CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 289

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Phạm Ngọc Thảo huyền thoại tình báo Việt Nam

Cựu sĩ quan tình báo Mỹ lĩnh 10 năm tù vì làm gián điệp cho Trung Quốc

Bộ Tư pháp Mỹ cho biết một cựu sĩ quan tình báo nước này vừa bị kết án 10 năm tù hôm 24/9 vì tội làm gián điệp cho Trung Quốc, phản bội đất nước vì tiền.
Vào tháng 3, Ron Rockwell Hansen, 60 tuổi, ở Syracuse, Utah, đã nhận tội cố gắng chuyển thông tin quốc phòng được phân loại của Mỹ cho Trung Quốc. Hansen cũng thừa nhận đã nhận hàng trăm nghìn USD để làm gián điệp cho Bắc Kinh, theo Reuters.
Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) bắt giữ Hansen vào tháng 6/2018 khi người này đang trên đường tới sân bay Quốc tế Seattle-Tacoma để lên chuyến bay đến Trung Quốc, Bộ Tư pháp cho biết.
Hansen thừa nhận đã "mời chào" Bắc Kinh bằng thông tin có giá trị mà người này lấy được từ một sĩ quan của Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ (DIA) và đồng ý bán chúng cho Trung Quốc.
Cuu si quan tinh bao My linh 10 nam tu vi lam gian diep cho Trung Quoc hinh anh 1
Cựu sĩ quan tình báo Hansen bị kết án 10 năm tù vì tội làm gián điệp cho Trung Quốc. Ảnh: AP.
Các tài liệu người này nhận được từ sĩ quan DIA liên quan đến khả năng của quân đội Mỹ. Hansen cũng thừa nhận đã tư vấn cho sĩ quan DIA này cách ghi và gửi đi tài liệu mà không bị phát hiện, cũng như cách giấu và rửa số tiền nhận được.
Vì không biết Hansen, sĩ quan DIA đã báo cáo hành vi của Hansen với DIA và đóng vai trò là người cung cấp thông tin cho FBI trong vụ việc.
Năm 2006, sau khi nghỉ hưu ở vị trí sĩ quan tình báo trong quân đội Mỹ, Hansen được DIA thuê làm người thu thập thông tin. Ông thừa nhận làm việc cho tình báo Trung Quốc từ năm 2014.
Hansen là một trong ba cựu sĩ quan tình báo Mỹ bị kết án trong những tháng gần đây về tội làm gián điệp cho Trung Quốc.
Người đầu tiên là Kevin Patrick Mallory, cựu nhân viên Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Vào tháng 5 vừa qua, người này bị kết án 20 năm tù vì âm mưu làm lộ bí mật quốc phòng của Mỹ cho Trung Quốc.
Người còn lại là cựu nhân viên CIA Jerry Chun Shing Lee cũng nhận tội làm gián điệp cho Trung Quốc và đang chờ tuyên án.
"Những trường hợp nói trên cho thấy quy mô hoạt động gián điệp của chính phủ Trung Quốc và mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của chúng ta", Trợ lý Tổng chưởng lý John Demurs nói trong một tuyên bố.

Iran tử hình, bỏ tù một loạt “gián điệp CIA”

01-10-2019 - 06:12 PM | Thời sự quốc tế

(NLĐO) - Tòa án Iran đã kết án tử hình một người đàn ông về tội làm gián điệp cho Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA).

Trang tin Mizan dẫn lời người phát ngôn Bộ Tư pháp Iran Gholamhossein Esmaili hôm 1-10 cho biết ngoài bản án tử hình nói trên, hai người đàn ông khác là Ali Nefriyeh và Mohammad Ali Babapour cũng bị bỏ tù 10 năm về tội làm gián điệp cho CIA. Họ bị yêu cầu trả lại số tiền 55.000 USD. Một người thứ tư, Mohammad Amin-Nasab, phải lãnh 10 năm tù về tội làm gián điệp cho Anh.
"Một người đã bị kết án tử hình vì làm gián điệp cho cơ quan tình báo Mỹ nhưng phán quyết đã bị kháng cáo" – ông Esmaili nói.
Chưa rõ các trường hợp này có liên quan đến thông báo bắt được 17 gián điệp làm việc cho CIA của Iran hồi tháng 7 hay không.
Iran kết án tử hình “gián điệp làm việc cho CIA” - Ảnh 1.
Người phát ngôn Bộ Tư pháp Iran Gholamhossein Esmaili. Ảnh: Tehran Times
Các phán quyết được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng leo thang giữa Tehran và Washington kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump rút khỏi thỏa thuận hạt nhân năm 2015. Mỹ còn áp đặt lệnh trừng phạt nhằm vào nền kinh tế của Iran.
Thỉnh thoảng, Iran tuyên bố bắt giữ các gián điệp mà họ nói đang làm việc cho nước ngoài, bao gồm cả Mỹ và Israel. Hồi tháng 6, Iran thông báo xử tử một cựu nhân viên Bộ Quốc phòng. Người này bị kết tội làm gián điệp cho CIA. Hồi tháng 4, Iran cho biết tổng cộng 290 gián điệp CIA cả trong lẫn ngoài nước đã bị phát hiện trong những năm qua.
Gần đây nhất, vào tháng 8, Iran bỏ tù 2 người, bao gồm một người mang quốc tịch Anh, vì làm gián điệp cho Israel và nhận các khoản tiền bất hợp pháp. Cách đây 2 năm, Tehran cũng truy tố 3 công dân mang quốc tịch kép và một người nước ngoài với tội danh không xác định.
Một trong những người bị buộc tội, Nazanin Zaghari-Ratcliffe, một phụ nữ mang quốc tịch kép Anh - Iran, đã bị bỏ tù hơn 2 năm. Người này sau đó tuyệt thực để phản đối sự đối xử bất công dành cho cô.
Phạm Nghĩa (Theo Reuters)

Bí mật về tổ điệp báo huyền thoại lớn nhất thế giới

Lãnh đạo tổ điệp báo ZORA là nhà tình báo Xô-viết gốc Hungary huyền thoại Sandor Rador - thường gọi là “chú Sandor”.

Gần trăm người tham gia
Để chuẩn bị cho cuộc Chiến tranh Vệ quốc, Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô (GRU) đã xây dựng ở nhiều nước Tây Âu một loạt cơ sở tình báo. Trong số đó, công lao đầu thuộc về ZORA, đến mức sau này người ta nói rằng chiến tranh đã được giải quyết ở Thuỵ Sĩ – nơi đóng bộ phận đầu não của tổ điệp báo này.
Người trực tiếp đặt nền móng cho ZORA là Thiếu tá tình báo L. Anulov (bí danh Kostia). Khi Kostia được điều về Moscow (1938), anh để lại “cơ đồ” lúc ấy còn bé nhỏ cho Sandor Rador - nhà khoa học người Hungary, người đã cộng tác với GRU từ năm 1929. Được sự trợ giúp của hai cộng sự đắc lực là Pabor và Pie, cũng do Kostia để lại, Sandor đã cắm vững ở Thuỵ Sĩ, Đức, Áo… và dần mở rộng địa bàn.
Ngay trước chiến tranh, khi GRU chuyển tổ điệp báo SEVILIA do nữ tình báo viên người Ba Lan chỉ huy sang thuộc quyền chỉ đạo của Sandor, ZORA trở thành một lưới tình báo khổng lồ. Lưới điệp báo của Sandor có đến gần 100 người, hoạt động ở Geneve 19 người, ở Bern 15 người, ở Zurich 9 người, các thành phố khác của Thuỵ Sĩ 27 người, ở Đức 17 người, ở Áo 3 người…
Với quy mô và trên một địa bàn lớn như vậy, Sandor đã thể hiện khả năng tổ chức kiệt xuất. Hầu như ngày nào ông cũng gặp gỡ, tiếp xúc với tổ viên để thu nhận tài liệu, ra chỉ thị, tự xử lí thông tin, tự mã hoá trước khi chuyển về trung tâm và rồi lại tự mình giải mã các chỉ lệnh của Moscow.
Nhờ được tổ chức khéo léo và bảo mật cao, nên ZORA đã tồn tại được trong thời gian rất dài.
Bí mật về tổ điệp báo huyền thoại lớn nhất thế giới
Lá cờ chiến thắng của Hồng quân Liên Xô tại Berlin, Đức ngày 1/5/1945
Những chiến công của ZORA
Mờ sáng 17/6/1941 trên bàn làm việc của Tướng F. Golyakov, Tổng cục trưởng GRU, nằm sẵn một bức điện tối mật của Sandor, thông báo rằng nước Đức phát xít đã tăng cường lực lượng quân sự trên biên giới Xô - Đức và chuyển các sư đoàn Đức từ Hy Lạp đến Ba Lan. Và tới ngày 22/6, quân Đức tràn qua Liên Xô.
Tổng cộng, ZORA đã chuyển cho Moscow trên 3.000 điện báo. Phần lớn tin tức từ ZORA đều đáng tin cậy và khả năng dự báo cao. Những tin tức này đã giúp Hồng quân tiến hành hiệu quả các chiến dịch Stalingrad, Kursk, Dnieper... Cũng chính ZORA đã khai thác được bí mật xe tăng Tiger của Đức, chủng loại, thành phần các vũ khí hoá học mà quân phát xít định chế tạo và đưa vào sử dụng. 
Tháng 5/1942, chỉ sau 1 tháng nhận nhiệm vụ, Sandor đã có câu trả lời cho Moscow về nguyên lí tạo phản ứng dây chuyền của urani và nguyên lí làm giàu urani, giúp đấy nhanh Dự án nguyên tử của Liên Xô. ZORA cũng biết rõ những trò chơi chính trị diễn ra sau lưng Liên Xô, như nội dung các cuộc hội đàm bí mật giữa Mỹ và nước Đức phát xít về một thỏa thuận riêng rẽ có hại cho Liên Xô.
ZORA bại lộ
Đầu năm 1943, Thiếu tướng SS Valter Selenberg - Cục trưởng Tình báo Quân sự Đức đã có tương đối đầy đủ dữ kiện về hoạt động của một tổ chức tình báo có đầu não tại Thuỵ Sĩ. Theo yêu cầu và chỉ dẫn của Selenberg, cảnh sát Thuỵ Sĩ bắt đầu tìm kiếm ba đài phát sóng đang hoạt động trên lãnh thổ nước này.
Ngày 25/9/1943, vị trí đặt máy phát đầu tiên được xác định. Đó là ngôi nhà trên phố Florisan thuộc quyền sở hữu của cặp vợ chồng Olga và Eduard Kharmen, các hiệu thính viên của Sandor. Vị trí chiếc máy phát thứ hai do Roza Boli phụ trách cũng bị phát hiện. Cảnh sát lập tức bố trí theo dõi hai nhà này. Rất cảnh giác và tinh ý, Sandor ra lệnh ngừng liên lạc và đưa máy phát ra khỏi nhà.
Tuy nhiên, an ninh Thụy Sĩ tiếp tục canh chừng và tiến hành vụ bắt giữ đầu tiên vào 1h30 ngày 14/10/1943. Đến cuối tháng 11, những thành viên chủ chốt của ZORA ở Thụy Sĩ bị bắt, riêng Sandor kịp trốn thoát.
Từ Thụy Sĩ, Sandor sang Pháp rồi được đưa về Moscow. Năm 1946, do một sự hiểu nhầm, Sandor bị Toà án đặc biệt kết án 10 năm tù vị tội hoạt động gián điệp. Năm 1956, Toà quân sự thuộc Toà án Tối cao Liên Xô huỷ bỏ bản án năm 1946 và kết thúc khởi tố vụ án vì “không đủ yếu tố cấu thành tội phạm”.
Năm 1972, Liên Xô chính thức xin lỗi Sandor vì những sai lầm trong việc đánh giá kết quả hoạt động của ông tại Thuỵ Sĩ. Sandor được tặng huân chương “Chiến tranh Vệ quốc hạng nhất” và huân chương “Hữu nghị giữa các dân tộc”.
Ông trở thành tiến sĩ, giáo sư Đại học Tổng hợp Budapest, nhiều năm là Cục trưởng Bản đồ kiêm Chủ tịch Uỷ ban địa lí của Viện Hàn lâm khoa học Hungary. Các đồng nghiệp nước ngoài rất yêu mến và quý trọng ông, còn người dân Budapest và các cựu đồng nghiệp GRU thì trìu mến gọi ông là “chú Sandor”.
Nguyên Phong

Điều ít biết về những chiến công của tình báo Liên Xô

GRU đã thu thập thông tin trong những điều kiện vô cùng phức tạp, dưới sự kiểm soát gắt gao của các cơ quan phản gián Đức và luôn chịu nhiều rủi ro tính mạng.

Các điệp viên thuộc Tổng cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu Hồng quân Liên Xô (GRU) đã cung cấp những bằng chứng về việc Đức chuẩn bị tấn công Liên Xô, cũng như thời điểm tấn công cụ thể, những nước tham gia cùng với Đức, số lượng các binh đoàn Đức tập trung dọc biên giới với Liên Xô…
Trong suốt Chiến tranh Vệ quốc, GRU tập trung chủ yếu vào việc thu thập tin tức chính xác về các kế hoạch của quân Đức, hoạt động và năng lực của nền công nghiệp quân sự Đức và các nước chư hầu, về việc liệu Nhật Bản và Thổ Nhĩ Kỳ có cùng với Đức tấn công Liên Xô hay không.
Các điệp viên của GRU Richard Sorge hoạt động ở Nhật Bản và Moriss ở Mỹ đều khẳng định Tokyo sẽ không tiến công Liên Xô từ phía Đông như đã hứa với Đức.
Ngày 16/9/1941, Hitler phê chuẩn kế hoạch tiến công Moscow mang tên Typhoon (Bão tố), sử dụng trên 1 triệu quân được 1.700 xe tăng và một lực lượng lớn không quân chi viện. Thế nhưng, Hitler không thể ngờ rằng hầu như bút phê của y còn chưa ráo mực, Bộ Tổng chỉ huy Hồng quân đã nắm được.
Thông qua việc giải mã một tài liệu, kết hợp hỏi cung một phi công tù binh bị bắn rơi trên bầu trời ngoại ô Moscow, GRU biết được rằng quân Đức mà nòng cốt là Cụm tập đoàn quân Trung Tâm dưới quyền chỉ huy của Thống chế Von Bock sẽ mở màn chiến dịch Typhoon vào ngày 2 hoặc 3/10/1941.
Tin từ các điệp viên GRU tại nhiều nơi như London (Anh), Paris (Pháp)... cũng có nội dung tương tự. Đặc biệt, mạng lưới do Thiếu tướng Vasily Tupikov - Tuỳ viên quân sự Liên Xô tại Berlin chỉ đạo, không chỉ khẳng định thông tin trên mà còn cung cấp danh sách các đơn vị không quân Đức tham gia chiến dịch.
Những tin tình báo quan trọng này đã giúp Bộ Tổng chỉ huy tiến hành các biện pháp cần thiết trong việc tổ chức, bố trí lực lượng phòng thủ Moscow.
Ngày 3/10/1941, khi quân Đức tiến công, nhiều cơ quan chính phủ đã kịp thời di tản về các thành phố khác. Cơ quan tiền phương của GRU ở lại Moscow, ngay cạnh Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu để theo dõi, nắm bắt tin tình báo, trực tiếp cùng Cục Tác chiến hoạch định kế hoạch và điều hành tác chiến.
Điều ít biết về những chiến công của tình báo Liên Xô
Binh sĩ Liên Xô trong Thế Chiến 2. Ảnh: ER
Cơ quan tiền phương GRU đã tiến hành một chiến dịch mật có tên Kế hoạch Z, tổ chức 5 nhóm tác chiến gồm gần 500 người, 71 đội hành động với gần 2.000 người tung vào hậu phương địch. Các nhóm tác chiến đã tích cực khai thác các thông tin về các đơn vị Đức cũng như kế hoạch tác chiến của quân Đức.
Bằng những cuộc tiến công đột kích bất ngờ, hiệu quả, các đội hành động đã gây thương vong cho đối phương; hạn chế tới mức tối thiểu khả năng vận chuyển lực lượng, phương tiện chiến tranh, vũ khí trang bị của quân Đức theo các tuyến đường quan trọng, đặc biệt là hướng Smolensk - Moscow.
Lực lượng Tình báo Vô tuyến điện (VTĐ) thuộc GRU cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trinh sát các đơn vị máy bay ném bom Đức, xác định chính xác chủng loại, số lượng, sân bay cất cánh, hướng bay oanh kích Moscow.
Tin tức của VTĐ đã góp phần để lưới lửa phòng không dày đặc của Hồng quân bảo vệ có hiệu quả thủ đô trước không quân Đức. Chính chiếc máy bay Yankers-88 với viên Đại uý Meshmid mang theo những thông tin tình báo quý giá bị bắn rơi trước trận đánh cũng có đóng góp to lớn của tình báo VTĐ.
Đồng thời, các tiểu đoàn đặc nhiệm VTĐ Hồng quân đã rất thành công trong việc tiến hành gây nhiễu và tung tin giả. Mỗi tiểu đoàn được trang bị 18-20 máy thu trộm sóng và 4 máy định vị. Các sĩ quan liên lạc Đức thừa nhận, tin do VTĐ cung cấp đã “đóng vai trò quyết định trong thắng lợi của người Nga”.
Sang năm 1942, GRU cảnh báo Bộ Tổng tham mưu Xô-viết về việc Đức chuẩn bị đợt tấn công mùa xuân theo hướng Kavkaz và Stalingrad, cùng các đòn tấn công hỗ trợ ở hướng bắc và các chiến dịch nghi binh ở hướng trung tâm nhằm vào Moscow. Thời hạn bắt đầu là trung tuần tháng 4 hoặc đầu tháng 5.
Trong các chiến dịch tiếp theo, GRU cung cấp các tin tức tình báo chính xác giúp Bộ Tổng tư lệnh Tối cao đưa ra các quyết định mang tính chiến lược.
Trong chiến dịch ở Vòng cung Kursk (1943), tình báo quân sự báo cáo Bộ Tổng tư lệnh Tối cao và Bộ Tư lệnh các phương diện quân thời điểm quân Đức chuyển sang tấn công từ ngày 3 đến 6/7. Tin tình báo chính xác cho phép Hồng quân đánh các đòn phủ đầu, giành chiến thắng và chủ động trên chiến trường.
GRU cũng có những đóng góp to lớn trong việc đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật Bản. Không phải ngẫu nhiên mà người thay mặt Liên Xô ký Hiệp ước đầu hàng của Nhật lại là Trung tướng Tình báo Kuzma Derevyanko. Đây là sự đánh giá rất cao của Nhà nước Xô-viết đối với Cơ quan Tình báo quân sự.
Nguyên Phong

Bí ẩn điệp viên duy nhất được chôn ở nhà thờ Thánh Paul

Thomas Edward Lawrence được xem là điệp viên vĩ đại suốt thời kỳ trong và sau Thế chiến 1. Ông cũng là điệp viên duy nhất sau khi chết được mai táng tại Nhà thờ Thánh Paul, London, Anh.

Sinh ra tại miền bắc xứ Wales, sau khi tốt nghiệp Đại học Oxford chuyên ngành khảo cổ học, Thomas Edward Lawrence (1888-1935) làm việc trong “nhóm nghiên cứu khoa học khảo cổ” – thực chất là tổ điệp báo của Cơ quan Tình báo Anh (MI-6) tại Trung Đông để chuẩn bị cho nước Anh tham gia chiến tranh thế giới. Khi chiến tranh bùng nổ, bộ phận này trở thành trung tâm điều phối các hoạt động của MI-6 tại cả khu vực Trung Đông-Ảrập. 
Bí ẩn điệp viên duy nhất được chôn ở nhà thờ Thánh Paul
Ảnh: Ekuds
Lawrence rất thông thạo phong tục tập quán phương Đông, hiểu biết sâu sắc về thế giới Ảrập cũng như chính người Ảrập. Do vậy, ông ta có trong tay mạng lưới điệp viên rộng rãi và được tổ chức rất tốt tại những vùng đất Ảrập bị Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng. Ông được liệt vào hàng cận thần của vua Hussein thuộc dòng họ Saud và là cánh tay phải của con trai ông ta – hoàng tử Emir Faisal, những lãnh chúa thật sự của thế giới Ảrập lúc bấy giờ. Những người Ảrập tỏ ra rất trung thành với Lawrence, bởi ông ta biết chiếm lòng tin ở các thủ lĩnh, biết mua chuộc các tù trưởng một cách hào phóng, biết cách liều mạng nhưng luôn tỉnh táo và không bao giờ phạm sai lầm.
Kết quả là Lawrence đã góp phần thực hiện được chính sách thực dân của đế quốc Anh là biến các vùng đất Ảrập thành thuộc địa của mình. Sau khi chiến tranh kết thúc, dưới chiêu bài quyền ủy trị của Hội Quốc liên, người Anh đã bố trí để Faisal trở thành Quốc vương Iraq, còn người em trai Apdula của ông ta lên ngôi ở Jordan, biến xứ sở này thành sân sau cho nước Anh với những cơ sở dầu lửa. Tóm lại, Lawrence đã giúp củng cố vững chắc vị thế của nước Anh tại Trung Đông.
Cũng vào thời gian này, Afghanistan dưới quyền trị vì của Tiểu vương Amanullah đang tiến hành những cải cách dân chủ không được lòng London. Người Anh quyết định bằng mọi cách phá vỡ những kế hoạch của Amanullah, gạt bỏ ông ta khỏi ngai vàng và thay thế bằng một Tiểu vương khác sẵn sàng nghe theo mọi sự sai khiến của các ông chủ thực dân. Thế là, dưới bình phong là một cha cố với cái tên Pie Karam-shah, Lawrence lại khăn gói lên đường đến xứ sở lúc nào cũng hừng hực hơi nóng sắc tộc và tôn giáo này.
Tại đây, bằng những kinh nghiệm và mưu mẹo của nhiều năm hoạt động điệp báo, bằng tiền và thông qua nhiều mối quan hệ, Lawrence đã tiếp cận, làm quen và mua chuộc được Bachaji Sakao, một tướng cướp nổi tiếng tàn bạo đến mức giết cả bố đẻ và vợ, chuyên tổ chức cướp bóc trên các con đường núi vùng Peshawar. Lawrence đánh bài ngửa với Sakao rằng, nếu Sakao giúp loại bỏ được Quốc vương Amanullah thì Pie (Lawrence) đảm bảo ngôi báu sẽ được chuyển giao cho y.
Được sự cố vấn của Lawrence, Sakao đã vạch ra và thực hiện một chiến dịch kích động nhằm vào các cải cách đang được tiến hành trong nước, đặc biệt đánh vào các biện pháp chưa thực sự được lòng dân của vua Amanullah: “Nhà vua bắt chúng ta phải đội mũ ư? Không được! Chúng ta phải đóng khăn như Đấng tiên tri đã ban dạy từ ngàn đời nay. Phụ nữ theo đạo Hồi được quyền bỏ mạng che mặt ư? Không đưọc! Như thế là hạ nhục tất cả mọi tín đồ. Ông ta còn bắt chúng ta chữa bệnh, buộc đàn bà và lũ con gái đi học, và cho rằng đàn ông không nhất thiết phải để râu... Điều này trái với luật lệ Hồi giáo, trái với ý muốn của Thánh Allah. Một người như thế liệu còn đáng để chúng ta tin tưởng ở ngôi cao hay không?..”. 
Bí ẩn điệp viên duy nhất được chôn ở nhà thờ Thánh Paul
Ảnh: MediaStorehouse
Pie Karam-shah còn cho tán phát khắp nơi những bức ảnh chụp các cô gái, nhìn bề ngoài có vẻ giống các thiếu nữ Afghanistan, đang loã lồ ngồi trên đùi những người đàn ông để tuyên truyền kích động các phần tử quá khích rằng nhà vua đang làm hủ bại nền văn hoá Hồi giáo. Hành động này như đổ thêm dầu vào lửa, gây nên làn sóng công phẫn khắp đất nước và làm cho tình hình trở nên không thể kiểm soát nổi đối với nhà vua.
Đúng lúc đó, đại tá Lawrence gửi một báo cáo về London: “Nhân danh tất cả các tín đồ Hồi giáo, tôi vừa cho lan truyền một tuyên bố như sau: Theo lệnh Chúa Trời và theo phán truyền của Đấng tiên tri, chúng ta phải phế truất Amanullah khỏi ngôi vua và đồng lòng tôn Emir Basai Sakao làm quốc vương Afghanistan. Thánh Allah sẽ trừng phạt tất cả những ai không tuân theo lệnh Chúa Trời. Chúc mọi sự tốt lành. Pie Karam-shah”.
Câu cuối “Chúc mọi sự tốt lành” là mật khẩu đã được quy định từ trước: Thời cơ đã đến. Ngày hôm sau, nhiều máy bay cất cánh từ các sân bay Anh ở Ấn Độ nhằm thẳng hướng Kabul, quần đảo gây thị uy trên bầu trời Thủ đô Afghanistan. Qua một ngày, tờ Daily Mailor đưa tin chính quyền ở Afghanistan đã rơi vào tay Basai Sakao. Ngay lập tức, cũng theo sự chỉ đạo của Pie Karam-shah, y xua 20 nghìn quân phỉ Bashmakh tiến hành các vụ đánh phá cướp bóc sang vùng Trung Á của Liên Xô. Đó là vào năm 1927.
Tháng 2/1929, Lawrence trở về London. Đúng vào thời gian này, các lực lượng tiến bộ lên tiếng đòi làm rõ những hoạt động mờ ám của Anh ở Afghanistan và yêu cầu Chính phủ ngừng ủng hộ Basai Sakao. Tháng 10/1929, Basai Sakao bị lật đổ và bị xử tử. Đến khi Hồng quân Liên Xô dẹp hết bọn phỉ Bashmakh thì âm mưu của Anh và các nước đế quốc dùng Afghanistan làm bàn đạp chống phá nhà nước Xô-viết cũng tan như bong bóng xà phòng.
Sau sự kiện này, Lawrence quyết định từ bỏ công danh và chuyển sang viết hồi kí về những năm đầy phiêu lưu của mình. Ông ta trằn trọc nhiều đêm dài nhớ lại một thời oanh liệt ở Trung Đông, đau đớn bởi bao công sức bỏ ra đã không mang lại một kết cục như ý. Lịch sử đã đổi chiều. Nhưng tất cả những gì Lawrence đã kịp làm cho nước Anh cũng đủ để xem ông ta là điệp viên xuất sắc nhất thế giới thời kì này.
Thomas Lawrence cũng là điệp viên đầu tiên và duy nhất - tính đến nay, sau khi chết được mai táng tại Nhà thờ Thánh Paul bên cạnh các chính khách, các tướng lĩnh tài ba và các nghệ sĩ vĩ đại của nước Anh.
Nguyên Phong

Sự thực chiếc máy giúp Anh phá vỡ đòn xâm lược của Đức

Nhờ có Antienigma, London đã giải mã được điện mật của tình báo Đức về việc đánh chiếm Ba Lan năm 1939 và chiến dịch “Ngày đại bàng” nhằm vào nước Anh.

Ngày 16/7/1940, Adolf Hitler kí Mật lệnh 16 tiến hành chiến dịch “Sư tử biển” đổ bộ lên nước Anh. Nòng cốt của kế hoạch này là chiến dịch ném bom “Ngày đại bàng”, oanh tạc những mục tiêu quan trọng, tiêu diệt sinh lực vật lực, phá huỷ tiềm năng kinh tế, quốc phòng của Anh, rồi đổ bộ và chiếm giữ những cơ quan đầu não, tiến tới chiếm đóng lâu dài nước Anh.
Thế nhưng, “Ngày đại bàng” đã trở thành ngày đen tối đối với không lực Đức. Chỉ trong hai tháng kể từ ngày bắt đầu chiến dịch (15/9/1940), Đức mất 1.733 máy bay, kéo theo là sự phá sản của kế hoạch “Sư tử biển”. Nước Anh không những không bị đánh gục mà còn đủ sức mạnh tham gia lực lượng Đồng minh góp phần tiêu diệt nước Đức phát xít.
Một kế hoạch công phu, do một cơ quan tình báo nổi tiếng là chặt chẽ và có nghiệp vụ vạch ra, vậy mà kết thúc không kèn không trống. Sức mạnh nào đã giúp nước Anh tai qua nạn khỏi? 
Sự thực chiếc máy giúp Anh phá vỡ đòn xâm lược của Đức
Chiếc máy Enigma của phát xít Đức. Ảnh: Express
Trước đó, vào một sáng chủ nhật mùa hè đẹp trời năm 1938, Thiếu tướng John Alesander Sincle, Giám đốc Cơ quan Tình báo Anh (SIS) đang thu xếp hành lí chuẩn bị đi chơi ở ngoại ô London thì có chuông điện thoại reo. Viên sĩ quan trực ban mời Sincle đến ngay công sở: Thiếu tá tình báo Frenxis Fawly cài cắm ở Đức và mang bí số 1200 nóng lòng xin được gặp ông.
Điệp viên 1200 cho hay, theo nguồn tin mà anh ta có được, quân đội Đức đang dùng máy Enigma để mã hoá mệnh lệnh, chỉ thị và các bức điện được phát đi trong nội bộ. Sincle ngay lập tức cho gọi cấp phó Steward Mendis đến và giao nhiệm vụ làm việc trực tiếp với 1200, kiểm tra tin và nếu đúng thì phải bằng mọi cách nắm được những bí mật có liên quan đến Enigma.
Các nhân viên dưới quyền Mendis bắt đầu toả đi các hướng săn lùng mọi tin tức có liên quan đến Enigma. Sau nhiều ngày, Mendis nhận được một bức điện mật từ Warszawa, báo cáo đã lần ra dấu vết một kĩ sư người Ba Lan bị trục xuất khỏi nước Đức. Người này từng làm việc ở nhà máy sản xuất ra chiếc Enigma đầy bí ẩn và nắm được nguyên lí hoạt động của nó.
Viên kĩ sư Ba Lan, sau khi được cấp hộ chiếu Anh mới toanh cùng 10.000USD tiền thưởng, đã lắp ráp thành công một chiếc Enigma. Chuyên gia mật mã nổi tiếng Alfred Nox cùng nhà toán học tài ba Alan Thiuring được phái đến hỗ trợ viên kĩ sư. Chỉ một thời gian sau, bộ ba này đã chế tạo ra một loại máy có thể giải mã bất cứ bức điện nào đã được Enigma thật mã hoá. Máy này được đặt tên là Antienigma (Chống lại Enigma).
Nhờ có Antienigma, phía Anh đã giải mã được những bức điện mật đầu tiên của quân đội và cơ quan tình báo Đức về việc chuẩn bị và tiến hành đánh chiếm Ba Lan năm 1939. Tiếp đó là những thông tin quan trọng về chiến dịch “Ngày đại bàng” của không quân Đức.
Rạng sáng ngày 15/9/1940, các hồi còi báo động vang lên khắp London. Các trạm radar, các trạm liên lạc hàng không hoạt động ráo riết. Quân đoàn không quân tiêm kích số 2 của quân đội Hoàng gia Anh được lệnh cất cánh. Trận không chiến diễn ra quyết liệt trên vùng trời phía đông nam nước Anh. Đến 17 giờ, Thống chế Tư lệnh Không quân Đức Goering biết đã thất bại. Hai ngày sau, Antienigma giải mã lệnh của Hitler về việc dỡ bỏ các phương tiện đã được chuẩn bị cho quân Đức đổ bộ lên bờ biển nước Anh.
Như vậy, nhờ có máy giải mã Antienigma mà người Anh đã làm phá sản các chiến dịch quan trọng của nước Đức phát xít. Trong bối cảnh đó, người ta không thể không đặt câu hỏi: Vì sao không quân Đức lại huỷ diệt được thành phố Coventry khổng lồ của nước Anh mà hầu như không bị tổn thất?
Ngày 12/11/1940, Antienigma thu và giải mã được các mật lệnh của Bộ Tư lệnh không quân Đức về việc không kích Coventry vào đêm 14 rạng ngày 15/11, để trả đũa vụ Anh ném bom Munich. Cơ quan phản gián Anh thậm chí nắm được các chi tiết cụ thể của chiến dịch: Thoạt đầu, Đức sẽ dùng các máy bay Camfgroup-100 ném bom cháy xuống Coventy; các đám cháy sẽ làm mục tiêu cho các phi đội cường kích Heinken-111 ném bom oanh tạc. Tổng số máy bay Heinken được huy động dự kiến là 500 chiếc.
Nhận được báo cáo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng W. Churchill cùng Cố vấn quân sự Gastingsh Ismay suy nghĩ rất lung. Hai người suy luận, nếu nước Anh tổ chức phòng thủ cho Coventry, làm cho không quân Đức một lần nữa xôi hỏng bỏng không như trong chiến dịch “Sư tử biển” thì người Đức sẽ phát hiện ra rằng London đã nắm được các bí mật của Enigma và ắt sẽ hoặc thay đổi mật mã, hoặc chế tạo máy khác.
Như vậy, để bảo toàn bí mật cho Enigma, Churchill và Ismay quyết định dâng Coventry cho thần chết. Người ta đã không tổ chức sơ tán cho người dân thành phố. Các đơn vị cứu hoả và cảnh sát án binh bất động. Phòng không hoạt động yếu ớt, các tốp tiêm kích lẻ loi của Anh không đương nổi cả binh đoàn Heinken hùng hổ. Cả một thành phố đang ngủ say bị huỷ diệt.
Có lẽ vì lí do này mà người Anh không muốn nhắc lại vụ Enigma, dù việc khám phá ra nó quả là một chiến tích lớn lao của ngành tình báo Anh.
Nguyên Phong

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32