Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN KHOA HỌC 129
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Hé lộ bí mật đáng sợ về Cổng Địa Ngục ở Nga
Bí ẩn 'địa ngục' 5.000 độ của Trái Đất: Khoa học điên đầu giải mã nhưng chưa thành
Trang Ly |
3
Đến nay, nhân loại đã thu được những hiểu biết gì ở thế giới bên dưới những đôi chân của con người - Lõi Trái Đất?
Neil Armstrong - Phi hành gia đầu tiên trong lịch sử đặt những bước chân khai hoang đầu tiên lên Mặt Trăng từng nói: "Bí ẩn khơi gợi sự tò mò, sự tò mò là chất liệu tạo nên khát vọng thông hiểu của loài người."
Không
chỉ dừng ở sự tò mò, con người trong hành trình tiến hóa vẫn không
ngừng biến sự tò mò đó thành hành động. Nếu không nhờ thế, nhân loại sao
có thể vươn đến những vì sao và biết được hành tinh chúng ta đang sống
lại ẩn chứa những thứ tuyệt vời đến vậy.
Trong khi sự
hiểu biết của con người về phần còn lại của vũ trụ đang phát triển ngày
một lớn thì những kiến thức về hoạt động bên trong của hành tinh chúng
ta lại chậm hơn rất nhiều.
Nhân loại ngày nay đối mặt với vấn đề lớn liên quan đến sự hiểu biết của chúng ta về lõi Trái Đất. Chúng ta biết rằng, Trái Đất tạo ra từ trường
từ trong lòng đất của nó hàng tỷ năm qua nhưng lại không hiểu tại sao
hành tinh này làm được điều đó như thế nào? Và làm sao từ trường có thể
tồn tại lâu đến vậy?
Cho đến nay, những gì các nhà khoa học
biết được đó là sự sống trên bề mặt Trái Đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi
từ trường trong lòng đất. Bao lâu nay, nó vẫn âm thầm làm nhiệm vụ bảo
vệ Trái Đất trước sự xâm nhập của cơn bão Mặt Trời và những hạt năng
lượng cao từ không gian. Nếu không có lớp màng vô hình ấy, sự sống không
thể tồn tại!
'Địa ngục' ngàn độ C nóng tương đương bề
mặt Mặt Trời (riêng lõi ngoài đã nóng 5.000 độ C), sâu hàng ngàn km
trong lòng đất ấy đã tạo ra lõi sắt nóng chảy sinh nên từ trường khổng
lồ, bảo vệ Trái Đất và sự sống của nó.
Sao Kim, hành
tinh được xem là khắc nghiệt nhất Thái Dương Hệ, vì từ trường rất yếu
(hoặc không có) nên trở thành 'hành tinh chết', không có sự sống là một
minh chứng cho thấy từ trường quan trọng như thế nào.
Vậy,
hành trình đi vào lòng đất bắt đầu từ khi nào? Quá trình ấy khó khăn ra
sao? Đến nay, nhân loại đã thu được những hiểu biết gì ở thế giới bên
dưới những đôi chân của con người? Hãy cùng Discover Magazine lật mở từng vấn đề.
Thập
niên 1940, Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô nổ ra. Cuộc chiến không
đổ máu trên chiến trường kéo dài 4 thập kỷ đó đã mang đến cho nhân loại
rất nhiều kỳ tích vĩ đại, nếu xét riêng lĩnh vực khoa học-kỹ thuât.
Liên
Xô một mặt ghi tên mình là quốc gia mở ra kỷ nguyên khám phá vũ trụ,
một mặt trở thành quốc gia tiên phong trong hành trình giải mã lòng đất.
Năm
1962, 1 năm sau khi Liên Xô trở thành quốc gia đầu tiên trong vũ trụ
đưa người bay ra ngoài không gian, chính phủ nước này thành lập Hội đồng
Khoa học Liên ngành nhằm triển khai 'kế hoạch điện rồ' mà chưa một quốc
gia nào trên thế giới dám thực hiện: Thâm nhập lòng đất, chạm đến Điểm
gián đoạn Mohorovičić.
Trên thực tế, vào năm 1957, Giáo
sư địa chất học, nhà hải dương vật lý học người Mỹ Walter Munk, thành
viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ, là người đầu tiên đề xuất
Project Mohole.
Project Mohole khi đó được miêu tả là nỗ
lực khoan sâu vài nghìn mét xuống đáy biển Thái Bình Dương để lấy mẫu
vật liệu từ lớp phủ của Trái Đất, bằng cách khoan một lỗ xuyên qua lớp
vỏ trái đất đến Điểm gián đoạn Mohorovičić (còn gọi là Moho). Tuy nhiên,
10 năm sau ngày đề xuất, dự án này vẫn không được Quốc hội Mỹ ủng hộ
với lý do: Không khả thi.
Điểm
gián đoạn Mohorovičić được đặt theo tên nhà địa chất người Croatia
Andrija Mohorovičić (1857-1936), ông là người đầu tiên đề xuất sự tồn
tại của điểm gián đoạn năm 1909.
Điểm gián đoạn
Mohorovičić đánh dấu ranh giới giữa lớp vỏ và lớp phủ của Trái Đất. Vị
trí của Điểm gián đoạn Mohorovičić dao động từ khoảng 5 km ở gần các
sống núi đại dương tới khoảng 75 km ở gần lớp vỏ lục địa.
Theo
giới sử học, lấy được mẫu vật liệu tại Điểm gián đoạn Mohorovičić giống
như nắm được kiến thức khoa học Trái Đất, phục vụ cho chương trình
không gian về sau. Nếu thành công, cuộc thám hiểm đầy tham vọng này sẽ
cung cấp những thông tin vô giá về tuổi, lớp phủ và cách thức hoạt động
của từ trường lòng đất. Thêm nữa, những kiến thức từ Moho có thể được
đưa ra để đặt câu hỏi về sự trôi dạt lục địa, mà tại thời điểm đó vẫn
còn gây tranh cãi.
Vì thế, đề xuất Dự án Mohole của Mỹ là
khoan đến ranh giới này qua đáy biển - đây là một trong những điểm mà
lớp vỏ Trái Đất mỏng nhất, bởi điều kiện công nghệ thời đó không cho
phép thiết bị khoan chịu được độ sâu và nhiệt độ tương ứng trong lòng
đất.
Do đó, những nỗ lực khoan đến ranh giới của Điểm
gián đoạn Mohorovičić trên đất liền là điều "không tưởng". Tuy nhiên,
khác với Mỹ, Liên Xô rất hăng hái với kế hoạch không tưởng này.
Mùa
Xuân năm 1970, một nhóm chuyên gia Liên Xô bắt đầu tiến hành khoan sâu
vào lòng đất tại vị trí 69° Bắc và 30° Đông, thuộc huyện Pechengsky, bán
đảo Kola, Nga ngày nay.
Công việc này kéo dài 24 năm. Sử
dụng công nghệ khoan đào mới nhất thời bấy giờ là Uralmash-4E, và sau
đó là Uralmash-15000, các nhà địa chất đã khoan được hệ thống lỗ khoan
sâu mà họ đặt tên là Kola Superdeep Borehole.
Lỗ hổng trung tâm của Kola Superdeep Boreholeb có tên là SG-3, có độ sâu là 12.262 mét.SG-3 là lỗ khoan nhân tạo sâu nhất mà con người làm được trên Trái Đất tính cho đến hết năm 2007(1).
Ngoài
ra, các nhà địa chất Liên Xô còn thu được các trầm tích biển, ở độ sâu
7.000 mét, có niên đại 2 tỷ năm tuổi. Trong các trầm tích này chứa các
dấu vết hóa thạch của sự sống.
Bước sang thập niên 1990,
khi Mỹ đạt được những thành công trong việc phóng tàu thăm dò sao Hỏa,
sao Diêm Vương thì công việc khoan sâu Kola Superdeep Borehole bắt đầu
trì trệ. Công nghệ khoan lúc này không cho phép mũi khoan chịu được
nhiệt độ gia tăng hơn so với dự kiến ở trong lòng đất.
Năm
1994, dự án chính thức kết thúc. Với chiều sâu hơn 12.000 mét, người
Liên Xô mới đi được nửa đường xuống lớp phủ. Nếu nói sao sánh Trái đất
có kích thước bằng một quả táo, thì lỗ khoan Kola mới chỉ xuyên thủng
lớp vỏ táo.
"Đi
sâu 5 đến 10km vào lòng đất còn khó hơn việc bay ra ngoài không gian ở
độ cao tương tự." - David Stevenson, chuyên gia địa chất học thuộc Viện
Công nghệ California (Mỹ) nhận định.
16 năm trước, Tạp chí Nature đăng tài liệu của nhà địa chất học David Stevenson, trong đó trình bày kế hoạch dùng vũ khí nhiệt hạch để thâm nhập lòng đất.
Hình minh họa
Theo
David Stevenson, để đến được trung tâm Trái Đất, cần kích nổ vũ khí
nhiệt hạch để tạo ra vết nứt sâu hàng trăm mét trên bề mặt Trái đất.
Tiếp theo, đổ 110.000 tấn sắt nóng chảy kèm một thiết bị thăm dò chống
nóng cực đại vào vết nứt. Sắt nóng chảy sẽ tìm cách len lỏi vào lõi Trái
Đất.
Stevenson ước tính rằng sắt nóng chảy và thiết bị
dò sẽ di chuyển với tốc độ khoảng 16 km/giờ và đạt đến lõi trong vòng
một tuần.
Thiết bị thăm dò sẽ ghi lại dữ liệu về
nhiệt độ, áp suất và thành phần của đá mà nó đi qua. Vì sóng vô tuyến có
thể xuyên qua đá rắn, thiết bị dò sẽ truyền dữ liệu trong một loạt sóng
địa chấn nhỏ. Cùng lúc đó trên mặt đất, một máy đo địa chấn cực kỳ nhạy
sẽ tiếp nhận tín hiệu rồi được các nhà khoa học phân tích lại.
Có
hai vấn đề đặt ra trong kế hoạch của David Stevenson: 1 là lượng sắt
nóng chảy đó ở đâu ra? 2 là chúng ta có thể sản xuất được thiết bị có
khả năng chống nóng hàng ngàn độ C không?
Dù có thể vào
thời đó, kế hoạch này không khả thi nhưng điều này thể hiện khát khao
khám phá lòng Trái Đất tột bậc của các nhà khoa học thế giới.
Dựa trên niên đại phóng xạ của các loại đá cổ, các nhà khoa học ước tính Trái Đất hình thành khoảng 4,5 tỷ năm trước.
Lõi
Trái Đất ban đầu là kim loại lỏng hoàn toàn và đã được làm mát và hóa
rắn một phần theo thời gian. Từ trường được tạo ra bởi sự quay tròn của
lõi rắn bên trong.
Thời điểm kết tinh lõi bên trong là một trong những câu hỏi khó trả lời nhất trong khoa học Trái Đất và hành tinh.
Hiện,
các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu sự tương tác/trao đổi giữa
lớp lõi và lớp phủ cũng như sự thay đổi động lực bên trong của Trái Đất,
nhằm tìm hiểu cách thức và thời điểm từ trường được "kích hoạt" để bảo
vệ sự sống trên hành tinh.
Từ trường là tấm khiên bảo vệ sự sống Trái Đất. Ảnh: Discover Magazine
Nếu
không có từ trường bao quanh hành tinh, bức xạ Mặt Trời và các hạt năng
lượng cao ngoài vũ trụ sẽ tước đi bầu khí quyển Trái Đất và bắn phá bề
mặt cũng như toàn bộ sự sống mà phải mất rất lâu sau đó mới đâm chồi,
nảy nở.
Trong Thái Dương Hệ rộng lớn, Trái Đất trở thành
hành tinh độc nhất trong vũ trụ (tính theo sự hiểu biết của loài người
đến nay) có sự sống và có loài người.
Nhờ đâu?
Bằng
một cách sắp xếp đầy hoàn hảo của tự nhiên, Trái Đất ở đúng khoảng cách
lý tưởng với Mặt Trời (không quá nóng, không quá lạnh); Có Mặt Trăng
bên cạnh; Có từ trường hành tinh; Có hoạt động kiến tạo mảng và có sự
hiện diện thiết yếu của nước.
Ảnh: Seeker
Nếu không có sự va chạm tạo ra Mặt Trăng, Trái Đất chúng ta sẽ không có đủ nhiệt để đối lưu trong lõi, tạo nên từ trường.
Nếu không
có nước, lớp vỏ Trái Đất có thể vẫn còn quá nóng để nứt vỡ thành các
mảng kiến tạo; đổi lại, nếu không có lớp vỏ gãy thì quá nhiều nhiệt sẽ
bị giam giữ bên trong lòng Trái Đất, đến một lúc nào đó sẽ bùng nổ khổng
lồ.
Tựu chung tất cả các yếu tố sống còn này lại đã tạo nên một hành tinh xanh có sự sống đặc biệt bậc nhất trong vũ trụ!
Chỉ
riêng trong Hệ Mặt Trời của chúng ta, nhà khoa học đã có thể thấy sự
khác biệt khủng khiếp giữa Trái Đất và sao Kim. Lại một lần chúng ta
nhìn vào sao Kim - hành tinh khắc nghiệt nhất Hệ Mặt Trời: Không kiến
tạo mảng, không nước, không từ trường, không sự sống!
Trái Đất là duy nhất?
Câu hỏi này đến nay nhân loại vẫn mải miết đi tìm câu trả lời.
Việc
tìm hiểu từ trường, hiểu sâu về sự ra đời, cách thức hoạt động của nó
là cách những cư dân trên mặt đất hiểu được sự sống hình thành và tồn
tại trên hành tinh lại kỳ diệu và đáng trân trọng mức nào!
Chú thích:
(1)
Về sau, lỗ dầu khoan Al Shaheen của Qatar đạt độ sâu 12.289 mét (năm
2008). Và đến năm 2011, giếng dầu Sakhalin-I Odoptu OP-11 ngoài khơi Nga
đạt độ sâu kỷ lục 12.345 mét.
Giải thưởng thuộc về ba nhà khoa học James
Peebles, Michel Mayor và Didier Queloz với hai nghiên cứu về vũ trụ học
và ngoại hành tinh.
Ba nhà khoa học đoạt giải Nobel Vật lý 2019. Ảnh: Twitter.
Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển lúc 16 giờ 55, ngày 8/10 (giờ Hà Nội) đã
công bố giải Nobel Vật lý năm 2019 thuộc về các nhà khoa học James
Peebles, Michel Mayor và Didier Queloz. Ba nhà khoa học sẽ cùng chia sẻ
khoản tiền thưởng trị giá hơn 900.000 USD cho hai công trình nghiên cứu
được đánh giá là "đóng góp vào sự hiểu biết về sự tiến hóa của vũ trụ và
vị trí của Trái Đất trong vũ trụ".
Nhà nghiên cứu James Peebles đã xây dựng nền tảng mang tính lý thuyết về
vũ trụ học và Michel Mayor cùng Didier Queloz phát hiện ngoại hành tinh
quay quanh ngôi sao giống Mặt Trời.
James Peebles ở Đại học Princeton (Mỹ) nghiên cứu chuyên sâu về vũ trụ
cùng với hàng tỷ thiên hà và cụm thiên hà. Công trình của ông giúp tăng
cường hiểu biết về cấu trúc và lịch sử của vũ trụ, đặt nền móng cho
ngành vũ trụ học trong 50 năm qua. Mô hình Big Bang mô tả quá trình vũ
trụ tiến hóa trong gần 14 tỷ năm từ một khối cầu nóng và đặc thành vũ
trụ mênh mông, lạnh lẽo và không ngừng mở rộng như ngày nay.
Gần 400.000 năm sau vụ nổ Big Bang, vũ trụ tăm tối dần trở nên trong
suốt, cho phép ánh sáng truyền qua không gian. Ngày nay, bức xạ còn sót
lại dưới dạng phông vi sóng vũ trụ và lưu giữ nhiều thông tin về vũ trụ
thuở đầu.
Với các công cụ lý thuyết và tính toán, Peebles giải mã những dấu vết
sót lại từ thuở sơ khai của vũ trụ và phát hiện nhiều quá trình mới. Ông
nhận thấy chúng ta mới chỉ biết 5% vũ trụ khả kiến dưới dạng ngôi sao,
hành tinh và con người. 95% còn lại bao gồm năng lượng tối và vật chất
tối theo cách gọi của các nhà vật lý. Năng lượng tối là lực thúc đẩy sự
mở rộng của vũ trụ trong khi vật chất tối vô hình dường như lơ lửng
quanh các thiên hà, chỉ có thể nhận biết qua sức hút trọng lực.
Michel Mayor và Didier Queloz ở Đại học Geneva (Thụy Sĩ) khám phá các
khu vực lân cận hệ Mặt Trời trong dải Ngân Hà. Tháng 10/1995, họ tìm
thấy hành tinh khí khổng lồ quay quanh ngôi sao 51 Pegasi ở cách Trái
Đất 50 năm ánh sáng. Sử dụng thiết bị chuyên dụng, họ quan sát hành tinh
giống sao Mộc 51 Pegasi b từ Đài thiên văn Haute-Provence ở phía nam
nước Pháp. Đây là ngoại hành tinh đầu tiên được phát hiện quanh một ngôi
sao dãy chính, loại sao hợp nhất nguyên tử hydro để hình thành nguyên
tử heli ở lõi. Sao dãy chính, bao gồm cả Mặt Trời, là loại sao phổ biến
nhất trong vũ trụ.
Phát hiện của họ đã mở ra cuộc cách mạng trong ngành thiên văn học. Kể
từ sau đó, hơn 4.000 ngoại hành tinh được phát hiện trong dải Ngân Hà
với sự đa dạng về kích thước, hình thái và quỹ đạo.
Kể từ khi Alfred Nobel lập ra giải thưởng, đã có 112 giải Nobel Vật lý
được trao cho 209 nhà khoa học. John Bardeen là học giả duy nhất hai lần
đoạt giải Nobel Vật lý vào năm 1956 và 1972. Giải thưởng được trao bởi
Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển ở Stockholm.
Giải Nobel Vật lý 2018 được trao cho nhà nghiên cứu Arthur Ashkin (Mỹ),
Gérard Mourou và Donna Strickland (Canada) nhờ những phát minh đột phá
trong lĩnh vực vật lý laser. Strickland ở Đại học Waterloo, Ontario, trở
thành người phụ nữ đầu tiên giành giải Nobel Vật lý từ khi Maria
Goeppert Mayer nhận được vinh dự này vào năm 1963. Bà là người phụ nữ
thứ ba trong lịch sử đoạt giải Nobel Vật lý.
Nobel là giải thưởng quốc tế do Quỹ Nobel tại Stockholm lập ra từ năm
1901 dựa trên tài sản của Alfred Nobel, nhà phát minh kiêm doanh nhân
Thụy Điển.
Giải thưởng được trao thường niên cho những cá nhân và tổ chức có cống
hiến nổi bật trong các lĩnh vực Y học, Hóa học, Vật lý, Văn học, Hòa
bình.
Năm 1968, Ngân hàng Trung ương Thụy Điển lập ra Giải thưởng của Ngân
hàng Thụy Điển cho Khoa học kinh tế để tưởng nhớ Nobel, còn gọi là giải
Nobel Kinh tế. Mỗi giải thưởng gồm huy chương, bằng chứng nhận cá nhân
và một khoản tiền thưởng. Từ năm 1901-2017, giải thưởng đã được trao 585
lần cho 923 cá nhân và tổ chức trên thế giới.
Ban Khoa học
Phát minh về laser đoạt giải Nobel Vật lý 2018
Một nhà khoa học Mỹ, hai học giả Canada đã giành giải Nobel Vật lý 2018 với phần thưởng trị giá một triệu USD.
Học giả đoạt giải Nobel sẽ được trao huy chương bằng vàng 18K. Ảnh: Phys.org.
Giải Nobel Vật lý 2018 được trao cho nhà nghiên cứu Arthur Ashkin,
Gérard Mourou và Donna Strickland cho những phát minh đột phá trong lĩnh
vực vật lý laser, theo Guardian. Giải thưởng được Göran K.
Hansson, Tổng thư ký của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, công
bố vào lúc 16h55 theo giờ Hà Nội. Học giả đoạt giải sẽ giành được phần
thưởng trị giá 1 triệu USD.
Ông Göran K. Hansson công bố tên ba nhà vật lý đoạt giải. Video: Twitter.
Arthur Ashkin, nhà vật lý học người Mỹ, được trao một nửa giải thưởng
nhờ phát minh nhíp quang học, một loại bẫy ánh sáng cho phép ánh sáng
điều khiển những hạt nhỏ. Nhíp quang học của Ashkin giữ chặt các hạt,
nguyên tử và phân tử bằng ngón tay laser. Thiết bị có thể kiểm tra và
điều khiển virus, vi khuẩn và tế bào sống khác mà không gây tổn thương,
tạo cơ hội quan sát và kiểm soát các tổ chức sống.
Các bước thực hiện bẫy ánh sáng. Ảnh: Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển.
Hai nhà vật lý Gérard Mourou (người Pháp) và Donna Strickland (người
Canada) nhận nửa giải thưởng còn lại cho phương pháp tạo ra những xung
quang học siêu ngắn với cường độ mạnh. Kỹ thuật này có tên Khuếch đại xung laser cực ngắn hay CPA. Chùm
laser sắc bén có thể cắt hoặc khoan lỗ qua nhiều vật liệu khác nhau với
độ chính xác cực cao, ngay cả với vật chất sống. Kỹ thuật giúp thực hiện những ca phẫu thuật mắt cho hàng triệu người mỗi năm.
Giải thích về phương pháp khuếch đại xung laser cực ngắn. Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển.
Phát minh đoạt giải Nobel năm nay đã cách mạng hóa ngành vật lý laser,
giúp giới nghiên cứu khám phá các đồ vật cực nhỏ và quá trình diễn ra
siêu nhanh. Những thiết bị cực chính xác này giúp mở ra lĩnh vực nghiên
cứu mới, có nhiều ứng dụng trong công nghiệp và y học.
Strickland ở Đại học Waterloo, Ontairo, trở thành người phụ nữ đầu tiên
giành giải Nobel Vật lý từ khi Maria Goeppert Mayer nhận được vinh dự
này vào năm 1963 cho nghiên cứu về kết cấu vỏ hạt nhân. Bà là người phụ
nữ thứ ba trong lịch sử đoạt giải Nobel Vật lý danh giá.
Năm ngoái, giải thưởng được trao cho ba nhà nghiên cứu Rainer Weiss,
Barry Barish và Kip Thorne với phát hiện về sóng hấp dẫn, những gợn sóng
trong trường không - thời gian, sinh ra từ những sự kiện dữ dội như hố
đen sáp nhập.
Nobel là giải thưởng quốc tế do Quỹ Nobel tại Stockholm lập ra từ năm
1901 dựa trên tài sản của Alfred Nobel, nhà phát minh kiêm doanh nhân
Thụy Điển.
Giải thưởng được trao thường niên cho những cá nhân và tổ chức có cống
hiến nổi bật trong các lĩnh vực Y học, Hóa học, Vật lý, Văn học, Hòa
bình.
Năm 1968, Ngân hàng Trung ương Thụy Điển lập ra Giải thưởng của Ngân
hàng Thụy Điển cho Khoa học kinh tế để tưởng nhớ Nobel, còn gọi là giải
Nobel Kinh tế. Mỗi giải thưởng gồm huy chương, bằng chứng nhận cá nhân
và một khoản tiền thưởng. Từ năm 1901-2017, giải thưởng đã được trao 585
lần cho 923 cá nhân và tổ chức trên thế giới.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét