Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
SỰ NGU XUẨN CỦA CUỘC SỐNG 33
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
-Xét
được sống còn trong no đủ là mưu cầu cơ bản và ước nguyện chính đáng
của mọi cuộc đời, thì sẽ phân biệt được chiến tranh phi nghĩa và chiến
tranh chính nghĩa, sự phòng vệ chính đáng cũng như sự bắt buộc hạ sát
lực lượng đối kháng. Và khi phải hành động xả thân vì lẽ phải, con người
trở nên vô cùng cao quí. -Nhưng xét trên bình
diện đánh giá sự sống là thứ quí giá nhất trên đời, thì giết chóc lẫn
nhau, dù là giết chóc bắt buộc, là hành động điên rồ tột bậc của con
người và chiến tranh, dù là chiến tranh chính nghĩa, vẫn là sự ngu xuẩn
vô hạn, dù là sự ngu xuẩn tự giác, nhân danh bảo vệ sự sống! -Đứng lên trên tất cả mà phán xét, thì: trí tuệ siêu việt của con người thậm ngu ngốc! -Chân lý là đây: Chiến tranh là mệnh lệnh tối thượng của tự nhiên mù quáng đối với trí tuệ sáng suốt của loài người: hãy giết chóc lẫn nhau! -Như
vậy, muốn không còn chiến tranh nữa, con người hoặc không còn lòng tham
và tính tư hữu hoặc trở lại suy nghĩ tăm tối như hươu, nai. -Nhưng hết chiến tranh rồi, xã hội loài người có hết bạo tàn?
-----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Japanese KAMIKAZE
Quân Cảm Tử Của Nhật Đánh Bom Liều Chết
Kamikaze at Okinawa: "The Fleet that Came to Stay" pt2-2 1945 US Navy World War II
Quân Anh kinh hoàng trước các phi công cảm tử Thần Phong của Nhật Bản
VOV.VN - Chiến thuật phi
công cảm tử Thần Phong (kamikaze) của người Nhật vào cuối Thế chiến 2 đã
khiến quân đội Anh phải căng óc đối phó.
Tháng Giêng năm 2016 đánh dấu ngày kỷ niệm một sự kiện lớn trong lịch sử hải quân Anh mà ít người biết đến.
Phi công cảm tử Thần Phong của Nhật Bản trong Thế chiến 2. Ảnh: Getty.
Vào
ngày 24 và 29 tháng 1/1945, máy bay Anh đã thực hiện 2 cuộc tấn công
táo bạo giữa ban ngày vào các nhà máy lọc dầu của Nhật Bản ở Palembang,
Sumatra. Với hơn 100 máy bay xuất kích từ hàng không mẫu hạm và 200 phi
hành đoàn, đây là chiến dịch không vận riêng lẻ lớn nhất của hải quân
Hoàng gia Anh trong Thế chiến thứ 2.
Anh tổn thất 41 máy bay Anh trong 378 phi vụ. 30 phi công Anh thiệt mạng, trong số này có 10 phi công bị lính Nhật hành quyết.
Vụ tấn công trực
diện do quân Đồng minh tiến hành nhằm vào một trong các vị trí chiến
lược nhất bên trong lãnh thổ do Nhật Bản kiểm soát khi ấy cho thấy phe
Đồng minh điều chỉnh chiến lược theo hướng đẩy nhanh nhịp độ cuộc chiến
trong bối cảnh cuộc chiến tranh chống phát xít Nhật Bản đang bước sang
một ngã rẽ mới.
Khơi mào đòn cảm tử
Tuy nhiên cuộc
tấn công của Anh đã “chọc vào ổ kiến lửa”. Phía Nhật đã đáp trả, bằng
loạt tấn công cảm tử bằng máy bay nhằm vào chiến hạm Anh lần đầu tiên.
Một sĩ quan Anh
sau đó thừa nhận: “Với tư cách là một vũ khí khủng bố, chiêu kamikaze
này thực sự gây ra những trở ngại nhất định... Cho dù bạn ở đâu, những phi công cảm tử này chỉ chăm chăm lao vào bạn.”
Thủ tướng Anh Winston Churchill đã hối thúc các chỉ huy “đào sâu suy nghĩ để tìm ra giải pháp cho mối nguy hiểm lớn này”.
Những người dám liều mình như thế này là ai và tại sao Nhật Bản dùng đến các biện pháp cực đoan như vậy?
Hồi tháng 10/1944 quân Mỹ bắt đầu cuộc chiến giành giật lại Philippines mà Nhật Bản đã chiếm đóng từ 2 năm trước đó.
Tàu sân bay Formidable của Anh bị Kamikaze (Thần Phong) tấn công.
Nhật
Bản biết lực lượng không quân của mình không phải là đối thủ của không
quân phe Đồng mình. Họ đã nhanh chóng chịu tổn thất về phi công và máy
bay. Trước tình cảnh này, Nhật Bản quyết định gắn những quả bom nặng hơn
2 tạ vào máy bay của họ rồi lao thẳng những chiếc phi cơ này vào mục
tiêu nhằm gây ra thiệt hại lớn hơn so với các cuộc tấn công thông
thường.
Trong một cuộc
tấn công liều chết, cơ may đánh trúng một chiến hạm tăng lên thêm
15-20%. Ban lãnh đạo Nhật Bản tính toán rằng, nếu người Mỹ bị đổ máu đến
một ngưỡng nào đó thì Tổng thống Mỹ Roosevelt sẽ phải chịu nhượng bộ
trước áp lực của công chúng, sẽ không còn bụng dạ nào để mở một cuộc xâm
lược tổng lực nhằm vào Nhật Bản. Khi ấy hai bên có thể đi tới đàm phán
hòa bình.
Khái niệm “Thần
Phong” bắt nguồn từ một trận cuồng phong đã cứu Nhật Bản thoát khỏi họa
xâm lược của hạm đội Mông Cổ vào năm 1281.
Đòn Thần Phong giết 100 quân Mỹ
Lúc 7h25 vào ngày
25/10/1944, Yukio Seki – một học viên tốt nghiệp học viện hải quân
Nhật, đồng thời là con trai của một người buôn đồ cổ, nâng cốc chúc mừng
Nhật hoàng Hirohito, rồi trèo lên máy bay của mình và chuẩn bị “làm nên
lịch sử”. Seki lúc đó 23 tuổi, lớn lên ở vùng nông thôn Nhật Bản.
Anh ta đặc biệt
ham mê vẽ và đã đem lòng yêu rồi kết hôn với người con gái của một gia
đình sống gần trường bay mà anh ta theo học. Nhưng hạnh phúc của đôi
uyên ương chẳng tày gang. Seki sau đó xung phong tham gia cuộc tấn công kamikaze.
Một phi cơ Thần Phong (Kamikaze) bị chắn gần tàu sân bay, vào năm1941. Ảnh: Getty.
Seki
nói với cha mẹ mình: “Con sẽ dùng cả chiếc máy bay con lái để lao trực
diện vào tàu sân bay của địch, nhằm đáp lại lòng tốt của Thiên hoàng”.
Khoảng 3 tiếng
đồng hồ rưỡi sau khi cất cánh từ một sân bay ở Philippines, Seki lao
nguyên chiếc phi cơ Mitsubishi Zero vào boong của tàu chiến Mỹ USS St
Lo. Quả cầu lửa lớn từ vụ va chạm mạnh này xuyên thủng khu vực boong và
nhà chứa máy bay trên hàng không mẫu hạm Mỹ, giết chết hơn 100 quân nhân
Mỹ.
Seki đã “làm nên
lịch sử” và được người Nhật coi là anh hùng. Người Nhật nhanh chóng hình
thành các “đơn vị tấn công đặc biệt” dựa trên một lực lượng tình nguyện
viên đông đảo sẵn sàng hy sinh mạng sống của họ. Nhiều người trong số
họ muốn chết vì một cái gì đó tốt đẹp hơn, nhưng cũng có nhiều người
hành động đơn thuần vì thể diện.
Hàng trăm phi
công non trẻ được nhanh chóng đào tạo cho các phi vụ kamikaze. Đa số
những người này ở độ tuổi 18-24. Người trẻ nhất mới chỉ 17 tuổi. Vào đêm
trước khi thực thi nhiệm vụ, một số phi công nghe nhạc hoặc biên những
lá thư cuối cùng gửi cho gia đình.
Các bức ảnh ghi
lại khuôn mặt đang mỉm cười của họ dù cho họ sắp đối mặt với cái chết
gần như cầm chắc trong tay. Tại sân bay, các nhóm nữ sinh vẫy các bông
hoa anh đào tiễn biệt những chiếc phi cơ cất cánh.
Chiến thuật
kamikaze rất đa dạng. Một số phi công khéo léo ẩn nấp trong mây để tránh
các tiêm kích cơ bảo vệ của phe Đồng minh. Họ cũng sử dụng mồi nhử để
đánh lạc hướng các máy bay tiêm kích đối phương trong khi các máy bay
Nhật khác chia thành các nhóm nhỏ trước khi bổ nhào tấn công tàu địch.
Một khi một chiếc
phi cơ Thần Phong va đập mạnh với boong tàu, các thủy thủ phe Đồng minh
sẽ phải đối mặt với cái chết hoặc thương tích kinh hoàng khi mà hàng
ngàn tấn nhiên liệu ở nhà chứa máy bay trên tàu bắt lửa. Và chẳng bao
lâu sau người Anh được “nếm mùi” đòn hiểm này của người Nhật.
Trận chiến Anh-Nhật
Vào tháng 3/1945, Hạm đội Thái Bình Dương của Anh – hạm đội lớn nhất của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế chiến thứ 2, đi gần 6.500km đường biển về phía bắc từ căn cứ ở Sydney để hội quân với Hạm đội 5 của Mỹ.
Phi công Yukio Seki thuộc hải quân Đế quốc Nhật Bản trong Thế chiến 2. Ảnh: Getty.
Đội
hình này được dẫn đầu bởi 4 tàu sân bay, với hơn 250 máy bay và 10.000
thủy thủ và phi công. Người Mỹ chuẩn bị xâm chiếm đảo Okinawa ở Thái
Bình Dương, từ đó họ có thể đánh chiếm Nhật Bản, chỉ cách hơn 560km về
phía bắc.
Người Nhật nghênh
chiến một cách dữ dội. Các phi công của Hạm đội Thái Bình Dương của Anh
được trao nhiệm vụ săn các phi cơ Thần Phong.
Vào ngày 1/4,
radar của Hạm đội Anh đóng cách 322km về phía đông nam phát hiện một đội
hình khoảng 20 máy bay địch đang lao nhanh tới.
Máy bay của hải
quân Anh được lệnh lao lên đánh chặn. Các máy bay khác từ các tàu sân
bay cũng cất cánh để củng cố thế trận phòng thủ.
Một chiếc phi cơ
Zero Nhật Bản đột phá qua lưới lửa cao xạ của hạm đội. Chiếc Zero này bị
một chiếc phi cơ Seafire của Anh theo sát. Chiếc Seafire này do viên
phi công Dickie Reynolds 22 tuổi quê ở Cambridge (Anh) điều khiển.
Dickie Reynolds có kỹ thuật tốt trong việc bắn hạ máy bay đối phương.
Nhưng trước khi
Reynolds ra đòn hạ gục đối phương, chiếc Zero đã kịp nghiêng cánh và lao
thẳng xuống boong chiếc tàu sân bay Indefatigable, tạo ra một quả cầu
lửa khổng lồ khiến 3 sĩ quan chết ngay tại chỗ.
Bất chấp việc chiếc tàu bị tổn hại nặng, gần một tiếng đồng hồ sau đó, các máy bay vẫn cất và hạ cánh trên chiếc tàu này.
Không như các tàu
sân bay Mỹ có boong bay bằng gỗ, tàu Anh có các boong bay với lớp thép
dày hơn 10cm. Một sĩ quan liên lạc Mỹ đánh giá: “Khi một phi cơ Thần
Phong đánh trúng một tàu sân bay Mỹ, thì kiểu gì tàu này cũng mất 6
tháng sửa chữa ở Trân Châu cảng.”
Vào ngày 4/5, các
phi cơ kamikaze tiếp tục tấn công, đánh trúng tàu sân bay Formidable
của Anh. Một thủy thủ khác, đến từ Portsmouth, từng nếm trải các cuộc
không kích của Đức, nhớ lại: “Đó là lần đầu tiên cả một chiếc máy bay
lao thẳng vào tôi”.
VOV.VN - Sự thật về phi công
Thần Phong (Kamikaze) được hé lộ qua những người sống sót. Tuy là quân
phát xít, họ khác biệt nhiều với những kẻ đánh bom tự sát ngày nay.
Từ 1/4 đến
9/5/1945, tất thảy mọi tàu sân bay Anh đi riêng lẻ ngoài mặt trận đều bị
các máy bay kamikaze của Nhật “thăm hỏi”, khiến Anh hứng chịu tổn thất
là 44 quân nhân bị chết, gần 100 người khác bị thương. Các phi công của
Anh bắn hạ hơn 40 máy bay Nhật – đa số là các máy bay tấn công tự sát.
Mặc dù vậy, Đô
đốc Mỹ Chester Nimitz vẫn ghi nhận vai trò của Hạm đội Anh đã giúp tàu
Mỹ giảm bớt áp lực từ phía kamikaze khi tàu của họ đóng ngoài khơi
Okinawa. Theo ông này, vai trò của Anh vừa là bắn hạ phi cơ Thần Phong,
vừa là hứng chịu các đòn tấn công cảm tử từ các máy bay này./.
Trung Hiếu/VOV. VN Theo Express UK
Những trận đánh một ngày đẫm máu nhất lịch sử quân sự thế giới
VOV.VN - Trong những trận
đánh diễn ra trong 1 ngày này, trận huyết chiến Borodino trên đất Nga
được coi là đẫm máu nhất khi có tới 80.000 lính thương vong.
Dưới
đây là 8 “trận đánh một ngày” đẫm máu nhất trong lịch sử (không liệt kê
những trận đánh đẫm máu hơn nhưng diễn ra trong nhiều ngày):
1. Mỹ
Nội chiến Mỹ bước
vào tháng thứ 18. Hai đội quân miền bắc và miền nam đụng độ ở Maryland
chỉ cách thủ đô Washington 96km về phía tây bắc.
Trận Antietam.
Vào
ngày 13/9/1862, các quân nổi dậy dưới quyền chỉ huy của Robert E. Lee
đã chiếm một bang biên giới trung lập với hy vọng sự hiện diện của một
đội quân lớn của miền nam sẽ ép các cư dân ở đây gia nhập lực lượng nổi
dậy.
Hơn 75.000 quân
của Liên minh miền Bắc Hoa Kỳ dưới quyền chỉ huy của George McClelland
dàn đội hình để đánh chặn quân Liên minh miền Bắc Hoa Kỳ. Đây là một
trận đánh quyết định, diễn ra bên ngoài thị trấn Sharpsburg gần một dòng
suối nhỏ tên là Antietam.
Chiến sự bắt đầu
vào lúc rạng sáng ngày 17/9 và tiếp tục đến chiều muộn. Các lực lượng
đối địch chiến đấu đến khi kiệt sức hoàn toàn. Khoảng 18h thì im tiếng
súng. Khi đó, tổng số thương vong là 20.000 người, trong đó có 4.000
người tắt thở.
Nội chiến Mỹ kéo
dài thêm hai năm rưỡi nữa nhưng cho tới tận hôm nay, trận đánh Antietam
vẫn là trận đánh đẫm máu nhất diễn ra trong một ngày trong toàn bộ lịch
sử Mỹ, thậm chí còn đẫm máu hơn cả trận Trân Châu cảng và vụ tấn công
11/9.
Nhưng đấy là Mỹ. Còn các quốc gia khác không có may mắn ít thương vong hơn.
2. Anh
Nước Anh đã mất gần như từng ấy sinh mạng chỉ trong vài giờ đầu của trận tắm máu kéo dài vài tháng trong trận tấn công Somme.
Trận Somme.
Vào
ngày 1/7/1916 hơn 54.000 lính Anh thuộc Tập đoàn quân số 3 và 4 đã bị
nghiền nát bằng súng máy và trọng pháo khi họ lê bước qua vùng đất trống
tiến về phòng tuyến quân Đức nằm phía đông thị trấn Albert.
Cuộc tấn công này
khiến 20.000 người chết. Nhiều đơn vị gần như bị xóa sổ hoàn toàn. Các
đơn vị như là Trung đoàn Newfoundland Hoàng gia hứng chịu tổn thất quá
90%.
Mặc dù các lực
lượng liên quân Anh-Pháp cố gắng đột phá chiến hào quân Đức ở một số
điểm nhất định dọc theo tuyến mặt trấn 20km, nỗ lực của họ cuối cùng bị
sa lầy và tạo ra thế giằng co trong 141 ngày với hơn 1 triệu thương
vong. Cho đến nay, mức độ đổ máu ở Somme vẫn là biểu tượng hùng hồn về
sức hủy diệt của chiến tranh chiến hào.
VOV.VN - Qua lăng kính của một
“con tốt” - người lính cấp thấp nhất thực thi nhiệm vụ cấp trên, chiến
tranh luôn tàn khốc, căng thẳng và nhiều giằng xé.
Ấy thế nhưng,
ngày 1/7/1916 chưa phải là ngày chết chóc nhất trong lịch sử Anh Quốc.
Một trận huyết chiến khác xảy ra vào thời điểm 453 năm trước Thế chiến
thứ nhất. Trận chiến đó diễn ra trong Cuộc chiến tranh Hoa hồng.
Vào ngày 29/3/1461, 30.000 lính của vua Edward IV giáp mặt 35.000 lính trung thành với dòng họ Lancaster gần thị trấn Towton. Quân hai bên chém giết lẫn nhau trong cả ngày giữa lúc có một trận cuồng phong vây quanh họ.
Các sử gia đương
thời ước tính con số thương vong vào thời điểm ngưng chiến là 27.000
lính Anh bị chém chết – tương đương với 1% dân số toàn nước Anh khi đó.
Trong vài năm gần đây, một số sử gia đã ước tính số thi thể đếm được ở
mức thấp hơn 10.000, nhưng số khác vẫn duy trì con số thương vong ban
đầu.
3. Pháp
Không có gì mập mờ về số lượng binh sĩ Pháp tử trận ở Rossignol
gần Ardennes vào ngày 22/8/1914. Các binh sĩ Pháp đã dốc sức chặn đà
tiến của quân Đức trong trận Biên giới Bắc Pháp. Kết quả là hơn 27.000
lính của Đệ tam Cộng hòa đã chết như ngả rạ dưới tay quân đội của hoàng
đế Đức. Trận này là trận đẫm máu nhất trong một ngày trong lịch sử Pháp.
Trận Rossignol.
Ngày 18/6/1815 là một ngày đen tối khác của Pháp. Khi đó Đại quân của Napoleon đã thảm bại tại Waterloo.
Tới 1/3 số quân của Napoleon (tổng cộng 25.000 người) bị thương vong
trong cuộc đấu kéo dài hơn 10 tiếng đồng hồ. Phía Anh hứng chịu tổn thất
là 15.000 người chết và bị thương, còn Phổ bị thương vong 7.000 người.
Trước khi màn đêm buông xuống, có tới 30.000 lính phơi thây trên chiến
trường.
Trận Waterloo.
Người
ta kể rằng số tử sĩ nhiều đến nỗi mà những kẻ chuyên trục lợi từ xác
chết đã kiếm lời bằng cách bán những chiếc răng lấy từ miệng của các thi
thể nằm rải rác trên chiến trường. Các nha sĩ mua cả ngàn chiến lợi
phẩm như thế này để sử dụng vào việc chế các răng giả trong các năm tới.
Trên thực tế, đối
với một thế hệ sinh sau vụ chém giết này, các bộ răng giả trên khắp Tây
Âu còn được đặt biệt danh “răng Waterloo”.
4. Ba Tư
Nhằm chinh phục
toàn bộ Hy Lạp, hoàng đế Ba Tư Xerxes I lên kế hoạch sử dụng 900 tàu
chiến cỡ lớn để đưa quân của mình đi vòng qua Attica và đổ bộ lên eo đất
Corinth, thọc vào giữa các thành bang Hy Lạp.
Chiến hạm ba tầng chèo dùng thời diễn ra trận hải chiến Salamis.
Hy
vọng về một cơ hội giáng đòn chí tử cho đội quân xâm lược, chính
khách-tướng Themistocles tập hợp một đội tàu nhỏ và đợi đến khi hạm đội
cồng kềnh của Ba Tư đi vào con kênh rộng hơn 3km giữa đảo Salamis
và đất liền. Khi thời cơ tới, vị tướng thành Athens tung ra đòn sát
thủ. Dù có số lượng ít hơn (với tỷ lệ 1 chọi 3), tàu Hy Lạp vẫn hiên
ngang lao thẳng vào đội hình tàu Ba Tư, sử dụng việc đâm va để làm thủng
vỏ tàu đối phương. Các lính bộ binh được trang bị vũ khí đầy mình đã
xông lên các con tàu bị thương, thả sức xọc gươm vào bất cứ kẻ thù mà họ
gặp. Bản thân em trai của hoàng đế Xerxes, Đô đốc Ariabignes là một
trong những quân nhân Ba Tư đầu gục ngã trước gươm đao của quân Hy Lạp.
Cuộc
chém giết tiếp diễn và cơn hoảng loạn ngập tràn hạm đội Ba Tư. Các con
tàu Ba Tư chòng chành tìm cách tẩu thoát khỏi tàu Hy Lạp và va chạm vào
nhau. Một số tàu Ba Tư bị mắc cạn, số khác bị lật khiến hàng ngàn thành
viên thủy thủ đoàn (mỗi tàu có 150 người) bị hất xuống dòng nước dữ.
Theo sử gia thời cổ đại Herodotus, nhiều quân Ba Tư không... biết bơi
trong khi số khác bị trọng lượng của bộ giáp trên người dìm xuống đáy
biển.
Chỉ trong vài
phút, tới 300 tàu Ba Tư bị nước vào và có tới 40.000 quân xâm lược chết
đuối. Từ trên bờ, hoàng đế Ba Tư Xerxes kinh hãi nhìn toàn cảnh cuộc
chiến đang diễn ra với thất bại thuộc về hải quân của ông ta.
5. La Mã
Cộng hòa La Mã
hứng chịu một thất bại thậm chí còn ê chề hơn thất bại của người Ba Tư.
Vào ngày 2/8 năm 216 trước Công nguyên, một đội quân gồm 50.000 chiến
binh do tổng thống lĩnh Hannibal của thành bang Carthage chỉ huy đã bao
vây và “làm thịt” một đội quân gồm 90.000 lính Italy do Gaius Terentius
Varro chỉ huy tại Cannae.
Trận Cannae.
Mặc
dù đông hơn quân xâm lược một chút xíu, các “giáo thủ” La Mã trang bị
giáp dày không phải là đối thủ của lực lượng bộ binh địch cơ động hơn.
Quân của tổng thống lĩnh Hannibal nhanh chóng vu hồi và bao vây quân La
Mã. Trong vòng vài tiếng, lính của Hannibal chém giết tơi tả lính La Mã.
Theo các ước tính
thời đó, hơn 50.000 lính La Mã đã bị tiêu diệt trong cuộc cận chiến này
- tương đương với khoảng 20% dân số nam đủ tuổi phục vụ trong quân đội
La Mã.
Sau vụ chém giết
này, Hannibal đã cho thu thập nhẫn của các tử sĩ đối phương và gửi số
nhẫn này về quê nhà, nơi những chiếc nhẫn được chất đống trên thềm Hội
đồng Carthage.
Thành Rome điên
loạn trước nguy cơ bị người Carthage cướp phá. Nhằm tránh họa thất trận
hoàn toàn, các công dân thành La Mã thậm chí còn dùng đến việc hiến tế
người sống để lấy lòng thần linh.
Viện nguyên lão La Mã vội vã tập hợp một đội quân mới và gửi ra mặt trận để chặn bước tiến của quân thù.
Tổng tư lệnh
Hannibal gửi sứ giả tới đề nghị ký hòa ước. Thế nhưng Cộng hòa La Mã vẫn
thách thức ông ta. Thậm chí thành bang La Mã còn ra lệnh cấm sử dụng từ
“hòa bình” trong một thời gian. Cuộc kháng cự mạnh dần lên và Hannibal
bỏ dở chiến dịch hãm thành và lui đội quân mệt mỏi của mình về Bắc Phi.
6. Nga
Trận chiến đẫm
máu nhất trong 1 ngày của toàn lịch sử nhân loại là trận đánh diễn ra
trên đất Nga ở Borodino vào cuối mùa hè năm 1812. Chỉ 3 tháng sau đó,
Napoleon đã xâm lược đế chế của Sa hoàng Alexander bằng một đội quân
được dự báo là lực lượng lục quân lớn nhất từng tập hợp được tại thời
điểm đó: 680.000 người.
Trận Borodino.
Trong
toàn mùa hè, vị hoàng đế Pháp điều đội quân lê dương của mình vượt qua
các vùng đồng bằng bụi bặm để thẳng tiến đến Moscow.
Sau đó một chuỗi trận đánh cộng với bệnh dịch typhus đã làm giảm phân nửa số binh sĩ Pháp.
Vào tháng 9 năm đó, gần 150.000 lính Nga tập hợp lại để cản bước quân Pháp ở khu vực ngôi làng Borodino cách thủ đô lịch sử của Nga khoảng 120km.
Trận huyết chiến
bắt đầu vào đầu giờ sáng ngày 7/9 và diễn ra quyết liệt trong cả ngày
hôm đó. Đến lúc xế chiều, quân đội Nga đã tan tác – tới 45.000 lính Sa
hoàng bị chết hoặc bị thương. Thương vong của quân Pháp thấp hơn chút
ít, nhưng vẫn là con số khủng: 35.000 người, trong đó có 49 vị tướng.
Tuy đổ nhiều máu,
Napoleon vẫn giành được chiến thắng và tiến nhanh về Moscow. Trong vòng
một tuần lễ, cờ của quân Pháp đã tung bay trên Nhà thờ Lớn Saint Basil.
Nhưng người Nga
đã thực hiện vườn không nhà trống, đốt thành phố này trước khi rút đi.
Hệ quả là, quân Napoleon chỉ kiểm soát một thành phố hoang tàn, trong
khi mùa đông đang tới gần và lực lượng Nga tăng viện đang tập trung ở
phía nam.
VOV.VN - Trận Stalingrad giữa
phát xít Đức và Hồng quân Liên Xô được coi là đẫm máu nhất không chỉ
trong Thế chiến 2 mà còn cả trong lịch sử nhân loại.
Trước
tình cảnh đó, Napoleon vội hạ lệnh cho quân đội viễn chinh từ bỏ chiến
quả và rút về nước. Thế nhưng người Nga đâu có để yên. Các kỵ binh
Cossack của Sa hoàng cộng với thời tiết lạnh dưới 0 độ đã biến cuộc rút
lui trong 2 tháng của quân Pháp thành địa ngục trần gian. Trong tổng số
lực lượng xâm lược ban đầu (gần 700.000), chỉ có chưa tới 100.000 lính
Pháp và quân đồng minh là sống sót ra khỏi nước Nga./.
Trung Hiếu/VOV.VN Dịch từ Military History
Tại sao khủng bố sẵn sàng tự sát?
13:50 28/03/2016
Những vụ đánh bom liều chết liên tiếp thời gian qua cướp sinh mạng của
hàng trăm người. Tại sao những kẻ cực đoan không sợ chết, sẵn sàng giật
bom nổ tung thân thể thành vạn mảnh?
Hồi tháng 10/2015, hai kẻ đánh bom tự sát giết hơn 100 người bên
ngoài một nhà ga tàu hỏa ở Ankara, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ. Tháng 11/2015, một
nhóm cực đoan đánh bom và xả súng ở Paris, thủ đô Pháp, khiến 130 người
thiệt mạng. Ngày 22/3, ba vụ đánh bom liều chết tại Brussels, thủ đô
Bỉ, làm 31 người chết và hơn 300 bị thương.
Tất cả đều là “tác phẩm” của tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS).
Hôm qua (27/3), có tới 69 người thiệt mạng và hơn 300 bị thương, bao
gồm nhiều phụ nữ và trẻ em, trong vụ đánh bom ở Lahore, Pakistan. Lần
này, lực lượng Taliban tại Pakistan là thủ phạm cuộc thảm sát kinh
hoàng.
Tất nhiên không phải bây giờ khủng bố mới liên tục đánh bom liều
chết. Theo các tính toán sơ bộ, từ vụ khủng bố Đại sứ quán Mỹ tại Beirut
(Lebanon) tháng 4/1983 đến nay đã có hơn 4.800 vụ tấn công tự sát trên
khắp thế giới. Và sau mỗi cuộc tắm máu, người ta lại đặt ra hai câu hỏi
lớn.
Mang đậm bản chất chính trị
Thứ nhất, vì sao các tổ chức khủng bố lựa chọn phương án đánh bom
liều chết? Thứ hai, tại sao những kẻ cực đoan được lựa chọn lại sẵn sàng
tự giết mình?
Nhiều người khẳng định những kẻ cực đoan tin rằng sau khi hy sinh vì
“thánh chiến” sẽ được lên thiên đường, nơi có 72 cô trinh nữ chờ sẵn,
cung phụng chúng tới thiên thu. Nhưng thực tế, đó chỉ là quan niệm sai
lầm. Kinh Koran của đạo Hồi không có chỉ dẫn như vậy.
Hiện trường một vụ đánh bom ở Beirut, Lebanon hồi tháng 1/2014. Ảnh: AFP
Với câu hỏi đầu tiên, nghiên cứu của trung tâm Cơ sở dữ liệu khủng bố
tự sát (CTD) thuộc Đại học Flinders (Australia) khẳng định chủ nghĩa
tôn giáo cực đoan, cuồng tín không phải là lý do dẫn tới làn sóng đánh
bom tự sát. Quả thật, các tổ chức khủng bố dùng tôn giáo để chiêu mộ và
kích động thanh niên cực đoan.
Tuy nhiên làn sóng tấn công tự sát xuất phát từ một loạt nguyên nhân,
từ ý đồ chính trị cho đến tâm lý. Đầu tiên, các vụ đánh bom tự sát có
giá trị biểu tượng cao, cho thấy những kẻ thực thi quyết tâm và sẵn sàng
dâng hiến cả tính mạng vì mục tiêu.
Đánh bom liều chết trở thành biểu tượng của đấu tranh (theo quan niệm
của những kẻ cực đoan), giúp các tổ chức khủng bố kích động sự ủng hộ
về cả tinh thần và tài chính, trở thành công cụ để chúng chiêu mộ thêm
cực đoan. Như vậy, đánh bom tự sát là hiện tượng mang đậm bản chất chính
trị.
Đòn phản công
Chuyên gia Robert Pape thuộc Đại học Chicago (Mỹ), người nghiên cứu
các vụ tấn công tự sát từ thập niên 1980, còn nhận định bọn khủng bố tổ
chức các vụ tấn công liều chết để phản ứng lại những cuộc can thiệp quân
sự. IS là thủ phạm các vụ đánh bom tại Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ và Bỉ.
IS mở chiến dịch tấn công tự sát ở nước ngoài do chiến dịch không
kích của liên quân Mỹ, Nga và những đợt phản kích của quân đội Syria đã
dồn chúng vào góc tường. Thống kê của hãng phân tích tình báo IHS Jane’s cho thấy IS đã đánh mất hơn 22% diện tích lãnh thổ chúng kiểm soát ở Syria và Iraq từ đầu năm 2015 đến nay.
Có nghĩa là các vụ tắm máu như ở Paris và Brussels xảy ra là do IS
suy yếu đi. Tương tự, Taliban thỉnh thoảng tổ chức các cuộc đánh bom tự
sát đẫm máu tại Paris, mới đây nhất là ở Lahore, cũng xuất phát từ thế
yếu. Từ tháng 6/2014, quân đội Pakistan mở chiến dịch tấn công trên bộ
và không kích dữ dội các mục tiêu của Taliban tại vùng rừng núi phía tây
bắc, gần biên giới Afghanistan.
Tâm lý báo thù
Về vấn đề tâm lý của những kẻ đánh bom tự sát, sự nhục nhã và khát
vọng báo thù là hai yếu tố mấu chốt. CTD cho biết phần lớn những kẻ đánh
bom tự sát không phải là người điên rồ, cuồng tín như mọi người nghĩ,
mà là những người có tâm lý bình thường, tham gia sâu vào các mạng lưới
xã hội và rất gắn kết với cộng đồng địa phương.
Các khu vực xảy ra đánh bom tự sát trên thế giới từ năm 1983 đến 2015. Ảnh: Đại học Chicago
Nhiều người cho rằng gốc rễ của chủ nghĩa khủng bố “thánh chiến”
không phải là đạo Hồi, mà xuất phát từ “tội ác của phương Tây”, đặc biệt
từ “chủ nghĩa đế quốc Mỹ” sau vụ tấn công 11/9, bao gồm vụ xâm lược
Iraq năm 2003. Sự kiện đó làm bùng lên tâm lý giận dữ, khát khao báo thù
của người Hồi giáo cực đoan.
Và các chuyên gia cũng từng cảnh báo về tình trạng nhiều thanh niên
Hồi giáo sống ở các nước phương Tây bị gạt ra bên lề xã hội, không có cơ
hội sự nghiệp, bị phân biệt đối xử. Làn sóng bài Hồi giáo, chống nhập
cư bùng lên càng khiến tình trạng này trở nên căng thẳng. Đó là lý do
nhiều thanh niên Hồi giáo rời bỏ quê nhà, đến Syria và Iraq để gia nhập
IS.
Tháng 9/2007, lực lượng Mỹ tấn công một trại huấn luyện của phiến
quân nổi dậy Iraq tại thị trấn Singar, gần biên giới Syria. Họ tìm thấy
nhật ký của hàng trăm tay súng nước ngoài. Trong số đó có 137 người
Libya, bao gồm 52 đến từ thị trấn nhỏ Darnah. Trong nhật ký, các tay
súng này thể hiện rõ sự tuyệt vọng, giận dữ, cảm giác bất lực, truyền
thống phản kháng cộng với yếu tố tôn giáo.
Những màn tra tấn của lính Mỹ đối với nghi phạm khủng bố tại nhà tù
Abu Ghraib tại Iraq không chỉ là sự sỉ nhục đối với cá nhân các tù binh,
mà còn bị xem là sự sỉ nhục đối với cả đất nước Iraq. Do đó, sau khi
các bức ảnh chụp cảnh lính Mỹ tra tấn tại Abu Ghraib được công bố, các
vụ đánh bom tự sát tại Iraq bùng lên dữ dội.
Mũi tên nhắm nhiều đích
Giáo sư Riaz Hassan của Đại học Flinders là người viết cuốn Life as a weapon: The global rise of suicide bombings
(Tính mạng là vũ khí: Sự trỗi dậy toàn cầu của đánh bom tự sát). Ông
khẳng định đối với mỗi cá nhân tham gia đánh bom tự sát, mục tiêu không
phải là giết chóc. Những kẻ cực đoan này muốn dùng một mũi tên nhắm vào
nhiều đích.
Đó là tạo hiệu quả chính trị như mong muốn của tổ chức, “giải phóng”
lãnh thổ, lấy lại danh dự, thể hiện sự không khuất phục, thỏa mãn tâm lý
báo thù và rửa nhục… Chính vì tất cả nguyên nhân đó, đánh bom liều chết
trở thành một chiến thuật, một thứ vũ khí cực kỳ hiệu quả của các tổ
chức cực đoan.
Giáo sư Hassan cho rằng chỉ khi hiểu rõ được nguồn gốc của mọi vấn
đề, các nước phương Tây mới có thể đưa ra được những chính sách hiệu quả
để đối phó với chủ nghĩa khủng bố nói chung và các cuộc đánh bom tự sát
nói riêng.
Hiếu Trung
Phút cận kề cái chết của hai phi công cảm tử Nhật Bản
Phục vụ trong phi đội thiện chiến Thần phong của
Nhật Bản, ngỡ rằng sẽ được hy sinh vì tổ quốc, nhưng ông Hisao Horiyama
và ông Takehiko Ena lại may mắn thoát chết khi chuẩn bị đối đầu với
quân Đồng minh trong thế chiến II.
Ông Hisao Horiyama lần đầu tiên được biết cách mình sẽ chết thông qua một tờ giấy trắng năm 21 tuổi.
Đó là vào cuối năm 1944 khi quân Đồng Minh dần chiếm thế thượng phong
trước Nhật Bản. Trong bối cảnh đó, các lãnh đạo quân sự của Tokyo quyết
định thành lập biệt đội Thần phong, gồm những binh sĩ tận trung, sẵn
sàng chết vì chiến thắng của Thiên hoàng. Và ông Horiyama là một trong
số đó.
'Bỏ lỡ cơ hội được chết'
Để các đợt tấn công cảm tử thành công, lực lượng không quân và hải
quân cần một đội phi công trẻ. Nhiều người trong số họ được điều chuyển
từ lực lượng khác và từ các trường đại học tốt nhất của Nhật Bản.
Trước khi được lệnh chuyển sang không quân, ông Horiyama vốn là anh lính
trẻ thuộc một đơn vị pháo binh của quân đội hoàng gia Nhật Bản.
Ông cho biết sau khi hoàn thành khóa đào tạo, những thành viên của biệt
đội Thần phong nhận được một tờ giấy trắng ghi 3 lựa chọn: tha thiết
tình nguyện chết, tình nguyện chết, hoặc rút lui.
Tuy nhiên, khi buộc phải tham gia cuộc chiến giữa Nhật Bản và phe Đồng
minh lúc mới 21 tuổi, ông Horiyama hiểu rằng mình chỉ có lựa chọn duy
nhất. Không chút do dự, ông chấp nhận việc lái chiến đấu cơ lao vào mạn
tàu chiến của Mỹ.
"Khi chúng tôi vừa tốt nghiệp trường đào tạo của quân đội, Thiên hoàng
Hirohito đã cưỡi một con ngựa trắng tới thăm đơn vị của chúng tôi. Khi
đó tôi nghĩ, đây là dấu hiệu cho thấy ngài sẽ đích thân yêu cầu chúng
tôi thực hiện nhiệm vụ", ông kể. "Tôi biết là mình chẳng còn lựa chọn
nào khác ngoài phải chết vì ngài. Thời điểm đó, chúng tôi đều tin rằng,
Thiên hoàng và đất nước Nhật Bản là một và giống nhau".
Với hành động tự sát này, ông, cũng như nhiều người khác, sẽ kết thúc
cuộc đời của mình trong danh dự là một chiến sĩ ưu tú của Thiên hoàng
lúc bấy giờ.
"Chúng tôi không nghĩ nhiều về cái chết. Chúng tôi được huấn luyện
để kiềm chế cảm xúc. Thậm chí nếu buộc phải chết, chúng tôi cũng phải
tự nhủ rằng, mình chết vì lý do chính đáng. Chết chính là bước cuối cùng
để hoàn thành nhiệm vụ và chúng tôi được lệnh không được quay trở về.
Chúng tôi biết rằng nếu sống sót trở về, chỉ huy sẽ rất tức giận", ông
Horiyama cho hay.
Một máy bay thuộc phi đội Thần phong lượn bên tàu chiến Mỹ năm 1944. Ảnh: AP
Như mọi phi công được tuyển chọn để làm nhiệm vụ cảm tử, ông Horiyama được viết một chúc thư và một lá thư gửi cho bố mẹ.
"Tôi là một đứa trẻ ngang ngược và hay bị điểm kém ở trường. Tôi nói với
bố tôi rằng tôi xin lỗi vì từng là một đứa học sinh kém, xin lỗi vì đã
phá hỏng 3 chiến đấu cơ trong quá trình huấn luyện. Và tôi cũng rất tiếc
khi cuộc chiến này dường như đang chống lại Nhật Bản. Tôi muốn chứng
minh bản thân với ông ấy và đó là lý do tại sao tôi tình nguyện tham gia
đơn vị chiến đấu đặc biệt này", ông kể.
"Nhưng mẹ tôi đã rất buồn. Ngay trước khi qua đời, bà nói với tôi rằng
bà sẽ không bao giờ tha thứ cho bố tôi nếu tôi tử trận trong đợt tấn
công nào đó. Vì vậy, tôi rất cảm kích Thiên hoàng khi ông quyết định đầu
hàng".
Nhật Bản vẫn kêu gọi các phi công tham gia nhiệm vụ cảm tử cho đến tận
ngày 15/8/1945, ngày hoàng đế Hirohito tuyên bố với một dân tộc đang tan
nát cõi lòng vì các vụ tấn công nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, rằng
Nhật Bản đầu hàng.
"Tôi không thể nghe rõ thông báo đó trên đài NHK do tạp âm. Một người
bật khóc lớn. Và đó là lúc tôi biết, chúng tôi đã thua", ông Horiyama
nói.
70 năm trôi qua, ông Horiyama, 92 tuổi, hiện sống với vợ ở Tokyo.
Trong phòng khách, ông đặt mô hình của một chiếc chiến đấu cơ bên cạnh
kệ sách. Một góc nhà khác lại xếp đầy hộp các-tông với những tấm ảnh đen
trắng chụp các phi công của biệt đội Thần phong, những mẩu tin về các
cựu chiến binh được cắt ra từ báo hay tạp chí.
"Tôi thấy rất tồi tệ vì không thể hy sinh thân mình cho đất nước. Những
đồng đội đã hy sinh của tôi sẽ được tưởng nhớ trong vinh quang, còn tôi
đã bỏ lỡ cơ hội để chết theo cách ấy. Tôi có cảm giác như mình đã khiến
tất cả mọi người thất vọng".
Thoát chết vào phút chót
Tính đến tháng 1/1945, đã có hơn 500 chiếc chiến đấu cơ Thần phong tham
gia nhiệm vụ cảm tử. Con số này ngày càng tăng do nỗi lo sợ rằng Mỹ sẽ
chiếm đóng các đảo lớn của Nhật.
Khi chiến tranh kết thúc, hơn 3.800 phi công đã hy sinh. Mặc dù vẫn có
những bất đồng về tính hiệu quả của biệt đội Phong thần, những đợt tấn
công tự sát như vậy đã giúp Nhật đánh chìm hoặc gây thương vong lớn cho
tàu chiến của Mỹ và phe Đồng minh.
Tuy nhiên, không phải phi công nào trong biệt đội Thần phong cũng
nhiệt thành trong lý tưởng hy sinh vì Tổ quốc như ông. Khi biết mình
được chọn để cho nhiệm vụ cảm tử này, Takehiko Ena đã vô cùng bối rối.
Cựu phi công Takehiko Ena. Ảnh: Guardian
"Tôi có cảm giác máu đang chảy trên mặt mình. Tôi và những phi công khác
đã chúc mừng nhau ngay khi lệnh ban xuống. Nghe có vẻ kỳ lạ nhưng đó
chẳng phải là tin tức đáng để chúc mừng", ông kể.
Ông Ena, 92 tuổi, được đưa vào hải quân khi vẫn còn là cậu sinh viên 20
tuổi học ngành kinh tế tại đại học danh tiếng Waseda ở Tokyo. Ông Ena
được cử tới tham gia đội phi công ở Kyushu, hòn đảo lớn ở cực nam của
Nhật Bản, hồi tháng 4/1945. Đây là thời điểm biệt đội Thần phong hoạt
động mạnh nhất.
Ông được tham gia lái thử nghiệm một chiến đấu cơ gắn một quả bom nặng
800 kg ở khung gầm. Và chiếc máy bay này chỉ có đủ nguyên liệu để bay
một chiều.
Đây là một phần trong chiến dịch Kikusui (tạm dịch là hoa cúc), một
chiến dịch đánh bom cảm tử tham vọng của Nhật Bản nhằm chống lại tàu
chiến của phe Đồng minh trong trận chiến ở Okinawa. Vào thời điểm đó,
Okinawa là một trong những chiến trường đẫm máu nhất ở Thái Bình Dương.
Vào giai đoạn cuối của Thế chiến thứ II, Nhật Bản phần lớn sử dụng những
chiếc máy bay cũ được tu sửa để thực hiện nhiệm vụ cảm tử. Rất nhiều
chiếc máy bay không thể khởi động hoặc gặp sự cố về động cơ trên đường
tiến tới mục tiêu. Phần lớn trong số đó đều bị tàu của phe Đồng minh bắn
hạ trước khi tiếp cận.
Đây là nỗi tuyệt vọng đối với các lãnh đạo quân sự Nhật Bản nhưng lại là sự cứu rỗi dành cho ông Ena.
Ngày 28/4/1945, ông Ena lái máy bay trên đường băng ở sân bay Kushira,
tỉnh Kagoshima, để đi thực hiện nhiệm vụ, nhưng chiếc máy bay không thể
cất cánh. Nhiệm vụ thứ hai của ông cũng kết thúc trong thất bại khi ông
phải hạ cánh khẩn cấp xuống một căn cứ quân đội do trục trặc về động cơ.
Hai tuần sau đó vào ngày 11/5, ông tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thứ ba
cùng với một phi công 20 tuổi và nhân viên truyền tín hiệu 18 tuổi.
"Về bề ngoài, chúng tôi đang phục vụ cho đất nước của mình. Chúng tôi tự
nhủ rằng, chúng tôi đã được chọn để hy sinh. Còn tôi chỉ muốn bảo vệ bố
mẹ tôi thôi. Lúc đó, chúng tôi đều sợ hãi", ông nói.
Và rồi, động cơ máy bay của ông Ena lại gặp trục trặc, buộc ông phải hạ
cánh xuống biển. Ba thanh niên sống sót và bơi vào hòn đảo Kuroshima gần
đó. Họ sống ở đó trong hai tháng rưỡi trước khi được một tàu ngầm của
Nhật Bản đón đi.
Ông Ena khi còn là thành viên của Thần phong. Ảnh: Guardian
Ngay sau đó, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng. Chiến tranh kết thúc và nhường
chỗ cho định hướng lạc quan về tương lai, dù Nhật Bản phải đối mặt với
gánh nặng tái thiết những thành phố bị tàn phá nặng nề và bồi thường
chiến phí.
"Chúng tôi cảm thấy buồn cho những người bạn đã hy sinh trong cuộc chiến
nhưng chúng tôi cũng cố gắng hình dung xem mình sẽ tái thiết Nhật Bản
như thế nào", ông nói.
Khi được hỏi về nỗ lực của Thủ tướng Shinzo Abe nhằm cho phép quân đội
Nhật Bản chiến đấu cùng các đồng minh ở hải ngoại lần đầu tiên kể từ sau
Thế chiến II, ông Ena tỏ ra giận dữ.
"70 năm qua chúng tôi được bảo vệ bởi một Hiến pháp luôn hướng tới hòa
bình. Tôi rất biết ơn vì chúng ta đã không tiếp tục chiến tranh vào năm
1945. Người Nhật Bản nên hạnh phúc vì điều đó", ông Ena nói.
Kim Dung (theo Guardian)
5 trận không chiến kinh hoàng nhất trong lịch sử quân sự
Thứ Tư, 07/01/2015 15:35
Chớp nhoáng, kinh hoàng và đẫm máu là những gì xuất hiện trong một cuộc không chiến.
Chớp nhoáng, kinh hoàng
và đẫm máu là những gì xuất hiện trong một cuộc không chiến. Trong khi
các hình thức tác chiến trên mặt đất và trên biển đã diễn ra hàng thiên
niên kỷ, thì các cuộc không chiến chỉ mới xuất hiện cách đây khoảng một
thế kỷ.
Năm 1903, anh em nhà Wright thực hiện chuyến bay
lịch sử của họ, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử hàng không thế giới; năm
1911, người Italy tiến hành các cuộc ném bom một bộ lạc ở Libya; năm
1914, các trận không chiến đầu tiên nổ ra; và năm 1918, những máy bay
ném bom của Đức và Anh đã tấn công các thành phố của nhau. Đến cuối cuộc
Chiến tranh thế giới thứ nhất, chỉ tính riêng Không quân Hoàng gia Anh
đã có khoảng 22.000 máy bay.
Không chiến đã trở thành một hình thức tác chiến thiết yếu của chiến tranh.
Người
ta cũng nói về sự phát triển của nghệ thuật không chiến được thể hiện
trong “Tháng 4 đẫm máu” năm 1917, khi các phi công lái máy bay chiến đấu
kỳ cựu của Đức như Manfred Albrecht Freiherr von Richthofen - phi công
át chủ bài của Không quân Đức quốc xã, biệt danh "Nam tước Đỏ", nổi
tiếng với chiến tích bắn hạ 80 máy bay đối phương - xé toạc đội hình máy
bay chiến đấu của Anh, khiến người Anh mất 275 máy bay. Một phần tư thế
kỷ sau, tháng 7 và tháng 8/1943, Không quân Đức mất tổng cộng 3.200 máy
bay trong các cuộc giao chiến. Kể từ đó, không chiến đã trở thành một
hình thức tác chiến thiết yếu của chiến tranh. Dưới đây là những cuộc
không chiến lớn và kinh hoàng nhất trong lịch sử:
Trận chiến nước Anh
Trận
không chiến nổi tiếng nhất có lẽ là Cuộc chiến của nước Anh (Battle of
Britain). Một phần là vì nó đã trở thành huyền thoại của người Anh và
một phần bởi đó là cuộc không chiến dai dẳng giữa Đức Quốc xã và Anh vào
mùa hè-thu năm 1940 trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau khi xâm
chiếm Pháp thành công, Hitler và Bộ Tư lệnh Tối cao Đức đã mở một chiến
dịch đường không tấn công Anh, nhằm mục tiêu giành lấy ưu thế trên không
trước Không quân Hoàng gia Anh, nhất là đối với lực lượng tiêm kích,
mục đích là làm suy yếu sức kháng cự của Anh, mở đường cho cuộc đổ bộ
của hải quân và lính dù Đức trong Chiến dịch Sư tử biển tiếp theo sau
đó; buộc Anh phải đầu hàng hoặc ít nhất xin hòa và rút khỏi chiến trường
châu Âu. Nhất là từ sau những thắng lợi ban đầu của lực lượng Không
quân Đức, người Đức đã tin rằng lợi thế sẽ nghiêng về họ.
Trận
chiến nước Anh là chiến dịch quân sự lớn đầu tiên được thực hiện hoàn
toàn bằng lực lượng không quân. Trước đó, chưa bao giờ có cuộc oanh tạc
và đụng độ trên không kéo dài và kinh khủng như thế. Từ tháng 7/1940,
những đoàn tàu vận tải duyên hải và trung tâm hàng hải, như Portsmouth
là những mục tiêu chính của Không quân Đức; nhưng một tháng sau đó Không
quân Đức đã chuyển hướng tấn công vào các sân bay và cơ sở hạ tầng của
không quân Anh. Đến khi cuộc giằng co kéo dài, Không quân Đức tấn công
cả vào những nhà máy sản xuất máy bay và cơ sở hạ tầng trên mặt đất.
Cuối cùng họ quay sang các khu vực có ý nghĩa chính trị để tiến hành
chiến thuật ném bom khủng bố, mở cuộc oanh tạc rầm rộ vào thủ đô và các
thành phố lớn của đối phương.
Máy Anh và Đức trong một cuộc không chiến trong bộ phim "The Battle of Britain" (1969).
Không
quân Đức sau cùng phải chịu bó tay và bỏ cuộc trước sức mạnh chiến đấu
của không quân Anh và sức chịu đựng dũng cảm của nhân dân Anh. Đức đã
không thể hoàn thành được mục tiêu của mình. Đây là thất bại đầu tiên
của quân đội Đức và là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Chiến
tranh Thế giới thứ 2. Người Anh coi đây là một chiến thắng mang tính
quyết định. Mặt khác, chiến thắng này còn dẫn đến sự tiếp tục tham chiến
của nước Anh trong Trận chiến Đại Tây Dương và vai trò quan trọng của
Anh trong Trận Normandie (cuộc đổ bộ của quân đội khối Đồng minh vào các
bãi biển vùng Normandie, hay còn gọi là Trận chiến vì nước Pháp) năm
1944. Chiến thắng này của Anh cũng được xem là một trận phòng không mẫu
mực trong thế kỷ 20.
Cuộc giao tranh kéo dài gần 3 tháng trên đã
khiến gần 2.000 máy bay của Không quân Đức cùng những phi công được huấn
luyện tốt của họ bị thiệt hại, cũng như chấm dứt hy vọng của Hitler
nhằm kết thúc cuộc chiến với phương Tây để tập trung tất cả các lực
lượng chinh phục Liên Xô.
Trận “Big Week” (Tạm dịch: Tuần hủy diệt)
Mỹ
đã phải rút ra được bài đắt giá từ những gì mà không quân Đức trải qua
trong Trận chiến nước Anh. Mặc dù trước chiến tranh, các nhà học thuyết
quân sự khẳng định rằng máy bay ném bom có thể xuyên thủng bất cứ hệ
thống phòng thủ nào và buộc đối phương phải lộ diện, điều này là không
đúng.
Mỹ đã đặt hy vọng của mình vào một cuộc tấn công vào ban
ngày bằng những phi đội máy bay ném bom B-17 Flying Fortress được trang
bị vũ khí hạng nặng, nhằm vào các cơ sở công nghiệp của Đức với chiến
thuật ném bom chính xác ở tầm cao. Tuy nhiên, vào mùa hè năm 1943, các
“pháo đài bay” trên bị tổn thất lớn trước các máy bay chiến đấu của Đức,
trong đó bao gồm các cuộc tấn công thảm khốc ở Schweinfurt và
Regensburg, khi 60 trong tổng số 367 chiếc B-17 bị bắn rơi.
Những chiếc B-17 trên bầu trời Schweinfurt (Đức).
Trong
khi đó, Trận Normandy chỉ cách vài tháng nữa là diễn ra. Vì vậy, các
nhà lập kế hoạch Mỹ đã đưa ra một ý tưởng táo bạo: thực hiện cuộc tấn
công trên không quy mô lớn nhằm vào các nhà máy chế tạo máy bay của Đức.
Các máy bay chiến đấu của Đức tự nhiên sẽ gặp khó khăn khi thực hiện
nhiệm vụ chính xác là những gì người Mỹ muốn. Lần này, các máy bay ném
bom B-17 và B-24 sẽ được hộ tống bởi các máy bay chiến đấu P-51 Mustang
tầm xa cùng với các máy bay Thunderbolt P-47 tầm ngắn hơn.
Trong
trận "Big Week" diễn ra từ ngày 22-26/2/1944, các cuộc không chiến quy
mô lớn đã nổ ra trên toàn nước Đức. Tổn thất của Mỹ là rất lớn với gần
250 máy bay ném bom và 30 máy bay chiến đấu. Nhưng Đức Quốc xã còn mất
tới hơn 350 máy bay chiến đấu. Người Đức có thể thay thế được các máy
bay mới, nhưng không thể thay thế được các phi công. Đức và Nhật Bản đã
không chú ý đến việc đào tạo đủ số lượng các phi công để thay thế và
những phi công tân binh được cho là có kỹ năng hạn chế hơn so với những
phi công được huấn luyện tốt hơn phía quân Đồng minh.
Quan trọng
nhất, những máy bay chiến đấu của Mỹ vượt trội hơn so với của phía Đức
đã tạo ra một tình thế khó xử mà Đức quốc xã không thể giải quyết được.
Để bắn rơi máy bay ném bom hạng nặng thì máy bay chiến đấu phải được
trang bị vũ khí và giáp hạng nặng. Nhưng việc các máy bay chiến đấu của
Đức bổ sung thêm pháo, tên lửa không-đối-không và tấm áo giáp sẽ ảnh
hưởng đến tải trọng của máy bay và khiến cho phi công điều khiển gặp
nhiều khó khăn, và do đó khả năng linh hoạt sẽ kém hơn những chiếc máy
bay Mustang và Thunderbolt.
Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về việc
liệu hành động ném bom chiến lược trên của quân đồng mình là một chiến
lược để giành chiến thắng trong chiến tranh, hay là một sự lãng phí tài
nguyên, hoặc thậm chí là một tội phạm chiến tranh. Nhưng trận “Big Week”
không chỉ đơn giản là việc dội bom các nhà máy. Nó cho thấy làm thế nào
một lực lượng không quân của đối phương có thể bị đẩy vào thế không thể
thắng.
Nước Mỹ thua cuộc đã nhắm mắt
trước những kinh hoàng của cuộc chiến trong rừng rậm Việt Nam mười năm
liền. 1,5 triệu người Việt, trên 55.000 người Mỹ đã chết. Ronald Reagan
muốn tuyên bố thảm họa Việt Nam thành một chiến thắng về luân lý. Giới
truyền thông Mỹ trình bày thêm một lần nữa những cảnh khủng khiếp của
cuộc chiến.
Qua cái nhìn đầu tiên, ba bức tượng đồng
màu xanh ôliu trông giống như quảng cáo tuyển quân của U.S. Army: những
người đàn ông mang dáng vẻ chiến đấu trên một tượng đài tưởng niệm ngay
giữa Washington. Nhưng rồi điệu bộ của họ có một tiếng nói rõ ràng –
những người lính trên tượng đài thật sự là đã kiệt quệ. Họ không toát ra
một niềm tin chiến thắng – ngược lại: tư thế của họ mang một vẻ mất mát
nào đó.
Mặc dù vậy, những người Mỹ yêu nước vẫn
có thể sống với tượng đài kỷ niệm truyền thống này, những người mà hồi
ức của họ về cuộc Chiến tranh Việt Nam, “ý định cao quý đó” (Reagan),
được lát đá hoa cương như một đền thờ danh nhân: chiến bại của nước Mỹ
không còn có ở trong đầu của họ nữa; lần cất cánh đầy nhục nhã của chiếc
trực thăng Mỹ cuối cùng trong đêm 29 rạng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975
từ mái của một căn nhà ở Sài Gòn. Một cơn ác mộng – đã qua rồi.
Giờ đây, một tưởng nhớ chính xác hơn về
khoảng thời gian này được gìn giữ cách đội ngũ tưởng niệm bằng đồng đó
chỉ vài mét – trên một bức tường bằng đá hoa cương màu đen dài 150 bộ.
Đó là bức tường truy điệu của Mỹ, “The Wall”.
58.022 tên họ được khắc vào đá hoa cương –
những người Mỹ đã hy sinh và mất tích của cuộc chiến ở Đông Nam Á. Thêm
vào đó là hai thời điểm: bắt đầu chiến tranh 1959, chấm dứt chiến tranh
1975. Một bức tường tương ứng như vậy cho 1,5 triệu người Việt nạn nhân
của cuộc chiến sẽ dài nhiều kilômét.
Có những người tình nguyện đứng trước bức
tường đơn giản đó với những quyển sách tra cứu dầy cộm. Khi hỏi, họ sẽ
thông báo cho biết ngày tháng hy sinh, ngày tháng năm sinh, tiểu bang
quê hương. Tròn 22.000 người đã hy sinh khi còn chưa tới 21 tuổi – Việt
Nam là một cuộc chiến của lứa tuổi teen Mỹ, thường là con cái của gia
đình công nhân chống lại những du kích quân giàu kinh nghiệm. Sinh viên
được miễn quân dịch, nhiều người con của giới trung lưu đã trốn tránh.
Cha mẹ của người chết đến cạnh bức tường
này, sờ vào những cái tên, hôn lên mặt đá. Có nhiều người khóc òa, không
kiềm chế, ngay giữa đám đông – vào những ngày lễ có tới 12.000 người.
Năm 1982, Reagan đã bỏ lỡ buổi lễ khai
mạc đài kỷ niệm này – tượng đài, được một phụ nữ trẻ tuổi người Mỹ gốc
Hoa phác thảo, không tương ứng với hình ảnh anh hùng sai lệch của ông về
tấn bi kịch đó, tấn bi kịch mà nước Mỹ đã “đánh mất sự trong trắng
ngoại giao của nó ở trong đó”, theo Henry Kissinger ngày nay [1985],
Hoa Kỳ, đất nước mà năm 1917 và 1941 sau
một thời gian dài do dự đã bước vào các cuộc thế chiến để giải phóng
châu Âu ra khỏi những mối phiền toái của sự điên rồ trong ngoại giao và
những tội phạm của phát xít – họ bước vào cuộc Chiến tranh Việt Nam với
sự chắc chắn sai lầm của những người mộng du. Năm 1954, khi nước Pháp
đánh mất thuộc địa Đông Dương của nó trong trận Điện Biên Phủ về tay các
du kích quân Việt Minh dưới quyền của Hồ Chí Minh, Washington đã chi
trả 80 phần trăm chi phí chiến tranh. Kết quả của Hội nghị Đông Dương ở
Geneve – một Việt Nam độc lập – không bao giờ được Hoa Kỳ công nhận; ở
phía Nam của vĩ tuyến 17, một chính phủ tham nhũng, tư sản, hình thành
với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.
Từ Diệm cho tới Thiệu: các nhà cầm quyền
độc tài của Sài Gòn dựa vào các “cố vấn” Mỹ – lúc đầu là 500 (1958), rồi
cuối cùng là 538.000 (1969) – tất cả họ đều dính líu vào trong một cuộc
chiến chống Việt Cộng và người Bắc Việt, những người thành thạo các
chiến thuật khác với các chiến thuật được giảng dạy cho các sĩ quan Mỹ
trong các học viện quân sự của họ.
Lính thủy quân lục chiến Mỹ, những người
năm 1965 đánh chiếm một ngọn đồi mang tên “Thịt Băm” ở gần Khe Sanh, đã
để lại một tấm bảng nhỏ sau khi rút quân: “Việt Nam – có đáng giá như
thế không?”
Đồi Thịt Băm, một ngày sau trận chiến
Câu hỏi này vẫn còn được đặt ra:
Trong cuộc chiến dài nhất của lịch sử họ, Hoa Kỳ đã tự loại bỏ yêu
cầu mà họ đã tự đặt ra cho họ, dẫn đầu về đạo đức và chống đế quốc, và
đã triển khai sức mạnh vật chất của họ một cách không kiềm chế. Việc dội
bom thường dân Hà Nội được xem là “cố gắng chuyển hóa niềm tin một cách
chiến lược”, việc sử dụng những loại vũ khí kinh dị mới như “Agent
Orange”, một chất làm rụng lá có chứa dioxine, dường như là có thể chấp
nhận được. Trên bảy triệu tấn bom và đạn pháo Mỹ đã rơi xuống đất nước
này, hơn ba lần rưỡi con số mà Đồng Minh đã ném xuống nước Đức và châu
Âu bị chiếm đóng trong Đệ nhị Thế chiến. Nhưng những vật nổ này cũng gây
ra tác động không muốn có tại các đồng minh xa xôi – một làn sóng chống
Mỹ lan tràn qua khắp Tây Âu. Thay vào vị trí của Kennedy bị ám sát năm
1963 (người ngay trước khi chết đã cân nhắc chấm dứt tham chiến ở Việt
Nam) là những vị thánh khác của thế hệ trẻ – Hồ Chí Minh ở châu Á, Che
Guevara ở Nam Mỹ.
Trong xung đột nội bộ gay gắt nhất của Mỹ từ cuộc nội chiến, quốc
gia này đã chia ra thành hai phái thù địch nhau. Những người thủ cựu
quanh Goldwater và Reagan thích nhất là bỏ bom nguyên tử Bắc Việt Nam
(“let’s nuke ’em”); những người tự do quanh Robert Kennedy không nhìn
thấy một ý nghĩa nào trong việc “tham gia một cuộc nội chiến của người Á
châu”, một cuộc chiến mà theo từ ngữ của quốc vụ khanh Hoa Kỳ George
Ball “phải được tiến hành trong một lãnh thổ đầy rừng rậm giữa những
người dân từ chối không hợp tác với quân đội da trắng”.
Là cố vấn của John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson, giới tinh hoa ở
bờ biển Đông dưới McGeorge Bundy, Rusk và Walt Rostow đã hao mòn vì cuộc
chiến tranh ở nơi xa xôi. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert McNamara, một
người sùng đạo Tin Lành, đã suy sụp vì trách nhiệm của mình, rút lui ra
khỏi chính trường và cho tới vụ kiện bị xúc phạm của cựu tướng
Westmoreland chống lại đài truyền hình CBS thì không hề nói một lời nào
về Việt Nam – cả riêng tư lẫn công khai đều không. “Hồ sơ Lầu Năm Góc”,
do tờ “New York Times” công bố, ghi nhận “sự ngạo mạn của quyền lực”
(thượng nghị sĩ Fulbright).
Nền văn hóa chính trị Mỹ trở nên cực đoan: “Yippies” cánh tả [Youth
International Party] suýt nữa thì đã làm tan vỡ đại hội của đảng Dân Chủ
tại Chicago (1968); Vệ binh Quốc gia bắn vào các sinh viên biểu tình
thuộc Kent State University (bốn người chết). Uy quyền của ứng cử viên
tổng thống Hoa Kỳ đã giảm sút dưới sự phê phán của giới công khai. “Hey,
hey, LBJ, how many kids did you kill today?”, đạo quân biểu tình của
những người phải đi lính cất tiếng hát – và vị Tổng thống Johnson mất
tinh thần đã từ bỏ không ra ứng cử lần thứ hai.
Người kế nhiệm Nixon, với việc ném bom Campuchia đi ngược lại hiến
pháp và pháp luật quốc tế, đã mở đường cho tên cộng sản giết người hàng
loạt Pol Pot với nhóm du kích quân Khmer Đỏ của hắn. Khủng bố bằng cách
bỏ bom chiến lược từ những chiếc máy bay B-52, Nixon hy vọng sẽ thương
lượng được những điều kiện rút quân thuận lợi hơn cho quân đội bại trận
của Hoa Kỳ. Cố vấn Kissinger đã thuyết phục được Nixon: Nước Mỹ không
thể chiến thắng được cuộc chiến. Không thể nghĩ tới việc có thể mang
tính quyết định cho cuộc chiến là tiến quân vào Bắc Việt Nam bạn của
Moscow.
Thất bại thật sự của Mỹ, các tướng lĩnh của ngày xưa khẳng định như
vậy vào ngày nay, đã diễn ra trong các phòng khách của nước này. Trong
tường thuật live hàng nhiều năm trời, truyền hình Hoa Kỳ đã biến các sự
kiện ở Việt Nam thành một phim truyện phản chiến vô tận. Đài truyền hình
và những người đọc tin của họ đã vươn lên trở thành các thể chế đạo đức
mang tính chi phối: những gì mà họ đưa ra dường như là đáng tin hơn
những lời hứa hên hòa bình bất tận của các chính trị gia.
Khi cuộc chiến cuối cùng rồi cũng chấm
dứt, toàn bộ đất nước đã biến đổi; những năm 50, tinh thần cục bộ hạnh
phúc của những năm dưới thời Eisenhower, tất cả những cái đó đã chìm
xuống vĩnh viễn. Trên màn hình, trẻ em châu Á cháy trong ngọn lửa của
napalm. Người Mỹ bị lột trần ra là những kẻ giết chết hàng loạt các bà
mẹ và trẻ sơ sinh Việt Nam. Những người ở quê hương đã nhìn thấy các
hình ảnh nhiều màu sắc của bạo lực từ chính họ, và họ đã buồn nôn.
Từ đó, nước Mỹ cố gắng quên Việt Nam như quên một cơn bệnh lây nhiễm đã qua khỏi.
“Không ai thật sự thích lục lọi trong
những hồi ức không hay”, thượng nghị sĩ John Kerry, 41 tuổi, nói vào
ngày nay. Ông đã từng tình nguyện phục vụ ở Việt Nam và đã bị thương ba
lần. Vì đã tổ chức phản đối chiến tranh cho các cựu chiến binh sau khi
ra khỏi quân đội và thêm vào đó là đã xin phép được xuất ngũ trước thời
hạn “vì lương tâm”, nên các đối thủ chính trị trong lần tranh cử vào
thượng nghị viện đã chế nhạo ông là một “người có cảm tình với cộng sản”
và là “một kẻ phản bội”.
Ông
John Kerry nói chuyện với những người tham gia và ủng hộ chiến dịch rút
quân nhanh chóng khỏi Việt Nam (RAW – Rapid American Withdrawal) tại
Valley Forge vào ngày 7 tháng 9 năm 1970. Hình: Reuters
Nhưng cả những lời nói xấu như vậy rồi
cũng tắt dần – chúng thiếu điểm tựa. Giới công khai đã nhanh chóng đẩy
“Việt Nam” và tất cả những gì có liên quan tới đó đi mất tích, nhiều năm
trời đã không còn muốn biết gì về nó nữa.
“Hầu như là chỉ qua đêm, Việt Nam đã biến
mất ra khỏi nhận thức của quốc gia”, nhà xuất bản tân thủ cựu Norman
Podhoretz ngạc nhiên. Không một tướng lĩnh, không một đô đốc nào từ chức
sau chiến bại đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của Hoa Kỳ. “Mất trí
nhớ tập thể”, tờ “New York Times” đã chẩn đoán thời đó. Nhưng sự bất
hạnh đó quá lớn để mà có thể được chôn vùi mãi mãi: Việt Nam lại quay
trở lại như một cơn ác mộng không để cho người ta xua nó đi. Trước đây
[1985] vài tuần, trong một vụ thưa kiện do ông khởi tố chống đài truyền
hình CBS, viên tư lệnh Việt Nam Westmoreland đã phải để cho người ta
chứng nhận, rằng vì những lý do về chính trị mà đã xử lý một cách cẩu
thả việc đánh giá kẻ địch qua thống kê. Trong lúc đó, Westmoreland khẳng
định rằng không ai được phép hoài nghi lòng yêu nước của ông – một kẻ
thua trận bi đát, người vẫn còn chưa biết tại sao ông không thể chiến
thắng được.
“Liệu chúng ta có học hỏi được điều gì
theo nghĩ luân lý hay không”, cố vấn cho Kennedy và cũng là sử gia
Arthur Schlesinger hoài nghi trước những viên tướng lĩnh như vậy. Có thể
là “nước Mỹ giờ đây cũng biết rằng lỗi lầm đó to lớn cho tới chừng nào,
muốn đóng vai trò của Chúa Trời trong lịch sử của loài người”.
Thật sự là sẽ không ai thừa nhận lỗi lầm
này. Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ Hoa Kỳ, ngoài ra thì bao giờ cũng
cảm ơn mỗi một lần xuất hiện ăn ảnh trong các ủy ban điều tra của Quốc
Hội, sau 1975 chưa từng bao giờ yêu cầu một tòa án Việt Nam duy nhất, mà
lại tuyên truyền cho sự quên lãng.
Phung phí 150 tỉ dollar trong chiến
tranh? Không một nghị sĩ nào còn hỏi về việc này. Bốn triệu người Việt
chết và bị thương? Hãy quên đi! Một quân đội Mỹ, gồm cho tới 80% là
những lãnh chúa cung ứng, vua ở hậu phương và hoàng đế sòng bạc, một
quân đội mà trong đó chưa từng bao giờ có nhiều hơn 80.000 người lính
đứng thật sự trong các lực lượng chiến đấu? Không đáng giá để nói tới!
Trong từ ngữ của nguyên trưởng phái đoàn
đảng Dân Chủ trong Thượng Viện, Mike Mansfield: “Ngẫm nghĩ về những gì
có thể hay cần phải trong quá khứ thì không giúp được gì cho ai cả.”
Tổng thống Jimmy Carter của đảng Dân Chủ
tuyên bố năm 1977, chỉ vài giờ sau khi vào Tòa Nhà Trắng, rằng đã tới
lúc “đi tới kết thúc với cuộc Chiến tranh Việt Nam”. 500.000 “người phản
bội” đó, những người trốn ra nước ngoài để tránh không phải đi lính,
nhất là sang Canada, nên trở về nhà. Ngay những người đào ngũ cũng có
thể hy vọng được khoan hồng. Carter: “Tôi không cảm thấy muốn trừng phạt
bất kỳ một ai cả.” Và: “Toàn bộ sự việc bây giờ đã qua rồi.”
Ba năm sau lời kêu gọi ân xá Việt Nam của
Carter, Ronald Reagan bắt đầu một giọng nói mới trong một bài diễn văn
trước “Veterans of Foreign Wars”: “Chúng ta đã sống quá lâu với hội
chứng Việt Nam.” Đã tới lúc xét lại lịch sử, đã tới thời điểm của bước
ngoặc bảo thủ: “Lòng yêu nước mới” (Reagan) hóa ra là lòng yêu nước cũ.
Đối với tổng thống Mỹ, kẻ thù tiếp tục có tên là Việt Nam. Không có quan hệ n
goại giao giữa các đối thủ trong cuộc
chiến. Cố vấn của Reagan nhắc tới hơn 2400 người Mỹ mất tích và tù binh
mà trong đó có thể là Hà Nội đang giữ lại một số. Họ dẫn ra việc quân
đội Việt Nam chiếm đóng Campuchia, họ nhắc tới những trại giam mà đối
thủ chính trị của chính quyền Hà Nội bị giam giữ ở trong đó từ một thập
niên nay.
Những người ủng hộ cho “thuyết Domino”,
chỉ nhìn Nam Việt Nam như một quân cờ mà một khi nó đã ngã xuống thì sẽ
giao trọn toàn khu vực về cho cộng sản, có đúng không?
Tháng 4, 1997, Vietnam Veterans Memorial tại Washington, DC. Hình: Joseph Sohm / Visions of America / Corbis.
Cựu tổng thống Richard Nixon quả quyết
trong tác phẩm “No More Vietnams” của ông: “Ngày nay, sau khi chính
quyền cộng sản đã giết chết trên nửa triệu người Việt và trên hai triệu
người Campuchia, lời phán xét luân lý cuối cùng về những cố gắng của
chúng ta để cứu thoát Campuchia và Việt Nam: Chúng ta chưa từng bao giờ
chiến đấu cho một sự việc có nhiều đạo lý hơn thế.”
Thật sự rằng việc bỏ bom để “cứu nguy
Campuchia” của Mỹ đã nâng những người đó lên, những người cần phải được
“cứu thoát”; sự thật cũng là, những con người đen tối như các ông chủ
Sài Gòn Tướng Kỳ, Tướng Khánh và cuối cùng là Tướng Thiệu là biểu tượng
cho tất cả, chỉ là không cho đạo đức.
Thế nhưng không còn có thể ngăn chận sự
thành hình của huyền thoại Việt Nam được nữa: nó là một hình thức đặc
biệt của sự quên lãng – được nhặt ra từ ký ức tập thể chỉ là những gì
phù hợp vào trong một hình ành của tấn thảm kịch Việt Nam vô tội.
Vết dơ trên bức tranh chiến trận được xóa
đi: Thiếu úy William Calley, người đã giết chết ít nhất là 22 người dân
thường tại làng Mỹ Lai ở Việt Nam trong tháng Ba 1968 và đã bị xử tù
chung thân năm 1971 vì việc này, được tha tội. Người lính này phải chịu
ba năm quản thúc tại gia.
Trung tướng W. R. Peers, người được Lầu
Năm Góc giao nhiệm vụ làm sáng tỏ bối cảnh của vụ thảm sát, sau này đã
bày tỏ sự phẫn nộ của mình trong một bản báo cáo do ông viết về “sự bất
lực của hệ thống quân pháp, trừng phạt có hiệu quả những người hoặc là
bị cáo buộc đã phạm tội ác chiến tranh hoặc là không báo cáo và điều tra
những tội phạm như vậy”. Và: “Chúng ta rõ ràng là không đo chúng ta với
cùng một thước đo mà chúng ta đo địch thủ.”
Cũng được tha thứ là hành động của viên
sếp cảnh sát Sài Gòn, Nguyễn Ngọc Loan, người trong trận tổng tấn công
dịp Tết 1968 đã ấn khẩu súng ngắn vào thái dương của một Việt Cộng bị
bắt và bắn chết người này trước ống kính của một nhiếp ảnh gia AP. Người
chụp bức ảnh đó được trao giải Pulitzer cho tấm
hình đó, người sếp cảnh sát trong giờ phút cuối cùng đã có thể chạy
thoát qua Mỹ với vợ con và sở hữu một quán ăn ở Burke, Virginia.
Ngược lại, các cựu chiến binh đã bị bỏ
quên, những người rơi vào cảnh nghiện rượu hay ma túy ở Đông Nam Á, phát
rồ vì những tưởng nhớ, ác mộng, tội lỗi đè nặng lên họ. “Đa số người
dân của chúng ta”, nghị sĩ David Bonior thuộc đảng Dân Chủ quả quyết,
“muốn nhất là chôn sâu tấn bi kịch Việt Nam và xóa sạch đi lịch sử”.
Tất nhiên, trong những tuần này Việt Nam
lại quay trở lại một cách đầy đau đớn trong nhận thức của đất nước: mười
năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, giới truyền thông tưởng nhớ lại cuộc chiến.
Trong những ngày này, các báo có nhiều ảnh hưởng như “Washinton Post”
hay “Wall Street Journal”, các tạp chí tin tức như “Time” và “Newsweek”
đăng những bài tường thuật đặc biệt về Chiến tranh Việt Nam và hậu quả
của nó. “The New York Times Magazine” chạy tít “Việt Nam ở Mỹ”. “Nỗi
nhục nhã của chiến bại”, theo tờ này, “đã lui bước, cựu chiến binh Việt
Nam biến thành anh hùng quốc gia.”
Tháng Tư 1975, người di tản lên tàu Mỹ Hancock
“Nỗi nhục nhã” đó bắt đầu vào cuối tháng
Tư 1975 với bài ca Giáng Sinh hết sức không phù hợp “I am dreaming of a
White Christmas”, do đài quân đội AFN ở Nam Việt Nam phát – và một xướng
ngôn viên tuyển bố: “Nhiệt độ ở Sài Gòn là 40 độ và sẽ còn tăng lên.”
Đó là ám hiệu công khai cho cuộc di tản
của Mỹ ra khỏi Sài Gòn – một “cuộc di tản đau thương” theo Kissinger.
Các lực lượng chiến đấu cuối cùng của Hoa Kỳ đã rút khỏi hai năm trước
đó sau những cuộc thương lượng kéo dài giữa Kissinger và người đàm phán
của Hà Nội Lê Đức Thọ.
Đạn pháo, tên lửa của những người cộng
sản đang tiến quân năm 1975 đã phá vỡ dần dần các đường băng cất cánh và
hạ cánh trên các phi trường của thủ đô Nam Việt Nam và vào lúc cuối
cũng trúng tòa nhà của Đại sứ quán Hoa Kỳ. Cuối cùng, những chiếc trực
thăng di tản của hạm đội Hoa Kỳ trước bờ biển chỉ còn có thể cất cánh từ
nóc nhà của một ngôi nhà ở trong khuôn viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ.
Những người dân Nam Việt Nam tuyệt vọng
đã xông qua cổng của tòa đại sứ Mỹ. Máy bay Mỹ đối với họ là phương tiện
chạy trốn cuối cùng còn lại. Và cũng như cả cuộc chiến, lần rút lui của
người Mỹ cũng diễn ra một cách hỗn loạn, vô phẩm cách, vô nhân đạo:
Giống như đang lui quân trong một trận đánh trên mặt đất, những người
lính thủy quân lục chiến trong đại sứ quán rút lui từng tầng một. Họ
chận thang máy, đẩy tủ và ghế ra trước cửa, để ngăn chận không cho những
người bị bỏ lại tràn lên mái nhà, và rồi biến mất trên bầu trời Sài
Gòn.
Những hình ảnh bi thảm của cuộc di tản từ
trên mái nhà đã “đánh động thật sâu trong tâm hồn” của quốc gia, thượng
nghị sĩ Kerry nhớ lại. Nhưng sau đó thì Hoa Kỳ cuối cùng cũng đã có thể
ngoảnh mặt với thảm họa xa xôi đó, rõ ràng là đã quá kiệt sức để mà có
thể đặt ra câu hỏi lỗi của ai. Mười năm sau đó, nó có thể được đặt ra
thêm một lần nữa: Các tấn bi kịch ở quê nhà sắp tới đây sẽ được ghi nhận
lại trong một loạt phim truyền hình do đài truyền hình ABC thực hiện.
Tạp chí “Harpers” hiện đang tường thuật
về các cựu chiến binh “trip wire”, những cựu quân nhân quẫn trí sống
trong các tiểu bang Mỹ khó đi lại Oregon và Washington, ở đâu đó trong
những căn nhà hay lều trên núi, được bảo vệ trước những kẻ phá rối bởi
“trip wires”, những sợi dây kích hoạt báo động khi người ta vướng vào.
Tờ tuần báo “People” hiện đang đăng tải
các bức ảnh đầy tính bi kịch về cuộc Chiến tranh Việt Nam, và yêu cầu
người đọc hãy cho biết danh tính và cung cấp thông tin về những người có
thể nhận ra được trong hình. Hồi ký về Việt Nam gia tăng.
Trong “Bloods” người da đen mô tả lại các
hồi ức chiến tranh của họ, lính bộ binh Richard Ford tường thuật về một
lần tham chiến ở Việt Nam: “Tôi lao qua cửa. Tôi đã bắn trúng cô bé. Cô
bé nằm trên người đàn ông già, giống như muốn che chở cho ông ta vậy.
Ông ấy hẳn độ 80 tuổi. Cô bé bảy tuổi. Cả hai đều đã chết. Tôi đã vô
tình giết chết một người đàn ông già và một cô bé gái trong nhà. Một cảm
giác kỳ lạ ập đến với tôi.” Sĩ quan thoát được những trải nghiệm của
các “grunt” [“lính lác”]. Ngày nay họ có những nỗi lo khác – tại sao họ
lại thua trận?
Vietnam
War 1973 – Faces of Sorrow – Press Photo – (13/4/1973) Phía sau hàng
rào xung quanh trụ sở UB Quốc tế Kiểm soát Ngừng bắn tại SG là khuôn mặt
của hai quả phụ có chồng bị tử thương vì hỏa lực quân địch tại Tống Lê
Chân. Trại BĐQ của khoảng 400 binh sĩ này đã bị các lực lượng cộng sản
bao vây và bắn phá trong 7 tuần lễ. Phía Nam VN đã nhiều lần yêu cầu Ủy
ban điều tra vụ việc ở đó, nhưng đã không được đáp ứng. Tống Lê Chân
cách Sài Gòn khoảng 50 dặm về phía bắc. (AP)
“Chúng ta đã không chiến thắng”, Đô đốc
U. S. G. Sharp trong một lần nhìn lại, “vì chúng ta không được phép tiến
hành những cú đánh quyết định với sức mạnh hải quân và không quân to
lớn của chúng ta.” Sharp, chỉ huy hải quân ở Thái Bình Dương từ 1964 cho
tới 1968, kể cả Việt Nam: “Tôi muốn đánh trúng kẻ thù ở nơi gây đau cho
họ: trong trái tim của miền Bắc Việt Nam.”
Ông ấy hẳn là vẫn chưa nhận ra: nước Mỹ
không phải thất bại trước một đất nước có dân cư tập trung, công nghiệp
hóa cao độ, có thể sẽ cúi mình khuất phục khi bị bỏ bom liên tục, mà là
trước một đối thủ một phần chiến đấu trong những bộ pyjama màu đen, được
trang bị vũ khí nhẹ và mãi cho tới giai đoạn cuối của cuộc chiến mới
đến trong xe tăng. Ưu thế không quân của Mỹ. hàng ngàn chiếc trực thăng –
tất cả những điều đó đều vô dụng trước những lực lượng địch quân vô
hình trên xe đạp, trong các hệ thống đường hầm và trong rừng rậm. Ngay
tới những loại vũ khí kỳ diệu như “máy ngửi hơi người” của Mỹ cũng không
thể xác định được vị trí của kẻ địch. “Charlie”, người Việt Cộng trung
bình, khôn ngoan hơn là cỗ máy giết người của Lầu Năm Góc.
Đại tá Harry Summers, người giảng dạy tại
“War College” thân cận với Washington, một học viện dành cho cấp chỉ
huy của quân đội Mỹ, tin là đã có thể nhớ lại: “Quân đội của chúng ta
chưa từng bao giờ bị bại trận trên chiến trường.” Vị sĩ quan này phân
tích trong quyển sách “On Strategy” của mình: “Trong tất cả các trận
đánh, các đơn vị của Việt Cộng và Bắc Việt đều bị đẩy lùi với tổn thất
nặng.” Nhưng cuối cùng thì mặc cho tất cả những điều đó: “Người chiến
thắng” là những người bị đánh thua, những người bị đẩy bật lại đã tiến
tới. “Nếu như tất cả họ đều biết cách tiến hành cuộc chiến như vậy là
sai lầm thì tại sao họ lại không đứng dậy và tuyên bố rằng: tôi không
tham gia nữa, không thể thắng cuộc chiến này được?” nghị sĩ Quốc Hội
John McCain phê phán các chiến hữu Lầu Năm Góc, những người ngày nay
chỉnh sửa các chiến bại của họ ở bàn giấy. Phi công máy bay chiến đấu
McCain bị bắn rơi trên Việt Nam và đã bị bắt giam năm năm rưỡi.
Vì vậy mà ông không biết rằng cuộc chiến
xa xôi đó cũng đã dẫm lên tâm trạng của những người dân thường ở quê nhà
như thế nào – với bạo lực và kinh hoàng của truyền hình trực tiếp từ lò
mổ; chỉ là con người chết ở đó, không phải thú vật, đó là những người
đồng hương, không phải là người lạ trong các chương trình truyền hình về
Việt Nam mỗi tối. Cả đó cũng là một bài học: khi quân đội của Reagan đổ
bộ lên hòn đảo Grenada ở vùng Caribbean, phóng viên không được phép đi
cùng – một điều mới trong lịch sử quân sự Mỹ.
Phi công hải quân John McCain, phải, với thành viên của phi đội (khoảng 1965). Hình: AP Photo
Ngược lại, từ 1965 cho tới 1975, các công
ty truyền hình Hoa Kỳ đã phát tròn 4000 tư liệu về Việt Nam – hình ảnh
những người lính Mỹ không toàn thân, những ngôi làng bị bỏ bom, những
cánh rừng rụng lá. Việt Nam thống trị trên các tít báo và những trang
ảnh: túi nhựa trên các bãi chiến trường để mang xác chết về, quan tài
của những người đã ngã xuống trong những chiếc máy bay vận tải, tang lễ
trên Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Một từ ngữ Việt Nam rơi vào trong
vốn từ vựng thông dụng Mỹ như một quả đạn pháo: “Body Count”, “đếm xác
chết”.
Cứ với mỗi một thống kê liệt sĩ mới, sự
chống đối ở quê hương lại tăng lên thêm. Năm 1964 còn có 43 phần trăm
cho rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam là một hoạt động chinh đáng của nước
Mỹ; năm 1975 cuối cùng chỉ còn có 20 phần trăm. Trong số 7,5 triệu người
lính Mỹ phục vụ trong quân đội Mỹ trong thập niên Việt Nam, có 550.000
đào ngũ, nhiều hơn toàn bộ lính của quân đội Đức 55.000 người.
Để bảo vệ tổng thống, xe buýt thành phố
được tập trung lại quanh Tòa Nhà Trắng thành một thành trì bằng ô tô.
Hàng chục ngàng, hàng trăm ngàn người biểu tình phản đối tại các Love-in
và Sit-in ở Washington. “Chiến tranh Việt Nam và phản chiến ít nhất thì
cũng đã là những chất xúc tác cho các biến động và thay đổi của xã hội
trong cuối những năm 60 và đầu những năm 70”, nhà xã hội học John
Wheeler phán xét trong quyển sách “Touched With Fire” của ông.
Các quy tắc cũ bị sử dụng hết trong Chiến
tranh Việt Nam, và có thể nói là cuộc chiến đã đi vào trong nước –
“quen thuộc với bạo lực”, những nhà tâm lý xã hội học đã gọi những gì
diễn ra tiếp theo là như vậy: sau vụ ám sát Martin Luther King, người da
đen đấu tranh cho quyền công dân, các khu nhà ổ chuột của Mỹ đã bốc
cháy trong năm 1967. Không còn gì như xưa nữa.
Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại New York City ngày 27 tháng Tư 1968. Hình: AP Photo.
Người xuất bản Theodore White cảm nhận sự
giảm sút niềm tin vào các chính trị gia và chính phủ của họ như là “hệ
quả tồi tệ nhất của xung đột Việt Nam”. Nước Mỹ, thường không mang tính
chỉ trích cho tới thời Việt Nam, đã bước tới rìa của một lần suy sụp tâm
thần. Thật không có gì để đáng ngạc nhiên – cuộc chiến cũng đến như là
một cú sốc về văn hóa:
Gần ba triệu lính Mỹ, trung bình 19,2
tuổi, được cử sang Đông Nam Á, người da đen từ những khu ổ chuột, thanh
niên từ những nông trại ở Iowa hay từ những nhà máy ô tô ở Detroit. Với
một vài giờ máy bay, từ những quán gà nướng và rạp chiếu bóng drive-in
trong môi trường quê hương, họ rơi vào trong một thế giới xa lạ. Rượu và
những mũi kim ma túy đã giải phóng họ – tạm thời – khỏi nỗi lo sợ mìn,
sợ lính bắn tỉa của Việt Cộng, sợ chuột, những con vật ăn mất khẩu phần
trong hầm của họ.
Những người lính Mỹ này, theo cựu phóng
viên “New York Times” Seymour Hersh, người đã phát hiện ra vụ thảm sát
Mỹ Lai, “cuối cùng cũng là nạn nhân như những người mà họ có nhiệm vụ
phải giết chết”. Khi họ trở về nhà từ những trận đánh, họ không nhận
được một lời cảm ơn, không có bông giấy bay trên những cuộc diễu hành
mừng chiến thắng như sau Đệ nhị Thế chiến. Người dân muốn quên đi cuộc
Chiến tranh Việt Nam và trong lúc đó cũng quên đi các cựu chiến binh của
họ. So với yêu cầu Mỹ, ở nước ngoài phải là một người anh hùng, thì họ
đã thất bại.
Vì vậy mà các cựu chiến binh Việt Nam
trước hết là tìm đến cộng đồng của những người cùng số phận, không giao
thiệp với người khác. Họ đã liên kết lại trong các tổ chức như “Vietnam
Veterans of America” hay “Cha mẹ của những đứa bé nhiểm chất độc màu da
cam”. Không xa đài kỷ niệm Việt Nam ở Washington, sáu cựu chiến binh đã
cắm một chiếc lều màu xanh nhạt từ Giáng Sinh 1982. Họ tự hiểu mình là
“đội lính canh danh dự” để nhắc nhở tới hơn 4700 người lính mất tích.
Tên của họ tuy đã được khắc vào tảng đá
hoa cương của đài kỷ niệm Việt Nam, nhưng chúng được đánh dấu chữ thập,
một chữ thập của hy vọng. “Có thể”, người cựu chiến binh đang đứng canh
tin như vậy, người cũng như các chiến hữu của ông tồn tại nhờ vào tiền
quyên góp, “là có ai đó còn sống. Vâng, thật ra thì tôi chắc chắn là còn
có người sống sót”, ông nói, giống như tự tạo can đảm cho chính mình.
Túp lều được bao quanh bởi nhiều vật kỷ
niệm: giày lính cũ, áo chống đạn, mặt nạ phòng hơi độc, nón. Hai cái
lồng bằng tre nhắc cho người ta nhớ rằng các phi công bị bắn rơi trên
bầu trời Việt Nam đã bị kẻ địch giam giữ như thế nào. Trước quầy của các
cựu chiến binh vẫn còn có lá cờ Nam Việt Nam – màu vàng với ba sọc đỏ.
“Đó đã là đồng minh của chúng tôi”, người cựu chiến binh trung thành
giải thích, “họ vẫn là đồng minh.” Nhưng như thế nào: viên tổng tham mưu
trưởng cuối cùng của Việt Nam nhiều năm trời đã là trưởng bồi bàn trong
một quán cá Hy Lạp ở Yorktown.
Tổng thống Reagan đặt vòng hoa tại quan tài của người chiến sĩ vô danh.
Người xét lại Ronald Reagan đã lôi các
cựu chiến binh ra khỏi sự cô lập; trong tháng Năm năm ngoái, hài cốt
không còn có thể xác định sanh tính được của một tử sĩ Việt Nam đã được
chôn cất giữa các ngôi mộ của người lính vô danh từ Đệ nhị Thế chiến và
Triều Tiên trong Nghĩa trang Quốc gia Arlington.
Người tổng thống bước lại gần quan tài và
tuyên bố với quốc gia, một người anh hùng Mỹ đã trở về nhà: “Anh hiện
thân cho trái tim, tâm hồn, tinh thần của Mỹ.”
Nhưng chủ nghĩa anh hùng sáo mòn đó, cái
mà người tổng thống muốn phủ lên cho cuộc chiến, sẽ không thể đứng vững
đuộc trước tưởng nhớ lịch sử chính xác của những người lính đã sống sót
qua Việt Nam, có thể lành lặn về thân xác, nhưng không lành lặn trong
tâm hồn. Thượng nghị sĩ Kerry chẳng hạn, người đã từng chỉ huy các tàu
tuần tra, nhớ lại lần trở về nước: “Lúc đó, tôi vừa mới ở trong rừng ra
được một tuần và ngồi trong máy bay từ San Francisco tới New York. Tôi
thiếp ngủ và la hét bật tỉnh dậy. Có lẽ là một ác mộng. Những người hành
khách khác tránh xa tôi ra.” Kerry vẫn còn cay đắng cho tới ngày hôm
nay: “Đất nước này không hề quan tâm tới những người thanh niên trở về
và cũng không quan tâm tới những gì họ đã trải qua. Thái độ là: tránh xa
ra, đừng lây nhiễm Việt Nam cho chúng tôi.”
Thật sự là hàng trăm ngàn người (có những
ước đoán y học đưa ra con số cho tới một triệu) đã mang bệnh – lâu dài:
các cựu quân nhân mắc chứng “Post-traumatic Stress Disorder” (PTSD),
chứng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý.
Các cựu chiến binh bị rồi loạn này có cảm
giác sợ hãi và bị trầm cảm. Họ khó tập trung và chậm về tâm thần vận.
Họ có cảm giác bị cô lập, vô dụng và vô giá trị, đôi lúc có cảm giác bị
đe dọa. Có người không thể ngủ được nếu như không có vũ khí ở cạnh
giường hay dưới gối. Thường họ không thể kiểm soát được những cơn giận
dữ của họ.
Biểu tình chống chiến tranh ở Frankfurt, Đức, tháng Hai 1967
Những người lính trong Đệ nhất và Đệ nhị
Thế chiến cũng bị sốc đạn pháo, bị căng thẳng lúc chiến đấu và bị những
căn bệnh về thần kinh tâmm lý. Nhưng Việt Nam thì khác. Ở đó, các bệnh
stress của những người lính Mỹ không tăng lên với cường độ của các trận
đánh (như trong những cuộc chiến trước đây). Có những người lính mà mãi
nhiều tháng hay nhiều năm sau khi giải ngũ, hội chứng stress mới bộc lộ ở
họ, giống như được khởi động bởi một kíp nổ chậm.
Một giải thích của giới y học: Thời gian
phục vụ ở Việt Nam của lính Mỹ được giới hạn mỗi lần mười hai tháng. Sau
thời gian huấn luyện cơ bản, họ không – như trong Đệ nhị Thế chiến – ra
chiến trường như một đơn vị mà tới một mình, như là một nhóm người được
gom lại một cách ngẫu nhiên để bổ sung cho lực lượng này hay lực lượng
khác, những người chỉ thật sự quen nhau trong các trận đánh.
Nhiều người lính, trong Đệ nhị Thế chiến
có khi cùng nhau phục vụ ngoài chiến trường nhiều năm trời, ngược lại
cùng sống với đơn vị của họ hàng tuần hay hàng tháng trên những con tàu
chở họ tới vùng hành quân hay trở về nhà. Trong thời gian của những
chuyến đi kéo dài đó, theo một nghiên cứu, “những người đàn ông này mang
lại cho nhau sự giúp đỡ và che chở cần thiết về tình cảm, để vượt qua
được những giai đoạn chấn thương tâm thần mà họ đã cùng nhau trải qua.”
Nhưng các chiến binh Việt Nam trở về New
York, Chicago hay Miami từ đồng ruộng trên chiếc máy bay phản lực – một
mình với những tưởng nhớ, những cơn ác mộng, những cảm giác tội lỗi, có
thể còn nghiện ma túy, nghiện rượu, chắc chắn là thất nghiệp.
“Chính phủ đã huấn luyện một đội ngũ chó
dữ thật tốt”, nhà tâm lý học Sheldon Zigelbaum ở Boston phân tích.
“Nhưng họ không thể cứ đơn giản là thả chúng ra mà không lập trình lại
trước đó.” Họ đã có thể.
Larry Webster, được tặng thưởng vì “dũng
cảm trước địch quân” ở Việt Nam, đang chờ lần tử hình của mình trong nhà
tù San Quentin. Rượu, ma túy, trộm cắp, không có nơi cư trú nhất định,
không có việc làm, cuộc sống của anh đã phát triển như vậy sau khi đi
lính ở Việt Nam. Cuối cùng là đâm dao tại một lần nhậu nhẹt. Một người
chết, ra tòa vì cướp của giết người, bản án. “Nam đã mang tôi vào đây”,
Webster nói, “lỗi tại Nam.”
Cựu phi công máy bay trực thăng Robert
Mason, mà tưởng nhớ về Việt Nam “Chickenhawk” của ông đã được nhà xuất
bản Viking Press ở New York bán hơn 350.000 ấn bản (“Khi chúng tôi có
thời gian và yên tịnh, chúng tôi chuyên chở tử sĩ. Họ có ưu tiên thấp,
vì họ không còn phải vội nữa”), đã bị tuyên án năm năm tù vì buôn lậu
cần sa.
Một cựu chiến binh tại tượng đài kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam
Hàng ngàn cựu chiến binh phạm pháp như
Mason không thể vứt bỏ được ký ức của họ, cũng giống như những người mà
bệnh tật của họ không còn có thể chữa lành được nữa: 42.771 cựu chiến
binh bị rối loạn thị giác từ khi đi lính ở Việt Nam. 2960 người lính đã
mù hoàn toàn. 4662 chiến binh Việt Nam bị què cụt đôi, 20956 mất một tay
một chân. 3266 chiến bịnh sống lây lất từ hơn một thập niên nay trong
các bệnh viện tâm thần hay bệnh biện thông thường. Họ đã những trường
hợp không còn có thể tự lực được nữa, cần phải được chăm sóc 24 giờ
liền. Hai chục cựu quân nhân này tồn tại mà không có tay, không có chân,
những trường hợp bị cắt cụt tói cực độ.
Hầu như ngày nào báo chí cũng tường thuật
về những cuộc thương lượng giữa các cựu chiến binh Việt Nam và luật sư
của nhiều tập đoàn hóa học đã sản xuất hóa chất “Agent Orange”, chất mà
quân đội Mỹ đã phun trên 48 triệu lít để làm rụng lá rừng Việt Nam.
“Agent Orange” được cho là gây ung thư,
hóa chất này phá hủy thần kinh và gan. Không chỉ lính Mỹ hoạt động trong
những vùng bị phun thuốc mà cả con cái của họ ngày nay cũng bị ảnh
hưởng. Hàng trăm người bị tật nguyền từ lúc mới sinh ra, một thập niên
sau lần phục vụ ở Việt Nam của cha họ.
Các tập đoàn hóa học, chối bỏ mọi tội
lỗi, đưa ra 190 triệu dollar cho các cựu chiến binh. Thân nhân của 3000
cựu chiến binh đã qua đời và 7000 người với nhnững tổn thương vĩnh viễn,
ở mức độ cao nhận được tối đa là 25.000 dollar tiền mặt mỗi người. Số
tiền còn lại có lẽ sẽ được đưa vào một quỹ từ thiện dành cho các bệnh
nhân của “Agent Orange”.
Một trong số các bệnh nhân: Elmo Zumwalt
III. Ông mắc bệnh ung thư bạch huyết tuyến. mặc dầu cả con trai là
Russell cũng bị tật nguyền ngay từ lúc mới sinh, cựu chiến binh Zumwalt
không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Cha ông, Elmo Zumwalt II “thời đó”
là đô đốc. Ông ấy đã ủng hộ việc sử dụng hoát chất này trong vùng mà
Zumwalt III đã phục vụ ở Việt Nam.
Người cựu đô đốc tin rằng: “Ngay cả khi
có thể chứng minh được một mối liên quan giữa ‘Agent Orange’ và các căn
bệnh đó thì tôi phải đi tới kết luận, rằng nhiều người đã thoát được
“Agent Orange”, có thể là cả con trai tôi.” Thoát được, nhưng không được
dung tha cho.
Nhưng có lẽ cũng cần tới lần chuyển sang
tâm trạng anh hùng hóa này, lòng nhiệt tình muộn về Việt Nam của Ronald
Reagan, để mà cả mặt tối của những trải nghiệm Việt Nam cũng được đưa
ra:
Từ nhiều tuần nay, “Tracers”, đạn lửa,
một vở kịch do cựu chiến binh Việt Nam viết, cựu lính Mỹ đóng, trong nhà
hát “Susan Stein Shiva” ở New York, đã bán hết vé. Được ghi nhận lại
trên sân khấu là sự biến đổi mà những người dân thường bị đẩy vào bộ
quân phục đã trải qua ở Việt Nam.
Trong một cảnh diễn, nhiều lính Mỹ muốn
thuyết phục một chiến hữu hút một “joint”. Người này chống đỡ: “Tôi chưa
từng hút cần sa bao giờ.” Trả lời: “Trước Việt Nam thì mày cũng chưa
từng bắn chết ai bao giờ.”
Một cảnh trong kịch “Tracers”
Mãi cho tới những vở kịch như “Tracers”,
phim như “Coming Home” mà trong đó sự khốn cùng của các phế binh trở về
nhà được ghi lại, hay “Deer Hunter”, mà trong đó một người chết, người
thứ hai bị tàn phế trong số ba người bạn được cử đi Việt Nam, thì thảm
họa hậu chiến tranh thật mới được mang trở vào nhận thức.
“Dần dần và với khoảng cách đủ xa”, David
Fuhrmann, lãnh đạo “khóa học Việt Nam” ở “Johns Hopkins University
School of Advanced International Studies” tại Washington, tin như vậy,
thì rồi “một đánh giá lịch sử chiến tranh mang ít xúc cảm hơn, khách
quan hơn” cũng sẽ có thể.
Trước đây hai năm, chỉ có tròn hai chục
trong số hàng ngàn đại học và trường college Mỹ mở khóa học về đề tài
Việt Nam. Hiện nay thì là nhiều trăm. Như ở University of California tại
Santa Barbara, 900 trong số 15.000 sinh viên trong học kỳ này đang theo
học khóa “Việt Nam và tôn giáo Mỹ – ảnh hưởng của đất nước này lên cuộc
sống xã hội, văn hóa và tín ngưỡng Mỹ”.
Một vài giáo sư làm việc trong giờ giảng
dạy với loạt phim “Vietnam: A Television History” gồm 13 tập do “Public
Broadcast” phát sóng năm 1983. Những người khác để cho người Việt tỵ nạn
tường thuật về cuộc chiến hay để cho sĩ quan và những người phản chiến
tranh luận về thảm kịch Việt Nam.
Thế nhưng phần lớn các học sinh sinh ra
đời trong thập niên Chiến tranh Việt Nam lại trả lời những câu hỏi về
Chiến tranh Việt Nam một cách hết sức ngây thơ: Mỹ Lai? “Chưa từng
nghe.” Trận tấn công Tết [Mậu Thân]? “Chống ai?” Hồ Chí Minh? “Món cơm
ăn à?” Hiểu biết của họ bị giới hạn ở những điều hết sức tầm thường: “Ở
Việt Nam, chúng ta đã chiến đấu chống lại cộng sản. Người cộng sản là
cái xấu. Tức cuộc chiến là đúng lý.”
Với một mức hiểu biết như thế, sử gia
Schlesinger lo ngại, “thế giới quan của Ronald Reagan tất nhiên sẽ ập
vào nhiều người Mỹ trẻ tuổi”. Trông có vẻ gần như thế rồi: Trong Chiến
tranh Việt Nam, hầu như không một sĩ quan tuyển mộ nào của quân đội có
thể bước vào – mà không bị nguy hiểm – khuôn viên của một trường đại học
trong bộ quân phục. Điều đó đã thay đổi. Trong giới trẻ, quân đội lại
được ưa chuộng trở lại.
Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Westminster, California. Hình: Wikipedia
Trước đây một thập niên, lính mới của học
viện quân đội West Point trong bang New York hầu như không dám đi chơi
tới vùng đất đẹp như tranh vẽ của Hudson River. Năm 1968, những người
được tuyển mộ không đủ cho tất cả các lớp học nữa. Ngày nay, West Point
ghi nhận hàng năm 14000 người xin học. Trong số đó, 1400 người được
nhận.
Tuy vậy, một quan điểm West Point thống
nhất về lần tham chiến ở Đông Nam Á không tồn tại trong ngôi trường danh
tiếng này. Đại úy William Betson, một trong số những người thầy “Việt
Nam”: “có 55 sĩ quan dạy về lịch sử ở đây, và người nào cũng có ý kiến
riêng của người đó.”
Những người giảng dạy, đa số là đại úy và
thiếu tá, đã không phục vụ ở Việt Nam. Chỉ huy của họ, ví dụ như đại tá
John Yeagley, người đã ở Việt Nam một năm, tin chắc rằng: “Những người
mới được tuyển lựa quan tâm tới Đệ nhị Thế chiến nhiều hơn là tới Việt
Nam.”
Trong khi đó thì thế hệ trẻ của quân đội
có đủ mọi lý do để rút ra những bài học từ thảm bại Việt Nam. Vì thêm
một lần nữa, nhiều trăm cố vấn Mỹ lại đứng trong rừng rậm. Thay vì Việt
Nam thì lần này là Trung Mỹ.
Thêm một lần nữa, nhân viên CIA lại tiến
lên với dollar và vũ khí, để theo mệnh lệnh của tổng thống mà”giúp đỡ”
một dân tộc xa lạ, những người theo quan điểm của tổng thống là “bị áp
đặt một chế độ độc tài cộng sản bằng bạo lực, lừa dối và gian lận”.
Thuộc phần của CIA ở Việt Nam là chiến
dịch “Phượng Hoàng” một chiến dịch giết người với hơn 10000 nạn nhân.
Nhưng có lẽ chính hồi ức về những trang đen tốt nhất này của Chiến tranh
Việt Nam đã khiến cho 70 phần trăm người Mỹ từ chối tham gia vào một cố
gắng đảo chính ở Nicaragua.
Từ nhiều tuần nay, Quốc Hội đã chống lại
việc tiếp tục giúp đỡ tài chính cho “Contras”, những người được chính
phủ Reagan giao phó cho nhiệm vụ đại diện cho lính Mỹ chiến đấu chống
lại chính quyền Managua. Khoảng 20 trong số 435 nghị sĩ là cựu chiến
binh Việt Nam, 3 trong số 100 thượng nghị Sĩ đã chiến đấu ở Đông Nam Á.
Thượng nghị sĩ Kerry: “Quốc Hội đã trở nên hết sức nhạy cảm đối với
những cuộc phiêu lưu tiếp theo sau đó.”
“Chúng tôi, như là quốc gia, đã học được
một điều gì đó ở Việt Nam”, tác giả Seymour Hersh nói: “Chúng tôi không
còn nhanh chóng đặt ngón tay vào cò súng nữa. Dường như chúng tôi đã
nhận ra rằng không thể chiến thắng được chiến tranh chỉ với xe tăng và
pháo binh.”
Cuộc chiến ở Việt Nam đã thất bại ngay từ
đầu. Đó là điều mà cho tới ngày nay người ta vẫn còn chưa chấp nhận.
Nước Mỹ vẫn còn đi tìm ý nghĩa: Có điều gì đó đã không thành, có điều gì
đó không đúng, có điều gì đó còn thiếu cho tới ngày hôm nay, để trả lời
mãi mãi cho câu hỏi đó từ ngọn đồi thịt băm: “Việt Nam – có đáng giá
như thế không?”
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét