CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 257/l

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Truyện tình báo Điệp viên giữa sa mạc lửa - P16A
 
Truyện tình báo Điệp viên giữa sa mạc lửa - P16B



Mật mã thập kỷ: Bí hiểm cực độ, đến chuyên gia giải mật CIA cũng "điên đầu"

Aozora |


Mật mã thập kỷ: Bí hiểm cực độ, đến chuyên gia giải mật CIA cũng "điên đầu"

Ngay tại nơi quy tụ những bộ óc xuất sắc nhất của ngành tình báo Mỹ vẫn tồn tại câu đố thách thức cả chuyên gia kỳ cựu nhất.

Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) vốn nổi tiếng với những thành công trong hoạt động điều tra giám sát, nhưng ít ai biết rằng ngay cả những chuyên gia hàng đầu thế giới làm việc cho cơ quan này cũng phải đau đầu trước một câu đố thoạt nhìn có vẻ rất đơn giản.
Điều đặc biệt là câu đố này lại được đặt ngay trước trụ sở của CIA như để "trêu ngươi" các nhân viên ngày này qua ngày khác vậy.
Tất cả bắt đầu vào năm 1991, khi nhà điêu khắc người Mỹ Jim Sanborn tạo ra một "tác phẩm" để đời theo đơn đặt hàng của CIA. Đó là bức điêu khắc mật mã được đặt tên Kryptos, theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là "ẩn giấu".
Mật mã thập kỷ: Bí hiểm cực độ, đến chuyên gia giải mật CIA cũng điên đầu - Ảnh 1.
Bảng mật mã trước trụ sở của CIA.
Tác phẩm này gồm một khung bằng đồng có khắc khoảng 1.700 chữ cái được sắp xếp "lộn xộn" và chia thành bốn bản mật mã khác nhau. Ngoài ra Kryptos còn bao gồm các cấu phần khác như một khúc gỗ lớn dựng đứng, một phiến đá granite màu đỏ và xanh lục, một tảng thạch anh trắng, và một hồ nước nhỏ.
Mật mã thập kỷ: Bí hiểm cực độ, đến chuyên gia giải mật CIA cũng điên đầu - Ảnh 2.
Ngay từ thời điểm mới xuất hiện trước trụ sở CIA tại Langley, bang Virginia của Mỹ, bức điêu khắc bí hiểm này đã thu hút sự quan tâm của vô số những người đam mê giải mã chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư, trong đó tất nhiên có cả những chuyên gia của chính Cơ quan Tình báo Trung ương.
Bản mật mã bí hiểm đến cực độ!
Với sự quan tâm đặc biệt như thế, các bản mật mã đã lần lượt được "giải quyết" nhanh gọn chỉ trong vòng vài năm sau khi xuất hiện. Đầu tiên là một câu thơ do chính Sanborn tự sáng tác:
"Giữa bóng mờ và nơi không ánh sáng, nằm ẩn mình những ảo ảnh mông lung."
Đáng chú ý là tác giả đã cố tình viết sai từ "illusion" (ảo ảnh, ảo giác) thành "iqlusion" để làm khó các chuyên gia giải mã.
Mật mã thập kỷ: Bí hiểm cực độ, đến chuyên gia giải mật CIA cũng điên đầu - Ảnh 3.
Bản mật mã thứ hai nói về một thứ gì đó được chôn giấu:
Bản 1: "Nó hoàn toàn vô hình. Sao có thể như thế được? Họ đã dùng từ trường Trái đất. Thông tin được tập hợp lại và truyền đi dưới lòng đất đến một địa điểm bí mật. Langley có biết chuyện này không? Chắc là họ phải biết: Nó được chôn giấu đâu đó ngoài kia mà.
Ai biết chính xác địa điểm đó? Chỉ có mình WW thôi. Đây là thông điệp cuối cùng của ông ấy. Ba mươi tám độ năm mươi bảy phút sáu phẩy năm giây về hướng Bắc, bảy mươi bảy độ tám phút bốn mươi bốn giây về hướng Tây. Lớp thứ hai."
Mật mã thập kỷ: Bí hiểm cực độ, đến chuyên gia giải mật CIA cũng điên đầu - Ảnh 4.
Bản 2: Trong bức mật mã này cũng có một lỗi chính tả là từ "underground" (dưới lòng đất) được viết thành "undergruund". Nội dung của nó đề cập đến một địa điểm cách khoảng 46m về hướng Đông Nam tính từ vị trí của Kryptos.
Bản 3: Bản mật mã thứ ba là một đoạn trích từ cuốn nhật kí của nhà khảo cổ học Howard Carter, mô tả cuộc khai mở lăng mộ của pharaoh Tutankhamun vào năm 1922:
"Thật chậm rãi, chậm rãi đến tuyệt vọng, những tàn tích của lối đi đổ nát vốn ngăn trở phần dưới của ô cửa dần được lấy đi. Bằng đôi tay run rẩy, tôi đục một lỗ nhỏ tí ở góc trên bên trái. Rồi sau khi khoét rộng nó ra một chút, tôi đưa ngọn nến vào và chăm chú quan sát.
Luồng khí nóng thoát ra từ gian buồng khiến ngọn lửa lập lòe, nhưng ngay sau đó các chi tiết của căn phòng bên trong liền hiện rõ giữa màn sương. Bạn có thấy được gì không?"
Mật mã thập kỷ: Bí hiểm cực độ, đến chuyên gia giải mật CIA cũng điên đầu - Ảnh 6.
Như vậy cả ba thông điệp đầu tiên dường như đều hướng về một địa điểm bí mật nào đó.
Bản 4: Tuy nhiên sự bí hiểm đã được đẩy đến cực độ ở bức mật mã thứ tư – chỉ gồm 97 chữ cái, và có thể là chỉ dẫn cuối cùng – khi nó làm khó các nhà giải mã, kể cả những chuyên gia hàng đầu của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA).
Mật mã thập kỷ: Bí hiểm cực độ, đến chuyên gia giải mật CIA cũng điên đầu - Ảnh 7.
    Ngay cả tác giả Sanborn cũng tin rằng mình sẽ không sống đủ lâu để chứng kiến ai đó phá giải được câu đố này. Chính vì thế mà vào năm 2010 ông đã đưa ra gợi ý rằng có sáu ký tự trong bức mật mã thứ tư sẽ được giải mã thành "Berlin".
    Nhưng suốt bốn năm sau vẫn chưa ai tận dụng được manh mối đó, và Sanborn phải tiếp tục đưa ra gợi ý thứ hai: Từ tiếp theo sẽ là "clock". Như vậy bức thông điệp cuối cùng này đề cập đến "chiếc đồng hồ Berlin" nào đó.
    Khả năng cao nhất là Sanborn đang muốn ám chỉ chiếc đồng hồ công cộng nổi tiếng có tên là Berlin Clock, hay Berlin-Uhr. Bản thân chiếc "đồng hồ" này cũng là một câu đố, bởi nó chỉ giờ bằng các màu sắc và buộc người xem phải tính toán theo một quy trình phức tạp để tìm ra giờ giấc chính xác.
    Mật mã thập kỷ: Bí hiểm cực độ, đến chuyên gia giải mật CIA cũng điên đầu - Ảnh 9.
    Mỗi ô đèn đỏ ở hàng trên cùng tượng trưng cho năm tiếng đồng hồ, trong khi mỗi ô đèn đỏ ở hàng thứ hai ứng với một tiếng. Hàng thứ ba có mười một ô đèn vàng và đỏ, mỗi ô là năm phút. Và hàng dưới cùng có bốn ô đèn vàng, mỗi ô tượng trưng cho một phút.
    Để biết thời gian, ta phải cộng hết tất cả các giờ và các phút lại với nhau. Ví dụ như nếu có hai ô ở hàng đầu và ba ô ở hàng hai sáng đèn, thì lúc đó là một giờ chiều (2x5 + 3x1 = 13).
    Khi được hỏi về lý do đề cập đến Đồng hồ Berlin, Sanborn đã trả lời đơn giản rằng mặc dù tại Berlin có nhiều chiếc đồng hồ thật sự thú vị, nhưng đây là chiếc mà ông cảm thấy hấp dẫn nhất.
    Tuy địa điểm cuối cùng đã được tiết lộ, nhưng bức màn bí ẩn bao quanh bản mật mã Kryptos vẫn còn đó.
    Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Wired vào năm 2005, Sanborn kể rằng khi CIA đặt làm tác phẩm này, ông đã được yêu cầu phải viết ra đáp án của các bức mật mã và gửi cho họ trong một phong bì niêm kín.
    Thực tế là Sanborn đã gửi chiếc phong bì đó cho cựu Giám đốc CIA là William Webster, và thú vị ở chỗ, điều này đã được ông đề cập đến trong bức mật mã thứ hai: Chính là cái tên WW.
    Nhưng tác giả của bản mật mã nổi tiếng khắp thế giới này đã không tiết lộ toàn bộ đáp án cho Webster. Ông giấu đi lời giải cho đoạn cuối cùng, khiến nó không bao giờ được giải mã. Và theo lời giải thích của Sanborn thì "Đó là một phần của tình báo mà, phải không?"
    theo Helino


    AP: Mỹ đã bị tình báo Cuba "chơi một vố rất đau" trong vụ đảo chính ở Venezuela!

    Trung Phạm |

    AP: Mỹ đã bị tình báo Cuba "chơi một vố rất đau" trong vụ đảo chính ở Venezuela!
    Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro phát biểu bên cạnh Bộ trưởng QP Vladimir Padrino Lopez (phải) và tướng Ivan Hernandez (thứ hai từ phải sang). Ảnh: AP

    Không những thế, AP còn cho biết Mỹ đã "bỏ lỡ" quá nhiều cơ hội tiếp cận các quan chức quân đội cấp cao Venezuela để phục vụ cho mục đích chính trị của mình ở quốc gia Nam Mỹ này.

    Vào khoảng tháng 5/2017, một viên tướng danh tiếng Venezuela đã gửi tới Nhà Trắng một đề nghị bất thường: Tướng Ivan Hernández, Tư lệnh Lực lượng Bảo vệ Phủ Tổng thống kiêm Giám đốc Tổng cục Phản gián Quân đội Venezuela muốn đưa đứa con 3 tuổi của mình tới Boston để phẫu thuật não và cần Mỹ cấp visa cho gia đình ông.
    Sau vài ngày thảo luận nội bộ căng thẳng, Chính quyền non trẻ của Tổng thống Donald Trump đã từ chối lời đề nghị với lập luận họ không nhận thấy lợi ích gì khi giúp đỡ thành viên của một chính phủ đối lập với Mỹ.
    Thông tin trên được chính một cựu quan chức Mỹ và một nhân vật khác am hiểu tình hình nội bộ tiết lộ với hãng thông tấn AP ngày 3/5/2019.
    Theo AP, quyết định trên có thể đã rơi vào quên lãng nếu như Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ John Bolton không lên tiếng quở trách tướng Hernandez trong một bài phát biểu trên truyền hình với tư cách là một trong ba nhân vật cấp cao Chính phủ Venezuela đương nhiệm đã rút lui khỏi kế hoạch đảo chính, được cho là vào phút cuối, nhằm lật đổ Tổng thống Nicolás Maduro.
    Đây có lẽ cũng chỉ là một trong số ít những cơ hội hiếm hoi đã bị Mỹ bỏ lỡ để lấy lòng giới quân sự Venezuela vốn dĩ rất khó tiếp cận này.
    Không những thế, Mỹ cũng đã từ chối một kênh liên lạc hậu trường với thủ lĩnh của những quân nhân có khả năng hợp tác với Mỹ, đó là Bộ trưởng Quốc phòng Vladimir Padrino Lopez.
    AP: Mỹ đã bị tình báo Cuba chơi một vố rất đau trong vụ đảo chính ở Venezuela! - Ảnh 1.
    Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro (phải) và Bộ trưởng Quốc phòng Vladimir Padrino Lopez. Ảnh: AP
    Ông Bolton cho biết, tướng Hernández, Bộ trưởng Quốc phòng Padrino và Chánh án Tòa án Tối cao Maikel Moreno đã chọn đứng về phe Tổng thống Maduro vào đúng thời khắc quyết định: Đó là khi nhà lãnh đạo đối lập Juan Guaidó xuất hiện trên cầu vượt cao tốc bên cạnh một nhóm binh sĩ kêu gọi phát động "giai đoạn cuối cùng" của chiến dịch mang tên Tự do.
    Ba quan chức cấp cao trên không trực tiếp phủ nhận họ đã tham gia vào các cuộc thương thuyết với lực lượng đối lập nhưng đã lên tiếng khẳng định trung thành với Tổng thống Maduro và giữ nguyên vị trí của mình hiện nay.
    Tuy nhiên, chia sẻ với AP, một số nhà phân tích bày tỏ hoài nghi việc các quan chức quân đội cấp cao đó, những người đã thâu tóm được quyền lực rộng lớn dưới thời lãnh đạo của ông Maduro và bị Mỹ trừng phạt, lại thực sự phản bội lại ông.
    Thay vào đó, họ phỏng đoán rằng, phe đối lập Venezuela, và rộng hơn nữa là Mỹ, có lẽ đã bị các đặc vụ tình báo Cuba ở Venezuela chơi một vố quá đau.
    "Họ cố gắng mua chuộc chúng tôi cứ như thế chúng tôi là những lính đánh thuê", ông Padrino phát biểu ngày 2/5 bên cạnh Tổng thống Maduro.
    Trong suốt nhiều năm, giới chức Mỹ đã tìm đủ mọi cách để tiếp cận với quân đội Venezuela - lực lượng vốn có ảnh hưởng rất lớn trên chính trường nước này. Thế nhưng, kể từ sau khi nhà lãnh đạo Hugo Chavez rà soát kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của Mỹ trong bộ máy quân đội thì các cơ hội của Washington đã giảm đi rất nhiều.

    Dự án MKULtra – Chương trình gây sốc nhất mọi thời đại của CIA

    Thùy Dương |

    Dự án MKULtra – Chương trình gây sốc nhất mọi thời đại của CIA

    Trước khi Edward Snowden tiết lộ những chương trình do thám nội địa của chính phủ Mỹ năm 2013, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) từng nhiều lần bí mật theo dõi, thử nghiệm thuốc trên người dân. Một trong những chương trình khét tiếng nhất chính là Dự án MKULtra.


    Theo trang todayifoundout, Dự án MKULtra được thực hiện từ năm 1953 tới năm 1964. Khi đó, CIA đã thực hiện hàng chục thí nghiệm về ảnh hưởng của các chất sinh học và hóa học với công dân Mỹ mà họ không hề biết. Những thí nghiệm bí mật trong Dự án MKULtra gồm cho người dân dùng ma túy gây ảo giác và các hóa chất khác.
    Dù rất khó tìm tài liệu chính thức về chương trình này nhưng năm 1976 và 1977, Thượng viện Mỹ đã thực hiện điều tra và thậm chí còn tổ chức điều trần trước một ủy ban hỗn hợp về Dự án MKULtra.
    Sau đó, Thượng viện Mỹ đã công bố phần lớn những gì đã phát hiện ra. Nhiều thông tin gây sốc và rất khó tin.
    Mục đích của MKULtra
    Theo báo cáo điều trần, dự án này nhằm phát triển khả năng sử dụng bí mật nguyên liệu hóa học và sinh học. Động cơ của dự án mang tính phòng vệ dựa trên lý do nhiều người sợ rằng trong Chiến tranh Lạnh, Nga và Trung Quốc cũng đã phát triển vũ khí sinh học và hóa học.
    Chính thức được cho phép thực hiện năm 1953, tới năm 1955, dự án đã mở rộng thẩm quyền của CIA, cho phép cơ quan này tìm hiểu những nguyên liệu và phương pháp nhằm: tăng cường ảnh hưởng nhiễm độc của cồn; tăng cường tác dụng của thôi miên; tăng cường khả năng chịu thiếu thốn, tra tấn, ép buộc trong khi bị thẩm vấn và “tẩy não”; gây quên các sự kiện trước và trong khi thẩm vấn; gây sốc và nhầm lẫn trong một giai đoạn kéo dài; gây khuyết tật như liệt chân…
    Trong phiên điều trần khi đó, Thượng nghị sĩ Edward Kennedy nói: “Có một chương trình thí nghiệm tăng cường, trong đó có những cuộc thử nghiệm thuốc bí mật với người dân mà họ không hay biết.
    Họ thuộc mọi tầng lớp xã hội, cả người giàu và người nghèo, cả người Mỹ và người nước ngoài. Một số thí nghiệm còn bí mật sử dụng thuốc gây ảo giác với các công dân trong các tình huống xã hội”.
    Đối với các cuộc thí nghiệm này, đặc biệt là các thí nghiệm ban đầu, không có nhân viên y tế phụ trách cung cấp thuốc hay quan sát tác dụng của thuốc. Thông thường, những người được chọn lựa ngẫu nhiên đã bị ốm trong vài giờ hoặc vài ngày, có người phải nhập viện.
    Đáng lo ngại hơn là một số thí nghiệm nguy hiểm chết người. Tuy nhiên, CIA vẫn không dừng thí nghiệm. Có hai người Mỹ đã tử vong do các chương trình này.
    Những người tham gia khác có thể vẫn chịu tác dụng phụ của thuốc. Thí nghiệm vẫn được tiếp tục tiến hành nhiều năm trời bất chấp nguy hiểm của thuốc gây ảo giác, cho thấy CIA đã không đếm xỉa gì tới tính mạng con người.
    Cái chết của Tiến sĩ Olson
    Một trong những người bị thí nghiệm là Tiến sĩ Frank Olson, một nhà nghiên cứu trong quân đội Mỹ chuyên về phát triển các kỹ thuật sử dụng vũ khí hóa học trong tấn công và nghiên cứu sinh học cho CIA. Ông đã cùng một nhóm 9 nhà khoa học tham gia một hội nghị ở khu vực hồ Deep Creek, bang Maryland tháng 11/1953.
    Khi ở đó, rượu Cointreau của các nhà nghiên cứu bị đặc vụ CIA bí mật cho thuốc gây ảo giác vào. Chỉ sau khi các nhà khoa học uống xong, họ mới được thông báo là đã bị đánh thuốc.

    Dự án MKULtra – Chương trình gây sốc nhất mọi thời đại của CIA - Ảnh 1.
    Tiến sĩ Olson. Ảnh: baltimoresun.com
    Phần lớn nhà khoa học không gặp vấn đề gì với thí nghiệm và không bị phản ứng phụ. Tuy nhiên, Tiến sĩ Olson không may mắn như vậy. Ông không bao giờ bình phục sau sự việc. Không lâu sau thí nghiệm, ông bắt đầu có triệu chứng hoang tưởng và tâm thần phân liệt.
    Cấp trên của Tiến sĩ Olson và nhân viên CIA chịu trách nhiệm thực hiện thí nghiệm trên đã sắp xếp cho ông điều trị ở New York. Tiến sĩ ở qua đêm cùng phòng khách sạn với nhân viên CIA có tên Lashbrook.
    Sau khi yêu cầu người này đánh thức ông dậy vào sáng hôm sau, Tiến sĩ Olson không rõ đã ngã như thế nào và tử vong. Nhân viên CIA này báo cáo lại: “Lúc khoảng 2 giờ 20 sáng ngày thứ bảy 28/11, Lashbrook thức giấc vì nghe thấy mảnh kính vỡ rất mạnh. Ông Olson đã lao qua cửa sổ đang đóng và tử vong khi rơi từ cửa sổ tầng 10 xuống đất”.
    Không có cuộc điều tra nào về cái chết bất ngờ của Tiến sĩ Olson, đặc biệt là từ nhân viên CIA thực hiện thí nghiệm và ở một mình với ông Olson.
    Thí nghiệm trong trường đại học, bệnh viện, nhà tù
    Trong phiên điều trần, Thượng nghị sĩ Kennedy lưu ý rằng nhiều cơ quan danh tiếng đã hợp tác trong Dự án MKULtra. Ông nói: “Điều chúng ta đang nói tới là sự xuyên tạc và tham nhũng của nhiều trung tâm nghiên cứu nổi tiếng tại đất nước này.
    Với tiền của CIA, một số nhà nghiên cứu hàng đầu của chúng ta đã vô tình tham gia vào nghiên cứu do CIA tài trợ mà họ không biết về thông tin cơ bản”.

    Dự án MKULtra – Chương trình gây sốc nhất mọi thời đại của CIA - Ảnh 3.
    Trang đầu bản báo cáo về Dự án MKULtra trước Thượng viện Mỹ. Ảnh: Wikipedia
    Báo cáo trong phiên điều trần cho thấy có 86 trường đại học và viện cùng 185 trợ lý và nhà nghiên cứu phi chính phủ liên quan tới Dự án MKULtra. Các nhà vật lý, nhà nghiên cứu chất độc và chuyên gia về ma túy, tâm thần bị dụ dỗ tham gia MKULtra khi họ tin rằng nguồn tiền hỗ trợ họ là từ các cơ sở nghiên cứu.
    Tại một số trong 12 bệnh viện tham gia dự án MKULtra, các thử nghiệm được thực hiện trên bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối vì các thí nghiệm này được cho là sẽ có tác hại lâu dài hoặc chết người.
    Để bệnh viện đồng ý thực hiện thí nghiệm, CIA thường trả tiền. Tiểu dự án 23 được cho phép thực hiện vào tháng 8/1955 và hoạt động như sau: Kỹ sư dự án cho phép nhà thầu trả viện phí cho một số người bị bệnh ung thư không thể chữa được để được nghiên cứu ảnh hưởng của các hóa chất dùng trong điều trị bệnh giai đoạn cuối.
    Tương tự, nhiều thí nghiệm được thực hiện tại nhà tù cũng được tiến hành bí mật hoặc kêu gọi tình nguyện.
    Trong một thí nghiệm do Trung tâm Nghiên cứu tình trạng nghiện (Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia) thực hiện tại Trung tâm cải tạo Lexington (nhà tù dành cho người nghiện bị kết án), tù nhân tình nguyện tham gia thí nghiệm thuốc gây ảo giác được hứa cho loại thuốc mà họ nghiện.
    Ngoài ra, có rất nhiều thí nghiệm khác, ví dụ như: ảnh hưởng của sốc điện, kỹ thuật quấy rối dùng để tấn công…
    Các nhà khoa học MKULtra cũng được phép nghiên cứu thêm các biện pháp kiểm soát hành vi con người. Dự án MKULtra có 149 tiểu dự án, trong đó có nhiều tiểu dự án dường như có một mối liên hệ nào đó với nghiên cứu thay đổi hành vi, thử nghiệm thuốc bí mật.
    Tuy nhiên, gần như không còn sót lại tài liệu ghi chép hoạt động bí mật kéo dài 10 năm này. Thượng nghị sĩ Kennedy nói: “Có lẽ điều đáng lo ngại nhất là không rõ quy mô các thí nghiệm với người ở mức độ nào.
    Tài liệu về mọi hoạt động này đã bị hủy năm 1973 khi CIA có Giám đốc mới là Richard Helms”. Tuy nhiên, một số tài liệu bị CIA bỏ sót và được tìm thấy năm 1977.
      Theo trang todayifoundout, có hai vụ kiện nảy sinh từ hoạt động của Dự án MKULtra được đưa lên Tòa án Tối cao, nhưng cả trong cả hai, chính phủ đều được bảo vệ thay vì quyền lợi của công dân.
      Vụ kiện thứ nhất vào năm 1985, khi đó Tòa án Tối cao phán quyết rằng tên các nhà nghiên cứu và cơ sở tham gia MKULtra được miễn thực thi Đạo luật Tự do thông tin vì CIA cần bảo vệ nguồn tin tình báo.
      Vụ kiện thứ hai diễn ra năm 1987. Tòa án phán quyết rằng một tình nguyện viên bị cấm đòi bồi thường thiệt hại theo Đạo luật Bồi thường thiệt hại. Người này tham gia thí nghiệm về vũ khí hóa học nhưng lại bị thí nghiệm với thuốc gây ảo giác.
      theo Báo tin tức
        Trở lại trường hợp xin visa của tướng Hernandez. Một lá thư gửi tới Đại sứ quán Mỹ ở Venezuela từ Bệnh viện nhi Boston viết rằng, con trai tướng Hernandez đã nhận được giấy phép phẫu thuật vào ngày 14/3/2017 và gia đình ông đã đặt cọc 150.000 USD.
        Để tạo điều kiện tốt nhất cho đứa trẻ, Bệnh viện nhi Boston đề nghị cả tướng Hernandez và vợ ông nên được cấp visa sang chăm sóc con với thời gian nghỉ dưỡng dự kiến khoảng 2 tháng.
        Sau khi đề nghị cấp visa vì mục đích nhân đạo bị từ chối, một cựu quan chức cấp cao của Venezuela có quan hệ hợp tác với cơ quan thực thi luật pháp Mỹ đã đứng ra đại diện cho tướng Hernandez nhờ cậy tới các quan hệ của ông ở Washington.
        Thế nhưng, một lần nữa đề nghị lại bị rơi vào quên lãng. Lý do, như một trong những nguồn tin của AP tiết lộ, là thiếu sự hiểu biết chiến lược giữa các nhà hoạch định chính sách chóp bu ở Nhà Trắngvà Bộ Ngoại giao.
        Tổng thống Maduro phát biểu trước lực lượng vũ trang Venezuela
        theo Trí Thức Trẻ

        Bảo tàng CIA: Nơi người dân bị “cấm cửa”

        Trần Đức Tân |

        Bảo tàng CIA: Nơi người dân bị “cấm cửa”

        Các bảo tàng trên thế giới thường được lập ra để lưu giữ những hiện vật lịch sử và giới thiệu nó đến với công chúng, do đó chúng luôn mở cửa chào đón khách tham quan. Nhưng có một viện bảo tàng tại Mỹ lại hoàn toàn trái ngược với điều này, mặc dù trưng bày những thứ khiến ai cũng thích thú nhưng người dân bình thường không bao giờ được phép bước vào, đó là Bảo tàng CIA (CIA Museum).

        Bảo tàng CIA nằm trong khuôn viên Trung tâm George Bush, thuộc trụ sở Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) tại Langley, bang Virginia, được William E. Colby, Giám đốc CIA khởi xướng vào năm 1972 với mục tiêu “tích lũy chọn lọc những thiết bị độc đáo, ghi lại từng thời điểm lịch sử”, nhằm giúp cho những nhân viên CIA vừa mới được tuyển vào hiểu rõ hơn về tổ chức mà mình đang làm việc, cùng những đóng góp của nó cho an ninh nước Mỹ.
        Bảo tàng CIA: Nơi người dân bị “cấm cửa” - Ảnh 1.
        Tại đây trưng bày hàng nghìn thiết bị, tài liệu tuyệt mật là các phương tiện điệp viên sử dụng giống như điệp viên James Bond trong phim ảnh từ Thế chiến II, CIA thu thập trong suốt chiều dài lịch sử 70 năm hoạt động, kể từ ngày cơ quan này còn là Cơ quan Tình báo chiến lược OSS.
        Nhiều hiện vật ở đây chưa giải mật và hiện vẫn được sử dụng trong công tác tuyển dụng, huấn luyện và hoạt động của cơ quan này.
        Những người được phép vào bảo tàng là những nhân viên CIA hoặc những người “được mời” mà thôi. Việc cho người ngoài tiếp cận nơi này có thể trở thành tiền đề cho những quốc gia khác phát triển thành những thiết bị “tình báo” tinh vi hơn.
        Bảo tàng CIA: Nơi người dân bị “cấm cửa” - Ảnh 2.
        Bà Toni Hiley, phụ trách bảo tàng, cho biết có rất nhiều nhà sưu tập tư nhân, các bảo tàng nhỏ, các điệp viên CIA đã nghỉ hưu “tặng” bảo tàng các thiết bị mà họ đã từng sử dụng, như: súng bắn ra mũi tên bé tí tẩm thuốc độc ngụy trang trong chiếc tẩu hút thuốc lá, máy truyền tin giấu trong đế giày, thậm chí có cả một ống nhỏ để nhận tin nhắn từ đài phát thanh rồi âm thầm chuyển đến tai người nghe bằng những rung động vào xương hàm, cùng những huy hiệu, quần áo, giấy tờ, hộ chiếu giả, tạo vỏ bọc cho các hoạt động tình báo ở nước ngoài…
        Một trong những hiện vật độc đáo được trưng bày ở đây là bộ máy tính chuyên dùng để giải mã những bức điện của Đức Quốc xã, được mã hóa bằng máy Enigma. Hệ thống mã hóa của Enigma tinh vi đến mức nếu ai đó thu được một bức điện đánh đi từ nó thì họ chỉ có 1/15 triệu tỉ cơ hội để giải mã bức điện.
        Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu, các chuyên gia OSS - tiền thân của CIA đã tìm ra manh mối. Do quá tự tin vào khả năng thần kỳ của Enigma, người Đức không buồn thay đổi bảng mã hóa trong suốt những năm chiến tranh và kết quả là OSS gần như “đọc” được 90% các bức điện được gửi đi từ máy Enigma.
        Bảo tàng CIA: Nơi người dân bị “cấm cửa” - Ảnh 3.
        Một hiện vật độc đáo gây sự chú ý là chú chuồn chuồn bằng silicon với kích thước y như thật. Thực ra chú chuồn chuồn này chính là một máy bay không người lái, bắt đầu đưa vào hoạt động từ năm 1970, dùng để trinh sát. Nó có một động cơ cực nhỏ gắn trên lưng, còn ở giữa hai mắt là một camera chụp bằng vi phim.
        Thời ấy, công nghệ truyền trực tiếp từ camera về sở chỉ huy chưa phát triển nên sau khi chụp ảnh, chuồn chuồn bay về căn cứ rồi các chuyên gia tháo hộp vi phim đi in tráng. Tuy có những hạn chế về tầm bay, thời gian hoạt động nhưng đây có lẽ là chiếc máy bay không người lái điều khiển từ xa đầu tiên.
        Hiện vật độc đáo hình cá dùng để do thám dưới nước cũng vô cùng đặc biệt. Nó có thể lặn sâu đến 50m và di chuyển trong nước liên tục gần 9 tiếng đồng hồ. Những con cá đặc biệt này dùng bộ điều khiển sóng vô tuyến.
        Bên trong con cá có chứa một máy thu âm nhỏ và hệ thống động cơ đẩy ở đuôi, có thể ghi nhận tiếng chân vịt của những loại tàu chạy trên mặt nước. Khi cá quay lại căn cứ, chuyên gia CIA sẽ giải mã âm thanh thu được và từ đó, họ biết đó là tàu buôn hay tàu chiến cũng như biết được công suất của máy và vận tốc của tàu.
        Một trong các thiết bị CIA từng sử dụng trong cuộc chiến tại Việt Nam mang tên “máy đếm voi” cũng được trưng bày tại bảo tàng. Đây là thiết bị có khả năng theo dõi số lượng người và hàng hóa vận chuyển từ xa.
        Thiết bị này ra đời vào thập niên 1960 để theo dõi việc bộ đội ta từ miền Bắc tiếp tế và chi viện cho miền Nam dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh nằm gần biên giới Lào và Campuchia.
        “Máy đếm voi” được chế tạo để bổ sung khả năng thu thập tin tình báo về hoạt động của bộ đội ta. Nó thu nhận hình ảnh bộ đội, xe tải, xe máy, xe bò, xe đạp, xe tăng, súng cối, lừa và cả... voi. Mỗi hình ảnh được chụp sẽ có nút vặn để điều chỉnh số lượng tương ứng.
        Thiết bị còn có một nút bấm để gửi thông tin thu thập được đến máy bay Mỹ nhằm mục đích tấn công ngăn chặn đường tiếp tế của ta. CIA nhận định thiết bị này sáng tạo về mặt ý tưởng và thiết kế nhưng lại không hiệu quả trong điều kiện thực tế...
        Với hơn 7.000 hiện vật được trưng bày, “nhưng đó chưa phải là tất cả…”, bà Toni Hiley cho biết. “Có những loại ‘đồ chơi’ vẫn được giữ kín, chưa xuất hiện vì chưa đến thời điểm”.
        theo Công an nhân dân

        Nhận xét

        Bài đăng phổ biến từ blog này

        NHÂN TÍNH 37

        BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

        ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32