BỘ MẶT CHIẾN TRANH 50
Giã từ vũ khí remix
-Trong tình trạng chiến tranh đầy chết chóc và tan hoang, bản chất sống của loài người trở nên cực hạn về mọi phía:
+Yêu thương vô vàn mà cũng hận thù vô song
+Thông minh trí tuệ bao nhiêu thì cũng ngu ngốc, mù quáng bấy nhiêu.
+Tuyệt đỉnh dũng cảm thì cũng tột cùng hèn nhát.
+Vừa là thánh thần vừa là quỉ dữ.
...
-Chiến tranh mang bộ mặt gớm ghiếc, tởm lợm đến khủng khiếp, không thể tả được, dù bôi son trát phấn như thế nào, tung hô ra sao.
-Chiến tranh là thể hiện sự thờ ơ, vô cảm khốn nạn tột cùng về việc hủy diệt tàn bạo cuộc sống và thân phận con người.
-Chiến tranh phi nghĩa là chiến tranh "nặn ra" lý do từ không có lý do, hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách không chính đáng. Chiến tranh chính nghĩa là chiến tranh nảy sinh từ việc chống chiến tranh phi nghĩa, được hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách chính đáng (?).
-Tóm lại, bộ mặt thật của chiến tranh nhìn từ mọi phía nói chung là độc ác, thiểu năng trí tuệ đến ngỡ ngàng của con người khôn ngoan, có lý trí.
-Ngày chiến thắng 30/4, lũ bán nước cay cú gọi là ngày quốc hận, người cộng sản cực đoan cho rằng đó là ngày toàn dân phải vui mừng, riêng cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, người có vợ con đều chết trong chiến tranh, thì nói, đó là ngày có triệu người vui và cũng có triệu người buồn.
-Lão Tử, một đại hiền triết thời cổ đại của Trung Quốc, từng nói: "Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng bi ai mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử".
Edwin Starr - War (w/lyrics + Vietnam War footage)
(ĐC sưu tầm trên NET)
Ngoài lề VNW - Trận Iwo Jima
Trận đánh chiếm đảo Guam đẫm máu trong Thế chiến 2
Thứ Ba, ngày 22/08/2017 00:30 AM (GMT+7)
Triều Tiên có thể sẽ lần đầu tiên phóng tên lửa vào đảo Guam, nhưng đối với cư dân đảo này, viễn cảnh đó chưa là gì so với lịch sử đẫm máu.

Súng phun lửa được coi là vũ khí hiệu quả để tiêu diệt quân Nhật trốn trong lô cốt và hầm trú ẩn.
Theo National Interest, thực dân Tây Ban Nha khai phá hòn đảo Guam
đầu tiên. Năm 1898, Mỹ chiếm quyền kiểm soát đảo Guam từ tây Tây Ban Nha
trong cuộc chiến Mỹ-Tây Ban Nha.Trong Thế chiến 2, Guam trở thành một trong những điểm nóng chiến sự giữa Nhật Bản và Mỹ.
Sáng ngày 8.12.1941, theo giờ Guam, vài tiếng sau khi Trân Châu cảng bị tấn công. Đảo Guam trở thành mục tiêu oanh tạc của các máy bay Nhật.
Người Guam không hề bất ngờ với chiến tranh vì giống như Philippines hay các vùng lãnh thổ khác của Mỹ ở trung và tây Thái Bình Dương, Guam là căn cứ chiến lược trên bàn cờ quân sự.
Bên cạnh Trân Châu cảng, đảo Guam giúp Mỹ có thể tập trung lực lượng hải quân và không quân để đối đầu với đế quốc Nhật. Chỉ với 700 lính thủy đánh bộ canh gác trên đảo Guam cùng một vài máy bay phòng vệ, hòn đảo này nhanh chóng sụp đổ trước đợt tấn công của quân Nhật từ căn cứ ở Saipan.
Theo National Interest, Nhật Bản vốn đánh giá thấp kẻ thù trong Thế chiến 2, nhưng ở trận chiếm đảo Guam thì ngược lại. Đế quốc Nhật đem đến Guam một lực lượng đổ bộ hùng hậu, bao gồm 4 tàu khu trục hạng nặng và 5.900 binh sĩ.
Đêm ngày 10.12.1941, lực lượng này đổ bộ lên đảo Guam và đến 6 giờ sáng hôm sau, lực lượng Mỹ phòng thủ trên đảo Guam đầu hàng. 17 binh sĩ Mỹ và lính gốc Guam thiệt mạng cùng với 30 thường dân. Quân Nhật tổn thất duy nhất 1 người.

Thương vong của quân đội Mỹ luôn lớn nhất khi bắt đầu chiến dịch đổ bộ chiếm đảo.
Nhưng lần này, lực lượng Nhật Bản phòng thủ trên đảo Guam đông đảo hơn nhiều. Nhật đặt tại Guam 19.000 binh sĩ thuộc sư đoàn bộ binh số 29 và trung đoàn gồm 40 xe tăng.
Trong Chiến dịch Forager chiếm đảo Guam, Mỹ huy động 60.000 binh sĩ thuộc sư đoàn thủy quân lục chiến thứ 3, sư đoàn bộ binh số 77.
Chiến dịch khởi động bằng một tháng trời máy bay Mỹ oanh tạc đảo Guam từ các tàu sân bay. Khi năng lực phòng thủ của Nhật suy yếu, Mỹ mới điều chiến hạm đến nã pháo và đưa các tàu cỡ nhỏ làm nhiệm vụ gỡ bỏ vật cản trên biển.
Sáng ngày 21.7.1944, quân đội Mỹ bắt đầu đổ bộ lên đảo từ hướng tây nam. Pháo binh và súng máy Nhật đánh chìm 20 tàu đổ bộ Mỹ, khiến các lính Mỹ đặt chân lên đảo Guam hứng chịu thương vong nặng nề.
Đến 9 giờ sáng, quân Mỹ cuối cùng cũng đưa được xe tăng lên bờ và thiết lập phòng tuyến sâu 2km vào đảo Guam.
Đợt đổ bộ thứ hai lên đảo Guam diễn ra từ ngày 23-24.7. Sư đoàn bộ binh số 77 của Mỹ gặp tổn thất lớn vì việc thiếu hụt tàu đổ bộ khiến binh sĩ Mỹ gần như phải tự bơi vào bờ.

Quân đội Mỹ chiến đấu chống đế quốc Nhật trên mặt trận Thái Bình Dương.
Một khi thiết lập được phòng tuyến liên kết với nhau ở hai bờ biển,
quân đội Mỹ không ngừng bổ sung thêm xe tăng Sherman và binh sĩ đến càn
quét đảo Guam.Lính Nhật chỉ mở cuộc phản công vào ban đêm còn ban ngày là thời điểm hai bên giao tranh ác liệt bằng xe tăng. Đến ngày 10.8, trận đánh trên đảo Guam gần như đã kết thúc.
Phía Mỹ ghi nhận hơn 8.000 người chết và bị thương. Các máy bay ném bom B-29 của Mỹ sớm được đưa đến Guam để yểm trợ trên không cho các mặt trận khác trên Thái Bình Dương.
Thương vong của quân Nhật gần như toàn bộ 19.000 lính cố thủ trên đảo. Ước tính chỉ có 300 người sống sót. Thiếu tướng chỉ huy Hideyoshi Obata mổ bụng tự sát sau khi gửi thông điệp nhận thất bại đến Nhật hoàng ở Tokyo.
Đáng chú ý là một người lính Nhật Bản đã lẩn trốn trong hang động trên đảo suốt 28 năm. Tháng 1.1972, người dân trên đảo Guam mới phát hiện ra Shoichi Yokoi và bắt sống người lính Nhật cuối cùng.
National Interest kết luận, trừ khi Triều Tiên dùng vũ khí hạt nhân tấn công Guam, một vài quả tên lửa đạn đạo sẽ không thể tạo nên con số thương vong khổng lồ trên hòn đảo này như trong Thế chiến 2.
Theo Đăng Nguyễn - NI (Dân Việt)
Trận thua đau của Mỹ trước quân Triều Tiên
Thứ Sáu, ngày 11/08/2017 00:30 AM (GMT+7)
Trong những ngày đầu của cuộc Chiến tranh Triều Tiên, đơn vị quân đội Mỹ được giao nhiệm vụ chặn bước tiến của quân Triều Tiên nhưng lại phải chuốc lấy thất bại “muối mặt”.

Chiến đấu cơ Mỹ tham gia Chiến tranh Triều Tiên.
Theo National Interest, thất bại “muối mặt” như vậy không phải là
thảm họa, nhưng người Mỹ cho đến nay vẫn nghĩ rằng đó là cái giá phải
trả cho sự khinh địch.Mùa hè năm 1950, Mỹ vẫn đang đứng trên đỉnh cao sau chiến thắng sau Thế chiến 2.
Mối lo ngại từ Liên Xô và Trung Quốc gia tăng nhưng người Mỹ khi đó đang nắm trong tay những vũ khí mạnh nhất như bom hạt nhân, oanh tạc cơ B-29 và lực lượng hải quân dày dạn kinh nghiệm, từng đánh tan đế quốc Nhật.
Chủ quan, khinh địch
Ngày 25.6.1950, 75.000 quân Triều Tiên bất ngờ tràn qua vĩ tuyến 38 chia cắt bán đảo Triều Tiên. Nhiều binh sĩ Triều Tiên trong hàng ngũ này từng tham chiến giúp Chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc nội chiến Trung Quốc (1929-1950).
Họ được trang bị những vũ khí hiện đại ở thời điểm đó như xe tăng Liên Xô, pháo binh và thậm chí cả chiến đấu cơ, máy bay ném bom, giúp Triều Tiên kiểm soát vùng trời.
Giống như lực lượng Iraq hay quân đội Afghanistan Mỹ từng đào tạo, quân Hàn Quốc do người Mỹ huấn luyện nhanh chóng bị đẩy lùi khỏi biên giới.
Cho đến đầu tháng 7, Liên Hợp Quốc đã ra nghị quyết cho phép Mỹ và đồng minh đổ quân vào Hàn Quốc để ngăn bước tiến của Triều Tiên. Đơn vị quân đội Mỹ đầu tiên có mặt ngay từ ngày 1.7.1950 đều là lính đóng quân ở Nhật Bản.

Binh sĩ Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên.
Lực lượng đặc nhiệm Smith có mặt đầu tiên ở Hàn Quốc do trung tá
Charles Smith chỉ huy. Lực lượng này chỉ có vỏn vẹn 400 người, chiêu mộ
từ Trung đoàn bộ binh số 21 và Sư đoàn bộ binh số 24.Thay vì được trang bị các loại súng chống tăng mới nhất, các binh sĩ Mỹ chỉ được trang bị pháo không giật cỡ nòng 57mm, ống phóng rocket sơ sài, vốn không xuyên phá được xe tăng Đức cách đây 5 năm.
Một số sỹ quan thuộc lực lượng đặc nhiệm Smith từng tham chiến trong Thế chiến 2 nhưng số còn lại hầu hết đều thiếu kinh nghiệm chiến đấu.
Trang bị sơ sài và quân số ít ỏi như vậy nhưng lực lượng đặc nhiệm Smith lại có nhiệm vụ ngăn chặn bước tiến của quân Triều Tiên. Các binh sĩ Mỹ đào hào, cố thủ gần thị trấn Osan.
Cuộc đụng độ đầu tiên

Xe tăng Triều Tiên bị bắn cháy trong trận đánh ở Osan.
Sáng ngày 5.7, khoảng 5.000 binh sĩ Triều Tiên cùng 36 xe tăng
T-34/85 từ Sư đoàn Thiết giáp số 105 tấn công Osan. Lực lượng đặc nhiệm
Smith tham chiến, đánh dấu hoạt động quân sự trên bộ đầu tiên của Mỹ
trong Chiến tranh Triều Tiên.Những gì xảy ra sau đó dường như là điều không thể tránh khỏi. Pháo 155mm của Mỹ dùng đạn chống tăng HEAT nhưng số lượng quá ít ỏi để cản bước quân Triều Tiên.
Khi kẻ địch tiến đến cự ly gần, các binh sĩ Mỹ dùng súng không giật tấn công xe tăng. Mọi chuyện diễn ra đúng theo tính toán, ngoại trừ việc các vũ khí Mỹ không thể xuyên giáp xe tăng Triều Tiên.
Cũng trong thời điểm đó, lực lượng đặc nhiệm Smith bị quân Triều Tiên siết chặt vòng vây. Trung tá Charles Smith ra lệnh rút lui trong hỗn loạn, nhiều binh sĩ vẫn còn chiến đấu đến giây phút cuối cùng vì không nhận được lệnh.
“Theo kế hoạch, từng trung đội rút lui và yểm trợ lẫn nhau. Nhưng trên thực tế, dưới làn đạn của đối phương, các binh sĩ Mỹ thiếu kinh nghiệm chiến đấu đã bỏ chạy tán loạn”, National Interest dẫn nguồn tin nói.
Kết thúc trận đánh đầu tiên ở Osan, 81 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và bị thương. 82 người khác bị bắt sống. Nhiều trang thiết bị vũ khí bị tịch thu. Thật khó có thể tưởng tượng việc quân đội Mỹ từng ngăn chặn thành công cả Sư đoàn thiết giáp hùng mạnh của Hitler trong trận Bulge năm 1944, nhưng lại bị Triều Tiên tràn qua ở Osan chỉ sau vài giờ.

Binh sĩ Mỹ Kenneth R. Shadrick (phải) là người đầu tiên thiệt mạng trong Chiến tranh Triều Tiên.
Xét trên khía cạnh chiến lược, trận thua này không phải là thảm họa.
Con số thương vong cũng không lớn so với những gì mà các bên tung vào
chiến trường trên bán đảo Triều Tiên trong suốt 3 năm sau đó.Nhưng thất bại ở Osan là bài học phản ánh việc Mỹ đánh giá thấp năng lực của đối phương. Lực lượng đặc nhiệm Smith với 400 người lại phải đối mặt với 5.000 binh Triều Tiên cùng hàng chục xe tăng rõ ràng là trận đánh không cân sức.
Hơn 57 năm kể từ ngày nổ ra chiến tranh, những tuyên bố cứng rắn của cả Mỹ và Triều Tiên dường như lại thổi bùng lên căng thẳng trong khu vực.
Nguy cơ Chiến tranh Triều Tiên lần hai vẫn còn xa vời nhưng thất bại của lực lượng đặc nhiệm Smith cho thấy những con người bằng xương bằng thịt sẽ luôn phải trả giá trước sự chủ quan, khinh địch của các nhà hoạch định chiến lược Mỹ.
Hai máy bay ném bom chiến lược B-1B của Mỹ đã có mặt tại Guam sau hành trình dài từ quê nhà, trong bối cảnh Triều Tiên...
Theo Đăng Nguyễn - NI (Dân Việt)
Trận đánh khiến Mỹ phải rút quân ồ ạt khỏi Triều Tiên
Thứ Ba, ngày 15/08/2017 19:00 PM (GMT+7)
Tháng 11.1950, 5 tháng sau khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, các binh sĩ Mỹ không ngờ rằng mình phải đối mặt với quân Trung Quốc đông hơn gấp nhiều lần trong trận đánh hết sức đẫm máu và tàn khốc.

Binh sĩ thuộc sư đoàn số 1, Thủy quân Lục chiến Mỹ.
Trận đánh trong tháng mùa đông luôn dưới 0 độ C trở thành cơn ác mộng
đối với quân đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ và làm thay đổi số phận những
người lính từng tham chiến ở đây mãi mãi.Những người lính Mỹ tham gia vào trận đánh ở hồ Trường Tân đến từ khắp nơi, như California, Alabama, Wyoming, Texas… Họ chỉ ở độ tuổi 17, 18 hoặc 19 khi rời quê hương đến Triều Tiên, đất nước họ còn không thể xác định được trên bản đồ.
Chỉ huy nói binh sĩ đến đây rồi trở về trước dịp Giáng Sinh. Nhưng điều đó đã không bao giờ xảy ra. Thay vào đó, họ cảm thấy bị cô lập ở hồ Trường Tân, nơi nhiệt độ mùa đông cao nhất cũng chỉ đến 0 độ C. Họ nhìn thấy bạn bè, đồng đồi lần lượt ngã xuống hay những người khác dần tê cóng vì buốt giá, thậm chí chết trong tình trạng đóng băng.
Bối cảnh lịch sử
Trận đánh ở hồ Trường Tân, tỉnh Hanyong, Triều Tiên là một trong những cuộc đụng độ đẫm máu nhất trong Chiến tranh Triều Tiên giữa quân đội Mỹ với Chí nguyện quân Trung Quốc (PVA). Giao tranh diễn ra từ ngày 27.11 - 13.12.1950, tại các ngọn đồi và thung lũng bao quanh hồ Trường Tân.
Đây là trận đánh đầu tiên 110.000 lính Mỹ thuộc quân đoàn chủ lực số 10 đụng độ với 150.000 quân thuộc quân đoàn 9, Chí nguyện quân Trung Quốc.
Vị tướng huyền thoại quân đội Mỹ, Douglas MacArthur đã phạm sai lầm chết người khi phân tán lực lượng của quân đoàn số 10 thành hai lực lượng riêng biệt, tiến về phía bắc Triều Tiên. Hai lực lượng này không thể hỗ trợ được nhau do bị ngọn núi Nangnim chia cắt.

Xe tăng Mỹ hành quân trong Chiến tranh Triều Tiên.
Theo lệnh của MacArthur, một phần lực lượng quân đoàn 10, bao gồm sư
đoàn Thủy quân Lục chiến số 1 được điều đến tấn công đối phương ở hồ
Trường Tân, dọc theo sông Áp lục, con sông giáp biên giới Trung
Quốc-Triều Tiên.Khi nhận ra kế hoạch của Mỹ, lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông khi đó đã ra lênh quyết đánh một trận thật lớn ở hồ Trường Tân. Để làm điều này, Mao Trạch Đông đã huy động toàn bộ binh sĩ thuộc quân đoàn số 9 đóng ở Đài Loan.
150.000 người hành quân đến phía bắc Trung Quốc vào tháng 9.1950 và gần tiền tuyến vào tháng 11.1950. Các binh sĩ này không có trang bị phù hợp để chống lại cái rét thấu xương xuống tới âm 40 độ C, đợt lạnh giá kỷ lục trong 50 năm qua khi đó ở Triều Tiên.
Mao Trạch Đông giao gần như toàn bộ quân đoàn 9 cho tướng Song Shi-Lun, với nhiệm vụ phải tiêu diệt bằng được lực lượng chủ lực Mỹ.
30.000 quân Mỹ khi đó tiến đến hồ Trường Tân mà không ngờ rằng mình bị mai phục và vây chặt từ mọi hướng. Trong suốt hai tuần diễn ra chiến dịch, quân Mỹ phải chiến đấu với quân số bị áp đảo hoàn toàn, trong điều kiện lạnh giá, buộc phải mở đường máu rút lui.
Trận thua khiến Mỹ choáng váng

Binh sĩ Mỹ chiến đấu trong trận đánh ở hồ Trường Tân.
Ngày 27.11.1950, Trung Quốc huy động 8 trong số 12 sư đoàn thuộc quân
đoàn 9, đồng loạt tấn công các vị trí của quân đội Mỹ ở xung quanh hồ
Trường Tân.Trận đánh đã để lại ký ức kinh hoàng trong tâm trí nhiều binh sĩ Thủy quân Lục chiến Mỹ.
“Chúng tôi đến hồ Trường Tân vào ngày 27.11, đó cũng là ngày sinh nhật tôi. Quân Trung Quốc tấn công ngay vào ban đêm, khiến chúng tôi bất ngờ. Người đội trưởng và cũng là bạn thân của tôi chết trong đêm hôm ấy. Anh ấy chết ngay trên tay tôi. Đó là đêm khó khăn nhất kể từ khi tôi đặt chân đến bán đảo Triều Tiên”, John Parkinson, cựu binh Mỹ kể lại.
Quá bất ngờ trước đòn tấn công của quân Trung Quốc, 30.000 quân Mỹ bị chia cắt ở các khu vực Yudam-ni, Sinhung-ni, Hagaru-ri và Koto-ri. Quân chủ lực Trung Quốc tấn công sư đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ ở Yudam-ni và bị đánh bật trở lại, thương vong lên tới hàng chục ngàn người chỉ sau một ngày.
Đó là thời điểm bộ chỉ huy Trung Quốc quyết định buông Yudam-ni để tập trung tấn công các khu vực khác. Các chỉ huy Mỹ khi đó đã đưa ra mệnh lệnh sống còn, không rút quân mà đưa lực lượng chủ lực từ Yudam-ni sang Hagaru-ri chi viện.

Tù binh Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên.
Tại các mặt trận khác, quân Trung Quốc mặc dù đông đảo hơn nhưng cái
rét mùa đông đã ảnh hưởng đáng kể đến sức chiến đấu. Lính Trung Quốc
cũng trở thành mục tiêu dễ dàng của pháo binh và máy bay chiến đấu Mỹ.Đáng chú ý ở Hagaru-ri, chỉ sau 4 ngày chiến đấu, cả một sư đoàn bộ binh Trung Quốc bị tiêu diệt cho đến người cuối cùng vì mệnh lệnh không cho phép bất kỳ ai rút lui.
“Cảm giác khi đó thật kỳ lạ, khi bạn thức dậy vào lúc sáng sớm, biết rằng mình vẫn còn sống để đào hố chôn xác đồng đội và đến ngày hôm sau lại làm điều tương tự, hoặc chính mình nằm trong hố chôn đó”, John John Schoenfeld, một cựu binh Mỹ kể lại.
Mệnh lệnh của Đại tướng MacArthur khi đó yêu cầu những người còn sống sót mở đường máu rút về cảng Hungnam.
Nhằm chặn đường rút của quân Mỹ, Trung Quốc đã phá hủy cây cầu duy nhất dẫn đến Hungnam. Thủy quân Lục chiến Mỹ đáp trả bằng cách điều 8 máy bay vận tải C-119, thả các phần cầu phao di động bằng dù. 8 phần cầu phao dài 5,5 mét được ghép vào nhau bởi lực lượng công binh chỉ trong 3 ngày.
Dưới sự làn đạn dữ dội của máy bay Mỹ, 2 sư đoàn bộ binh Trung Quốc tìm cách áp sát phòng tuyến Hungnam đều bị tổn thất nặng nề. Hàng chục ngàn binh sĩ đến cuối cùng chỉ còn lại 200 người.
Đó cũng là thời điểm Đại tướng MacArthur đã ra lệnh rút toàn bộ quân đoàn số 10 làm nhiệm vụ chiến đấu trên lãnh thổ Triều Tiên rút về sau vĩ tuyến 38. MacArthur nói mức độ tàn khốc của trận đánh cũng như cục diện bất lợi chiến trường là nguyên nhân ông ra quyết định rút quân.

Cảnh người Triều Tiên sơ tán sau trận thua choáng váng của quân đội Mỹ.
Đây được coi là một trong những đợt rút quân quy mô nhất trên thế giới
với hạm đội hùng hậu gồm 193 tàu thuyền. Quân đội Mỹ không chỉ rút chạy
khỏi Triều Tiên mà còn mang theo trang thiết bị quân sự hạng nặng và số
lượng lớn công dân Triều Tiên xin tị nạn.“Chúng tôi phải chọn ra những người được đưa khỏi chiến trường trước. Nếu có ai đó bị thương ở đầu hay ở ngực, chúng tôi buộc phải bỏ anh ta lại nhường chỗ cho người khác. Đó quả thật là quyết định khó khăn, ám ảnh tôi hàng năm trời”, Stanley Wolf thuộc hải quân Mỹ nói.
Kết thúc trận đại chiến ở hồ Trường Tân, quân đoàn 9 thuộc Chí nguyện quân Trung Quốc tổn thất tới 40% lực lượng, tương đương khoảng 60.000 người. Nhiều sư đoàn chủ lực từng chiến đấu trong cuộc nội chiến Trung Quốc (1927-1950) đã bị tiêu diệt đến người cuối cùng. Tuy nhiên, phía Trung Quốc chỉ xác nhận 19.000 người thiệt mạng trong chiến đấu và 29.000 người thương vong do yếu tố khác.
Tổng số thương vong và mất tích bên phía Mỹ được ghi nhận là 17.843 người. Trong đó, khoảng 1.000 người thiệt mạng và 5.000 người khác mất tích.
Có thể nói, trận đánh ở hồ Trường Tân là một cú sốc đối với quân đội Mỹ, những người đánh giá thấp khả năng chiến đấu của quân Trung Quốc.
Đó là lúc mà người Mỹ nhận ra rằng, họ không thể giải quyết Chiến tranh Triều Tiên chỉ bằng biện pháp quân sự. Trong 3 năm còn lại, người Mỹ hầu như chỉ phòng thủ, tập trung bảo vệ Hàn Quốc hơn là tìm cách vượt giới tuyến 38 một lần nữa.
Theo Đăng Nguyễn - Tổng hợp (Dân Việt)
Nhận xét
Đăng nhận xét