chất chính trị.

Đòn phản công

Chuyên gia Robert Pape thuộc Đại học Chicago (Mỹ), người nghiên cứu các vụ tấn công tự sát từ thập niên 1980, còn nhận định bọn khủng bố tổ chức các vụ tấn công liều chết để phản ứng lại những cuộc can thiệp quân sự. IS là thủ phạm các vụ đánh bom tại Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ và Bỉ.
IS mở chiến dịch tấn công tự sát ở nước ngoài do chiến dịch không kích của liên quân Mỹ, Nga và những đợt phản kích của quân đội Syria đã dồn chúng vào góc tường. Thống kê của hãng phân tích tình báo IHS Jane’s cho thấy IS đã đánh mất hơn 22% diện tích lãnh thổ chúng kiểm soát ở Syria và Iraq từ đầu năm 2015 đến nay.
Có nghĩa là các vụ tắm máu như ở Paris và Brussels xảy ra là do IS suy yếu đi. Tương tự, Taliban thỉnh thoảng tổ chức các cuộc đánh bom tự sát đẫm máu tại Paris, mới đây nhất là ở Lahore, cũng xuất phát từ thế yếu. Từ tháng 6/2014, quân đội Pakistan mở chiến dịch tấn công trên bộ và không kích dữ dội các mục tiêu của Taliban tại vùng rừng núi phía tây bắc, gần biên giới Afghanistan.

Tâm lý báo thù

Về vấn đề tâm lý của những kẻ đánh bom tự sát, sự nhục nhã và khát vọng báo thù là hai yếu tố mấu chốt. CTD cho biết phần lớn những kẻ đánh bom tự sát không phải là người điên rồ, cuồng tín như mọi người nghĩ, mà là những người có tâm lý bình thường, tham gia sâu vào các mạng lưới xã hội và rất gắn kết với cộng đồng địa phương.
Tai sao khung bo san sang tu sat? hinh anh 2
Các khu vực xảy ra đánh bom tự sát trên thế giới từ năm 1983 đến 2015. Ảnh: Đại học Chicago
Nhiều người cho rằng gốc rễ của chủ nghĩa khủng bố “thánh chiến” không phải là đạo Hồi, mà xuất phát từ “tội ác của phương Tây”, đặc biệt từ “chủ nghĩa đế quốc Mỹ” sau vụ tấn công 11/9, bao gồm vụ xâm lược Iraq năm 2003. Sự kiện đó làm bùng lên tâm lý giận dữ, khát khao báo thù của người Hồi giáo cực đoan.
Và các chuyên gia cũng từng cảnh báo về tình trạng nhiều thanh niên Hồi giáo sống ở các nước phương Tây bị gạt ra bên lề xã hội, không có cơ hội sự nghiệp, bị phân biệt đối xử. Làn sóng bài Hồi giáo, chống nhập cư bùng lên càng khiến tình trạng này trở nên căng thẳng. Đó là lý do nhiều thanh niên Hồi giáo rời bỏ quê nhà, đến Syria và Iraq để gia nhập IS.
Tháng 9/2007, lực lượng Mỹ tấn công một trại huấn luyện của phiến quân nổi dậy Iraq tại thị trấn Singar, gần biên giới Syria. Họ tìm thấy nhật ký của hàng trăm tay súng nước ngoài. Trong số đó có 137 người Libya, bao gồm 52 đến từ thị trấn nhỏ Darnah. Trong nhật ký, các tay súng này thể hiện rõ sự tuyệt vọng, giận dữ, cảm giác bất lực, truyền thống phản kháng cộng với yếu tố tôn giáo.
Những màn tra tấn của lính Mỹ đối với nghi phạm khủng bố tại nhà tù Abu Ghraib tại Iraq không chỉ là sự sỉ nhục đối với cá nhân các tù binh, mà còn bị xem là sự sỉ nhục đối với cả đất nước Iraq. Do đó, sau khi các bức ảnh chụp cảnh lính Mỹ tra tấn tại Abu Ghraib được công bố, các vụ đánh bom tự sát tại Iraq bùng lên dữ dội.

Mũi tên nhắm nhiều đích

Giáo sư Riaz Hassan của Đại học Flinders là người viết cuốn Life as a weapon: The global rise of suicide bombings (Tính mạng là vũ khí: Sự trỗi dậy toàn cầu của đánh bom tự sát). Ông khẳng định đối với mỗi cá nhân tham gia đánh bom tự sát, mục tiêu không phải là giết chóc. Những kẻ cực đoan này muốn dùng một mũi tên nhắm vào nhiều đích.
Đó là tạo hiệu quả chính trị như mong muốn của tổ chức, “giải phóng” lãnh thổ, lấy lại danh dự, thể hiện sự không khuất phục, thỏa mãn tâm lý báo thù và rửa nhục… Chính vì tất cả nguyên nhân đó, đánh bom liều chết trở thành một chiến thuật, một thứ vũ khí cực kỳ hiệu quả của các tổ chức cực đoan.
Giáo sư Hassan cho rằng chỉ khi hiểu rõ được nguồn gốc của mọi vấn đề, các nước phương Tây mới có thể đưa ra được những chính sách hiệu quả để đối phó với chủ nghĩa khủng bố nói chung và các cuộc đánh bom tự sát nói riêng.
Hiếu Trung

Phút cận kề cái chết của hai phi công cảm tử Nhật Bản

Phục vụ trong phi đội thiện chiến Thần phong của Nhật Bản, ngỡ rằng sẽ được hy sinh vì tổ quốc, nhưng ông Hisao Horiyama và ông Takehiko Ena lại may mắn thoát chết khi chuẩn bị đối đầu với quân Đồng minh trong thế chiến II.


Cựu phi công Hisao Horiyama. Ảnh: Guardian
Cựu phi công Hisao Horiyama. Ảnh: Guardian
Ông Hisao Horiyama lần đầu tiên được biết cách mình sẽ chết thông qua một tờ giấy trắng năm 21 tuổi.
Đó là vào cuối năm 1944 khi quân Đồng Minh dần chiếm thế thượng phong trước Nhật Bản. Trong bối cảnh đó, các lãnh đạo quân sự của Tokyo quyết định thành lập biệt đội Thần phong, gồm những binh sĩ tận trung, sẵn sàng chết vì chiến thắng của Thiên hoàng. Và ông Horiyama là một trong số đó.
'Bỏ lỡ cơ hội được chết'
Để các đợt tấn công cảm tử thành công, lực lượng không quân và hải quân cần một đội phi công trẻ. Nhiều người trong số họ được điều chuyển từ lực lượng khác và từ các trường đại học tốt nhất của Nhật Bản. 
Trước khi được lệnh chuyển sang không quân, ông Horiyama vốn là anh lính trẻ thuộc một đơn vị pháo binh của quân đội hoàng gia Nhật Bản. 
Ông cho biết sau khi hoàn thành khóa đào tạo, những thành viên của biệt đội Thần phong nhận được một tờ giấy trắng ghi 3 lựa chọn: tha thiết tình nguyện chết, tình nguyện chết, hoặc rút lui.
Tuy nhiên, khi buộc phải tham gia cuộc chiến giữa Nhật Bản và phe Đồng minh lúc mới 21 tuổi, ông Horiyama hiểu rằng mình chỉ có lựa chọn duy nhất. Không chút do dự, ông chấp nhận việc lái chiến đấu cơ lao vào mạn tàu chiến của Mỹ.
"Khi chúng tôi vừa tốt nghiệp trường đào tạo của quân đội, Thiên hoàng Hirohito đã cưỡi một con ngựa trắng tới thăm đơn vị của chúng tôi. Khi đó tôi nghĩ, đây là dấu hiệu cho thấy ngài sẽ đích thân yêu cầu chúng tôi thực hiện nhiệm vụ", ông kể. "Tôi biết là mình chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài phải chết vì ngài. Thời điểm đó, chúng tôi đều tin rằng, Thiên hoàng và đất nước Nhật Bản là một và giống nhau".
Với hành động tự sát này, ông, cũng như nhiều người khác, sẽ kết thúc cuộc đời của mình trong danh dự là một chiến sĩ ưu tú của Thiên hoàng lúc bấy giờ.
"Chúng tôi không nghĩ nhiều về cái chết. Chúng tôi được huấn luyện để kiềm chế cảm xúc. Thậm chí nếu buộc phải chết, chúng tôi cũng phải tự nhủ rằng, mình chết vì lý do chính đáng. Chết chính là bước cuối cùng để hoàn thành nhiệm vụ và chúng tôi được lệnh không được quay trở về. Chúng tôi biết rằng nếu sống sót trở về, chỉ huy sẽ rất tức giận", ông Horiyama cho hay.
 A Japanese kamikaze plane swoops on a US warship in 1944. Photograph: AP
Một máy bay thuộc phi đội Thần phong lượn bên tàu chiến Mỹ năm 1944. Ảnh: AP
Như mọi phi công được tuyển chọn để làm nhiệm vụ cảm tử, ông Horiyama được viết một chúc thư và một lá thư gửi cho bố mẹ.
"Tôi là một đứa trẻ ngang ngược và hay bị điểm kém ở trường. Tôi nói với bố tôi rằng tôi xin lỗi vì từng là một đứa học sinh kém, xin lỗi vì đã phá hỏng 3 chiến đấu cơ trong quá trình huấn luyện. Và tôi cũng rất tiếc khi cuộc chiến này dường như đang chống lại Nhật Bản. Tôi muốn chứng minh bản thân với ông ấy và đó là lý do tại sao tôi tình nguyện tham gia đơn vị chiến đấu đặc biệt này", ông kể.
"Nhưng mẹ tôi đã rất buồn. Ngay trước khi qua đời, bà nói với tôi rằng bà sẽ không bao giờ tha thứ cho bố tôi nếu tôi tử trận trong đợt tấn công nào đó. Vì vậy, tôi rất cảm kích Thiên hoàng khi ông quyết định đầu hàng".
Nhật Bản vẫn kêu gọi các phi công tham gia nhiệm vụ cảm tử cho đến tận ngày 15/8/1945, ngày hoàng đế Hirohito tuyên bố với một dân tộc đang tan nát cõi lòng vì các vụ tấn công nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, rằng Nhật Bản đầu hàng.
"Tôi không thể nghe rõ thông báo đó trên đài NHK do tạp âm. Một người bật khóc lớn. Và đó là lúc tôi biết, chúng tôi đã thua", ông Horiyama nói. 
70 năm trôi qua, ông Horiyama, 92 tuổi, hiện sống với vợ ở Tokyo. Trong phòng khách, ông đặt mô hình của một chiếc chiến đấu cơ bên cạnh kệ sách. Một góc nhà khác lại xếp đầy hộp các-tông với những tấm ảnh đen trắng chụp các phi công của biệt đội Thần phong, những mẩu tin về các cựu chiến binh được cắt ra từ báo hay tạp chí.
"Tôi thấy rất tồi tệ vì không thể hy sinh thân mình cho đất nước. Những đồng đội đã hy sinh của tôi sẽ được tưởng nhớ trong vinh quang, còn tôi đã bỏ lỡ cơ hội để chết theo cách ấy. Tôi có cảm giác như mình đã khiến tất cả mọi người thất vọng".
Thoát chết vào phút chót
Tính đến tháng 1/1945, đã có hơn 500 chiếc chiến đấu cơ Thần phong tham gia nhiệm vụ cảm tử. Con số này ngày càng tăng do nỗi lo sợ rằng Mỹ sẽ chiếm đóng các đảo lớn của Nhật.
Khi chiến tranh kết thúc, hơn 3.800 phi công đã hy sinh. Mặc dù vẫn có những bất đồng về tính hiệu quả của biệt đội Phong thần, những đợt tấn công tự sát như vậy đã giúp Nhật đánh chìm hoặc gây thương vong lớn cho tàu chiến của Mỹ và phe Đồng minh.
Tuy nhiên, không phải phi công nào trong biệt đội Thần phong cũng nhiệt thành trong lý tưởng hy sinh vì Tổ quốc như ông. Khi biết mình được chọn để cho nhiệm vụ cảm tử này, Takehiko Ena đã vô cùng bối rối.
Cựu phi công Takehiko Ena. Ảnh: Guardian
Cựu phi công Takehiko Ena. Ảnh: Guardian
"Tôi có cảm giác máu đang chảy trên mặt mình. Tôi và những phi công khác đã chúc mừng nhau ngay khi lệnh ban xuống. Nghe có vẻ kỳ lạ nhưng đó chẳng phải là tin tức đáng để chúc mừng", ông kể.
Ông Ena, 92 tuổi, được đưa vào hải quân khi vẫn còn là cậu sinh viên 20 tuổi học ngành kinh tế tại đại học danh tiếng Waseda ở Tokyo. Ông Ena được cử tới tham gia đội phi công ở Kyushu, hòn đảo lớn ở cực nam của Nhật Bản, hồi tháng 4/1945. Đây là thời điểm biệt đội Thần phong hoạt động mạnh nhất.
Ông được tham gia lái thử nghiệm một chiến đấu cơ gắn một quả bom nặng 800 kg ở khung gầm. Và chiếc máy bay này chỉ có đủ nguyên liệu để bay một chiều.
Đây là một phần trong chiến dịch Kikusui (tạm dịch là hoa cúc), một chiến dịch đánh bom cảm tử tham vọng của Nhật Bản nhằm chống lại tàu chiến của phe Đồng minh trong trận chiến ở Okinawa. Vào thời điểm đó, Okinawa là một trong những chiến trường đẫm máu nhất ở Thái Bình Dương.
Vào giai đoạn cuối của Thế chiến thứ II, Nhật Bản phần lớn sử dụng những chiếc máy bay cũ được tu sửa để thực hiện nhiệm vụ cảm tử. Rất nhiều chiếc máy bay không thể khởi động hoặc gặp sự cố về động cơ trên đường tiến tới mục tiêu. Phần lớn trong số đó đều bị tàu của phe Đồng minh bắn hạ trước khi tiếp cận.
Đây là nỗi tuyệt vọng đối với các lãnh đạo quân sự Nhật Bản nhưng lại là sự cứu rỗi dành cho ông Ena.
Ngày 28/4/1945, ông Ena lái máy bay trên đường băng ở sân bay Kushira, tỉnh Kagoshima, để đi thực hiện nhiệm vụ, nhưng chiếc máy bay không thể cất cánh. Nhiệm vụ thứ hai của ông cũng kết thúc trong thất bại khi ông phải hạ cánh khẩn cấp xuống một căn cứ quân đội do trục trặc về động cơ.
Hai tuần sau đó vào ngày 11/5, ông tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thứ ba cùng với một phi công 20 tuổi và nhân viên truyền tín hiệu 18 tuổi.
"Về bề ngoài, chúng tôi đang phục vụ cho đất nước của mình. Chúng tôi tự nhủ rằng, chúng tôi đã được chọn để hy sinh. Còn tôi chỉ muốn bảo vệ bố mẹ tôi thôi. Lúc đó, chúng tôi đều sợ hãi", ông nói.
Và rồi, động cơ máy bay của ông Ena lại gặp trục trặc, buộc ông phải hạ cánh xuống biển. Ba thanh niên sống sót và bơi vào hòn đảo Kuroshima gần đó. Họ sống ở đó trong hai tháng rưỡi trước khi được một tàu ngầm của Nhật Bản đón đi.
nhat1-4336-1439452209.jpg
Ông Ena khi còn là thành viên của Thần phong. Ảnh: Guardian
Ngay sau đó, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng. Chiến tranh kết thúc và nhường chỗ cho định hướng lạc quan về tương lai, dù Nhật Bản phải đối mặt với gánh nặng tái thiết những thành phố bị tàn phá nặng nề và bồi thường chiến phí.
"Chúng tôi cảm thấy buồn cho những người bạn đã hy sinh trong cuộc chiến nhưng chúng tôi cũng cố gắng hình dung xem mình sẽ tái thiết Nhật Bản như thế nào", ông nói. 
Khi được hỏi về nỗ lực của Thủ tướng Shinzo Abe nhằm cho phép quân đội Nhật Bản chiến đấu cùng các đồng minh ở hải ngoại lần đầu tiên kể từ sau Thế chiến II, ông Ena tỏ ra giận dữ.
"70 năm qua chúng tôi được bảo vệ bởi một Hiến pháp luôn hướng tới hòa bình. Tôi rất biết ơn vì chúng ta đã không tiếp tục chiến tranh vào năm 1945. Người Nhật Bản nên hạnh phúc vì điều đó", ông Ena nói.
Kim Dung (theo Guardian)


5 trận không chiến kinh hoàng nhất trong lịch sử quân sự

Chớp nhoáng, kinh hoàng và đẫm máu là những gì xuất hiện trong một cuộc không chiến.

Chớp nhoáng, kinh hoàng và đẫm máu là những gì xuất hiện trong một cuộc không chiến. Trong khi các hình thức tác chiến trên mặt đất và trên biển đã diễn ra hàng thiên niên kỷ, thì các cuộc không chiến chỉ mới xuất hiện cách đây khoảng một thế kỷ.

Năm 1903, anh em nhà Wright thực hiện chuyến bay lịch sử của họ, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử hàng không thế giới; năm 1911, người Italy tiến hành các cuộc ném bom một bộ lạc ở Libya; năm 1914, các trận không chiến đầu tiên nổ ra; và năm 1918, những máy bay ném bom của Đức và Anh đã tấn công các thành phố của nhau. Đến cuối cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, chỉ tính riêng Không quân Hoàng gia Anh đã có khoảng 22.000 máy bay.

Không chiến đã trở thành một hình thức tác chiến thiết yếu của chiến tranh.

Người ta cũng nói về sự phát triển của nghệ thuật không chiến được thể hiện trong “Tháng 4 đẫm máu” năm 1917, khi các phi công lái máy bay chiến đấu kỳ cựu của Đức như Manfred Albrecht Freiherr von Richthofen - phi công át chủ bài của Không quân Đức quốc xã, biệt danh "Nam tước Đỏ", nổi tiếng với chiến tích bắn hạ 80 máy bay đối phương - xé toạc đội hình máy bay chiến đấu của Anh, khiến người Anh mất 275 máy bay. Một phần tư thế kỷ sau, tháng 7 và tháng 8/1943, Không quân Đức mất tổng cộng 3.200 máy bay trong các cuộc giao chiến. Kể từ đó, không chiến đã trở thành một hình thức tác chiến thiết yếu của chiến tranh. Dưới đây là những cuộc không chiến lớn và kinh hoàng nhất trong lịch sử:

Trận chiến nước Anh

Trận không chiến nổi tiếng nhất có lẽ là Cuộc chiến của nước Anh (Battle of Britain). Một phần là vì nó đã trở thành huyền thoại của người Anh và một phần bởi đó là cuộc không chiến dai dẳng giữa Đức Quốc xã và Anh vào mùa hè-thu năm 1940 trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau khi xâm chiếm Pháp thành công, Hitler và Bộ Tư lệnh Tối cao Đức đã mở một chiến dịch đường không tấn công Anh, nhằm mục tiêu giành lấy ưu thế trên không trước Không quân Hoàng gia Anh, nhất là đối với lực lượng tiêm kích, mục đích là làm suy yếu sức kháng cự của Anh, mở đường cho cuộc đổ bộ của hải quân và lính dù Đức trong Chiến dịch Sư tử biển tiếp theo sau đó; buộc Anh phải đầu hàng hoặc ít nhất xin hòa và rút khỏi chiến trường châu Âu. Nhất là từ sau những thắng lợi ban đầu của lực lượng Không quân Đức, người Đức đã tin rằng lợi thế sẽ nghiêng về họ.

Trận chiến nước Anh là chiến dịch quân sự lớn đầu tiên được thực hiện hoàn toàn bằng lực lượng không quân. Trước đó, chưa bao giờ có cuộc oanh tạc và đụng độ trên không kéo dài và kinh khủng như thế. Từ tháng 7/1940, những đoàn tàu vận tải duyên hải và trung tâm hàng hải, như Portsmouth là những mục tiêu chính của Không quân Đức; nhưng một tháng sau đó Không quân Đức đã chuyển hướng tấn công vào các sân bay và cơ sở hạ tầng của không quân Anh. Đến khi cuộc giằng co kéo dài, Không quân Đức tấn công cả vào những nhà máy sản xuất máy bay và cơ sở hạ tầng trên mặt đất. Cuối cùng họ quay sang các khu vực có ý nghĩa chính trị để tiến hành chiến thuật ném bom khủng bố, mở cuộc oanh tạc rầm rộ vào thủ đô và các thành phố lớn của đối phương.

Máy Anh và Đức trong một cuộc không chiến trong bộ phim "The Battle of Britain" (1969).

Không quân Đức sau cùng phải chịu bó tay và bỏ cuộc trước sức mạnh chiến đấu của không quân Anh và sức chịu đựng dũng cảm của nhân dân Anh. Đức đã không thể hoàn thành được mục tiêu của mình. Đây là thất bại đầu tiên của quân đội Đức và là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Chiến tranh Thế giới thứ 2. Người Anh coi đây là một chiến thắng mang tính quyết định. Mặt khác, chiến thắng này còn dẫn đến sự tiếp tục tham chiến của nước Anh trong Trận chiến Đại Tây Dương và vai trò quan trọng của Anh trong Trận Normandie (cuộc đổ bộ của quân đội khối Đồng minh vào các bãi biển vùng Normandie, hay còn gọi là Trận chiến vì nước Pháp) năm 1944. Chiến thắng này của Anh cũng được xem là một trận phòng không mẫu mực trong thế kỷ 20.

Cuộc giao tranh kéo dài gần 3 tháng trên đã khiến gần 2.000 máy bay của Không quân Đức cùng những phi công được huấn luyện tốt của họ bị thiệt hại, cũng như chấm dứt hy vọng của Hitler nhằm kết thúc cuộc chiến với phương Tây để tập trung tất cả các lực lượng chinh phục Liên Xô.

Trận “Big Week” (Tạm dịch: Tuần hủy diệt)

Mỹ đã phải rút ra được bài đắt giá từ những gì mà không quân Đức trải qua trong Trận chiến nước Anh. Mặc dù trước chiến tranh, các nhà học thuyết quân sự khẳng định rằng máy bay ném bom có thể xuyên thủng bất cứ hệ thống phòng thủ nào và buộc đối phương phải lộ diện, điều này là không đúng.

Mỹ đã đặt hy vọng của mình vào một cuộc tấn công vào ban ngày bằng những phi đội máy bay ném bom B-17 Flying Fortress được trang bị vũ khí hạng nặng, nhằm vào các cơ sở công nghiệp của Đức với chiến thuật ném bom chính xác ở tầm cao. Tuy nhiên, vào mùa hè năm 1943, các “pháo đài bay” trên bị tổn thất lớn trước các máy bay chiến đấu của Đức, trong đó bao gồm các cuộc tấn công thảm khốc ở Schweinfurt và Regensburg, khi 60 trong tổng số 367 chiếc B-17 bị bắn rơi.

Những chiếc B-17 trên bầu trời Schweinfurt (Đức).

Trong khi đó, Trận Normandy chỉ cách vài tháng nữa là diễn ra. Vì vậy, các nhà lập kế hoạch Mỹ đã đưa ra một ý tưởng táo bạo: thực hiện cuộc tấn công trên không quy mô lớn nhằm vào các nhà máy chế tạo máy bay của Đức. Các máy bay chiến đấu của Đức tự nhiên sẽ gặp khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ chính xác là những gì người Mỹ muốn. Lần này, các máy bay ném bom B-17 và B-24 sẽ được hộ tống bởi các máy bay chiến đấu P-51 Mustang tầm xa cùng với các máy bay Thunderbolt P-47 tầm ngắn hơn.

Trong trận "Big Week" diễn ra từ ngày 22-26/2/1944, các cuộc không chiến quy mô lớn đã nổ ra trên toàn nước Đức. Tổn thất của Mỹ là rất lớn với gần 250 máy bay ném bom và 30 máy bay chiến đấu. Nhưng Đức Quốc xã còn mất tới hơn 350 máy bay chiến đấu. Người Đức có thể thay thế được các máy bay mới, nhưng không thể thay thế được các phi công. Đức và Nhật Bản đã không chú ý đến việc đào tạo đủ số lượng các phi công để thay thế và những phi công tân binh được cho là có kỹ năng hạn chế hơn so với những phi công được huấn luyện tốt hơn phía quân Đồng minh.

Quan trọng nhất, những máy bay chiến đấu của Mỹ vượt trội hơn so với của phía Đức đã tạo ra một tình thế khó xử mà Đức quốc xã không thể giải quyết được. Để bắn rơi máy bay ném bom hạng nặng thì máy bay chiến đấu phải được trang bị vũ khí và giáp hạng nặng. Nhưng việc các máy bay chiến đấu của Đức bổ sung thêm pháo, tên lửa không-đối-không và tấm áo giáp sẽ ảnh hưởng đến tải trọng của máy bay và khiến cho phi công điều khiển gặp nhiều khó khăn, và do đó khả năng linh hoạt sẽ kém hơn những chiếc máy bay Mustang và Thunderbolt.

Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về việc liệu hành động ném bom chiến lược trên của quân đồng mình là một chiến lược để giành chiến thắng trong chiến tranh, hay là một sự lãng phí tài nguyên, hoặc thậm chí là một tội phạm chiến tranh. Nhưng trận “Big Week” không chỉ đơn giản là việc dội bom các nhà máy. Nó cho thấy làm thế nào một lực lượng không quân của đối phương có thể bị đẩy vào thế không thể thắng.

Công Thuận

Bài học của ngọn đồi Thịt Băm


Nước Mỹ thua cuộc đã nhắm mắt trước những kinh hoàng của cuộc chiến trong rừng rậm Việt Nam mười năm liền. 1,5 triệu người Việt, trên 55.000 người Mỹ đã chết. Ronald Reagan muốn tuyên bố thảm họa Việt Nam thành một chiến thắng về luân lý. Giới truyền thông Mỹ trình bày thêm một lần nữa những cảnh khủng khiếp của cuộc chiến.
Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 16/1985:
Qua cái nhìn đầu tiên, ba bức tượng đồng màu xanh ôliu trông giống như quảng cáo tuyển quân của U.S. Army: những người đàn ông mang dáng vẻ chiến đấu trên một tượng đài tưởng niệm ngay giữa Washington. Nhưng rồi điệu bộ của họ có một tiếng nói rõ ràng – những người lính trên tượng đài thật sự là đã kiệt quệ. Họ không toát ra một niềm tin chiến thắng – ngược lại: tư thế của họ mang một vẻ mất mát nào đó.
Three Soldiers Washington DC
Mặc dù vậy, những người Mỹ yêu nước vẫn có thể sống với tượng đài kỷ niệm truyền thống này, những người mà hồi ức của họ về cuộc Chiến tranh Việt Nam, “ý định cao quý đó” (Reagan), được lát đá hoa cương như một đền thờ danh nhân: chiến bại của nước Mỹ không còn có ở trong đầu của họ nữa; lần cất cánh đầy nhục nhã của chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng trong đêm 29 rạng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 từ mái của một căn nhà ở Sài Gòn. Một cơn ác mộng – đã qua rồi.
Giờ đây, một tưởng nhớ chính xác hơn về khoảng thời gian này được gìn giữ cách đội ngũ tưởng niệm bằng đồng đó chỉ vài mét – trên một bức tường bằng đá hoa cương màu đen dài 150 bộ. Đó là bức tường truy điệu của Mỹ, “The Wall”.
58.022 tên họ được khắc vào đá hoa cương – những người Mỹ đã hy sinh và mất tích của cuộc chiến ở Đông Nam Á. Thêm vào đó là hai thời điểm: bắt đầu chiến tranh 1959, chấm dứt chiến tranh 1975. Một bức tường tương ứng như vậy cho 1,5 triệu người Việt nạn nhân của cuộc chiến sẽ dài nhiều kilômét.
Có những người tình nguyện đứng trước bức tường đơn giản đó với những quyển sách tra cứu dầy cộm. Khi hỏi, họ sẽ thông báo cho biết ngày tháng hy sinh, ngày tháng năm sinh, tiểu bang quê hương. Tròn 22.000 người đã hy sinh khi còn chưa tới 21 tuổi – Việt Nam là một cuộc chiến của lứa tuổi teen Mỹ, thường là con cái của gia đình công nhân chống lại những du kích quân giàu kinh nghiệm. Sinh viên được miễn quân dịch, nhiều người con của giới trung lưu đã trốn tránh.
Cha mẹ của người chết đến cạnh bức tường này, sờ vào những cái tên, hôn lên mặt đá. Có nhiều người khóc òa, không kiềm chế, ngay giữa đám đông – vào những ngày lễ có tới 12.000 người.
The Wall in Washington
Năm 1982, Reagan đã bỏ lỡ buổi lễ khai mạc đài kỷ niệm này – tượng đài, được một phụ nữ trẻ tuổi người Mỹ gốc Hoa phác thảo, không tương ứng với hình ảnh anh hùng sai lệch của ông về tấn bi kịch đó, tấn bi kịch mà nước Mỹ đã “đánh mất sự trong trắng ngoại giao của nó ở trong đó”, theo Henry Kissinger ngày nay [1985],
Hoa Kỳ, đất nước mà năm 1917 và 1941 sau một thời gian dài do dự đã bước vào các cuộc thế chiến để giải phóng châu Âu ra khỏi những mối phiền toái của sự điên rồ trong ngoại giao và những tội phạm của phát xít – họ bước vào cuộc Chiến tranh Việt Nam với sự chắc chắn sai lầm của những người mộng du. Năm 1954, khi nước Pháp đánh mất thuộc địa Đông Dương của nó trong trận Điện Biên Phủ về tay các du kích quân Việt Minh dưới quyền của Hồ Chí Minh, Washington đã chi trả 80 phần trăm chi phí chiến tranh. Kết quả của Hội nghị Đông Dương ở Geneve – một Việt Nam độc lập – không bao giờ được Hoa Kỳ công nhận; ở phía Nam của vĩ tuyến 17, một chính phủ tham nhũng, tư sản, hình thành với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.
Từ Diệm cho tới Thiệu: các nhà cầm quyền độc tài của Sài Gòn dựa vào các “cố vấn” Mỹ – lúc đầu là 500 (1958), rồi cuối cùng là 538.000 (1969) – tất cả họ đều dính líu vào trong một cuộc chiến chống Việt Cộng và người Bắc Việt, những người thành thạo các chiến thuật khác với các chiến thuật  được giảng dạy cho các sĩ quan Mỹ trong các học viện quân sự của họ.
Lính thủy quân lục chiến Mỹ, những người năm 1965 đánh chiếm một ngọn đồi mang tên “Thịt Băm” ở gần Khe Sanh, đã để lại một tấm bảng nhỏ sau khi rút quân: “Việt Nam – có đáng giá như thế không?”
Đồi Thịt Băm, một ngày sau trận chiến
Đồi Thịt Băm, một ngày sau trận chiến
Câu hỏi này vẫn còn được đặt ra:
  • Trong cuộc chiến dài nhất của lịch sử họ, Hoa Kỳ đã tự loại bỏ yêu cầu mà họ đã tự đặt ra cho họ, dẫn đầu về đạo đức và chống đế quốc, và đã triển khai sức mạnh vật chất của họ một cách không kiềm chế. Việc dội bom thường dân Hà Nội được xem là “cố gắng chuyển hóa niềm tin một cách chiến lược”, việc sử dụng những loại vũ khí kinh dị mới như “Agent Orange”, một chất làm rụng lá có chứa dioxine, dường như là có thể chấp nhận được. Trên bảy triệu tấn bom và đạn pháo Mỹ đã rơi xuống đất nước này, hơn ba lần rưỡi con số mà Đồng Minh đã ném xuống nước Đức và châu Âu bị chiếm đóng trong Đệ nhị Thế chiến. Nhưng những vật nổ này cũng gây ra tác động không muốn có tại các đồng minh xa xôi – một làn sóng chống Mỹ lan tràn qua khắp Tây Âu. Thay vào vị trí của Kennedy bị ám sát năm 1963 (người ngay trước khi chết đã cân nhắc chấm dứt tham chiến ở Việt Nam) là những vị thánh khác của thế hệ trẻ – Hồ Chí Minh ở châu Á, Che Guevara ở Nam Mỹ.
  • Trong xung đột nội bộ gay gắt nhất của Mỹ từ cuộc nội chiến, quốc gia này đã chia ra thành hai phái thù địch nhau. Những người thủ cựu quanh Goldwater và Reagan thích nhất là bỏ bom nguyên tử Bắc Việt Nam (“let’s nuke ’em”); những người tự do quanh Robert Kennedy không nhìn thấy một ý nghĩa nào trong việc “tham gia một cuộc nội chiến của người Á châu”, một cuộc chiến mà theo từ ngữ của quốc vụ khanh Hoa Kỳ George Ball “phải được tiến hành trong một lãnh thổ đầy rừng rậm giữa những người dân từ chối không hợp tác với quân đội da trắng”.
  • Là cố vấn của John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson, giới tinh hoa ở bờ biển Đông dưới McGeorge Bundy, Rusk và Walt Rostow đã hao mòn vì cuộc chiến tranh ở nơi xa xôi. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert McNamara, một người sùng đạo Tin Lành, đã suy sụp vì trách nhiệm của mình, rút lui ra khỏi chính trường và cho tới vụ kiện bị xúc phạm của cựu tướng Westmoreland chống lại đài truyền hình CBS thì không hề nói một lời nào về Việt Nam – cả riêng tư lẫn công khai đều không. “Hồ sơ Lầu Năm Góc”, do tờ “New York Times” công bố, ghi nhận “sự ngạo mạn của quyền lực” (thượng nghị sĩ Fulbright).
  • Nền văn hóa chính trị Mỹ trở nên cực đoan: “Yippies” cánh tả [Youth International Party] suýt nữa thì đã làm tan vỡ đại hội của đảng Dân Chủ tại Chicago (1968); Vệ binh Quốc gia bắn vào các sinh viên biểu tình thuộc Kent State University (bốn người chết). Uy quyền của ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ đã giảm sút dưới sự phê phán của giới công khai. “Hey, hey, LBJ, how many kids did you kill today?”, đạo quân biểu tình của những người phải đi lính cất tiếng hát – và vị Tổng thống Johnson mất tinh thần đã từ bỏ không ra ứng cử lần thứ hai.
  • Người kế nhiệm Nixon, với việc ném bom Campuchia đi ngược lại hiến pháp và pháp luật quốc tế, đã mở đường cho tên cộng sản giết người hàng loạt Pol Pot với nhóm du kích quân Khmer Đỏ của hắn. Khủng bố bằng cách bỏ bom chiến lược từ những chiếc máy bay B-52, Nixon hy vọng sẽ thương lượng được những điều kiện rút quân thuận lợi hơn cho quân đội bại trận của Hoa Kỳ. Cố vấn Kissinger đã thuyết phục được Nixon: Nước Mỹ không thể chiến thắng được cuộc chiến. Không thể nghĩ tới việc có thể mang tính quyết định cho cuộc chiến là tiến quân vào Bắc Việt Nam bạn của Moscow.
  • Thất bại thật sự của Mỹ, các tướng lĩnh của ngày xưa khẳng định như vậy vào ngày nay, đã diễn ra trong các phòng khách của nước này. Trong tường thuật live hàng nhiều năm trời, truyền hình Hoa Kỳ đã biến các sự kiện ở Việt Nam thành một phim truyện phản chiến vô tận. Đài truyền hình và những người đọc tin của họ đã vươn lên trở thành các thể chế đạo đức mang tính chi phối: những gì mà họ đưa ra dường như là đáng tin hơn những lời hứa hên hòa bình bất tận của các chính trị gia.
Khi cuộc chiến cuối cùng rồi cũng chấm dứt, toàn bộ đất nước đã biến đổi; những năm 50, tinh thần cục bộ hạnh phúc của những năm dưới thời Eisenhower, tất cả những cái đó đã chìm xuống vĩnh viễn. Trên màn hình, trẻ em châu Á cháy trong ngọn lửa của napalm. Người Mỹ bị lột trần ra là những kẻ giết chết hàng loạt các bà mẹ và trẻ sơ sinh Việt Nam. Những người ở quê hương đã nhìn thấy các hình ảnh nhiều màu sắc của bạo lực từ chính họ, và họ đã buồn nôn.
Từ đó, nước Mỹ cố gắng quên Việt Nam như quên một cơn bệnh lây nhiễm đã qua khỏi.
“Không ai thật sự thích lục lọi trong những hồi ức không hay”, thượng nghị sĩ John Kerry, 41 tuổi, nói vào ngày nay. Ông đã từng tình nguyện phục vụ ở Việt Nam và đã bị thương ba lần. Vì đã tổ chức phản đối chiến tranh cho các cựu chiến binh sau khi ra khỏi quân đội và thêm vào đó là đã xin phép được xuất ngũ trước thời hạn “vì lương tâm”, nên các đối thủ chính trị trong lần tranh cử vào thượng nghị viện đã chế nhạo ông là một “người có cảm tình với cộng sản” và là “một kẻ phản bội”.
Ông John Kerry nói chuyện với những người tham gia và ủng hộ chiến dịch rút quân nhanh chóng khỏi Việt Nam (RAW – Rapid American Withdrawal) tại Valley Forge vào ngày 7 tháng 9 năm 1970. Hình: Reuters
Ông John Kerry nói chuyện với những người tham gia và ủng hộ chiến dịch rút quân nhanh chóng khỏi Việt Nam (RAW – Rapid American Withdrawal) tại Valley Forge vào ngày 7 tháng 9 năm 1970. Hình: Reuters
Nhưng cả những lời nói xấu như vậy rồi cũng tắt dần – chúng thiếu điểm tựa. Giới công khai đã nhanh chóng đẩy “Việt Nam” và tất cả những gì có liên quan tới đó đi mất tích, nhiều năm trời đã không còn muốn biết gì về nó nữa.
“Hầu như là chỉ qua đêm, Việt Nam đã biến mất ra khỏi nhận thức của quốc gia”, nhà xuất bản tân thủ cựu Norman Podhoretz ngạc nhiên. Không một tướng lĩnh, không một đô đốc nào từ chức sau chiến bại đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của Hoa Kỳ. “Mất trí nhớ tập thể”, tờ “New York Times” đã chẩn đoán thời đó. Nhưng sự bất hạnh đó quá lớn để mà có thể được chôn vùi mãi mãi: Việt Nam lại quay trở lại như một cơn ác mộng không để cho người ta xua nó đi. Trước đây [1985] vài tuần, trong một vụ thưa kiện do ông khởi tố chống đài truyền hình CBS, viên tư lệnh Việt Nam Westmoreland đã phải để cho người ta chứng nhận, rằng vì những lý do về chính trị mà đã xử lý một cách cẩu thả việc đánh giá kẻ địch qua thống kê. Trong lúc đó, Westmoreland khẳng định rằng không ai được phép hoài nghi lòng yêu nước của ông – một kẻ thua trận bi đát, người vẫn còn chưa biết tại sao ông không thể chiến thắng được.
“Liệu chúng ta có học hỏi được điều gì theo nghĩ luân lý hay không”, cố vấn cho Kennedy và cũng là sử gia Arthur Schlesinger hoài nghi trước những viên tướng lĩnh như vậy. Có thể là “nước Mỹ giờ đây cũng biết rằng lỗi lầm đó to lớn cho tới chừng nào, muốn đóng vai trò của Chúa Trời trong lịch sử của loài người”.
Thật sự là sẽ không ai thừa nhận lỗi lầm này. Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ Hoa Kỳ, ngoài ra thì bao giờ cũng cảm ơn mỗi một lần xuất hiện ăn ảnh trong các ủy ban điều tra của Quốc Hội, sau 1975 chưa từng bao giờ yêu cầu một tòa án Việt Nam duy nhất, mà lại tuyên truyền cho sự quên lãng.
Phung phí 150 tỉ dollar trong chiến tranh? Không một nghị sĩ nào còn hỏi về việc này. Bốn triệu người Việt chết và bị thương? Hãy quên đi! Một quân đội Mỹ, gồm cho tới 80% là những lãnh chúa cung ứng, vua ở hậu phương và hoàng đế sòng bạc, một quân đội mà trong đó chưa từng bao giờ có nhiều hơn 80.000 người lính đứng thật sự trong các lực lượng chiến đấu? Không đáng giá để nói tới!
Trong từ ngữ của nguyên trưởng phái đoàn đảng Dân Chủ trong Thượng Viện, Mike Mansfield: “Ngẫm nghĩ về những gì có thể hay cần phải trong quá khứ thì không giúp được gì cho ai cả.”
Tổng thống Jimmy Carter của đảng Dân Chủ tuyên bố năm 1977, chỉ vài giờ sau khi vào Tòa Nhà Trắng, rằng đã tới lúc “đi tới kết thúc với cuộc Chiến tranh Việt Nam”. 500.000 “người phản bội” đó, những người trốn ra nước ngoài để tránh không phải đi lính, nhất là sang Canada, nên trở về nhà. Ngay những người đào ngũ cũng có thể hy vọng được khoan hồng. Carter: “Tôi không cảm thấy muốn trừng phạt bất kỳ một ai cả.” Và: “Toàn bộ sự việc bây giờ đã qua rồi.”
Ba năm sau lời kêu gọi ân xá Việt Nam của Carter, Ronald Reagan bắt đầu một giọng nói mới trong một bài diễn văn trước “Veterans of Foreign Wars”: “Chúng ta đã sống quá lâu với hội chứng Việt Nam.” Đã tới lúc xét lại lịch sử, đã tới thời điểm của bước ngoặc bảo thủ: “Lòng yêu nước mới” (Reagan)  hóa ra là lòng yêu nước cũ.
Đối với tổng thống Mỹ, kẻ thù tiếp tục có tên là Việt Nam. Không có quan hệ n
goại giao giữa các đối thủ trong cuộc chiến. Cố vấn của Reagan nhắc tới hơn 2400 người Mỹ mất tích và tù binh mà trong đó có thể là Hà Nội đang giữ lại một số. Họ dẫn ra việc quân đội Việt Nam chiếm đóng Campuchia, họ nhắc tới những trại giam mà đối thủ chính trị của chính quyền Hà Nội bị giam giữ ở trong đó từ một thập niên nay.
Những người ủng hộ cho “thuyết Domino”, chỉ nhìn Nam Việt Nam như một quân cờ mà một khi nó đã ngã xuống thì sẽ giao trọn toàn khu vực về cho cộng sản, có đúng không?
Tháng 4, 1997, Vietnam Veterans Memorial tại Washington, DC. Hình: Joseph Sohm / Visions of America / Corbis.
Tháng 4, 1997, Vietnam Veterans Memorial tại Washington, DC. Hình: Joseph Sohm / Visions of America / Corbis.
Cựu tổng thống Richard Nixon quả quyết trong tác phẩm “No More Vietnams” của ông: “Ngày nay, sau khi chính quyền cộng sản đã giết chết trên nửa triệu người Việt và trên hai triệu người Campuchia, lời phán xét luân lý cuối cùng về những cố gắng của chúng ta để cứu thoát Campuchia và Việt Nam: Chúng ta chưa từng bao giờ chiến đấu cho một sự việc có nhiều đạo lý hơn thế.”
Thật sự rằng việc bỏ bom để “cứu nguy Campuchia” của Mỹ đã nâng những người đó lên, những người cần phải được “cứu thoát”; sự thật cũng là, những con người đen tối như các ông chủ Sài Gòn Tướng Kỳ, Tướng Khánh và cuối cùng là Tướng Thiệu là biểu tượng cho tất cả, chỉ là không cho đạo đức.
Thế nhưng không còn có thể ngăn chận sự thành hình của huyền thoại Việt Nam được nữa: nó là một hình thức đặc biệt của sự quên lãng – được nhặt ra từ ký ức tập thể chỉ là những gì phù hợp vào trong một hình ành của tấn thảm kịch Việt Nam vô tội.
Vết dơ trên bức tranh chiến trận được xóa đi: Thiếu úy William Calley, người đã giết chết ít nhất là 22 người dân thường tại làng Mỹ Lai ở Việt Nam trong tháng Ba 1968 và đã bị xử tù chung thân năm 1971 vì việc này, được tha tội. Người lính này phải chịu ba năm quản thúc tại gia.
Trung tướng W. R. Peers, người được Lầu Năm Góc giao nhiệm vụ làm sáng tỏ bối cảnh của vụ thảm sát, sau này đã bày tỏ sự phẫn nộ của mình trong một bản báo cáo do ông viết về “sự bất lực của hệ thống quân pháp, trừng phạt có hiệu quả những người hoặc là bị cáo buộc đã phạm tội ác chiến tranh hoặc là không báo cáo và điều tra những tội phạm như vậy”. Và: “Chúng ta rõ ràng là không đo chúng ta với cùng một thước đo mà chúng ta đo địch thủ.”
Cũng được tha thứ là hành động của viên sếp cảnh sát Sài Gòn, Nguyễn Ngọc Loan, người trong trận tổng tấn công dịp Tết 1968 đã ấn khẩu súng ngắn vào thái dương của một Việt Cộng bị bắt và bắn chết người này trước ống kính của một nhiếp ảnh gia AP. Người chụp bức ảnh đó được trao giải Pulitzer cho tấm hình đó, người sếp cảnh sát trong giờ phút cuối cùng đã có thể chạy thoát qua Mỹ với vợ con và sở hữu một quán ăn ở Burke, Virginia.
Ngược lại, các cựu chiến binh đã bị bỏ quên, những người rơi vào cảnh nghiện rượu hay ma túy ở Đông Nam Á, phát rồ vì những tưởng nhớ, ác mộng, tội lỗi đè nặng lên họ. “Đa số người dân của chúng ta”, nghị sĩ David Bonior thuộc đảng Dân Chủ quả quyết, “muốn nhất là chôn sâu tấn bi kịch Việt Nam và xóa sạch đi lịch sử”.
Tất nhiên, trong những tuần này Việt Nam lại quay trở lại một cách đầy đau đớn trong nhận thức của đất nước: mười năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, giới truyền thông tưởng nhớ lại cuộc chiến. Trong những ngày này, các báo có nhiều ảnh hưởng như “Washinton Post” hay “Wall Street Journal”, các tạp chí tin tức như “Time” và “Newsweek” đăng những bài tường thuật đặc biệt về Chiến tranh Việt Nam và hậu quả của nó. “The New York Times Magazine” chạy tít “Việt Nam ở Mỹ”. “Nỗi nhục nhã của chiến bại”, theo tờ này, “đã lui bước, cựu chiến binh Việt Nam biến thành anh hùng quốc gia.”
Tháng Tư 1975, người di tản lên tàu Mỹ Hancock
Tháng Tư 1975, người di tản lên tàu Mỹ Hancock
“Nỗi nhục nhã” đó bắt đầu vào cuối tháng Tư 1975 với bài ca Giáng Sinh hết sức không phù hợp “I am dreaming of a White Christmas”, do đài quân đội AFN ở Nam Việt Nam phát – và một xướng ngôn viên tuyển bố: “Nhiệt độ ở Sài Gòn là 40 độ và sẽ còn tăng lên.”
Đó là ám hiệu công khai cho cuộc di tản của Mỹ ra khỏi Sài Gòn – một “cuộc di tản đau thương” theo Kissinger. Các lực lượng chiến đấu cuối cùng của Hoa Kỳ đã rút khỏi hai năm trước đó sau những cuộc thương lượng kéo dài giữa Kissinger và người đàm phán của Hà Nội Lê Đức Thọ.
Đạn pháo, tên lửa của những người cộng sản đang tiến quân năm 1975 đã phá vỡ dần dần các đường băng cất cánh và hạ cánh trên các phi trường của thủ đô Nam Việt Nam và vào lúc cuối cũng trúng tòa nhà của Đại sứ quán Hoa Kỳ. Cuối cùng, những chiếc trực thăng di tản của hạm đội Hoa Kỳ trước bờ biển chỉ còn có thể cất cánh từ nóc nhà của một ngôi nhà ở trong khuôn viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ.
Những người dân Nam Việt Nam tuyệt vọng đã xông qua cổng của tòa đại sứ Mỹ. Máy bay Mỹ đối với họ là phương tiện chạy trốn cuối cùng còn lại. Và cũng như cả cuộc chiến, lần rút lui của người Mỹ cũng diễn ra một cách hỗn loạn, vô phẩm cách, vô nhân đạo: Giống như đang lui quân trong một trận đánh trên mặt đất, những người lính thủy quân lục chiến trong đại sứ quán rút lui từng tầng một. Họ chận thang máy, đẩy tủ và ghế ra trước cửa, để ngăn chận không cho những người bị bỏ lại tràn lên mái nhà, và rồi biến mất trên bầu trời Sài Gòn.
Những hình ảnh bi thảm của cuộc di tản từ trên mái nhà đã “đánh động thật sâu trong tâm hồn” của quốc gia, thượng nghị sĩ Kerry nhớ lại. Nhưng sau đó thì Hoa Kỳ cuối cùng cũng đã có thể ngoảnh mặt với thảm họa xa xôi đó, rõ ràng là đã quá kiệt sức để mà có thể đặt ra câu hỏi lỗi của ai. Mười năm sau đó, nó có thể được đặt ra thêm một lần nữa: Các tấn bi kịch ở quê nhà sắp tới đây sẽ được ghi nhận lại trong một loạt phim truyền hình do đài truyền hình ABC thực hiện.
Tạp chí “Harpers” hiện đang tường thuật về các cựu chiến binh “trip wire”, những cựu quân nhân quẫn trí sống trong các tiểu bang Mỹ khó đi lại Oregon và Washington, ở đâu đó trong những căn nhà hay lều trên núi, được bảo vệ trước những kẻ phá rối bởi “trip wires”, những sợi dây kích hoạt báo động khi người ta vướng vào.
Tờ tuần báo “People” hiện đang đăng tải các bức ảnh đầy tính bi kịch về cuộc Chiến tranh Việt Nam, và yêu cầu người đọc hãy cho biết danh tính và cung cấp thông tin về những người có thể nhận ra được trong hình. Hồi ký về Việt Nam gia tăng.
Trong “Bloods” người da đen mô tả lại các hồi ức chiến tranh của họ, lính bộ binh Richard Ford tường thuật về một lần tham chiến ở Việt Nam: “Tôi lao qua cửa. Tôi đã bắn trúng cô bé. Cô bé nằm trên người đàn ông già, giống như muốn che chở cho ông ta vậy. Ông ấy hẳn độ 80 tuổi. Cô bé bảy tuổi. Cả hai đều đã chết. Tôi đã vô tình giết chết một người đàn ông già và một cô bé gái trong nhà. Một cảm giác kỳ lạ ập đến với tôi.” Sĩ quan thoát được những trải nghiệm của các “grunt” [“lính lác”]. Ngày nay họ có những nỗi lo khác – tại sao họ lại thua trận?
Vietnam War 1973 - Faces of Sorrow - Press Photo - (13/4/1973)
Vietnam War 1973 – Faces of Sorrow – Press Photo – (13/4/1973) Phía sau hàng rào xung quanh trụ sở UB Quốc tế Kiểm soát Ngừng bắn tại SG là khuôn mặt của hai quả phụ có chồng bị tử thương vì hỏa lực quân địch tại Tống Lê Chân. Trại BĐQ của khoảng 400 binh sĩ này đã bị các lực lượng cộng sản bao vây và bắn phá trong 7 tuần lễ. Phía Nam VN đã nhiều lần yêu cầu Ủy ban điều tra vụ việc ở đó, nhưng đã không được đáp ứng. Tống Lê Chân cách Sài Gòn khoảng 50 dặm về phía bắc. (AP)
“Chúng ta đã không chiến thắng”, Đô đốc U. S. G. Sharp trong một lần nhìn lại, “vì chúng ta không được phép tiến hành những cú đánh quyết định với sức mạnh hải quân và không quân to lớn của chúng ta.” Sharp, chỉ huy hải quân ở Thái Bình Dương từ 1964 cho tới 1968, kể cả Việt Nam: “Tôi muốn đánh trúng kẻ thù ở nơi gây đau cho họ: trong trái tim của miền Bắc Việt Nam.”
Ông ấy hẳn là vẫn chưa nhận ra: nước Mỹ không phải thất bại trước một đất nước có dân cư tập trung, công nghiệp hóa cao độ, có thể sẽ cúi mình khuất phục khi bị bỏ bom liên tục, mà là trước một đối thủ một phần chiến đấu trong những bộ pyjama màu đen, được trang bị vũ khí nhẹ và mãi cho tới giai đoạn cuối của cuộc chiến mới đến trong xe tăng. Ưu thế không quân của Mỹ. hàng ngàn chiếc trực thăng – tất cả những điều đó đều vô dụng trước những lực lượng địch quân vô hình trên xe đạp, trong các hệ thống đường hầm và trong rừng rậm. Ngay tới những loại vũ khí kỳ diệu như “máy ngửi hơi người” của Mỹ cũng không thể xác định được vị trí của kẻ địch. “Charlie”, người Việt Cộng trung  bình, khôn ngoan hơn là cỗ máy giết người của Lầu Năm Góc.
Đại tá Harry Summers, người giảng dạy tại “War College” thân cận với Washington, một học viện dành cho cấp chỉ huy của quân đội Mỹ, tin là đã có thể nhớ lại: “Quân đội của chúng ta chưa từng bao giờ bị bại trận trên chiến trường.” Vị sĩ quan này phân tích trong quyển sách “On Strategy” của mình: “Trong tất cả các trận đánh, các đơn vị của Việt Cộng và Bắc Việt đều bị đẩy lùi với tổn thất nặng.” Nhưng cuối cùng thì mặc cho tất cả những điều đó: “Người chiến thắng” là những người bị đánh thua, những người bị đẩy bật lại đã tiến tới. “Nếu như tất cả họ đều biết cách tiến hành cuộc chiến như vậy là sai lầm thì tại sao họ lại không đứng dậy và tuyên bố rằng: tôi không tham gia nữa, không thể thắng cuộc chiến này được?” nghị sĩ Quốc Hội John McCain phê phán các chiến hữu Lầu Năm Góc, những người ngày nay chỉnh sửa các chiến bại của họ ở bàn giấy. Phi công máy bay chiến đấu McCain bị bắn rơi trên Việt Nam và đã bị bắt giam năm năm rưỡi.
Vì vậy mà ông không biết rằng cuộc chiến xa xôi đó cũng đã dẫm lên tâm trạng của những người dân thường ở quê nhà như thế nào – với bạo lực và kinh hoàng của truyền hình trực tiếp từ lò mổ; chỉ là con người chết ở đó, không phải thú vật, đó là những người đồng hương, không phải là người lạ trong các chương trình truyền hình về Việt Nam mỗi tối. Cả đó cũng là một bài học: khi quân đội của Reagan đổ bộ lên hòn đảo Grenada ở vùng Caribbean, phóng viên không được phép đi cùng – một điều mới trong lịch sử quân sự Mỹ.
Phi công hải quân John McCain, phải, với thành viên của phi đội (khoảng 1965). Hình: AP Photo
Phi công hải quân John McCain, phải, với thành viên của phi đội (khoảng 1965). Hình: AP Photo
Ngược lại, từ 1965 cho tới 1975, các công ty truyền hình Hoa Kỳ đã phát tròn 4000 tư liệu về Việt Nam – hình ảnh những người lính Mỹ không toàn thân, những ngôi làng bị bỏ bom, những cánh rừng rụng lá. Việt Nam thống trị trên các tít báo và những trang ảnh: túi nhựa trên các bãi chiến trường để mang xác chết về, quan tài của những người đã ngã xuống trong những chiếc máy bay vận tải, tang lễ trên Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Một từ ngữ Việt Nam rơi vào trong vốn từ vựng thông dụng Mỹ như một quả đạn pháo: “Body Count”, “đếm xác chết”.
Cứ với mỗi một thống kê liệt sĩ mới, sự chống đối ở quê hương lại tăng lên thêm. Năm 1964 còn có 43 phần trăm cho rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam là một hoạt động chinh đáng của nước Mỹ; năm 1975 cuối cùng chỉ còn có 20 phần trăm. Trong số 7,5 triệu người lính Mỹ phục vụ trong quân đội Mỹ trong thập niên Việt Nam, có 550.000 đào ngũ, nhiều hơn toàn bộ lính của quân đội Đức 55.000 người.
Để bảo vệ tổng thống, xe buýt thành phố được tập trung lại quanh Tòa Nhà Trắng thành một thành trì bằng ô tô. Hàng chục ngàng, hàng trăm ngàn người biểu tình phản đối tại các Love-in và Sit-in ở Washington. “Chiến tranh Việt Nam và phản chiến ít nhất thì cũng đã là những chất xúc tác cho các biến động và thay đổi của xã hội trong cuối những năm 60 và đầu những năm 70”, nhà xã hội học John Wheeler phán xét trong quyển sách “Touched With Fire” của ông.
Các quy tắc cũ bị sử dụng hết trong Chiến tranh Việt Nam, và có thể nói là cuộc chiến đã đi vào trong nước – “quen thuộc với bạo lực”, những nhà tâm lý xã hội học đã gọi những gì diễn ra tiếp theo là như vậy: sau vụ ám sát Martin Luther King, người da đen đấu tranh cho quyền công dân, các khu  nhà ổ chuột của Mỹ đã bốc cháy trong năm 1967. Không còn gì như xưa nữa.
Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại New York City ngày 27 tháng Tư 1968. Hình: AP Photo.
Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại New York City ngày 27 tháng Tư 1968. Hình: AP Photo.
Người xuất bản Theodore White cảm nhận sự giảm sút niềm tin vào các chính trị gia và chính phủ của họ như là “hệ quả tồi tệ nhất của xung đột Việt Nam”. Nước Mỹ, thường không mang tính chỉ trích cho tới thời Việt Nam, đã bước tới rìa của một lần suy sụp tâm thần. Thật không có gì để đáng ngạc nhiên – cuộc chiến cũng đến như là một cú sốc về văn hóa:
Gần ba triệu lính Mỹ, trung bình 19,2 tuổi, được cử sang Đông Nam Á, người da đen từ những khu ổ chuột, thanh niên từ những nông trại ở Iowa hay từ những nhà máy ô tô ở Detroit. Với một vài giờ máy bay, từ những quán gà nướng và rạp chiếu bóng drive-in trong môi trường quê hương, họ rơi vào trong một thế giới xa lạ. Rượu và những mũi kim ma túy đã giải phóng họ – tạm thời – khỏi nỗi lo sợ mìn, sợ lính bắn tỉa của Việt Cộng, sợ chuột, những con vật ăn mất khẩu phần trong hầm của họ.
Những người lính Mỹ này, theo cựu phóng viên “New York Times” Seymour Hersh, người đã phát hiện ra vụ thảm sát Mỹ Lai, “cuối cùng cũng là nạn nhân như những người mà họ có nhiệm vụ phải giết chết”. Khi họ trở về nhà từ những trận đánh, họ không nhận được một lời cảm ơn, không có bông giấy bay trên những cuộc diễu hành mừng chiến thắng như sau Đệ nhị Thế chiến. Người dân muốn quên đi cuộc Chiến tranh Việt Nam và trong lúc đó cũng quên đi các cựu chiến binh của họ. So với yêu cầu Mỹ, ở nước ngoài phải là một người anh hùng, thì họ đã thất bại.
 
Vì vậy mà các cựu chiến binh Việt Nam trước hết là tìm đến cộng đồng của những người cùng số phận, không giao thiệp với người khác. Họ đã liên kết lại trong các tổ chức như “Vietnam Veterans of America” hay “Cha mẹ của những đứa bé nhiểm chất độc màu da cam”. Không xa đài kỷ niệm Việt Nam ở Washington, sáu cựu chiến binh đã cắm một chiếc lều màu xanh nhạt từ Giáng Sinh 1982. Họ tự hiểu mình là “đội lính canh danh dự” để nhắc nhở tới hơn 4700 người lính mất tích.
Tên của họ tuy đã được khắc vào tảng đá hoa cương của đài kỷ niệm Việt Nam, nhưng chúng được đánh dấu chữ thập, một chữ thập của hy vọng. “Có thể”, người cựu chiến binh đang đứng canh tin như vậy, người cũng như các chiến hữu của ông tồn tại nhờ vào tiền quyên góp, “là có ai đó còn sống. Vâng, thật ra thì tôi chắc chắn là còn có người sống sót”, ông nói, giống như tự tạo can đảm cho chính mình.
Túp lều được bao quanh bởi nhiều vật kỷ niệm: giày lính cũ, áo chống đạn, mặt nạ phòng hơi độc, nón. Hai cái lồng bằng tre nhắc cho người ta nhớ rằng các phi công bị bắn rơi trên bầu trời Việt Nam đã bị kẻ địch giam giữ như thế nào. Trước quầy của các cựu chiến binh vẫn còn có lá cờ Nam Việt Nam – màu vàng với ba sọc đỏ. “Đó đã là đồng minh của chúng tôi”, người cựu chiến binh trung thành giải thích, “họ vẫn là đồng minh.” Nhưng như thế nào: viên tổng tham mưu trưởng cuối cùng của Việt Nam nhiều năm trời đã là trưởng bồi bàn trong một quán cá Hy Lạp ở Yorktown.
Tổng thống Reagan đặt vòng hoa tại quan tài của người chiến sĩ vô danh.
Tổng thống Reagan đặt vòng hoa tại quan tài của người chiến sĩ vô danh.
Người xét lại Ronald Reagan đã lôi các cựu chiến binh ra khỏi sự cô lập; trong tháng Năm năm ngoái, hài cốt không còn có thể xác định sanh tính được của một tử sĩ Việt Nam đã được chôn cất giữa các ngôi mộ của người lính vô danh từ Đệ nhị Thế chiến và Triều Tiên trong Nghĩa trang Quốc gia Arlington.
Người tổng thống bước lại gần quan tài và tuyên bố với quốc gia, một người anh hùng Mỹ đã trở về nhà: “Anh hiện thân cho trái tim, tâm hồn, tinh thần của Mỹ.”
Nhưng chủ nghĩa anh hùng sáo mòn đó, cái mà người tổng thống muốn phủ lên cho cuộc chiến, sẽ không thể đứng vững đuộc trước tưởng nhớ lịch sử chính xác của những người lính đã sống sót qua Việt Nam, có thể lành lặn về thân xác, nhưng không lành lặn trong tâm hồn. Thượng nghị sĩ Kerry chẳng hạn, người đã từng chỉ huy các tàu tuần tra, nhớ lại lần trở về nước: “Lúc đó, tôi vừa mới ở trong rừng ra được một tuần và ngồi trong máy bay từ San Francisco tới  New York. Tôi thiếp ngủ và la hét bật tỉnh dậy. Có lẽ là một ác mộng. Những người hành khách khác tránh xa tôi ra.” Kerry vẫn còn cay đắng cho tới ngày hôm nay: “Đất nước này không hề quan tâm tới những người thanh niên trở về và cũng không quan tâm tới những gì họ đã trải qua. Thái độ là: tránh xa ra, đừng lây nhiễm Việt Nam cho chúng tôi.”
Thật sự là hàng trăm ngàn người (có những ước đoán y học đưa ra con số cho tới một triệu) đã mang bệnh – lâu dài: các cựu quân nhân mắc chứng “Post-traumatic Stress Disorder” (PTSD), chứng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý.
Các cựu chiến binh bị rồi loạn này có cảm giác sợ hãi và bị trầm cảm. Họ khó tập trung và chậm về tâm thần vận. Họ có cảm giác bị cô lập, vô dụng và vô giá trị, đôi lúc có cảm giác bị đe dọa. Có người không thể ngủ được nếu như không có vũ khí ở cạnh giường hay dưới gối. Thường họ không thể kiểm soát được những cơn giận dữ của họ.
Biểu tình chống chiến tranh ở Frankfurt, Đức, tháng Hai 1967
Biểu tình chống chiến tranh ở Frankfurt, Đức, tháng Hai 1967
Những người lính trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến cũng bị sốc đạn pháo, bị căng thẳng lúc chiến đấu và bị những căn bệnh về thần kinh tâmm lý. Nhưng Việt Nam thì khác. Ở đó, các bệnh stress của những người lính Mỹ không tăng lên với cường độ của các trận đánh (như trong những cuộc chiến trước đây). Có những người lính mà mãi nhiều tháng hay nhiều năm sau khi giải ngũ, hội chứng stress mới bộc lộ ở họ, giống như được khởi động bởi một kíp nổ chậm.
Một giải thích của giới y học: Thời gian phục vụ ở Việt Nam của lính Mỹ được giới hạn mỗi lần mười hai tháng. Sau thời gian huấn luyện cơ bản, họ không – như trong Đệ nhị Thế chiến – ra chiến trường như một đơn vị mà tới một mình, như là một nhóm người được gom lại một cách ngẫu nhiên để bổ sung cho lực lượng này hay lực lượng khác, những người chỉ thật sự quen nhau trong các trận đánh.
Nhiều người lính, trong Đệ nhị Thế chiến có khi cùng nhau phục vụ ngoài chiến trường nhiều năm trời, ngược lại cùng sống với đơn vị của họ hàng tuần hay hàng tháng trên những con tàu chở họ tới vùng hành quân hay trở về nhà. Trong thời gian của những chuyến đi kéo dài đó, theo một nghiên cứu, “những người đàn ông này mang lại cho nhau sự giúp đỡ và che chở cần thiết về tình cảm, để vượt qua được những giai đoạn chấn thương tâm thần mà họ đã cùng nhau trải qua.”
Nhưng các chiến binh Việt Nam trở về New York, Chicago hay Miami từ đồng ruộng trên chiếc máy bay phản lực – một mình với những tưởng nhớ, những cơn ác mộng, những cảm giác tội lỗi, có thể còn nghiện ma túy, nghiện rượu, chắc chắn là thất nghiệp.
“Chính phủ đã huấn luyện một đội ngũ chó dữ thật tốt”, nhà tâm lý học Sheldon Zigelbaum ở Boston phân tích. “Nhưng họ không thể cứ đơn giản là thả chúng ra mà không lập trình lại trước đó.” Họ đã có thể.
Larry Webster, được tặng thưởng vì “dũng cảm trước địch quân” ở Việt Nam, đang chờ lần tử hình của mình trong nhà tù San Quentin. Rượu, ma túy, trộm cắp, không có nơi cư trú nhất định, không có việc làm, cuộc sống của anh đã phát triển như vậy sau khi đi lính ở Việt Nam. Cuối cùng là đâm dao tại một lần nhậu nhẹt. Một người chết, ra tòa vì cướp của giết người, bản án. “Nam đã mang tôi vào đây”, Webster nói, “lỗi tại Nam.”
Cựu phi công máy bay trực thăng Robert Mason, mà tưởng nhớ về Việt Nam “Chickenhawk” của ông đã được nhà xuất bản Viking Press ở New York bán hơn 350.000 ấn bản (“Khi chúng tôi có thời gian và yên tịnh, chúng tôi chuyên chở tử sĩ. Họ có ưu tiên thấp, vì họ không còn phải vội nữa”), đã bị tuyên án năm năm tù vì buôn lậu cần sa.
Một cựu chiến binh tại tượng đài kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam
Một cựu chiến binh tại tượng đài kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam
Hàng ngàn cựu chiến binh phạm pháp như Mason không thể vứt bỏ được ký ức của họ, cũng giống như những người mà bệnh tật của họ không còn có thể chữa lành được nữa: 42.771 cựu chiến binh bị rối loạn thị giác từ khi đi lính ở Việt Nam. 2960 người lính đã mù hoàn toàn. 4662 chiến binh Việt Nam bị què cụt đôi, 20956 mất một tay một chân. 3266 chiến bịnh sống lây lất từ hơn một thập niên nay trong các bệnh viện tâm thần hay bệnh biện thông thường. Họ đã những trường hợp không còn có thể tự lực được nữa, cần phải được chăm sóc 24 giờ liền. Hai chục cựu quân nhân này tồn tại mà không có tay, không có chân, những trường hợp bị cắt cụt tói cực độ.
Hầu như ngày nào báo chí cũng tường thuật về những cuộc thương lượng giữa các cựu chiến binh Việt Nam và luật sư của nhiều tập đoàn hóa học đã sản xuất hóa chất “Agent Orange”, chất mà quân đội Mỹ đã phun trên 48 triệu lít để làm rụng lá rừng Việt Nam.
“Agent Orange” được cho là gây ung thư, hóa chất này phá hủy thần kinh và gan. Không chỉ lính Mỹ hoạt động trong những vùng bị phun thuốc mà cả con cái của họ ngày nay cũng bị ảnh hưởng. Hàng trăm người bị tật nguyền từ lúc mới sinh ra, một thập niên sau lần phục vụ ở Việt Nam của cha họ.
Các tập đoàn hóa học, chối bỏ mọi tội lỗi, đưa ra 190 triệu dollar cho các cựu chiến binh. Thân nhân của 3000 cựu chiến binh đã qua đời và 7000 người với nhnững tổn thương vĩnh viễn, ở mức độ cao nhận được tối đa là 25.000 dollar tiền mặt mỗi người. Số tiền còn lại có lẽ sẽ được đưa vào một quỹ từ thiện dành cho các bệnh nhân của “Agent Orange”.
Một trong số các bệnh nhân: Elmo Zumwalt III. Ông mắc bệnh ung thư bạch huyết tuyến. mặc dầu cả con trai là Russell cũng bị tật nguyền ngay từ lúc mới sinh, cựu chiến binh Zumwalt không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Cha ông, Elmo Zumwalt II “thời đó” là đô đốc. Ông ấy đã ủng hộ việc sử dụng hoát chất này trong vùng mà Zumwalt III đã phục vụ ở Việt Nam.
Người cựu đô đốc tin rằng: “Ngay cả khi có thể chứng minh được một mối liên quan giữa ‘Agent Orange’ và các căn bệnh đó thì tôi phải đi tới kết luận, rằng nhiều người đã thoát được “Agent Orange”, có thể là cả con trai tôi.” Thoát được, nhưng không được dung tha cho.
Nhưng có lẽ cũng cần tới lần chuyển sang tâm trạng anh hùng hóa này, lòng nhiệt tình muộn về Việt Nam của Ronald Reagan, để mà cả mặt tối của những trải nghiệm Việt Nam cũng được đưa ra:
Từ nhiều tuần nay, “Tracers”, đạn lửa, một vở kịch do cựu chiến binh Việt Nam viết, cựu lính Mỹ đóng, trong nhà hát “Susan Stein Shiva” ở New York, đã bán hết vé. Được ghi nhận lại trên sân khấu là sự biến đổi mà những người dân thường bị đẩy vào bộ quân phục đã trải qua ở Việt Nam.
Trong một cảnh diễn, nhiều lính Mỹ muốn thuyết phục một chiến hữu hút một “joint”. Người này chống đỡ: “Tôi chưa từng hút cần sa bao giờ.” Trả lời: “Trước Việt Nam thì mày cũng chưa từng bắn chết ai bao giờ.”
Một cảnh trong kịch "Tracers"
Một cảnh trong kịch “Tracers”
Mãi cho tới những vở kịch như “Tracers”, phim như “Coming Home” mà trong đó sự khốn cùng của các phế binh trở về nhà được ghi lại, hay “Deer Hunter”, mà trong đó một người chết, người thứ hai bị tàn phế trong số ba người bạn được cử đi Việt Nam, thì thảm họa hậu chiến tranh thật mới được mang trở vào nhận thức.
“Dần dần và với khoảng cách đủ xa”, David Fuhrmann, lãnh đạo “khóa học Việt Nam” ở “Johns Hopkins University School of Advanced International Studies” tại Washington, tin như vậy, thì rồi “một đánh giá lịch sử chiến tranh mang ít xúc cảm hơn, khách quan hơn” cũng sẽ có thể.
Trước đây hai năm, chỉ có tròn hai chục trong số hàng ngàn đại học và trường college Mỹ mở khóa học về đề tài Việt Nam. Hiện nay thì là nhiều trăm. Như ở University of California tại Santa Barbara, 900 trong số 15.000 sinh viên trong học kỳ này đang theo học khóa “Việt Nam và tôn giáo Mỹ – ảnh hưởng của đất nước này lên cuộc sống xã hội, văn hóa và tín ngưỡng Mỹ”.
Một vài giáo sư làm việc trong giờ giảng dạy với loạt phim “Vietnam: A Television History” gồm 13 tập do “Public Broadcast” phát sóng năm 1983. Những người khác để cho người Việt tỵ nạn tường thuật về cuộc chiến hay để cho sĩ quan và những người phản chiến tranh luận về thảm kịch Việt Nam.
Thế nhưng phần lớn các học sinh sinh ra đời trong thập niên Chiến tranh Việt Nam lại trả lời những câu hỏi về Chiến tranh Việt Nam một cách hết sức ngây thơ: Mỹ Lai? “Chưa từng nghe.” Trận tấn công Tết [Mậu Thân]? “Chống ai?” Hồ Chí Minh? “Món cơm ăn à?” Hiểu biết của họ bị giới hạn ở những điều hết sức tầm thường: “Ở Việt Nam, chúng ta đã chiến đấu chống lại cộng sản. Người cộng sản là cái xấu. Tức cuộc chiến là đúng lý.”
Với một mức hiểu biết như thế, sử gia Schlesinger lo ngại, “thế giới quan của Ronald Reagan tất nhiên sẽ ập vào nhiều người Mỹ trẻ tuổi”. Trông có vẻ gần như thế rồi: Trong Chiến tranh Việt Nam, hầu như không một sĩ quan tuyển mộ nào của quân đội có thể bước vào – mà không bị nguy hiểm – khuôn viên của một trường đại học trong bộ quân phục. Điều đó đã thay đổi. Trong giới trẻ, quân đội lại được ưa chuộng trở lại.
Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Westminster, California. Hình: Wikipedia
Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Westminster, California. Hình: Wikipedia
Trước đây một thập niên, lính mới của học viện quân đội West Point trong bang New York hầu như không dám đi chơi tới vùng đất đẹp như tranh vẽ của Hudson River. Năm 1968, những người được tuyển mộ không đủ cho tất cả các lớp học nữa. Ngày nay, West Point ghi nhận hàng năm 14000 người xin học. Trong số đó, 1400 người được nhận.
Tuy vậy, một quan điểm West Point thống nhất về lần tham chiến ở Đông Nam Á không tồn tại trong ngôi trường danh tiếng này. Đại úy William Betson, một trong số những người thầy “Việt Nam”: “có 55 sĩ quan dạy về lịch sử ở đây, và người nào cũng có ý kiến riêng của người đó.”
Những người giảng dạy, đa số là đại úy và thiếu tá, đã không phục vụ ở Việt Nam. Chỉ huy của họ, ví dụ như đại tá John Yeagley, người đã ở Việt Nam một năm, tin chắc rằng: “Những người mới được tuyển lựa quan tâm tới Đệ nhị Thế chiến nhiều hơn là tới Việt Nam.”
Trong khi đó thì thế hệ trẻ của quân đội có đủ mọi lý do để rút ra những bài học từ thảm bại Việt Nam. Vì thêm một lần nữa, nhiều trăm cố vấn Mỹ lại đứng trong rừng rậm. Thay vì Việt Nam thì lần này là Trung Mỹ.
Thêm một lần nữa, nhân viên CIA lại tiến lên với dollar và vũ khí, để theo mệnh lệnh của tổng thống mà”giúp đỡ” một dân tộc xa lạ, những người theo quan điểm của tổng thống là “bị áp đặt một chế độ độc tài cộng sản bằng bạo lực, lừa dối và gian lận”.
Thuộc phần của CIA ở Việt Nam là chiến dịch “Phượng Hoàng” một chiến dịch giết người với hơn 10000 nạn nhân. Nhưng có lẽ chính hồi ức về những trang đen tốt nhất này của Chiến tranh Việt Nam đã khiến cho 70 phần trăm người Mỹ từ chối tham gia vào một cố gắng đảo chính ở Nicaragua.
Từ nhiều tuần nay, Quốc Hội đã chống lại việc tiếp tục giúp đỡ tài chính cho “Contras”, những người được chính phủ Reagan giao phó cho nhiệm vụ đại diện cho lính Mỹ chiến đấu chống lại chính quyền Managua. Khoảng 20 trong số 435 nghị sĩ là cựu chiến binh Việt Nam, 3 trong số 100 thượng nghị Sĩ đã chiến đấu ở Đông Nam Á. Thượng nghị sĩ Kerry: “Quốc Hội đã trở nên hết sức nhạy cảm đối với những cuộc phiêu lưu tiếp theo sau đó.”
“Chúng tôi, như là quốc gia, đã học được một điều gì đó ở Việt Nam”, tác giả Seymour Hersh nói: “Chúng tôi không còn nhanh chóng đặt ngón tay vào cò súng nữa. Dường như chúng tôi đã nhận ra rằng không thể chiến thắng được chiến tranh chỉ với xe tăng và pháo binh.”
Cuộc chiến ở Việt Nam đã thất bại ngay từ đầu. Đó là điều mà cho tới ngày nay người ta vẫn còn chưa chấp nhận. Nước Mỹ vẫn còn đi tìm ý nghĩa: Có điều gì đó đã không thành, có điều gì đó không đúng, có điều gì đó còn thiếu cho tới ngày hôm nay, để trả lời mãi mãi cho câu hỏi đó từ ngọn đồi thịt băm: “Việt Nam – có đáng giá như thế không?”
Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 16/1985http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13512807.html

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32