Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
VÕ THUẬT TINH HOA 80
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Võ Sư Út Nguyễn - Bình Định Gia
Các bài quyền:
1. Thượng Mã Quyền
2. Túy Quyền
3. Bài Khăn
4. Bát Quái Côn
5. Hùng Kê Quyền
6. Hạc Long Quyền
7. Độc Thiên Đao
8. Song Đao
9. Côn Tam Khúc
10. Siêu Xung Thiên
11. Trường Côn
12. Bát Quái Thương
13. Mai Hoa Đao
14. Phượng Hoàng Kiếm
15. Hồng Quyền
Võ sư Út Nguyễn “cháy” hết mình với võ cổ truyền
24/02/2018 - 6943 lượt xem
(BTV) Tình yêu với môn võ cổ truyền dân tộc đã thấm và ngấm
vào tâm hồn cậu bé Nguyễn Văn Út (Võ sư Út Nguyễn) ngay từ khi còn nhỏ,
để đến hôm nay, tình yêu đó cứ thế lớn dần lên và đem lại những trái
chín ngọt ngào bằng bảng thành tích "khủng" trong hoạt động võ thuật
cùng sự ghi nhận của công chúng, bạn đồng môn trong giới.
Chân dung Võ sư Út Nguyễn trong trang phục võ cổ truyền dân tộc.
Nguyễn Văn Út sinh năm 1993 tại xã An Thịnh, huyện Lương Tài trong một
gia đình thuần nông, kinh tế gia đình gặp rất nhiều khó khăn. Út là con
thứ 3 trong gia đình. Từ nhưở nhỏ, Út không được khỏe mạnh như nhiều bạn
cùng trang lứa nhưng cậu đặc biệt đam mê, yêu thích với môn võ cổ
truyền. Nhớ lại hồi còn nhỏ, Út chia sẻ: "Những chương trình võ thuật
chiếu trên tivi, không một chương trình nào em bỏ qua mà theo dõi từ đầu
đến cuối". Chính sự yêu thích, ham học hỏi đó mà khi Út đề nghị bố mẹ
cho theo học võ đã được gia đình đồng ý ngay với mong muốn Út có được
sức khỏe tốt, như bao bạn bè cùng trang lứa với em.
12 tuổi, Út bắt đầu làm quen với những thế võ đầu tiên. Và cũng kể từ
đây, Út đã chọn cho mình con đường theo học võ cổ truyền dân tộc trong
khi rất nhiều bạn đồng môn lúc đó theo học võ hiện đại. Với tố chất
thông minh, ham học hỏi cùng năng khiếu bẩm sinh thuộc diện "thần đồng",
Út đã chinh phục, vượt qua những hạn chế của bản thân về vóc dáng nhỏ
bé của mình để nhanh chóng lĩnh hội được những chiêu thức, thế võ của
thầy. Hơn một năm chăm chỉ miệt mài luyện tập, Út Nguyễn đã vinh dự được
cử đại diện cho Câu lạc bộ võ thuật huyện Lương Tài đi thi đấu trên
những sàn diễn võ thuật lớn của tỉnh nhà.
Võ sư Út Nguyễn cùng các môn sư giành Cup tài năng
trẻ tại Giải thi đấu võ thuật thị xã Phú Thọ lần thứ II năm 2018.
Tình yêu, sự say mê với võ cổ truyền dân tộc đã thôi thúc Nguyễn Văn Út
dự thi vào Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh để học tập, rèn
luyện và làm điểm đến cho sự nghiệp. Thời gian học tập, rèn luyện tại
Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh, Út được Ban Giám hiệu nhà
trường quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để tài năng của Út ngày càng được
phát triển, tỏa sáng. Cũng chính niềm đam mê võ thuật, Út được Ban Giám
hiệu nhà trường luôn tin tưởng và giao những chương trình liên quan đến
võ thuật khi nhà trường đứng ra đăng cai. Từ đây, cái tên "Út Nguyễn"
được bạn bè, đồng môn, thầy giáo biết đến nhiều hơn.
Chia sẻ về kỷ niệm đáng nhớ nhất trong quá trình luyện tập, rèn luyện
với môn võ cổ truyền, Út nhớ lại: "Năm học lớp 10, khi thi đấu tại giải
toàn thành phố Hà Nội, ở nội dung binh khí dài có 15 vận động viên tham
gia, tôi nhỏ tuổi nhất và cũng là người thi cuối cùng. Khi tôi đang biểu
diễn gần hết bài, cả nhà thi đấu Hà Đông mọi người đứng dậy vỗ tay,
đánh trống hò hét vổ vũ rất cuồng nhiệt. Khi biểu diễn xong và nghe kết
quả từ Ban Tổ chức, biết mình đạt điểm cao nhất, tôi cứ thế đứng khóc
luôn giữa thảm thi đấu. Đến giờ, khoảnh khắc ấy vẫn trọn vẹn như in
trong lòng".
Hơn 10 năm nuôi dưỡng niềm đam mê võ thuật, không quản thời tiết, mệt
nhọc để tập luyện, những thành tích, "trái ngọt" mà Út có được khiến ai
nấy đều "tâm phục, khẩu phục" như: 10 năm liền đạt giải Vô địch Quyền
thuật tỉnh Bắc Ninh (2006-2015); 5 năm liên tục đạt giải Vô địch Quyền
thuật giải khu vực phía Bắc từ 2009-2014; liên tiếp 8 năm giành Huy
chương Vàng quyền thuật giải Hà Nội mở rộng từ 2008-2015; năm 2011-2012,
Út giành thêm 1 Huy chương Vàng tại giải Quốc tế Võ cổ truyền Việt
Nam....
Lớp võ thuật của thầy Út Nguyễn.
Hiện nay, Út Nguyễn đang giữ đai đỏ (đẳng cấp cao nhất) của phái võ cổ
truyền Bình Định Gia, đồng thời là Phó Giám đốc Trung tâm đào tạo võ
thuật tài năng trẻ Hà Nội. Với mong muốn võ thuật cổ truyền Việt Nam
được các bạn trẻ quan tâm hơn, thầy giáo Út Nguyễn luôn cháy hết mình để
truyền thụ những gì mà mình đã trau dồi, có được. Chính vì vậy, tiếng
lành đồn xa, môn sinh, học trò ở các nơi kéo về để theo học lớp võ thuật
của thầy Út ngày càng đông lên. Theo Út, học võ thuật giúp anh lĩnh hội
nhiều kiến thức quý báu, đặc biệt là tinh thần võ thuật, giúp bản thân
điềm tĩnh và bền bỉ hơn rất nhiều, nâng cao sức khỏe, tránh xa các trò
chơi vô bổ, tệ nạn xã hội khác... Trong thời gian tới, Út Nguyễn sẽ tiếp
tục công việc huấn luyện võ thuật ở các tỉnh như: Bắc Ninh, Hà Nội....
đồng thời sẽ học lên cao học để mọi người nhìn nhận bản thân vừa là
người con của võ thuật, vừa là người trí thức.
Với những tinh hoa, giá trị cốt lõi của võ thuật cổ truyền, Út mong rằng
võ học sẽ ngày càng lan rộng ra các nơi, được nhiều người biết đến và
theo học. Ngoài việc truyền thụ những bài võ cổ truyền, kinh nghiệm vốn
có, Út còn muốn truyền lại tinh thần võ đạo và tấm lòng sống yêu thương,
đùm bọc giữa mọi người, đó chính là cái tâm của những người học võ chân
chính hướng tới.
Mai Quế
Về Bắc Ninh xem tuổi trẻ “cháy hết mình” cùng võ cổ truyền dân tộc
BVR&MT – Trong khi
nhiều bạn trẻ đang tìm hướng đi vào cuộc sống theo lối thị trường, thì
tại tỉnh Bắc Ninh lại có những người trẻ lựa chọn cách xây dựng sự
nghiệp bằng đam mê với võ thuật, điển hình là chàng trai trẻ Nguyễn Văn
Út (Út Nguyễn) mong góp phần bảo tồn và phát triển nét đẹp của nền võ
học dân tộc.
Trình chơi Video
00:00
01:32
Clip: Võ sư Nguyễn Văn Út (Út Nguyễn) biểu diễn nhuần nhuyễn bài quyền Mai Hoa Đao (quay phim: Đặng Nam).
Duyên nghiệp nhà võ
Sở
hữu gương mặt điển trai với vóc dáng vạm vỡ, ở độ tuổi 24, nhưng chàng
trai trẻ Nguyễn Văn Út (Út Nguyễn) lại có một niềm đam mê cháy bỏng với
Võ thuật cổ truyền dân tộc.
Sinh ra
trong một gia đình thuần nông tại huyện Lương tài, tỉnh Bắc Ninh, vốn
không được khỏe khoắn, lại là con út trong một gia đình có đông anh em
trai; nhưng ngay từ thuở nhỏ, Út Nguyễn đã có những “duyên thầm” với
võ thuật.
Chàng trai trẻ Út Nguyễn, đam mê cháy bỏng với võ cổ truyền dân tộc.
Mặc
dù điều kiện gia đình còn khó khăn, nhưng nhận thấy Út có đam mê với võ
thuật, bằng chứng là việc Út rất thích xem các phim võ thuật ở trên
tivi, gia đình đã quyết tâm cho Út theo học võ, với mong muốn cũng chỉ
dừng lại ở việc để Út được khỏe mạnh như các bạn bè cùng trang
lứa.
Năm 12 tuổi, cũng là năm đầu
tiên Út được làm quen với những thế võ đầu đời, lúc đầu ai cũng nghĩ
với vóc dáng nhỏ con thì Út khó có thể lĩnh hội được hết những tinh hoa
võ thuật, nhất là đối với võ cổ truyền dân tộc, cần nhiều yếu tố về thể
chất mới có thể trưởng thành. Thế nhưng, với bản tính thông minh, ham
học hỏi, cùng năng khiếu học võ được liệt vào diện “thần đồng”, Út đã
nhanh chóng lĩnh hội được những chiêu thức, thế võ của thầy truyền dạy.
Thời
gian thấm thoát trôi qua, với sự nỗ lực luyện tập của bản thân, cùng sự
chỉ giảng của các võ sư có tiếng trong vùng, chỉ sau hơn một năm học
tập, Út đã vinh dự được đại diện cho đi thi đấu trên những sàn diễn
võ thuật lớn của tỉnh nhà; từ một cậu bé nhỏ con, Út dần trở thành một
chàng trai khôi ngô tuấn tú với thân hình rắn rỏi, cường tráng cùng
những thế võ luôn toát nên thần thái oai nghiêm…
Đến với võ thuật bằng cả đam mê và niềm tin mãnh liệt.
Không
theo võ thuật hiện đại, Út quyết tâm lựa chọn, gắn bó với môn võ cổ
truyền dân tộc; tình yêu với võ thuật khiến anh không ngần ngại lựa chọn
Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh làm điểm đến cho sự nghiệp.
Tại đây, tài năng của Út Nguyễn như “cá gặp nước” khi trình độ võ thuật
của anh ngày càng được tỏa sáng lên một tầm cao mới.
Biết
Út mê võ, Ban Giám hiệu Nhà trường luôn tin tưởng giao cho anh những
chương trình liên quan đến võ thuật mà nhà trường đăng cai tổ chức. Cái
tên Út Nguyễn cũng từ đó được mọi người biết đến nhiều hơn.
Trải
lòng về con đường đến với võ thuật, Út cho biết: mặc dù đến với võ
thuật như một cái duyên tình cờ nhưng luyện võ không phải là dễ; luyện
võ thì ngại nhất là chuyện va chạm và chấn thương khi thi đấu, thậm chí
nhiều lúc luyện tập vất vả quá khiến bản thân những người luyện võ như
anh muốn bỏ cuộc. “Có lần trong một trận đấu giải, do sơ xuất đã bị
rạn xương quai xanh, đến bây giờ vẫn còn di chứng. Còn những chấn thương
nhỏ thì không thể kể hết. Cũng có nhiều lúc luyện võ khổ cực quá,
đã tính bỏ học, nhưng rồi đam mê lại níu lại“. Út Nguyễn tâm sư.
Sự khổ luyện bất chấp nắng, mưa là những gì con nhà võ phải trải qua.
Hơn
10 năm “nuôi” niềm đam mê với võ thuật, không quản trời mưa hay nắng,
mệt nhọc hay khó khăn để tập luyện, những thành tích mà Út Nguyễn có
được đến ngày hôm nay khiến mọi người phải “tâm phục, khẩu phục”.
Tính
đến thời điểm hiện tại, anh đã 10 năm liền đạt giải Vô địch quyền
thuật tỉnh Bắc Ninh (2006 – 2015); 05 năm liên tục đạt giải Vô địch
quyền thuật giải Khu vực phía Bắc (2009 – 2014); liên tiếp 08 năm giành
Huy chương Vàng quyền thuật giải Hà Nội mở rộng (2008 – 2015). Năm 2011,
2012 anh liên tiếp giành Huy chương Vàng và Đồng giải Vô địch Võ cổ
truyền Toàn quốc với tiết mục binh khí dài tự chọn. Đặc biệt, năm 2015,
anh giành thêm 01 Huy chương vàng ở giải Quốc tế võ Cổ truyền Việt Nam,
được giới võ thuật đánh giá rất cao.
Út
Nguyễn cùng tập thể cán bộ, huấn luyện viên Trung tâm Đào tạo Võ thuật
Tài năng trẻ Hà Nội thể hiện quyết tâm đưa võ thuật ngày càng phát
triển.
Thành tích
cứ thế lớn dần lên, sau những chiến thắng như “chẻ tre”; hiện tại, ở độ
tuổi 24, Út Nguyễn đang giữ đai đỏ (đẳng cấp cao nhất) của võ cổ truyền
Việt Nam và vinh dự được bầu làm Phó Giám đốc Trung tâm Đào tạo Võ thuật
Tài năng trẻ Hà Nội… Đó là những gì xứng đáng, như minh chứng cho sự
khổ luyện mà không phải ai cũng có thể làm được.
Mong võ cổ truyền dân tộc ngày càng vươn xa.
Tiếng
lành đồn xa, môn sinh ở khắp các nơi cứ kéo về để theo học võ thuật.
Những lớp học do Út chủ nhiệm cũng vì thế đông lên nhanh chóng, Út cũng
đã tích lũy và mở riêng cho mình một võ quán nhỏ bên số nhà 54 đường Lý
Thái Tổ (phường Đình Bảng, thị Xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) để có thể nuôi
dưỡng thêm niềm đam mê cũng như truyền thụ được những gì mình đã học
được cho những người yêu võ, mong muốn học võ để phát triển.
Võ quán ươm mầm tài năng võ thuật trẻ.Các môn sinh hăng say tập luyện.
Theo
Út Nguyễn thì võ thuật đã giúp anh lĩnh hội được nhiều những kiến thức
quý báu, đặc biệt là tinh thần thượng võ, cảm thấy bản thân mình điềm
tĩnh và bền bỉ hơn rất nhiều, sức khỏe được nâng cao, hầu như không có
bệnh tật, cũng như tránh xa được các trò chơi vô bổ, tệ nạn xã hội khác…
“Học
võ là để rèn luyện sức khỏe, bảo vệ bản thân và cứu người. Vì thế,
người học võ phải luôn rèn luyện sự khiêm nhường và lòng nhân từ. Đây
chính là tinh thần thượng võ, đậm tính nhân văn và là bài học đầu tiên
tôi cũng như các môn sinh khi theo đuổi con đường này được giảng dạy…” Út Nguyễn nói.
Út
Nguyễn tham gia giảng dạy tại một chương trình đào tạo võ thuật cho tập
thể Phóng viên, Nhà báo thuộc cơ quan báo chí Pháp luật plus (Báo Pháp
luật Việt Nam).
Hiện
tại, sau khi đã “vững chân” với sự nghiệp võ thuật, lĩnh hội được những
tinh hoa của võ thuật cổ truyền, ngoài việc đi giảng dạy võ thuật, Út
Nguyễn cũng thường xuyên tham gia các chương trình truyền hình như:
Chương trình võ thuật Chào Xuân mới, Chương trình Kỳ tài thách đấu, anh cũng từng làm biên đạo võ thuật cho nam ca sỹ Cường Seven trong chương trình Hoán Đổi…
Trình chơi Video
00:00
00:33
Clip: Trích đoạn dự án phim võ thuật mang tên “Đời” do chính Út Nguyễn trực tiếp biên đạo, dự kiến sắp xuất bản. Út Nguyễn tham gia chương trình Kỳ tài thách đấu do HTV7 tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh.
“Mình
chỉ tâm niệm là phải tận dụng thời gian tuổi trẻ để cống hiến được thật
nhiều. Cần cọ xát, va chạm nhiều hơn để tích lũy về kinh nghiệm để
từ đó truyền thụ cho những người đam mê võ thuật, qua đó góp phần cùng
thế hệ cha anh giữ gìn và phát huy võ thuật cổ truyền dân tộc ngày một
hưng thịnh.“, Út Nguyễn chia sẻ thêm.
Trải
qua hàng nghìn năm lịch sử, trên bước đường dài và đầy “chông gai” để
bảo tồn và phát huy nền võ học dân tộc, Út Nguyễn mong muốn thông qua
các chương trình truyền hình, những thước phim do chính anh làm đạo
diễn, cùng với sức trẻ, sự nhiệt huyết, đam mê… để từ đó có thể truyền
bá võ thuật sâu rộng tới cộng đồng, được nhiều người biết đến hơn, không
chỉ trong nước mà còn góp phần giới thiệu được võ cổ truyền ra với bạn
bè quốc tế…
Văn Tiến – Đình Thọ
Môn võ Bình Định Gia trên đất Bắc Ninh
03/07/2013 02:17 Số lượt xem: 722
Thời
gian gần đây, môn võ Bình Định Gia đang dần tạo được chỗ đứng vững chắc
trong đời sống xã hội và hoạt động thể dục thể thao tỉnh Bắc Ninh.
Người có công lớn trong việc truyền dạy và quảng bá võ học Bình Định Gia
trên đất Bắc Ninh là võ sư Đinh Hoàng Đức (Thuận An, Trạm Lộ, Thuận
Thành).
Thời
gian gần đây, môn võ Bình Định Gia đang dần tạo được chỗ đứng vững chắc
trong đời sống xã hội và hoạt động thể dục thể thao tỉnh Bắc Ninh.
Người có công lớn trong việc truyền dạy và quảng bá võ học Bình Định Gia
trên đất Bắc Ninh là võ sư Đinh Hoàng Đức (Thuận An, Trạm Lộ, Thuận
Thành).
Chúng
tôi về Thuận An tìm gặp võ sư Đinh Hoàng Đức để tìm hiểu về lịch sử,
cũng như quá trình hình thành và phát triển của võ phái Bình Định Gia
trên đất Bắc Ninh. Dù đã hẹn trước nhưng cũng phải đợi gần một giờ đồng
hồ, vừa gặp anh đã lên tiếng: “Học trò đang luyện tập, tôi phải ở lại
theo dõi để uốn nắn không dứt ra được”.
Đinh
Hoàng Đức, sinh năm 1974, ngay từ năm 1990 anh đã tìm đến lò võ ở Rạp
Hát (Vệ An, thành phố Bắc Ninh) của thầy Nguyễn Khắc Thành, Nguyễn Hữu
Hiệp. Một thời gian sau, anh may mắn được chấp chưởng môn Trần Hưng Hiệp
(con trai chưởng môn Trần Hưng Quang) đón về Hà Nội truyền thụ. Khi đã
lĩnh hội được tinh hoa võ học chân truyền của môn phái anh quyết định
trở về quê mở lớp truyền dạy võ Bình Định Gia tại chùa Bùng (Bình Dương,
Gia Bình). Từ đó đến nay, võ đường liên tục tuyển sinh và duy trì hoạt
động mỗi lớp hơn 100 môn sinh, độ tuổi từ 8-18 tuổi. Các võ sinh thường
xuyên tập luyện đều đặn đủ cả 4 mùa trong năm vào các ngày thứ Bẩy, chủ
Nhật (ngày hè, số buổi luyện tập tăng lên 3 buổi/tuần).
Môn sinh Bình Định Gia tập luyện tại Trường THCS Trạm Lộ (Thuận Thành).
Nhiều
thế hệ môn sinh ở võ đường chùa Bùng tham gia thi đấu các giải võ thuật
cổ truyền khu vực phía Bắc, Quốc gia, quốc tế đều đạt thành tích cao,
được phong kiện tướng như Vũ Văn Cương, Nguyễn Văn Út... Trong số đó có
người đã trở về giúp Đinh Hoàng Đức huấn luyện, duy trì phát triển võ
đường, như Kiện tướng Vũ Văn Cương, huấn luyện viên Liên đoàn Võ thuật
cổ truyền Việt Nam, hiện là người trực tiếp quản lý và huấn luyện môn
sinh ở đây. (Vũ Văn Cương từng đoạt 2 HCV ở giải Võ thuật cổ truyền khu
vực miền Bắc, 1 HCB giải Vô địch năm 2008, HCB giải Võ thuật cổ truyền
quốc tế tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh và 2 năm liền được phong Kiện
tướng).
Tiếp
sau thành công tại chùa Bùng, Đinh Hoàng Đức quyết định phát triển mở
rộng võ đường sang các huyện khác để quảng bá và truyền dạy Bình Định
Gia như: Thuận Thành, Gia Bình, Từ Sơn, Quế Võ, Tiên Du, thành phố Bắc
Ninh. Đa số môn sinh là những học sinh trên địa bàn, ngoài luyện tập võ
thuật là các đòn thế, chiêu thức của môn phái các em còn được rèn võ
đạo, sức mạnh ý chí tinh thần kết hợp với rèn luyện sức khỏe để phục vụ
cho việc học tập, lao động, tránh xa các tệ nạn xã hội. Vì thế, số lượng
người tham gia luyện tập ngày càng tăng. Sau mỗi khóa học anh lại tìm
ra một người có tố chất, có tâm huyết với sự nghiệp võ học để đứng ra
quản lý và trực tiếp huấn luyện lớp. Thời gian tới anh dự định mở thêm
lớp tại Yên Phong.
Khi
được hỏi về nguồn thu từ những lớp học mang lại, anh thẳng thắn: Hiện
tại những khoản thu được tôi tích cóp lại để làm kinh phí tham dự các
giải đấu. Qua những giải vô địch võ thuật cổ truyền được tổ chức ở cấp
tỉnh hay toàn quốc, học trò của tôi đều chứng tỏ được bản thân bằng
những tấm huy chương mang về. Thành công nhất là năm 1999, đưa 21 VĐV
tham dự giải vô địch quốc gia toàn quốc khu vực phía Bắc thì có 7 HCV,
10 HCB, 4 HCĐ, đứng thứ 2 toàn đoàn. Năm 2011, cũng xếp thứ 2 toàn đoàn
khi có 7 VĐV tham dự thì có tới 6 HCV, 7 HCB.
Hiện
tại những chi phí như đi lại, ăn nghỉ… trong thời gian đưa đoàn đi tham
dự giải đều do anh bỏ tiền lo cho các em. Tháng 5 vừa qua, anh lên danh
sách 25 VĐV tham dự giải vô địch võ cổ truyền các tỉnh phía Bắc diễn ra
tại Hải Phòng nhưng do không có kinh phí nên phải hoãn lại. Đây không
phải lần đầu nên khiến anh rất trăn trở: “Thương các em vất vả luyện tập
mà không có cơ hội được cọ xát, thể hiện tài năng. Cũng do kinh phí hạn
hẹp, tôi lại không nhận được sự hỗ trợ từ bất cứ cá nhân hay tổ chức
nào nên gặp không ít khó khăn”.
Nhìn
ngôi nhà tuềnh toàng ở đầu làng, cộng thêm gánh nặng “cơm áo, gạo
tiền”, cùng hai đứa con đang tuổi ăn, tuổi học tôi thấu hiểu hơn nỗi
lòng của người cha, người thầy. Có thể khi có sự quan tâm, hỗ trợ từ các
cấp các ngành chức năng, võ sư Đinh Hoàng Đức sẽ đào tạo được những VĐV
xuất sắc và đưa võ cổ truyền trở thành môn thể thao có nhiều thành
tích.
Bình Định Gia là một môn phái võ thuật cổ truyền ViệtNam thuộc hệ phái võ Bình Định. Ra đời cách đây trên 200 năm, người sáng lập môn phái này là Trần Đại Chí.
Võ
Bình Định Gia được chắt lọc, tổng hợp từ những tinh hoa của hai nền võ
thuật Việt Nam và Trung Hoa, theo nguyên tắc kết hợp giữa cương, nhu,
trường, đoản, hư, thực, nêu cao tính chiến đấu, không nặng về biểu diễn
khoa trương.
Tôn
chỉ của môn phái là “Võ đạo vị nhân sinh - Võ công khai trí tuệ” (Rèn
luyện võ công để nâng cao sức lực, khai tâm, mở trí, tự tin vào bản thân
và tự tôn dân tộc).
Bài, ảnh: Đức Qúy- Báo Bắc Ninh
VÕ
HỌC BÌNH ÐỊNHÐào
Ðức Chương
"Mảng
vui Hương Thủy, Ngự Bình Ai vô Bình Ðịnh
với mình thì vô Chẳng lịch
bằng đất kinh đô Nhưng Bình Định
không đồng khô cỏ cháy Ba dòng sông
chảy Bảy dãy non
cao Biển Ðông sóng
vỗ dạt dào Tháp xưa làm
bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh..."
Câu ca dao trên là bức tranh phác họa miền Ðất Võ, xứ Bình
Định. Ðó là miền đất cách Kinh thành Huế 407 cây số về
phía đông nam, có ba mặt núi non hiểm trở. Phía tây dựa
lưng vào dãy Trường sơn trùng điệp, phải qua đèo An Khê
dốc đứng, vượt sông Ba rồi lên đèo Măng giang mới tới
được vùng Tây nguyên. Phía bắc có dãy Thạch tấn nối từ
Trường sơn ra tận biển, ngăn cách hai tỉnh Quảng ngãi và
Bình Định, chỉ còn thông nhau qua đèo Bình đê. Phía nam có
dãy Nam sơn, còn gọi là núi Bình san, với các ngọn như hòn
Ông, hòn Bà (cao 1100 mét), hòn Am, hòn An tượng, ngăn cách
Bình Định và Phú yên. Muốn vào nam phải vượt đèo Cù mông.
Phía đông giáp biển, trải dài 100 cây số. Bờ biển lại
gập ghềnh, lồi lõm với nhiều cửa như Thiện chánh, Cà
công, Hà ra, Phú thứ, Ðề gi, Thị nại.
Bình Định có hai con sông lớn chắn ngang. phía bắc là sông
Lại giang, còn gọi là Lại dương, bắt nguồn từ hai vùng
núi An lão và Kim sơn, đổ ra biển qua cửa An giũ. Phía nam
cũng có một sông tương xứng: sông Côn, chia làm ba nhánh chảy
vào đầm Thị nại. Ngoài ba dãy núi
và hai sông chính, Bình Định còn nhiều nhánh núi tẻ ra từ
dãy Trường sơn và có sông La tinh nằm vắt ngang giữa tỉnh.
Núi, sông xen kẽ với đồng bằng, tạo cho miền này một
địa hình phức tạp.
Các nhà phong thổ học nhìn cuộc đất Bình Định như một
cái ngai vàng khổng lồ. Tay vịn phía tả là dãy Thạch tấn.
Tay vịn phía hữu là dãy Nam sơn. Lưng dựa là dãy Trường
sơn, mặt quay về hướng đông lồng lộng trời cao biển cả.
Rải rác đó đây là những ngọn tháp Chàm còn sót lại. Ở
huyện Phù cát có tháp Phúc Lộc tục gọi là Phốc Lốc. An
nhơn có tháp Cánh Tiên. Tuy Phước có chùm tháp Bánh Ít, tháp
Thanh trúc ở Bình lâm, tháp Long triều ở Xuân mỹ. Qui Nhơn
có tháp Ðôi. Bình khê có tháp Thủ thiện và chùm tháp Dương
long. Những tháp cổ cao vút lên nền trời, trông như những
cây bút khổng lồ "ghi tiếng anh hào vào mây xanh".
Với bốn mặt núi sông biển vây phủ, lại thêm thiên tai
bão lụt thường xuyên, người dân miền này muốn sinh tồn
phải cần thích ứng với miền đất hiểm trở, đầy bất
trắc. Ðấy là nhân tố để cho võ nghệ Bình Định nẩy
nở. Rồi ngành dệt phát triển, nghề chạm cẩn tinh vi, lại
có những đặc sản như bánh tráng, bún Song Thằng, nón Gò
Găng, gốm Chợ Gồm, ngói Phú phong... Hải sản Bình Định
thì quá dư dả, cần phải thông ra ngoài, tìm thị trường
tiêu thụ hoặc trao đổi:
Ai về
nhắn với nậu nguồn Măng le gởi
xuống, cá chuồn gởi lên
(Ca dao)
Thời trước buôn bán với "nậu nguồn" là quan trọng hơn
cả. Lượt lên mang cá khô, mắm, muối. Chuyến về chở măng
le, trầu nguồn, rễ nài. Vốn một lời mười. Tổ phụ của
Nguyễn Nhạc là Hồ Lang, chuyên nghề buôn bán trầu nguồn.
Ðến thời Hồ Phi Phúc, rồi Nguyễn Nhạc cũng nối nghiệp
cha ông. Số người buôn bán hàng chuyến rất đông. Chở hàng
ra Quảng, vào Nam, lên Tây nguyên đều có cả. Vì vậy võ
nghệ cần được phổ biến và phát huy để hộ tống hàng
hoá vượt đèo, qua sông, vừa chống chỏi với mãnh thú, vừa
đề phòng nạn trộm cướp dọc đường hoặc ngay tại nhà.
Không những đàn ông mà ngay cả đàn bà, trẻ con cũng phải
học võ hộ thân và bảo vệ tài sản, đã trở thành một
truyền thống:
Ai về
Bình Định mà coi Con gái Bình
Định múa roi, đi quyền
(Ca dao)
Tuy vậy, dòng chảy của Võ học Bình Định cũng có những
thăng trầm, qua các giai đoạn sau đây:THỜI KỲ MỞ MANG (1470-1558)
Năm Canh Thìn (1470), Hồng Ðức nguyên niên, vua Chiêm là Trà
Toàn đem quân đánh phá đất Hóa châu, và sai người sang Tàu
cầu viện nhà Minh. Vua Lê Thánh Tôn tự cầm quân, đem đại
binh 20 vạn quân đánh Chiêm thành, phá được kinh đô là thành
Ðồ Bàn (Vijara) và chiếm đất đến đèo Cù mông. Từ đấy,
miền nầy được sát nhập vào đạo Quảng nam, đặt tên
là phủ Hoài nhơn gồm ba huyện là Bồng sơn, Phù ly và Tuy
viễn.
Dân các tỉnh Bắc kỳ, nhất là người Hà đông và các tỉnh
miền bắc Trung phần vào đây lập nghiệp. Họ đến lấp
vào chỗ trống vì có một số người Chiêm thành đã rút
về phía nam. Ðể sinh tồn, họ góp nhóp vốn liếng võ nghệ
của cố hương, pha trộn với các thế võ của người Chiêm,
của dã thú, của gà đá... rồi sửa đổi, sàng lọc, ứng
chế cho hoàn toàn thích hợp với hoàn cảnh, địa thế của
quê hương mới. Ðầu tiên, hai thế võ được thông dụng
là lối đánh bằng tay chân gọi là quyền và lối đánh bằng
cây gọi là roi. Họ dùng khúc cây vừa làm đòn gánh vừa
là vũ khí hộ thân. Gánh, có thể chịu sức nặng gấp ba
lần trọng lượng của mang xách mà vẫn đi được xa. Ðòn
gánh làm bằng gốc tre già, vừa chắc vừa dẻo, tiện cả
hai mặt: gánh thì êm vì đòn nhún theo nhịp đi; đánh lại
bền vì cây roi không bị gãy hay giập bể. Ðó là những năm
tháng dài, hình thành một nền võ thuật mới mẻ, độc đáo,
được cả nước quen gọi là võ Bình Định. THỜI KỲ PHÁT TRIỂN (1558-1771)
Từ cuối năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng vào trấn thủ
Thuận hoá, lập nên xứ Nam Hà, cho đến năm Tân Mão (1771)
Tây Sơn khởi nghĩa. Trong ngót hai thế kỷ, võ Bình Định
đã tiến một bước dài, phát triển đầy đủ các môn binh
khí và đi vào nề nếp. Sự kiện chàng Lía xảy ra trong thời
kỳ này còn lưu lại một bài vè dài 1336 câu, chia làm 6 đoạn,
đã phản ánh phần nào tình trạng võ nghệ ở Bình Định
lúc bấy giờ.
Kết hợp nội dung bài vè và lời truyền tụng của dân chúng
về cuộc đời của Liá, nhân vật tiếng tăm ấy có tên thật
là Võ Văn Ðoan, nhưng người đời quen gọi thân mật là chú
Lía, quê nội ở huyện Phù ly nay là Phù mỹ, cha mất sớm,
Lía theo mẹ về quê ngoại tại làng Phú lạc, tổng Thời
hòa, huyện Tuy viễn, sau là thôn Phú lạc, xã Bình thành, quận
Bình khê (nay đổi huyện Tây Sơn). Nhà nghèo, mẹ thường
đau yếu, Liá lại còn nhỏ không làm ra tiền để nuôi mẹ.
Nhiều lần Lía đến các nhà phú hộ xin bát cơm thừa hay
xin được họ thuê mướn, nhưng bị từ chối và còn bị
mắng nhiếc thậm tệ. Lía tự nhủ: "Dốc lòng cố giữ lòng
thành, Mà trời chẳng giúp phải đành lòng tham" (vè chú Lía)
nhỏ nhặt sắn khoai để cứu sống mẹ qua cơn ngặt nghèo.
Một hôm, Lía vào trộm gà vịt của một nhà phú hộ, bị
bắt qủa tang, họ trói và đánh đập tàn nhẫn trước khi
giải cho hương chức để chịu một trận đòn thừa chết
thiếu sống khác. Từ đấy Lía nuôi trong lòng mối hận thù
kẻ giàu có và bọn cường hào ác bá.
Có một hương sư, thương cho tình cảnh của Lía, bèn mướn
chăn trâu. Ngày ngày Lía thả trâu ăn cỏ trên các sườn đồi.
Nhân có các võ sư thường đem môn sinh đến mé núi dạy võ,
Lía ghé mắt học lóm và tiếp thu rất nhanh, thấy đâu nhớ
đó. Nhờ có sức mạnh phi thường, thêm năng khiếu về võ
nghệ, lại thông minh sáng tạo, một hôm thấy con cá lóc nhảy
từ dưới thấp lên ruộng cao, Lía học được ngay:
Lía ta
thấy vậy tức cười Khen con cá lóc
vô hồi tài ba Chớ chi cá lóc
dạy ta Học theo miếng
đó, thiệt là mang ơn
và chịu khó tập
luyện thành thạo:
Nhảy
cao như Lía thiệt tài Nóc nhà nhảy
khỏi ai ai cũng nhường
Từ ấy bọn chăn trâu trong vùng tôn Lía làm "vua", chỉ có
thằng Mướp không chịu phục, muốn đấu võ với Lía, ai
thắng mới chính thức lên ngôi vị:
Mướp
ta cầm một khúc cây Ðánh nam đỡ
bắc múa may loạn trào
Nhưng hắn không đủ
sức chống đỡ ngọn roi khốc liệt
Ðường
côn toàn vẹn trăm bề Múa lên giông
tố tiếng nghe vù vù
nên Lía đã lỡ tay
đập vỡ đầu thằng Mướp chết ngay tại chỗ.
Lía hoảng sợ, bỏ vào rừng trốn biệt. Bọn lục lâm từng
nghe danh Lía, bèn mời về sơn trại. Sau đó Lía cầm đầu
một đảng cướp nổi tiếng. Nhưng Lía chỉ đánh cướp những
nhà giàu có mà gian ác hay những nhà của bọn tham quan ô lại.
Nếu chủ nhà biết điều, nộp tiền của và không chống
cự, Lía chỉ lấy hai phần ba của cải, một phần để lại
cho chủ. Tài sản cướp được, Lía đem về sơn trại một
nửa, nửa kia phân phát cho dân nghèo trong vùng. Lía cấm đàn
em không được sách nhiễu dân chúng, cấm chận đường cướp
giật bừa bãi hoặc thu tiền mãi lộ. Ðối với bọn cường
hào có thành tích hà hiếp dân đen, Lía cho thủ hạ trừng
trị làm gương. Nhờ thế tuy là tướng cướp, Lía vẫn được
dân chúng ủng hộ và che giấu. Chính quyền địa phương tuy
tốn nhiều thì giờ và công sức mà vẫn không dẹp được
đảng cướp của Lía. Các nhà giàu trong tỉnh lo sợ, bèn
mướn võ sư canh giữ tài sản và tập luyện võ nghệ cho
gia nhân, tạo cho tỉnh nhà một số đông người rành võ nghệ
và gây thành phong trào học võ.
Nhưng rồi Lía cũng chán đời thảo khấu, nhất là biết được
mẹ già qua đời vì buồn phiền về Lía, Lía buồn bã giã
từ sơn trại ở vùng Phú Phong huyện Bình khê, đi về mạn
bắc định tìm đến một nơi xa lạ, sống đời lương thiện.
Thế nhưng, việc võ nghệ là nghiệp chướng đeo đuổi mãi.
Trên đường ra Quảng ngãi, Lía phải qua Truông Mây dài độ
vài cây số, hai bên mây rừng bao phủ dày đặc. Truông Mây,
còn gọi là Hóc Sấu, nằm trên hai thôn, đầu bắc là Phú
thuận, đầu nam là Vĩnh hòa, thuộc Tổng Hạ, huyện Bồng
sơn phủ Hoài nhơn (còn có tên là phủ Qui Nhơn và Qui ninh),
nay thuộc xã Ân đức, huyện Hoài ân, tỉnh Bình Định. Ðịa
thế Truông Mây rất hiểm trở, phía đông và đông nam gặp
nhánh sông Kim sơn chảy từ nam ra bắc, quanh năm nước xanh
lè như màu lá, phía tây núi non trùng điệp và có hòn Núi
Một tách ra, sừng sững như chiếc bình phong. Nơi đây Lía
bị một bọn cướp chặn đường nên phải ra tay. Hàng chục
tên cướp ngã gục. Chúng hoảng sợ, vội phi báo với chủ
trại là cha Hồ và chú Nhẫn. Lại một phen Lía phải tỉ
thí với hai tên đầu sỏ toán cướp:
Cự đương
một đánh với hai Tả xung hữu
đột bụi bay mù trời
Gặp ngọn roi thần
của Lía, bọn chúng phải bái phục:
Lía càng
sung sức hoành hành Cha Hồ chú Nhẫn
thất kinh đuối rồi
Và rước về sơn
trại rồi nhường chức thủ lãnh cho Lía.
Trong thời kỳ này đã có những cao thủ thuộc giới nữ lưu:
Mụ Mân
khoảng độ bốn hai Làu thông võ
nghệ ít ai sánh bì
Ðến nỗi trình độ
võ như cha Hồ chú Nhẫn hiệp sức lại vẫn không thắng nổi:
Phút thôi
Hồ, Nhẫn cả hai Ðuối tay kéo
chạy như bay khác nào
Nhưng khi gặp đường
roi của Lía, mụ Mân không thể áp đảo được:
Lía ta
bình tĩnh đối đang Mụ Mân tuy giỏi
khó toan vẫy vùng
Rồi Lía dùng độc
chiêu để hạ địch thủ:
Cầm chừng
mụ đánh một hồi Lía gạt đao
gãy, đá bồi một chân
Và cũng từ ngày được tôn làm chủ soái Truông Mây, Lía
đã ra lệnh cho thủ hạ phải triệt để áp dụng tôn chỉ
của mình. Truông Mây không còn là chỗ cướp bóc bừa bãi
khách bộ hành nữa mà trái lại còn bảo vệ người qua đường
khỏi bị ác thú hãm hại. Nhờ vậy đảng cướp được dân
chúng có cảm tình, được nhiều người gia nhập và tiếng
đồn về Lía vang dội khắp vùng:
Lía ta
nổi tiếng anh hào Sơn hà một
góc thiếu nào người hay Bạc tiền thừa
đủ một hai Chiêu binh mãi
mã càng ngày càng đông Làm cho bốn
biển anh hùng Mến danh đều
tới phục tùng chân tay
Mục tiêu đánh cướp
của Lía nhằm vào những:
Kẻ nào
tàn ác lâu nay Lía sai cướp
của đoạt tài chẳng dung Nhà giàu mấy
tỉnh trong vùng Thảy đều kinh
sợ vô cùng lo toan Nhất nhì những
bậc nhà quan Nghe chàng Lía
dọa kinh hoàng như điên Nhà nào nhiều
bạc dư tiền Mà vô ân đức,
Lía đều đoạt thâu
Có binh hùng tướng mạnh, Lía cho sửa sang sơn trại thành
đồn lũy, luyện tập đàn em thành thạo các môn quyền, roi,
đao, kiếm, siêu, thương, cung, ná...
Lía nay
ở chốn sơn trung Ngày đêm luyện
tập ung dung chén nồng
Từ một đảng cướp, Lía đã tạo thành một lực lượng
vũ trang có tổ chức, biết tự túc tự cường:
Lâu la
mấy vạn tụ đông Võ rừng làm
rẫy vun trồng bắp khoai
Triều đình phái một
đội quân đông đảo đến đánh dẹp
Truyền
cho mười vạn binh hùng Dưới cờ đại
tướng binh nhung lên đàng
Lía đã đón quan binh
bằng chiến thuật bất ngờ, nhanh như một đường roi bí
hiểm:
Lâu la
kén đủ năm ngàn Thình lình cướp
trại đánh ngang quân trào... Ðại tướng
thoát trận thoát nàn Về trào chịu
tội mất thành binh tan
Lần này, không thể
xem thường Lía như đám giặc cỏ, triều đình phải cử một
tướng lĩnh tài ba:
Ðô đốc
võ nghệ vẹn toàn Quân binh hùng
dũng chiến tràng đua tranh Lía bèn giục
ngựa ra thành Quyết cùng đô
đốc giao tranh so tài Ðôi bên xáp
chiến cả ngày Bất phân thắng
bại khen thay anh hào
Nhưng rồi Lía không
làm sao giữ nổi thành trong thời gian dài:
Tính toan
thành khó giữ nào Bởi chưng quân
ít không sao chống kình Lía ngầm muốn
tính bỏ thành Ngặt vì binh
tướng trào đình phủ vây
Lía đã dùng ngón
võ tuyệt vời để thoát thân:
Cơn nguy
chuyển hết sức thần Dùng miếng "cá
lóc" giậm chân nhảy liền Quân trào vây
kín khắp miền Lía vọt ra khỏi
rất nên kỳ tài
Trên đây là những câu trích trong vè Chú Lía cho thấy võ
học Bình Định ở thời kỳ này đã thịnh hành và đóng
vai trò then chốt trong chiến đấu.
Chàng Lía là một Robin Hood của Bình Định. Triều đình đã
dẹp yên đảng cướp ở Truông Mây, nhưng tình cảm của dân
chúng đối với chú Lía mãi mãi đi vào văn học:
Chiều
chiều én liệng Truông Mây Cảm thương
chú Lía bị vây trong thành
THỜI KỲ CỰC THỊNH (1771-1802)
Từ năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa ở
Gò Tô đất Tây sơn đến năm Nhâm Tuất (1802), vua Quang Toản
bị bắt ở huyện Phượng nhãn tỉnh Bắc ninh, nền võ học
Bình Định mở ra một kỷ nguyên mới. Ðó là võ Tây Sơn.
Tam kiệt Tây Sơn gồm Nguyễn Nhạc (?-1793) anh cả, Nguyễn
Huệ (1753-1792) anh thứ, và Nguyễn Lữ (?-1788) em trai út, người
làng Kiên mỹ đất Tây sơn, sau này là thôn Kiên mỹ, xã Bình
thành, huyện Bình khê (nay đổi huyện Tây sơn).
Họ Nguyễn Tây Sơn nguyên là họ Hồ, dòng dõi Hồ Qúy Ly.
Ông tổ bốn đời là Hồ Phi Khanh ở huyện Hưng nguyên tỉnh
Nghệ an. Năm Ất Tỵ (1655), Trịnh Nguyễn giao tranh lần thứ
năm, quân Nguyễn tấn công Nghệ an. Hồ Phi Khanh cùng một
số dân chúng bị quân Nguyễn bắt đem vào phủ Qui ninh huyện
Tuy viễn để khai hoang. Ông đến ở làng Bằng châu (nay thuộc
xã Ðập Ðá huyện An nhơn) được họ Ðinh đỡ đầu, gây
dựng. Ðời con là Hồ Lang, dời về làng Phú lạc xã Bình
thành. Ðời cháu là Hồ Phi Phúc, dời qua làng kế cận là
Kiên mỹ. Nơi đây, ba anh em Tây Sơn ra đời, trước theo họ
cha, sau đổi ra họ mẹ là họ Nguyễn.
Lúc nhỏ, anh em Tây Sơn được học chữ Hán với thầy giáo
Hiến, một bậc tài danh bất mãn vì chế độ thối nát, nạn
Trương Phúc Loan chuyên quyền, tham tàn. Sau đó, anh em Tây sơn
học võ với võ sư Ðinh Văn. Nhưng thường gọi là ông Chảng,
người làng Bằng châu. Thầy võ là người bộc trực, gan
dạ và ngang ngạnh nhất vùng, chẳng hề kiêng nể bọn cầm
quyền. Ông tự phong "Chảng chảng ngang thiên". Câu ví von của
người đương thời "Ngang quá ông Chảng" nay đã trở thành
tục ngữ. Ba anh em được thầy yêu qúy, dạy cho nhiều thế
võ bí truyền. Thấy được sự lợi hại của võ Bình Định,
tam kiệt Tây Sơn đã đem võ thuật vào chiến thuật trong cuộc
khởi nghĩa và phát huy võ học Bình Định đến mức cực
thịnh.
Trong binh đội Tây Sơn, mỗi chiến sĩ là một võ sĩ. Sự
huấn luyện quân đội, cơ bản là tập võ nghệ. Người lính
phải biết sử dụng tất cả, hoặc một số các binh khí
truyền thống sau đây: 1.- Quyền: lối
đánh võ bằng tay chân, còn gọi là thảo bộ. Quyền gồm
nhiều thảo bộ, chẳng hạn như : thảo bộ Phượng Hoàng,
Tứ Hải, Thiền Sư, Ngọc Trản, Thần Ðồng, Lão Mai, Ðộc
Thọ... Hễ quyền giỏi thì roi cũng giỏi. Vì vậy quyền là
môn võ tối cần. Quân Tây Sơn đã dùng chiến pháp sở trường
này trong khi xung phong giáp lá cà, thanh toán chiến trường. 2.- Roi: lối đánh
võ bằng gậy, còn gọi là côn. Roi không nên lớn quá hoặc
nhỏ quá, phải vừa cỡ tay nắm người sử dụng thì đường
roi mới mạnh và nhanh. Có hai loại: roi trường và roi đoản.
Roi trường là roi trận, dài khoảng 2,50 mét, đầu lớn là
đốc roi, đầu nhỏ là ngọn roi. Người sử dụng roi trường
ngồi trên ngựa và chỉ đánh một đầu. Roi đoản là roi
đấu, dài "tề mi" tức là ngang lông mày người sử dụng
(chừng 1,60 mét). Roi đấu cầm ở giữa thân roi nên có thể
đánh cả hai đầu. Chẳng hạn đầu roi bổ xuống như trời
giáng khiến đối thủ lo chống đỡ , nhưng đó chỉ là cú
đánh hư. Trong lúc ấy, nhanh như chớp đốc roi thúc mạnh
vào hạ thế đối thủ, đó mới là cú đánh thực. Ngày xưa,
các võ sĩ thường vắt vai một khăn lông to và dài, gặp khi
bất trắc, có thể dùng khăn thế roi, gọi là roi nhuyễn tiên,
không phải là để đánh mà để "vung roi" che mắt đối thủ
rồi xông vào hất tung binh khí. 3.- Song sĩ: hai cây
gỗ cứng kẹp dọc cẳng tay, ló ra ở hai đầu. Khi đấm hay
thúc cùi chỏ thì đầu nào của song sĩ cũng có thể ấn sâu
vào cơ thể của đối thủ. 4.- Ðao: để chém
và đâm. Nếu đao có lưỡi bè ra rất lớn thì gọi là đại
đao. 5.- Kiếm: gồm độc
kiếm và song kiếm, lưỡi dài nhưng không quá 1 mét. 6.- Siêu: giống
như đao, nhưng cán dài. Thế võ kết hợp giữa kiếm và roi. 7.- Thương, giáo,
mác, lao đều có cán dài, dùng để đâm, đánh và phóng. 8.- Xà mâu, đinh
ba, bừa cào đều có cán dài nhưng đầu có nhiều nhánh, đường
võ chậm chạp, ít thông dụng. 9.- Lăng, khiên:
tròn dẹp, có tay nắm ở tâm điểm; dùng để che đỡ khi
lâm trận. 10.- song chùy: hình
cầu bầu dục, xẻ răng cưa như cạnh khế, có cán nắm, dùng
để đánh, cũng ít sử dụng. 11.- Dây xích bằng
sắt dùng để quất, lợi thế như một cây roi. 12.- Cung, ná, nỏ
dùng để bắn tên khi đối thủ còn ở xa.
Một đặc điểm của võ Tây Sơn là mỗi thế võ đều có
bài thiệu đi kèm, tức là phần lý thuyết được diễn thành
thơ có vần, có điệu cho dễ đọc, dễ nhớ. Người học
võ, phải thuộc lòng bài thiệu, đọc đến đâu múa đến
đó, lý thuyết ăn khớp với thực hành. Lối học võ này
rất tiện cho việc luyện tập nhiều người cùng một lúc,
được áp dụng trong trường huấn luyện quân đội của Tây
Sơn.
Thời ấy còn sáng chế ra điệu trống trận Tây Sơn. Người
đánh, cùng một lúc sử dụng nhiều trống, tối đa 12 cái,
và phải dùng thế võ côn quyền mới đánh được. Ðánh bằng
dùi cả hai đầu, gọi là roi trống, vừa đánh cả hai bàn
tay, cổ tay, cùi chỏ, vai... làm cho tiếng trống phát ra những
âm thanh khác nhau, nghe rất hùng tráng. Lúc ra trận, dùng hai
trống lớn, đánh theo võ nhạc trận, âm thanh vang xa, dồn
dập, khích động.
Chiến thuật của Tây Sơn là áp đảo đối phương từ tầm
xa đến tầm gần. Xa thì có đại bác đặt trên mình voi.
Khi cách mục tiêu chừng 100 mét thì dùng súng trường. Gần
thì đến lượt cung nỏ, rồi hỏa hổ. Cuối cùng là xung
phong cận chiến, dùng các thế võ để giải quyết chiến
trường theo nguyên tắc "nhất nhân địch quần nhân".
Như vậy, đội quân Tây Sơn không cần đông mà cốt ở tinh
và dũng cảm. Binh đội gọn nhẹ, di chuyển nhanh chóng, thích
hợp với lối tác chiến thần tốc. Ðánh nhanh đánh mạnh,
hư thực không rõ, bất ngờ thọc sâu vào kẽ hở của địch
quân. Chiếm mục tiêu thì dùng tượng binh làm lá chắn, vừa
là pháo đài di động cho bộ binh tiến lên. Ðó là kỹ thuật
tác chiến của Tây Sơn, ảnh hưởng bởi bản chất con nhà
võ.
Tương truyền các tướng Tây Sơn đều là những tay võ xuất
chúng. Nguyễn Huệ sở trường về roi. Nguyễn Lữ xuất sắc
về côn quyền, đã sáng chế ra Hùng Kê quyền, lấy từ các
thế võ của gà đá. Võ Văn Dũng rất giỏi về đao, người
đời có câu truyền tụng
Phá sơn
trung tặc, dị Thắng Văn Dũng
đao, nan (Phá được giặc
trong núi thì dễ, thắng được ngọn đao của Văn Dũng thì
khó)
Ðặng Văn Long (có sách chép là Mưu) lại quán thông cả cương
quyền (ngạnh công) lẫn miên quyền (nhuyễn công) với đôi
tay mạnh và cứng như sắt nên người đời thường gọi là
Ðặng thiết tí. Bùi Thị Xuân thì không ai bì kịp về môn
kiếm.
Tóm lại, võ Tây sơn là võ truyền thống của Bình Định
đã được tập hợp và tinh luyện để đưa vào quốc phòng.
Võ trở thành chiến lược độc đáo của Tây Sơn, thời huy
hoàng nhất của võ học Bình Định. THỜI KỲ ẨN MÌNH (1802-1867)
Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh dẹp nhà Tây Sơn và lên ngôi
vua, xưng đế hiệu là Gia Long. Không những nhà vua trả thù
dã man đối với Tây Sơn mà còn có cả một kế sách lâu
dài, nhằm tận diệt tất cả những gì có liên quan đến
Tây Sơn. Vì vậy võ Tây Sơn không còn được lưu hành nữa.
Các nhà võ rút lui vào bóng tối, chỉ âm thầm truyền dạy
cho con cháu. Các bài thiệu cũng phải dấu trong trí nhớ và
chỉ truyền miệng trong phạm vi gia đình. Ðiệu trống Tây
Sơn im bặt trong những ngày lễ hội đông người. Thời kỳ
này kéo dài suốt các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị
và đầu đời Tự Ðức. Vì thế nền võ học Tây Sơn đã
bị thời gian làm mai một rất nhiều. THỜI KỲ TRUNG HƯNG (1867-1924)
Từ khi vua Tự Ðức lên ngôi (1847), quân Pháp luôn luôn tìm
cách gây hấn với nước ta để có cớ xâm chiếm. Năm 1858,
liên quân Pháp và Tây ban nha đánh chiếm bán đảo Sơn trà,
Ðà nẵng. Năm 1859, thành Gia định thất thủ. Năm 1861, mất
Ðịnh tường (Mỹ tho), đảo Côn lôn và Biên hòa. Năm 1867,
Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam kỳ là Vĩnh long, An giang,
Hà tiên.
Trước tình thế khẩn trương, cần tăng cường quân đội
để bảo vệ những phần đất còn lại. Ðối với Tự Ðức,
đề phòng Tây Sơn không còn là việc thiết thực nhưng họa
xâm lăng của Pháp thì sờ sờ trước mắt. Vì thế năm 1867,
nhà vua cho thành lập trung tâm tuyển chọn võ quan ngay trên
miền đất võ. Ðó là trường thi Hương võ Bình Định tại
thôn An thành, tổng Thời đôn, huyện Tuy viễn phủ An nhơn,
nay là thôn An thành xã Nhơn lộc huyện An nhơn và chỉ cách
trường thi Hương Văn (tại Hòa nghi, xã Nhơn hòa) vài cây
số xuyên qua các thôn Trường cửu, Quang châu dọc theo hữu
ngạn nam phái sông Côn.
Vốn sẵn truyền thống yêu thích võ nghệ, nay được nhà
vua mở trường thi, tuyển chọn nhân tài, các mạch võ ẩn
tàng hơn sáu mươi lăm năm qua, giờ đây bùng lên trổ hoa
kết trái. Các lò võ ở Bình Định mọc lên như nấm. Những
đêm trăng, trong sân nhà hay trên dãy gò hoang vắng, tốp năm
tốp ba, võ sinh miệt mài tập luyện.
Rồi kinh đô thất thủ (1885), vua Hàm Nghi bôn đào và xuống
chiếu Cần vương. Võ Bình Định đã góp phần vào việc chống
Pháp. Lãnh tụ phong trào Cần vương ở Bình Định, anh hùng
Mai Xuân Thưởng, là một người văn võ song toàn. Trong bài
Ðiếu Mai Nguyên Súy (soái) tức Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Bá
Huân, một danh sĩ đương thời, đã hết lòng khâm phục:
Ðan tâm
chỉ vị cứu lương dân Hoành sóc ngâm
thi hữu kỹ nhân Nhất phó hung
khâm hoành vũ trụ Tam niên cầm
kiếm định phong trần...
Tống Phước Hổ dịch:
Lòng son
chỉ muốn cứu lương dân Vung giáo, ngâm
thi mấy kẻ bằng Một tấm lòng
trung trùm vũ trụ Ba năm đàn kiếm
sạch phong trần
Dưới cờ khởi nghĩa của Mai nguyên soái, ở Bình khê có
một dòng võ mà cả ba thế hệ gồm hàng trăm võ sĩ, võ sinh
đã theo thầy đứng trong hàng ngũ nghĩa quân. Ðó là lò võ
Lê Thượng Nghĩa, sư tổ của Hồ Tá Quốc. Hồ Tá Quốc đã
ca tụng tay kiếm lợi hại của thầy trong việc cứu nước,
qua bài tặng Lê công Thượng Nghĩa:
Lão sư
thân thủ nhược du long Lẫm liệt tu
mi khí lực hùng Tích nhật Cần
vương đồng tá quốc Tây trù trảm
tận hiển hùng phong
Ðào Văn dịch:
Nhớ thầy
dáng tựa rồng bay Ðường gươm
nhát kiếm râu mày xứng danh Theo vua vì nước
quên mình Dẹp tan lũ giặc
đinh ninh lời nguyền
Trong bài Trường Úc sơn quan đại chiến hậu, hựu đại thắng
ư Cẩm Văn thôn hữu cảm (cảm xúc sau khi đánh lớn trên
ải Trường úc, lại thắng lớn ở thôn Cẩm văn), sư tổ
Lê Thượng Nghĩa cũng đã nói rõ, thắng lớn là nhờ áp dụng
võ thuật vào chiến thuật:
Binh nhung
hào kiệt vũ Ngô câu Xung đột trùng
vây trảm tặc đầu Trường úc,
Cẩm văn tề báo tiệp Nghĩa binh thanh
giá chấn toàn châu
Việt Thao dịch:
Diệt
thù, hào kiệt múa gươm thiêng Xông phá vòng
vây chém giặc liền Trường úc,
Cẩm văn đều thắng lớn Nghĩa quân lừng
lẫy khắp trong miền
Tướng Ðặng Ðề, cũng người quận Bình khê (tức huyện
Tây sơn), một tay võ nghệ nổi tiếng, đã chỉ huy mặt trận
Thủ thiện, cho quân xung phong cận chiến, có trống trận yểm
trợ tinh thần y như đạo quân Tây Sơn ngày trước, ông viết:
Thủ thiện
thôn trung bề cổ động Nghĩa binh phấn
dũng vũ đao thương...
Việt Thao dịch:
Thủ thiện,
trong thôn trống trận rền Nghĩa quân dũng
cảm giáo vung lên
Năm 1908, làng võ Bình Định lại một lần nữa góp phần
chống Pháp trong phong trào Kháng thuế tại tỉnh nhà. Các võ
sĩ ở An Vinh và An thái tham gia rất đông. Họ lãnh trách nhiệm
trừng trị bọn tay sai của Pháp và những tên thổ hào dựa
vào giặc để nhiễu hại dân lành. Căn cứ vào các châu bản
triều Duy Tân trong quyển Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung năm
1908 của Nguyễn Thế Anh (xuất bản tại Sài gòn năm 1973)
thì ở huyện Bình khê có Hà Khuê, Hồ Cường, Lê Lý, Lê
Hữu, Lê Thức, Võ Nghiệp... đã lùng kiếm các viên chức
đắc lực của chính phủ Bảo hộ để trừng trị, tiêu biểu
có tên Vinh và Giao bị nịch sát. Ở vùng An Vinh (Bình Khê)
và An thái (huyện Tuy viễn) có Nguyễn văn Khải lý trưởng
An Vinh, đã chỉ huy toán bắt cóc bọn tay sai cho giặc, tiêu
biểu có tên Uẩn đền tội, xác thả trôi sông. Ở huyện
Phù cát có Nguyễn Hoành đã tổ chức ám sát hai tên gian ác
là Bá và Tường do phủ phái tới. Ở huyện Bồng sơn có
Ðỗ Dương, Nguyễn Ðiềm, Phạm Quế, Phan Thuần đem thủ
hạ khoảng 50 người cầm đao côn đến huyện đường kháng
cự với lực lượng đàn áp. Ngoài ra, toán võ sĩ còn thi
hành bản án tử hình đối với thường dân đã tham tiền
làm do thám hay chỉ điểm cho giặc, như trường hợp nịch
sát tên thợ Cẩn để làm gương.
Khoảng năm 1920, cả hai tỉnh Bình Định và Phú yên mất ăn
mất ngủ vì nạn cướp Dư Ðành. Võ sĩ các phủ, huyện Bình
khê, An nhơn, Tuy Phước, Phù cát được quan tỉnh điều động
vào việc bắt cướp. Dư Ðành người làng Kiên ngãi, xã Bình
thành huyện Bình khê, giỏi võ nghệ và có sức mạnh phi thường.
Hắn có thể kẹp nách một con bò nghé, nhẹ nhàng như bồng
một đứa bé. Người đương thời ví Dư Ðành "sức đương
Hạng Võ, mạnh kình Trương Phi". Dư Ðành cầm đầu một toán
cướp 11 tên. Hựu (quân sư), Phỉ, Cao, Ðen... toàn là những
tên cướp tên tuổi. Chỉ có tay roi Hồ Ngạnh ở Thuận truyền
là Dư Ðành né tránh, còn Bảy Lụt cũng là một tay quyền
nổi tiếng ở An Vinh, bị Dư Ðành và đồng bọn phục kích
đánh bất tỉnh để cảnh cáo làng võ đang tìm bắt chúng:
Dư Ðành
sức mạnh quá trâu Vùng lên đánh
ngã cả xâu triều đình
(Ca dao)
Triều đình khiển trách quan tỉnh, tỉnh nạt xuống huyện.
Quan huyện đổ cáu trút lên đầu làng xã. Khổ cho đám dân
đinh phải canh phòng nghiêm nhặt suốt ngày đêm, lùng sục
khắp hang cùng ngõ hẻm mà vẫn không tìm ra tung tích bọn
cướp. Tình cờ, Dư Ðành bị bắt ở vùng Dương an, huyện
Tuy Phước, lúc đang ngủ say dưới lòng tảng đá hàm ếch,
thuộc núi Phước An. Người ta phải lập thế dùng ba khúc
danh mộc "Kiềng kiềng ba khúc cán ngay yết hầu" (vè Dư Ðành)
và có súng bắn thị uy, Dư Ðành mới chịu bó tay.
Xét cho cùng, thời kỳ trung hưng đã trải dài trên nửa thế
kỷ, nhưng làng võ Bình Định không thể có lại cảnh huy
hoàng rực rỡ như thời Tây Sơn. Tuy vậy võ học Bình Định
thời kỳ này cũng đã phục hưng được ý hướng tốt đẹp
là dạy võ, học võ để ứng thí, cứu nước và giúp đời. THỜI KỲ NGOẠI NHẬP (1924-1945)
Từ xưa Bình Định đã có câu truyền tụng: "Roi Thuận truyền,
quyền An Vinh", và "Trai An thái, gái An Vinh" là những địa
danh thuộc tỉnh, đã phát tích những dòng võ nổi tiếng và
nối nghiệp cho đến bây giờ. Thôn Thuận truyền thuộc xã
Bình thuận, quận Bình khê. Thôn An Vinh thuộc xã Bình an, cùng
huyện. Còn An thái xưa là một thị tứ, nằm trong thôn Mỹ
thạnh, xã Nhơn phúc, huyện An nhơn."Roi Thuận truyền" trước
xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng đến đời ông Ba Ðề
thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ Nhu là tên thật của Hồ Ngạnh,
sinh năm 1891, mất năm 1976, thọ 85 tuổi. Ông nguyên quán thôn
Háo ngãi, xã Bình an, huyện Bình khê, trú quán ở Thuận truyền,
xã Bình thuận cùng huyện. Cha là ông Ðốc Năm, một võ quan
của triều Nguyễn. Mẹ cũng là con nhà võ. Ngay từ lúc bé,
ông đã được cha mẹ dạy võ gia truyền. Lớn lên, ông học
roi của cao sư Ba Ðề, học nội công của ông Ðội Sẻ, tiếp
đến học roi của ông Hồ Khiêm. Ðường roi kết hợp tinh
hoa của nhiều thầy, lại thêm nội công nên cứng cáp và
sâu hiểm vô cùng. Từ roi thế, roi đấu, roi chiến đến roi
trận, ông đều tinh thông và độc đáo. Khoảng năm 1932, tiếng
tăm ông đã vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú.
Nghe danh, học trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết
sớm, ông truyền nghề cho cháu nội, nay là võ sĩ Hồ Sừng.
Học trò lớp lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường
úc xã Phước nghĩa huyện Tuy Phước được riêng dạy ngón
độc chiêu bí truyền. Học trò lớp sau có Ðinh văn Tuấn
ở Qui Nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ vang cho
lò võ Thuận truyền.
"Quyền An Vinh" có từ lâu, nhưng cũng chỉ biết từ đời
ông Hương mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa, cũng
là bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi.
Hương mục Ngạc học quyền Bình Định rồi học thêm quyền
Tàu của ông Khách Bút. Sở dĩ ông nổi tiếng là nhờ tổng
hợp được nhiều nguồn võ khác nhau, tạo nên tay quyền xuất
sắc nhất trong làng võ Bình Định đương thời. Ông có ba
người con là Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác đều
tinh thông võ nghệ. Ông dạy nhiều học trò, có người nổi
tiếng như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc về võ
thuật mà còn gan dạ và có sức mạnh đáng kể, với tay không
có thể vật ngã một con trâu đực đang sung sức. Bảy Lụt
truyền nghề cho Phan Thọ. Sau này Phan Thọ còn học thêm võ
trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp thu được cả
tinh hoa quyền An Vinh từ mạch võ Hương mục Ngạc lẫn võ
chiến của Tây Sơn. Hiện nay lò võ Phan Thọ ở thôn Thủ
thiện huyện Bình khê vẫn đông học trò dù ông nay đã vào
tuổi thất tuần.
An thái cũng có những dòng võ nổi tiếng mà câu ca dao nói
đến Hội Ðổ Giàn tại chùa Bà ở vùng này đã đề cập:
Tiếng
đồn An thái, Bình khê Nhiều tay võ
sĩ có nghề tranh heo
Nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng võ Bình
Định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái
nói riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu.
Người sáng lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật
là Diệp Trường Phát, sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người
Tàu nhưng dòng dõi ba đời đều ở An thái, bà nội và mẹ
ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia đình và bản thân
Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi được
13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những cao
sư Bắc phái Thiếu lâm. Sau 15 năm ròng rã tầm sư học võ,
ông Tàu Sáu lúc bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An thái, mở
trường dạy quyền Tàu, sở trường hai môn Hổ quyền và
Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn đệ rất đông, không
bao lâu phái quyền Tàu Thiếu lâm của ông đã rải khắp miền
đất võ và riêng ở An thái, võ quyền truyền thống đã bị
quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì thế sửa lại
câu truyền tụng từ xưa ra "roi Thuận truyền, quyền An thái".
Dân Bình Định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì xuất
thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có người
chỉ để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được cứng
cáp thêm như Mười Mỹ.
Trong thời kỳ này, ngoài võ Thiếu lâm của Tàu Sáu còn có
võ Thái cực đạo, võ quyền Anh cũng xâm nhập làng võ Bình
Định và được người Pháp nâng đỡ để giảm bớt ảnh
hưởng của võ truyền thống. Chính phủ Bảo hộ thường
tổ chức những cuộc đấu võ đài đến chết mới thôi.
Cảnh tượng ghê rợn, trên đài có một cỗ quan tài để
sẵn. Các lò võ cố luyện cho gà nhà những cú đánh tàn bạo,
độc hiểm để thủ thắng càng nhanh càng tốt, vì thế gây
nên sự thù hằn, hiềm khích giữa các lò võ. Ðó chính là
mục đích "chia để trị" của thực dân. Tuy nhiên vẫn có
những nhà võ ý thức được điều đó. Họ khước từ những
cuộc thách thức tranh tài, chỉ đóng cửa truyền võ để
khỏi mất dòng và để tự vệ. THỜI KỲ TRẦM LẮNG (1945 đến nay)
Cuộc chiến kéo dài 30 năm với vũ khí tối tân; côn, quyền,
gươm, giáo không còn tính cách quyết định cho cuộc chiến
nữa. Số người học võ để đi thi đã chấm dứt từ lâu.
Học võ để phòng cướp hay làm mưa làm gió như Dư Ðành
cũng không còn. Hội Ðổ giàn, tục Tranh Heo đã mai một từ
khi khói lửa lan tràn. Số người học võ tuy dần dần giảm
bớt nhưng tinh thần thượng võ đã trở lại với ý nghĩa
chân chính.
Trong ý nghĩa tìm về cội nguồn, tưởng nhớ đến người
sáng lập võ Tây Sơn, năm 1960, nhân dân toàn quận Bình khê
đã chung sức lập xong đền thờ Tam Kiệt Tây Sơn tại nền
đình cũ đã bị phá hủy thời Việt Minh. Nguyên khuôn viên
ấy là vườn nhà của gia đình ba anh em Tây Sơn. Vua Thái Ðức
(Nguyễn Nhạc) lên ngôi, cho xây dựng thành một nhà từ đường
khang trang. Khi Gia Long diệt Tây Sơn, ra lệnh san phẳng ngôi
nhà. Sau dân làng lập ngôi đình làng Kiên mỹ tại đó và
bí mật thờ Tam Kiệt Tây Sơn.
Ðền thờ Tây Sơn có ba gian. Gian giữa thờ Quang Trung Hoàng
đế. Hai gian bên thờ vua Thái Ðức và Ðông Ðịnh vương
Nguyễn Lữ. Trước sân đền đặt tượng bán thân của vua
Quang Trung và dựng bia ca tụng Ngài.
Cũng từ năm 1960, hằng năm cứ vào ngày mùng 5 Tết Nguyên
đán, tỉnh Bình Định lại tổ chức trọng thể lễ Ðống
đa. Trong ngày lễ hội có biểu diễn võ trận và trống trận
Tây Sơn. Người xem hội từ các nơi đổ về đông nghẹt
đường.
Năm 1972, hội Võ thuật Bình Định được thành lập, thành
phần sáng lập viên gồm có: các võ sư Hà Trọng Sơn, Huỳnh
Liễu, Lý Xuân Tạo, Nguyễn Nghè, Nguyễn Thông, Nguyễn văn
Thành, Thanh Hoàng, Thành Nở, Xuân Sơn Quảng và ba huấn luyện
viên là Lý Thành Nhân, Nguyễn Thành Công, Xuân Trường Tịnh.
Thanh Hoàng có tên thật là Nguyễn Bính, sinh năm 1935, người
thôn An phú xã Phước lộc, huyện Tuy Phước được bầu làm
Tổng thư ký. Tôn chỉ của hội là bảo tồn và phát triển
võ Bình Định. Hoan nghênh các phái võ khác hội nhập vào
làng võ Bình Định làm phong phú thêm cho nền võ học tỉnh
nhà; nhưng cương quyết ngăn chặn các môn võ ngoại lai đang
muốn đồng hóa võ truyền thống.
Một điều quan trọng là từ năm 1972 hội võ thuật Bình Định
được thành lập với đầy đủ các môn võ của Bình Định.
Trước đó chỉ có Phân cuộc Quyền thuật Bình Định được
thành lập mà thôi và trực thuộc vào Tổng cục Quyền thuật
Sài gòn.
Lại nữa, võ Bình Định cũng được phổ biến rộng rãi
qua các võ đường ở Sài gòn và các tỉnh, như võ đường
Sa Long Cương ở Sài gòn do sư trưởng Trương Thanh Ðăng người
Bình Định tổ chức, dạy cả võ Bình Định lẫn võ Thiếu
lâm.
Thời kỳ này có những nhà sư nổi tiếng về võ Bình Định
như Thượng tọa Bửu Thắng, tuổi ngoài 80, trụ trì chùa
Quang Hoa huyện Tuy Phước, là tay roi chiến thượng thặng;
sư Hạnh Hòa, khoảng ngũ tuần, trụ trì chùa Long phước,
huyện Tuy Phước, một tay võ danh tiếng; sư chú Vạn Thanh,
30 tuổi, cũng ở chùa Long Phước, tay roi tay đao đang thời
kỳ sung sức.
Vào đầu thập niên 1970, một ngôi sao lóe sáng trên vòm trời
võ học Bình Định: nữ võ sĩ Thanh Tùng của miền sông Côn.
Chưa ai thấy cô thắng trên võ đài hay từng tranh tài cao thấp
với ai, người ta chỉ thấy Thanh Tùng ở điện thờ Quang
Trung dịp lễ Ðống Ða biểu diễn các bài quyền như Lão
Mai Ðộc Thọ hay bài roi như Tấn Nhất Ô Du là đã đủ khiếp.
Xét cho cùng, điều ấy là lẽ dĩ nhiên. Thanh Tùng là con nhà
võ, đời đời nối nghiệp và thừa hưởng các ngón bí truyền
của một dòng võ cao thủ. Ông nội của Thanh Tùng là một
tay roi quỉ khiếp thần kinh, người đồng thời và xứng tài
với Hồ Ngạnh. Thân sinh cô vẫn nối nghiệp nhà, giữ vai
trò đứng đầu hàng võ tại địa phương. Rồi đến Thanh
Tùng, tuy là gái, cô vẫn tiếp nối thừa hưởng tinh hoa của
con nhà võ.
Học võ thì phải học luôn cả thuốc võ để tự chữa trị
những chấn thương do đánh võ gây nên. Tuy nhiên trong trường
hợp thương tích quá nặng thì phải tìm đến các thầy thuốc
võ chuyên môn. Họ cũng trong đội ngũ làng võ Bình Định,
vì phải xuất thân từ những lò võ danh tiếng mới học được
các bài thuốc bí truyền. Một số danh sư về thuốc võ như
: võ sư Hồ Ngạnh, Hoà thượng Huyền Ân trụ trì chùa Bích
Liên huyện An nhơn, Lê Văn Chương ở thị trấn Bình Định,
Minh Tân Phạm Hà Hải ở Qui Nhơn... tiếc rằng Hồ Ngạnh
và sư Bích Liên đã qua đời, nhưng trong làng thuốc võ Bình
Định còn biết bao danh sư khác nối tiếp được chân truyền.
Ngày nay, lớp người trên dưới 60 tuổi đang giữ vai trò
nòng cốt cho làng võ Bình Định, tuy không nhiều nhưng rải
khắp nơi trong tỉnh. Ở Qui Nhơn có Ðinh văn Tuấn, tác giả
cuốn Võ thuật Cổ truyền Bình Định; Kim Ðình gốc người
Hoài nhơn; Nguyễn Lê Thanh. Ở Bình khê có Hồ Sừng (cháu
nội Hồ Ngạnh), Phạm Thi, Phi Long. Huyện Tuy Phước có Thanh
Hoàng (cựu Tổng thư ký hội Võ thuật Bình Định) ở Cầu
Gành, Hồng Khanh, Minh Tinh (con võ sư Xã Hào) ở Trường úc,
Ðào Văn Thanh ở Phước thuận và Trần Can ở ngả ba Diêu
Trì, cả hai đều thuộc mạch võ của Hà Trọng Sơn; nhà chùa
thì có các sư Hạnh Hòa, Vạn Thanh ở chùa Long phước, huyện
An nhơn có Lý Thành Nhân (con võ sư Lý Xuân Tạo) ở Ðập
Ðá, Vũ Lê Cang. Huyện Phù cát có võ sư Trần Diễn. Và các
huyện phía bắc là Phù mỹ có Kim Hòa, ở Hoài nhơn có Nguyễn
văn Chức, Nguyễn Thành Tín...
Mạch võ Bình Định như một dòng sông, lúc uốn khúc, lúc
bằng phẳng, khi vơi khi đầy, nhưng với khí thế của đất
trời "ba dòng sông chảy, ba dãy non cao, biển đông sóng vỗ
dạt dào, tháp kia làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh", dòng
chảy ấy không bao giờ dứt.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét