HỔ PHỤ - HỔ TỬ (ĐL)


1-HỔ TỬ 
(Liệt sĩ Võ Dũng) 

 Hổ phụ sinh hổ tử
Người xưa nói chớ sai
Đúng là con nhà Võ
Khí khái một đời trai!

Đòi về quê yêu dấu
Noi theo cha kiên cường
Hy sinh trong chiến đấu
Lặng lẽ thành tấm gương! 



 

 

 

 

Chuyện ít biết về liệt sỹ Võ Dũng, con trai cả của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Chiều ngày 23/7/2017, 30 thầy trò khóa 5 trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-1970) lần đầu tiên tới thăm quê ngoại liệt sĩ Võ Dũng. Trên hai chiếc vỏ lãi, chúng tôi theo con rạch chừng 2km tới nhà con trai dì thứ ba của Võ Dũng. Mọi người được gia đình đón tiếp thịnh tình, rồi cùng ra “Trần Môn Chi Mộ” thắp hương cho các cụ cùng cô Trần Kim Anh, Võ Dũng và 2 em Phan Ánh Hồng, Phan Chí Tâm.

Chuyện ít biết về liệt sỹ Võ Dũng, con trai cả của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
Liệt sỹ Võ Dũng.
Họ Trần, một dòng họ có tiếng ở Sóc Trăng
Ông Trần Văn Ngưu, tự Nhất Ngưu – Cố ngoại1 của Võ Dũng, người con thứ sáu của ông Trần Quang – vị quan trong thành Vĩnh Long, dưới quyền của cụ Phan Thanh Giản. Thành Vĩnh Long thất thủ, ông Trần Quang đưa vợ con về làng Trường Thạnh, Cần Thơ, dặn không theo Pháp rồi ông đi biệt tích. Để giấu gốc tích, bà Trần Quang dẫn 6 người con đến Kinh Sáng, vùng  đất thuộc thị xã Ngã Năm ngày nay, sinh sống.
Cuối thế kỷ thứ 18 (khoảng năm 1890) ông Trần Văn Ngưu đưa vợ con đến khu vực hoang vu này. Bấy giờ xung quanh là rừng, lau sậy rậm rạp, kênh rạch chằng chịt… Dân quanh vùng khuyên nên cắm sào giữa sông, ngủ trên ghe và đốt lửa trên bờ phòng thú dữ mò về.
Cụ Trần Văn Ngưu cùng con trai lớn thứ năm Trần Quang Quy khảo sát và quyết định lập nghiệp ở vùng đất cách chợ nổi Ngã Năm chừng 5km đường sông. Sau 10 năm khai khẩn, thấy khu vực này trũng, cá từ khắp nơi đổ về, ông Ngưu tìm cách đắp đập và khai thác cá. Ông thuê cả một vùng đất rộng để khai thác cá. 
Ông Trần Văn Ngưu có 9 người con, trong đó ông Trần Quang Quy (ông ngoại Võ Dũng) là con trai lớn. Ông Ngưu mất năm 1928. Ông Quy có 7 người con: dì hai Trần Thị Chơi, dì ba Trần Thị Giác, cậu tư Trần Tấn Lướt, cậu năm Trần Tấn Khả, cậu sáu Trần Quang Hiến, má của Võ Dũng là con gái thứ bảy Trần Kim Anh, cô út Trần Kim Em.
Năm 1929, ông Ngưu mua máy xay xát lúa, đặt tại chợ Ngã Năm. Nhà cửa được xây theo kiến trúc Pháp cùng một ngôi đình. Cứ dịp tết hay thu hoạch mùa màng, ông cho rước gánh hát bội về hát cho bà con nghe. 
Từ khi đến đây lập nghiệp, dòng họ Trần được dân làng kính trọng. Nhiều người xin vào làm mướn rồi định cư đến giờ. Người nghèo được ông cho lúa gạo, cấp đất cất nhà. 
Có tư tưởng tân tiến, tiếp thu văn hóa thị thành, khi con trai, con gái còn nhỏ ông cho thuê gia sư giỏi về nhà dạy học; khi các con trai đã lớn ông cho đi học trường Lyséum Bassac Cần Thơ. Ngày đó con gái không được đến trường nên 2 cô út Kim Anh, Kim Em được đưa ra chợ Ngã Năm học mỗi ngày. Người trong làng ngày nay vẫn nhắc đến 2 cô con gái xinh đẹp, công dung ngôn hạnh, mỗi khi xuống ghe tam bản hầu 2 để đi học thì cửa ghe đóng lại, không ai nhìn thấy.
Ngày Cụ Hồ kêu gọi toàn dân ủng hộ chính phủ, ông Năm Quy hiến vàng bạc, 3300 công đất cùng nhiều đồ đồng (thau nồi, lư đồng  …) để đúc súng đạn, chỉ giữ lại 100 công đất nơi có mộ phần cha mẹ. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ông cho phá nhà lớn và ngôi đình “tiêu thổ kháng chiến”, máy móc xay xát được tháo về, cho đốt khung bao nhà máy.
Sau này, ông cho ráp lại máy móc tại rạch Đường Mốp; vừa xay lúa cho dân, vừa xay lúa cho cách mạng, cung cấp gạo cho Tỉnh ủy Long Châu Hà. Do bị chỉ điểm nên Pháp đã vào bỏ bom xăng, làm cháy một phần nhà máy. Ông kiên trì sửa chữa cho đến khi không còn ráp lại được nữa.
Chiến tranh làm mất hết tài sản, mất cả con nhưng ông bà vẫn nén nỗi đau, dựng lại nhà, tiếp tục sinh sống. Đến năm 1964, khi bị thả hai trái bom trên vườn nhà, sau nhiều trận càn và tuổi đã cao, không còn đủ sức chạy bom đạn, ông mới rời quê về sống với người con trai thứ sáu tại số nhà 158 Nguyễn An Ninh, phường Vĩnh Bảo, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Tiếp tục nuôi giấu cán bộ, khi có điều kiện, ông tiếp tế thuốc men, cá khô, thuốc hút, phương tiện xe cộ… 
Ông Trần Quang Quy mất năm 1972, bà mất sau ông một năm. Sự nhớ thương, mong chờ gặp lại Võ Dũng và Hiếu Dân không bao giờ thực hiện được. Còn Hiếu Dân sau này về vẫn cứ tiếc: “Ông bà ngoại mất mà không kịp đợi con về”. 
Chú Sáu Dân và gia đình bên vợ
Năm 1949, chú Sáu Dân là Tỉnh ủy viên, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Rạch Giá. Một lần đi công tác, ghé qua lớp học của Hội Phụ nữ mở tại rạch Đường Mốp, chú sáu gặp cô Kim Anh. Ngay từ cái nhìn đầu tiên chú đã xao động. Hỏi thăm chú Hai Hữu đi cùng thì biết, đó là con gái ông Năm Quy - một gia đình giàu có, từng hiến đất cho cách mạng. Từ đó chú Sáu thường ghé thăm nhà cô Kim Anh. Chuyện tình bắt đầu.
Khi ngỏ lời cưới cô thì chị thứ hai và anh thứ tư băn khoăn: không biết gia đình chú Sáu ở đâu; cha mẹ, anh em thế nào? Rồi chú là cán bộ cách mạng, chưa biết sống chết ra sao… nên không muốn gả. Riêng ông Năm là người có tư tưởng tiến bộ và có cảm tình với chú Sáu, mặt khác người chị thứ ba biết cô Kim Anh thương chú Sáu nên cũng nói vào. Ông Năm đồng ý gả cô Kim Anh cho chú.
Sau ngày cưới, chú luôn giữ liên lạc với gia đình. Thời gian chống Pháp, chống Mỹ, mỗi lần đi công tác gần nhà, chú cũng tìm cách ghé qua thăm Ngoại. Chú quan tâm và nhớ hoàn cảnh từng người trong gia đình.
Những chuyến về quê thăm mộ phần các cụ, chú Sáu vẫn nhắc lại kỷ niệm cũ: “… Ngày xưa không có chuyện rủ nhau đi chơi… - rồi chú nhìn Hiếu Dân cười - Ngày tết, đến nhà Ngoại là ba “xung phong” chụm lửa nấu bánh tét để được nói chuyện với má bay...”. Nhắc lại chuyện tình của ba má, Hiếu Dân trêu: “Ba đi vận động cách mạng Ngoại rồi “vận động” luôn cả má con… Con biết rồi, ba cưới má khi mới 17 nghen?”. Lúc đó chú Sáu vui vẻ: “Đâu có, má mày sắp 18 mà!” rồi cười mãn nguyện.
Sau này nghỉ hưu, thời gian sống ở nhà con gái Hiếu Dân, chú mới có thời gian dành cho gia đình bên vợ. Thỉnh thoảng chú cho rước bà chị thứ ba và anh thứ sáu lên chơi. Trong bữa cơm sum họp, chú thường nhắc lại chuyện ngày cưới: “Anh Sáu lấy những hạt gạo nhuộm đỏ, dán trên tấm kính chiếu thủy 2 chữ “Tổ Quốc”. Trong lễ tuyên hôn, cô dâu, chú rể trong bộ bà đen bằng vải san đầm; đứng trước bàn thờ Tổ quốc, xúc động như thấy có mình ở trong đó”. 
Đám cưới cô chú được tổ chức đơn giản nhưng rất trang trọng, với sự chứng kiến của hai họ nội, ngoại cùng đông đảo bà con xóm giềng. Ông Nguyễn Thành Nhơn, bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá, đại diện tổ chức và cũng là “đại diện nhà trai”.
Chú Sáu cưới cô Kim Anh năm 1950. Cưới xong sống ở nhà Ngoại. Sau này, chú cứ nhắc mãi cái ao sen nhà ngoại đã bị lấp, từng chứng kiến kỉ niệm đẹp của 2 người. Cũng năm ấy, chú có lệnh ra Bắc. Lúc đó cô Kim Anh đã có mang Võ Dũng. 
Cùng chuyến đi còn có một cán bộ cũng có cô vợ trẻ. Cô Năm Liễu (Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Kiên Giang), người hoạt động cách mạng trong vùng, chứng kiến cuộc chia tay của 2 cặp vợ chồng, đã kể: “Cả 2 cô vợ đều con nhà giàu, rất trẻ, đẹp. Cô thầm nghĩ, không biết rồi đây họ có chờ đợi chồng được hay không? Vì đi ra Bắc thì biết ngày nào trở lại, không biết ai còn, ai mất!
Lúc chuẩn bị đi, cô vợ kia khóc dữ lắm, làm chồng phải quay xuồng lại tới 2, 3 lần mới dứt đi được. Còn má con gan lắm, khi xuồng ba con đi xa rồi mới khóc… Thật buồn, người phụ nữ kia không chờ đợi được, đã đi lấy chồng. Đó cũng là một thực tế phũ phàng! Còn má Kim Anh của con vẫn một mực thủy chung, chờ ba bay trở về”. 
Võ Dũng và những năm tháng sống ở bên ngoại
Tiễn chú Sáu đi Việt Bắc, cô Kim Anh vẫn sống ở nhà ông bà ngoại. Đầu năm 1951, cô sinh Võ Dũng mẹ tròn con vuông. Theo ý chú Sáu, cô đặt tên con trai đầu lòng là Phan Chí Dũng. Năm 1952, con trai thứ hai Phan Thanh Nam ra đời tại Việt Bắc. Biết tin, ông bà ngoại và má Võ Dũng muốn đưa Nam về sống bên ngoại. 
Ở miền Nam, Võ Dũng lớn lên trong sự bảo bọc của ông bà ngoại. Ngoại thương Võ Dũng nhiều nhất vì là đứa cháu duy nhất còn sống với ông bà, hơn nữa ba Dũng đi làm cách mạng chưa về… Ngoại cũng thương má của Dũng vì là con gái út, lại phải sống xa chồng. Cô Kim Anh còn xắn áo xắn quần, đi nhổ mạ cấy lúa, giã gạo phồng cả tay… để “tự cải tạo thành phần” gia đình. 
Khi má Kim Anh đi thăm ba, dẫn Dũng theo sợ lộ nên đã gửi Dũng ở nhà với Ngoại. Cậu Sáu Hiến thương cháu, đi đâu cũng cho Dũng đi cùng. 
Năm 1954, khi Dũng được 4 tuổi, chú Sáu trở về. Đó là lần đầu cha con gặp nhau. Thời gian đó, chú hoạt động ở Bạc Liêu nên cô đi đi về về. Đầu năm 1956, Ngoại đưa cô Kim Anh ra bệnh viện Cần Thơ sinh Hiếu Dân; rồi năm 1962 sinh em Ánh Hồng. 
Năm 1965, cô về nhà Ngoại, sinh em Chí Tâm ở Rạch Giá. Đầu năm 1966, trên đường lên thăm chú Sáu, cô đã mất cùng 2 em trên con tầu Thuận Phong.
Tuổi thơ của Võ Dũng ở nhà Ngoại có rất nhiều kỷ niệm. Ai cũng nhớ, Dũng rất nghịch, từng bắt gà lôi của ông ngoại nhổ lông đuôi, gắn vào lưng quần, vừa khom lưng chạy vừa kêu “lức lức”; hay lấy lưỡi cưa trong nhà máy xay dắt vào lưng giả làm kiếm. Mỗi lần giục đi tắm thì cứ chạy vòng vòng quanh đống trấu. Tới giờ đi học thì lần khân, có khi trèo tót lên cây xoài, ngồi vắt vẻo không chịu xuống, má phải cầm roi mới đi…
Võ Dũng ở nhà Ngoại đến năm 1959 thì cùng má và Hiếu Dân qua Phnôm-pênh sống với ba. Ở đó, Dũng được học tiếng Pháp ở trường Lạc Hồng. Dũng rất nghịch, hay ném ống bơ cát qua nhà bên cạnh, bị thưa cảnh sát. Cảnh sát đến kiểm tra, làm cơ quan ta sợ địa điểm bị lộ, phải chuyển. 
Chuyện ít biết về liệt sỹ Võ Dũng, con trai cả của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
Gia đình cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Ra Bắc rồi về Nam
Từ Phnôm-pênh, Dũng được các chú cho bay sang Hồng-Kông rồi đi phà biển vào Quảng Châu. Từ đây đi tầu liên vận về Hà Nội. Cô Bảy Huệ (phu nhân ông Nguyễn Văn Linh3) đón Dũng về nuôi. 
Dũng được gửi xuống Hải Phòng học Trường Học sinh miền Nam số 19, 21 ở Cầu Rào. Đến năm 1963, Bộ Giáo dục trả số học sinh có ba mẹ hoặc người thân ở ngoài Bắc về với gia đình, Dũng lại về nhà cô Bảy Huệ. Dũng và Hiếu Dân được cô chăm sóc và coi cô như má. Các em trong nhà thì gọi Dũng là anh Hai.
Hè năm 1965, cô đưa Dũng lên Trường Văn hóa quân đội ở Trại Hòe, Hà Bắc, bắt đầu cuộc sống Thiếu sinh quân. Có lẽ vì từng tiếp xúc với lính Mỹ, ngụy mà những ngày ở trường, Dũng không hề sợ khi máy bay Mỹ bay qua. Có báo động, Dũng toàn đứng trên nóc hầm theo dõi trận không chiến. Khi thấy tên lửa SAM hay Mig-21 của ta bắn cháy máy bay Mỹ, Dũng nhảy lên hò reo. 
Do chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ mở rộng, nhà trường di chuyển từ Trại Hòe lên An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái rồi sang Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc… Xa má đã 7 năm mà không có thư từ. Sốt ruột, hỏi thăm ba thì ba không trả lời. Hai anh em linh cảm có điều gì chẳng lành. Dũng bỏ học, nhiều lần xin được về nước chiến đấu. Cuối cùng, Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh phải đồng ý. 
Về nước, các chú ở Tổng cục Chính trị cho đi học tiếp nhưng Dũng quyết xin về Nam. Thuyết phục không được, các chú cho Dũng về Trường Quân chính QK Tả Ngạn. Tại đây Dũng được học các yếu lĩnh cơ bản của người lính trận: lăn lê, bò toài, đào hầm hào, hành quân, bắn súng, ném lựu đạn, đặt mìn… 
Mãn khóa, các chú có ý định cho Dũng đi theo đường qua Hồng-Kông về Campuchia. Dũng lắc đầu: “Mọi người có thể đi dọc Trường Sơn vào B2 thì cháu cũng đi được”. Tháng 8/1969, khi tập trung ở Đoàn huấn luyện cán bộ đi B trên Lương Sơn, Hòa Bình, các chú muốn phát cho Dũng tăng bạt, quần áo, đồ dùng tốt hơn, Dũng cũng không đồng ý. 
Trước ngày lên đường, cô Bảy Huệ, cô Tư Duy Liên và em Hiếu Dân lên thăm. Các cô rất lo, thằng cháu nghịch ngợm từ bé sẽ sống thế nào suốt dọc đường vào Nam, nó mà vô kỉ luật thì không chỉ tổn thất cho mình nó. Hiểu lo lắng đó, Dũng trả lời: “Các cô và em yên tâm đi, con sẽ không làm cô và em phải hổ thẹn. Con đi lần này, một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực!”. Hai cô rơm rớm nước mắt thương thằng cháu đã mất má và 2 em, giờ lại đi vào nơi hòn tên mũi đạn có thể dính bất kì lúc nào.
Cuối năm 1969, lên đường đi B. Anh Long, chị Phương cùng chuyến đi với Dũng kể lại, suốt dọc đường không ai biết nó là con ông to, lúc nào cũng vui cười, luôn kể chuyện, tán dóc, luôn sẵn sàng khoác ba-lô, súng đạn giúp người khác, có điếu thuốc thì cùng hút. Ngày chia tay các anh rẽ xuống B5 miền Trung, Dũng lấy trong ba-lô ra tút thuốc, chia đôi: “Anh cầm đi mà hút, em có rồi. Hết thì hút thuốc rê”.
Về đến căn cứ R trên Tây Ninh, ba, con gặp nhau. Nước mắt rưng rưng, chú Sáu ôm Dũng vào lòng: “Từ Rạch Giá, má con bế thằng Tâm mới 4 tháng tuổi, dắt theo Ánh Hồng đi cùng cô Ba giao liên, lên xe đò đi Sài Gòn. Từ Sài Gòn lên con tầu Thuận Phong vẫn thường chở vợ con sĩ quan ngụy đi thăm chồng trên Tây Ninh. 
Không ngờ khi tầu rời bến thì công lệnh “cấm tầu bè qua lại trên đoạn đường sông qua Củ Chi” do lính Mỹ mở trận càn trên sông, đã phát, nhưng nhân viên công vụ lại đi uống cà phê nên lệnh cấm đến trễ. Tàu đã xuất bến.
Sau hơn một giờ đồng hồ, con tầu vào khu vực cấm. Trực thăng UH-1 vè vè trên đầu. Chủ tầu cho tàu chạy ra giữa sông rồi cho trải cờ 3 sọc trên nóc. Phi công trên UH-1 điện về bến tầu thì biết công lệnh đã phát. Cho là “tàu Việt Cộng cải trang” nên từ trên UH-1 đã bắn rốc-két xuống tàu. Tàu chìm. Nhiều người bị chết và bị thương, nhiều người tìm cách bơi vào bờ, nhưng chúng tiếp tục quần thảo, bắn rát… 
Nghe tin má và 2 em đi trên con tầu này, ba cùng các chú đã đi dọc bờ sông phía thượng nguồn tìm kiếm mấy ngày trời. Nhà Ngoại xin cấp giấy phép thuê tầu đi suốt từ hạ lưu sông Sài Gòn lên Củ Chi tìm mà không thấy. Đau lắm. Sợ con và em Hiếu Dân biết, buồn mà sinh bệnh nên ba dặn các chú giấu các con. 
Giờ, con về đây, ba, con mình có nhau, làm cho ba vơi đi nỗi buồn vì mất mát lớn quá…”.
Cũng buổi đầu tiên gặp lại ba, Dũng kể chuyện được gặp Bác: “Cuối năm 1968, Bác Hồ cho đón các cháu học sinh đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ: Hà Nội - Huế - Sài Gòn” về Phủ Chủ tịch chơi. Là con em miền Nam, con và em Dân cũng được dự. Các bạn thiếu nhi quây quần bên Bác. Bác lần lượt chia kẹo và ân cần hỏi thăm học tập ra sao, có ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ, thầy cô. 
Đến lượt con, Bác hỏi: “Cháu có ngoan không?”. Con khoanh tay lễ phép: “Dạ, cháu còn nghịch, chưa ngoan ạ!”. Bác xoa đầu con: “Giỏi! Cháu thật thà như vậy là tốt, nhưng phải cố gắng lên để bằng các bạn nhé!”. Nói rồi, Bác chia phần kẹo cho con”. Nghe đến đây chú Sáu xúc động ghì chặt Dũng vào lòng. 
Về tới B2 nhưng không muốn sống ở trên chiến khu nên Dũng nằng nặc đòi đi chiến đấu. Chú Sáu thắt ruột vì còn thương nó mới từ miền Bắc vào nhưng trước sự kiên quyết của Dũng, chú đã gửi con cho các chú dưới đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Thương chú Sáu, các chú xếp Dũng về đơn vị thông tin. Chỉ một thời gian, Dũng không muốn làm lính thông tin: “Suốt ngày ngồi trực bên máy, con không chịu được. Phải cho con về quê má, xuống đơn vị…”.
Tháng 6/1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9, gần quê ngoại. Tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba, nằng nặc xin các chú xuống Trung đội 2 (Tiểu đoàn 3 trinh sát). Đơn vị đóng ở Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, chỉ cách nhà chừng 30km. Về trinh sát, Dũng không cậy mình là “con ông cháu cha” từ ngoài Bắc vào mà cùng chia lửa với anh em. Cùng đi trinh sát, cùng lặn lội sông nước điều nghiên. Ai cũng quý
Chú Sáu Nam 4 ngày đó là Tư lệnh Khu 9, nghe có con trai đồng đội về làm lính trinh sát; chưa kịp kéo Dũng lên cơ quan thì nghe tin đau, Dũng đã hy sinh ngày 21/4/1972. 
Sớm hôm đó, Dũng đi trinh sát cùng 2 đồng đội, không ngờ bị lọt vào ổ phục kích. Chúng bất ngờ xả đạn làm 3 chiến sĩ không kịp trở tay. Cả 3 hy sinh. Biết tin, đơn vị cử người tìm xác, chôn cất ngay bờ kênh Tây Ký (thuộc xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá).
Nơi yên nghỉ cuối cùng của cô Kim Anh, Võ Dũng và 2 em
Ông Trần Quang Hiến nhớ lại: “Tới năm 1980, dượng Bảy (cô Kim Anh vợ chú là thứ bảy) mới cho bốc hài cốt Võ Dũng. Sau khi đưa đi hóa thân hoàn vũ, di cốt Dũng được để ngay trong phòng của dượng ở An Phú, quận 2. Từ đó, Dũng luôn được ở bên cạnh ba”.
Sau ngày con tầu Thuận Phong được cẩu lên nhưng bên trong chả còn lại gì. Chú cho xây 3 ngôi mộ gió cho cô Kim Anh và 2 em, ngay tại Củ Chi, nơi con tầu Thuận Phong bị bắn chìm. Sau này mới làm mộ gió cho cô và 2 em ở NTLS TPHCM, không xa Tượng đài Bà má Việt Nam anh hùng.
20 năm sau ngày cô Kim Anh ra đi, có người gợi ý làm thủ tục truy tặng danh hiệu liệt sỹ cho cô. Chú lắc đầu: “Mất mát của gia đình tôi cũng như mất mát của hàng triệu gia đình Việt. Đã 20 năm rồi, vết thương chưa thể lành hẳn nhưng làm việc đó để làm gì? Nếu làm chỉ khoét thêm nỗi đau bấy lâu!”.
… Năm 1982, được Quốc hội phê chuẩn là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước, Phó chủ tịch rồi Phó chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, chú Sáu phải ra Hà Nội. Chú cho đưa hài cốt Dũng vào nằm bên cạnh mộ gió má và 2 em. 
Năm 2005, khi đã nghỉ hưu, chú quyết định đưa 4 má con về quê ngoại ở Sóc Trăng. Hôm đưa Dũng về quê ngoại, chú Sáu không về được. Suốt dọc đường từ TPHCM, Hiếu Dân ôm anh mình trên tay cho đến khi hạ anh xuống lòng đất mẹ. Nhìn Hiếu Dân ai cũng đều xúc động vì Hiếu Dân mất gần hết: má, anh Hai Dũng cùng 2 em; giờ chỉ còn lại một mình và anh Ba Nam…”.
Bia tưởng niệm cho 4 má con được chuẩn bị từ trước, do 2 điêu khắc gia Nguyễn Văn Sánh, Vũ Thế Thái thực hiện. Chân dung cô Kim Anh ở giữa, 2 bên là Ánh Hồng và Chí Tâm, phía dưới là Võ Dũng. Không được gặp má và 2 em nên khó hình dung, nhưng hình tượng Võ Dũng trên bức phù điêu rất sống động, có nhiều nét giống Dũng ngày ở trường. 
Trước nấm mộ của má Kim Anh, Võ Dũng và 2 em, Võ Thúc Minh – bạn thuở Thiếu sinh quân chống Mỹ – xúc động kể: “Trước ngày chia tay, Dũng nhờ tôi xăm lên cánh tay 2 chữ “Hoài Mẫu”. Tôi cầm cái kim khâu đã quấn chỉ, chấm mũi kim vào bát mực Tàu, run run chích từng mũi lên da thịt bạn. Máu bật ra, đau lắm. Mắt rơm rớm nhưng Dũng cắn răng chịu đựng. Tôi hiểu Dũng nhớ má, yêu má đến chừng nào…”. 
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7/2018
Trần Kiến Quốc

Chuyện chưa biết về sự hy sinh anh dũng của người con cả Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Đầu năm 1967, không quân Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Nhà trường được sơ tán sang Quế Lâm, Trung Quốc. Xa má đã 7 năm mà không có một lá thư, Dũng linh cảm đã có chuyện chẳng lành. Hỏi ba thì ba không trả lời. Nhiều lần Dũng lên gặp Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh xin nghỉ học, về nước chiến đấu.

* Tháng 7-2016, tác giả Trần Kiến Quốc có bài viết xúc động kể về tấm gương dũng cảm hy sinh của người con cả cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước... Nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Thương binh -Liệt sỹ, chúng tôi đăng tải lại bài viết này.
Trong lịch sử 35 năm tồn tại của Trường Văn hóa Quân đội thì có 5 năm (1965 – 1970) được mang tên Trường Văn hóa Quân đội Nguyễn Văn Trỗi (còn gọi là Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, gọi thân mật là Trường Trỗi). Nhà trường đã đào tạo 8 khóa với 1.200 học sinh, hơn 900 học sinh đã nhập ngũ; trong đó hơn 800 người trở thành sĩ quan.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, 2 thầy giáo và 28 học sinh của trường đã anh dũng hy sinh, trong đó có người bạn thân thiết của chúng tôi, liệt sỹ Võ Dũng.

Di ảnh liệt sỹ Võ Dũng.
Di ảnh liệt sỹ Võ Dũng.

Nợ nước, thù nhà
Anh Võ Dũng tên thật là Phan Chí Dũng (SN 1951 tại Rạch Giá), là bạn học Trường Trỗi với chúng tôi. Ba của Dũng là chú Sáu Dân (sau này là Thủ tướng Võ Văn Kiệt), má là cô Trần Kim Anh. Cô kém chú 10 tuổi và họ thành thân năm 1948.
Dũng có 3 em: Phan Hiếu Dân (1955), Phan Thị Ánh Hồng (1958) và Phan Chí Tâm (1966). Sau 1954, đất nước chia cắt, chú Sáu ở lại Nam Bộ. Mấy anh em Dũng phiêu bạt theo má mưu sinh và trốn chạy sự truy bức của chính quyền địch. Cuối những năm 50 của thế kỷ trước, chính quyền Ngô Đình Diệm lê máy chém khắp nơi. Cơ quan Trung ương Cục phải tạm lánh sang Phnômpênh. Chú Sáu Dân đưa Dũng và em Dân đi cùng.
Năm 1960, anh em Dũng cùng một số bạn được đón ra Bắc theo tuyến đường đặc biệt trên chuyến bay Air France từ Pochentong tới Hồng Kông rồi qua phà biển về Quảng Châu, Trung Quốc, sau đó đi tàu liên vận quốc tế về Hà Nội. Võ Dũng được gửi vào Trường Học sinh miền Nam ở Cầu Rào, Hải Phòng.
Đến năm 1963, Bộ Giáo dục có chủ trương đưa học sinh miền Nam có cha mẹ hoặc người thân về sống với gia đình. Cô Bảy Huệ, vợ bác Nguyễn Văn Linh (sau này là Tổng Bí thư), đã đón Dũng về nhà. Theo lời Hiếu Dân kể với chúng tôi, anh Dũng rất thương các em. Đêm nào cũng hay kể những chuyện kiếm hiệp, vừa kể anh vừa hóa thân thành các hiệp sĩ oai hùng.
Tháng 5-1965, Dũng nhập Trường Thiếu sinh quân tại Trại Hòe, Hiệp Hòa, Hà Bắc (cũ, huyện Hiệp Hòa nay thuộc tỉnh Bắc Giang). Những năm tháng ở trường, Dũng rất hiếu động và nghịch ngợm, hay cầm đầu các cuộc vui chơi pha chút mạo hiểm. Những lần máy bay Mỹ bay qua khu vực trường, Dũng không sợ mà đứng hẳn trên bờ hào, lấy tay che mắt, theo dõi đường bay. Khi máy bay Mỹ bị bắn rơi, Dũng là người đầu tiên nhảy cẫng lên, vỗ tay reo hò...
Trong khi Võ Dũng đang ở miền Bắc thì xảy ra một chuyện đau lòng với má và các em tại quê nhà. Cuối năm 1966, Trung ương Cục cử dì Tư, liên lạc viên, về Sài Gòn đón má và 2 em lên chiến khu thăm chú Sáu. Lúc này, em út Chí Tâm chưa đầy 1 tuổi. Để đảm bảo bí mật, dì Tư chọn đi chuyến tàu Thuận Phong chuyên chở vợ con sĩ quan, binh lính Sài Gòn lên thăm chồng ở đồn Dầu Tiếng.
Đúng ngày 17-12-1966, địch có lệnh thiết quân luật, cấm mọi tàu bè chạy trên tuyến đường sông qua Củ Chi. Chủ tàu Thuận Phong không hay biết vẫn cho tàu chạy, vừa rời Sài Gòn được hơn tiếng đồng hồ thì bị một tốp trực thăng bắn xối xả. Tàu trúng đạn và bị chìm, toàn bộ hành khách trên tàu không còn ai sống sót…
Chú Sáu đau buồn, tha thẩn suốt mấy ngày dọc bờ sông, mong tìm kiếm được chút gì của vợ con, trong đó có thằng út chưa hề biết mặt. Đau đớn đến tột cùng nhưng chú Sáu vẫn dặn anh em, đừng cho Võ Dũng và Hiếu Dân biết tin này.
Đầu năm 1967, giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Nhà trường được sơ tán sang Quế Lâm, Trung Quốc. Xa má đã 7 năm mà không có một lá thư, Dũng linh cảm đã có chuyện chẳng lành. Hỏi ba thì ba không trả lời. Nhiều lần Dũng lên gặp Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh xin nghỉ học, về nước chiến đấu. Tháng 3-1968, anh được về nước vào học Trường Quân chính Quân khu Tả ngạn ở Chí Linh, Hải Dương.
Về Nam chiến đấu
Tháng 8-1969, Võ Dũng tập trung ở Trường 105B – Trường huấn luyện cán bộ đi B ở Hòa Bình. Thương Võ Dũng, các chú ở Ban Tổ chức Trung ương bảo: “Các chú cho cháu đi máy bay qua Campuchia, rồi giao liên đưa về chỗ ba cháu”, nhưng Dũng trả lời: “Con không đi máy bay đâu. Đã đi Nam là phải vượt Trường Sơn. Nhiều chú bác, anh chị là cán bộ còn vượt Trường Sơn; con tuổi 18, làm sao con lại đi máy bay”.
Các chú phát cho Dũng tăng võng bằng vải dù, Dũng cũng từ chối, chỉ nhận tăng võng ka-ki, màn vải như các anh chị khác. Trước ngày đi, cô Bảy Huệ cùng cô Tư Duy Liên và em Hiếu Dân lên thăm. Ai cũng lo vì hồi đi học Dũng nghịch ngợm quá, không hiểu Dũng sẽ ra sao khi trở về Nam? Võ Dũng cười và hứa: “Các cô yên tâm đi, con quyết sẽ trả thù cho má và 2 em. Lần này con đi, các cô sẽ thấy “một - xanh cỏ, hai - đỏ ngực”!
Dũng hồ hởi nhập đoàn quân “Xẻ dọc Trường Sơn” về Nam chiến đấu. Trong đoàn còn có vợ chồng anh Long, chị Phương. Sau này, Hiếu Dân được anh Long kể lại, dọc đường hành quân, tuy rất vất vả, nhưng Dũng rất vui vẻ và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Khi thì đeo hộ ba lô, lúc lại đeo thêm khẩu súng, tới đâu cũng kể chuyện vui để quên đi vất vả. Có ít thuốc lá mang theo, Dũng chia đều cho mọi người.
Tới căn cứ B2, Dũng được gặp ba. Hai ba con ôm nhau vào lòng, nghẹn ngào không nói nên lời. Chỉ dăm bữa, Dũng nằng nặc xin về Đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Biết càng vào sâu thì cái chết càng cận kề, hòn tên mũi đạn có chừa ai; vậy mà chú Sáu đã gật đầu. Các chú cho Dũng về đơn vị Thông tin, nơi ít phải giáp mặt với quân thù; nhưng Dũng xin về Rạch Giá: “Má cháu đã bị giặc giết hại, các chú phải cho cháu về quê má chiến đấu”.
Đến tháng 6-1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9. Tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba và xin bằng được về Trung đội 2 trinh sát (thuộc Tiểu đoàn 3). Thấy con trai thủ trưởng quyết tâm, các chú đành chấp nhận. Từ đó, Dũng hăng hái lặn lội đi trinh sát cùng anh em, no đói, gian khổ cùng sẻ chia.
Sáng sớm ngày 21-4-1972, Dũng cùng 2 đồng đội đi trinh sát nhưng bị sa vào ổ phục kích và cả 3 anh em hy sinh trên kênh Tây Ký (xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá). Võ Dũng hy sinh khi vừa tròn tuổi 21, ngay trên quê hương má Trần Kim Anh.
Sau ngày giải phóng, tháng 11-1975, chú Sáu nhờ đơn vị tìm mộ phần Võ Dũng, cải táng và đưa về nghĩa trang An Nhơn Tây, huyện Củ Chi. Thật cảm động, khi đưa thi hài Dũng lên, trong túi quần vẫn còn bịch nilon đựng thuốc rê… Nghe Hiếu Dân kể đến đây, chúng tôi nhớ lại những ngày học ở trường, Dũng là một trong những số ít “tay nghiện” thuốc lá của lớp.

Gia đình đồng chí Võ Văn Kiệt (ảnh ghép).
Gia đình đồng chí Võ Văn Kiệt (ảnh ghép).
Sau này, Võ Dũng được đưa về Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh. Không xa bức phù điêu lớn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là nơi yên nghỉ của Võ Dũng cùng bia mộ tượng trưng của má Trần Kim Anh và 2 em. Chín nấm mộ xếp chụm lại như 9 cánh của một bông hoa.
Khi chú Sáu Dân còn bình sinh, mỗi lần Hội trường Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi đều mời chú đến dự. Còn nhớ dịp 27-7-1993, chúng tôi đã đến thắp hương cho Võ Dũng. Chú chia sẻ: “Nhà chú mất thằng Dũng, Trường Nguyễn Văn Trỗi mất 27 bạn nữa như nó cùng 2 thầy. Đất nước có chiến tranh thì mất mát có của riêng ai. Nhưng chúng ta phải sống, phải sống cho tương lai, các con ạ!". Lúc chia tay, chú vấn vương: “Chả hiểu hồi ở trường, Dũng có thương con bé nào? Biết đâu... để chú còn đi tìm?”.
Trước ngày về cõi vĩnh hằng, chú Sáu Dân đã đưa cô Kim Anh, Võ Dũng, Ánh Hồng, Chí Tâm về nghĩa trang dòng họ ở Vĩnh Long... Mới đây, Hiếu Dân gửi cho tôi mấy bức ảnh quý mà chú Sáu đã gìn giữ bấy lâu. Trong đó có bức ảnh cả gia đình, nhưng nhìn là biết ảnh ghép.
Hiếu Dân tâm sự: "Ba em rất thương má, thương anh Dũng và các em. Cụ đã lấy ảnh chụp ba với má đang bế Ánh Hồng, rồi nhờ thợ ghép thêm anh Dũng, em và Chí Tâm vào để có đầy đủ các thành viên trong gia đình".
Theo Trần Kiến Quốc
Công an nhân dân

2-LỤC DÂN

Võ dũng lừng vang một thủ quân
Văn nhân nức tiếng khắp lục dân
Kiệt xuất đổi dời, xây, trị thủy
Hòa khí lan tràn chín tầng vân

Là con xứ sở Cửu Long điền
Là anh xung phong của thanh niên
Là bộc cúc cung vì đại chúng
Hồn nay an lạc Vĩnh Long viên...


                                                           Trần Hạnh Thu

Tóm tắt tiểu sử đồng chí Võ Văn Kiệt 


Ông Võ Văn Kiệt tên khai sinh là Phan Văn Hòa, thường gọi là Sáu Dân, Chín Hòa; sinh ngày 23/11/1922; là con út trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Bình Phụng, làng Trung Lương, tổng Bình Trung, huyện Vĩnh Trị, tỉnh Vĩnh Long; nay là ấp Bình Phụng, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Ông tham gia Cách mạng rất sớm, năm 1938, khi mới 16 tuổi đã tham gia vào phong trào Thanh niên phản đế. Từ đó, ông được tổ chức điều đi hoạt động ở nhiều địa bàn khác nhau và trở thành Thủ tướng Chính phủ trong những năm 1992-1997.

Hơn 70 năm hoạt động cách mạng, cuộc đời, sự nghiệp và quá trình hoạt động của ông Võ Văn Kiệt rất phong phú, sinh động, thể hiện trên nhiều lĩnh vực và trải dài trên cả ba miền Bắc, Trung và Nam của đất nước.

Vì vậy, trong hội thảo này, các tham luận của các nhà khoa học, các ý kiến phát biểu tập trung làm rõ các nội dung liên quan đến ông Võ Văn Kiệt như ảnh hưởng truyền thống quê hương, gia đình tới sự hình thành tư tưởng cách mạng và nhân cách cộng sản; ông Võ Văn Kiệt - người cộng sản tiêu biểu cho tinh thần rèn luyện, học hỏi, năng động, sáng tạo; hoạt động, cống hiến của ông với Đảng, với Cách mạng Việt Nam; tình cảm của ông với Đảng bộ, nhân dân quê hương Vĩnh Long.

Các báo cáo tham luận, các ý kiến phát biểu của các đại biểu, đặc biệt là các đại biểu tỉnh Vĩnh Long đã làm rõ thêm về truyền thống quê hương, gia đình, thời thơ ấu và những hoạt động cách mạng đầu tiên của ông Võ Văn Kiệt tại xã Trung Hiệp huyện Vũng Liêm từ năm 1922-1940; những hoạt động từ năm 1940 đến Cách mạng Tháng Tám.

Đồng thời, nhiều tham luận tại hội thảo đã góp phần làm rõ các hoạt động Cách mạng của ông trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ xây dựng đất nước từ 1975 đến những năm sau đó.

Các báo cáo tham luận của các nhà khoa học, các cán bộ nghiên cứu lịch sử của các địa phương nơi ông Võ Văn Kiệt đã từng có thời gian công tác đều khẳng định ông Võ Văn Kiệt là hiện thân tiêu biểu của lớp các chiến sĩ cách mạng hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp của Đảng và độc lập dân tộc; thấm nhuần tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nên đã dốc lòng, dốc sức hoàn thành nhiệm vụ dù ở cương vị nào.

Nếp sống của ông trong sáng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, ghét phô trương hình thức, sống chân thành, nghĩa tình, cần kiệm, giản dị, đồng cam cộng khổ với đồng bào của ông Võ Văn Kiệt đã hấp dẫn, thu phục lòng người.

Ông luôn gần gũi, gắn bó với mọi người, có trách nhiệm và tâm huyết với dân, với nước; được đánh giá là một trong những người đi đầu trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam kể từ năm 1986, là một “Tổng công trình sư” của nhiều dự án lớn, quan trọng của thời kỳ đổi mới đất nước.

Phương châm sống của ông là “chứng minh chứ không phải thanh minh,” “làm nhiều hơn nói nhiều,” mang đậm dấu ấn, phong cách Võ Văn Kiệt.
Theo TTXVN

Chuyện về nghĩa sĩ Phan Văn Hòa - Sáu Dân - Võ Văn Kiệt

0 Tân Linh

(ANTĐ) - Sinh năm 1922 tại làng Bình Phụng, cái ấp nghèo thuộc xã Trung Lương, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, Phan Văn Hòa là con út trong gia đình có tám người con, sáu trai hai gái. Theo cách gọi của Nam bộ thì Phan Văn Hòa được kêu là Chín Hòa. Chín Hòa lớn lên trong nghèo khó theo cha nuôi lênh đênh trên chiếc xuồng con gặt thuê cấy mướn cho các điền chủ trên các triền của con sông Tiền, sông Hậu…
Kỷ niệm 70 năm Nam Kỳ khởi nghĩa (1940 - 2010)
Chuyện về nghĩa sĩ Phan Văn Hòa - Sáu Dân - Võ Văn Kiệt
(ANTĐ) - Sinh năm 1922 tại làng Bình Phụng, cái ấp nghèo thuộc xã Trung Lương, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, Phan Văn Hòa là con út trong gia đình có tám người con, sáu trai hai gái. Theo cách gọi của Nam bộ thì Phan Văn Hòa được kêu là Chín Hòa. Chín Hòa lớn lên trong nghèo khó theo cha nuôi lênh đênh trên chiếc xuồng con gặt thuê cấy mướn cho các điền chủ trên các triền của con sông Tiền, sông Hậu…
Vốn hiếu học, những ngày được đến trường cùng với hiểu biết đầu đời đã cho cậu bé Chín Hòa đủ thắp lên mơ ước tìm đến với tri thức sau này. Nhưng cuộc đời Chín Hòa đã bắt đầu đi theo một hướng rẽ không thể khác: Trong đám tang mẹ, cậu bé đã gặp được người họ hàng bên mẹ đó là ông Hà Văn Út. Câu chuyện của ông Út đã cuốn hút cậu bé họ Phan và từ đó cậu quyết định nói với cha nuôi xin đi làm cách mạng… Mười tám tuổi, chàng thanh niên Phan Văn Hòa tham gia diễn thuyết tuyên truyền cách mạng ở quê hương. Và rồi cái đêm lịch sử 23-11-1040, chính Phan Văn Hòa là một trong những người chỉ huy trẻ tuổi của cuộc dấy binh ở Vĩnh Long. Người dân nơi đây gọi đó là “Đêm Cộng sản nổi dậy” và sau này quen gọi là Nam Kỳ khởi nghĩa…
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc sinh thời luôn là người chân thành, thân thiện
Đêm ấy nghĩa sĩ Phan Văn Hòa dẫn lực lượng hàng trăm người kéo đi lấy đồn Bắc Nước Xoáy. Vũ khí có gì đâu toàn gậy gộc giáo mác mà khí thế xung trận như là đi hội. Đoàn nghĩa sĩ ào ào trên đường cái hàng chục cây số, chặn xe của Chánh tổng bắt rọi đèn qua gọi phà đưa sang sông Măng Thít. Bị bất ngờ cả đồn giặc hoảng loạn, nghĩa binh đuổi bắt cướp vũ khí, cắt liên lạc. Phan Văn Hòa nhảy lên cổng đồn giặc bắc loa tay kêu gọi đồng bào nổi dậy quyết “Đánh đổ đế quốc thực dân phong kiến địa chủ”. Thắng lợi của trận lấy đồn Bắc Nước Xoáy trở về, Phan Văn Hòa và đồng đội đâu biết rằng đêm ấy, Sài Gòn không “khởi nghĩa”, tại Vĩnh Long cũng thế. Thì ra lệnh từ Trung ương tạm ngừng khởi nghĩa đã không đến được nhiều nơi.
Chính ông Quảng Trọng Hoàng, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long cũng không hay. Sáng hôm sau 24-11 đã thấy xe giặc từ Vĩnh Long chở theo lính tráng từ Vĩnh Long xuống chạy ầm ầm. Bí thư Hoàng bảo anh em: Không thể đối phó nổi. Anh em tạm thời ai về nhà nấy, rồi tìm cách bắt liên lạc sau” . Đêm hôm sau về làng mới hay những nghĩa sĩ đi đánh đồn đêm trước chỉ có vài người về được. Nhiều người bị bắt bị giết, trong số đó có một người anh trai của Chín Hòa… Đêm ấy cha Chín Hòa là ông Phan Văn Dựa mài cây mác thật bén bảo: Mày cầm theo cây mác. Thằng nào bắt mày đâm cho tao”. Chín Hòa hiểu lòng cha. Và cuộc dấn thân, đời chiến đấu khốc liệt chỉ mới bắt đầu…
Tỉnh ủy đã bắt lại liên lạc. Phan Văn Hòa được đón về Đìa Cháo giữa rừng U Minh. Hai năm sau, từ Rừng U Minh, những người nghĩa sĩ nhận được tin từ Việt Bắc, Đảng đã thành lập Mặt trận Việt minh. Lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên được lưu hành như biểu thị của niềm tin vào chiến thắng của dân tộc. Với lòng yêu kính người mẹ quá cố, sau này khi đổi tên để hoạt động, Chín Hòa đã lấy họ Võ của mẹ với cái tên Võ Văn Kiệt.
Tại Đại hội đảng toàn quốc lần thứ II năm 1951, Võ Văn Kiệt ra Việt Bắc tham dự với tư cách là Phó Bí thư tỉnh ủy Bạc Liêu trong đoàn đại biểu Nam bộ. Sau lớp tập huấn tại Hoa Nam, Võ Văn Kiệt trở lại Nam bộ hoạt động. Một kỷ niệm khó quên trong đời ông Võ Văn Kiệt là chuyện những ngày đưa đoàn cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc sau Hiệp định Genevơ 1954. Đêm ấy trước mặt Ủy ban giám sát và báo chí, ông Lê Duẩn và ông Lê Đức Thọ cùng Võ Văn kiệt đã lên một chiếc tàu để đến lúc nửa đêm, một chiếc xuồng con đã đón các ông quay lại bờ… Khuya ấy Võ Văn Kiệt đưa ông Lê Duẩn vào một cơ sở để bắt đầu một cuộc trường kỳ giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc…
Khi ông Lê Duẩn được Đảng điều ra Bắc, ông Nguyễn Văn Linh làm Bí thư Xứ ủy và lúc này ông Võ Văn Kiệt - Sáu Dân từ miền Tây về Sài Gòn  - Gia Định làm Bí thư Khu ủy thay ông Nguyễn Văn Linh. Lăn lộn trên chiến trường mấy chục năm ròng, qua bao nhiêu gian khó ác liệt, Võ Văn Kiệt luôn là một người cán bộ lãnh đạo trung thành tận tụy và đầy sáng tạo. Sau ngày toàn thắng 30-4, ông Võ Văn Kiệt lúc ấy đã 53 tuổi đảm nhận chức vụ cao nhất của chính quyền thành phố Sài Gòn.
Sau này ông được tín nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng rồi Thủ tướng Chính phủ. Dù ở cương vị nào ở ông sự cởi mở, chân thành nghĩa hiệp luôn được nể trọng. Ông đã để lại rất nhiều dấu ấn trong cuộc đời làm lãnh đạo của mình. Nhà báo Lê Phú Khải người từng theo chân Thủ tướng Võ Văn Kiệt những năm lặn lội Đồng Tháp Mười khai hoang làm thủy lợi đã có những bài viết cảm động về ông. Tư duy đổi mới tầm nhìn chiến lược và óc sáng tạo không ngừng đã tạo nên ấn tượng Võ Văn Kiệt mà thời gian không dễ phai mờ. Ai cũng có thể tìm thấy ở Võ Văn Kiệt sự chân thành, thân thiện. Cả cuộc đời ông đã dâng hiến cho cách mạng đến phút chót còn đau đáu chuyện nước chuyện dân…
Với đời riêng, ông đã chịu đựng nỗi đau lớn nhất trong đời: Người vợ trẻ và hai đứa con thơ đã bị giặc giết hại trong một lần bà Trần Kim Anh đưa hai đứa con út đến Củ Chi thăm ông. Nỗi đau ấy ám ảnh mãi, để đến cuối đời mình, ông dành những ngày ít ỏi còn lại để ở bên đứa con gái Võ Hiếu Dân như một lần cuối nhớ thương người vợ đã hy sinh cuộc đời nhung lụa để chấp nhận làm vợ một nhà hoạt động cách mạng như ông…                                 
Tân Linh

Hồi tưởng của GS Võ Đại Lược về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Thứ hai, 11/06/2018, 10:12 (GMT+7)
(Chính trị) - Nhân kỷ niệm 10 năm ngày Thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời, Tuần Việt Nam ghi lại những hồi tưởng của GS Võ Đại Lược, một thành viên chính thức của Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
1. Ông có một ưu điểm mà tôi đánh giá rất cao, và hết sức quan trọng là rất nhạy cảm với những vấn đề của thực tiễn đặt ra. Khi đã nghe và được thuyết phục rằng phải làm như vậy mới giải quyết được vấn đề, ông ấy quyết định ngay. Tất cả các văn bản trước khi thủ tướng ký ông đều hỏi chúng tôi, những người trong tổ tư vấn.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt,đường lối chỉ đạo kinh tế của ông Võ Văn Kiệt,quyết định làm đường dây 500kv Bắc Nam,gia nhập ASEAN,APEC,WTO
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ảnh VietnamNet.
Ví dụ, có lần tổ tư vấn họp với Thủ tướng, có một người, tôi không nhớ tên đề nghị cấm đốt pháp vào dịp Tết Nguyên đán. Tôi thấy ông Kiệt có ghi lại mấy chữ. Sau đó, lệnh cấm đốt pháo được ban hành, sau khi ông Kiệt tham khảo ý kiến các giới trong xã hội.
Vụ thứ hai là vụ đê điều, khi người ta xây dựng nhà ở chân đê sông Hồng, khiến cho đê bị mối mọt, dẫn đến vỡ đê. Trong cuộc họp với tổ tư vấn, có người nêu ý kiến về chuyện đó. Sau khi tham khảo ý kiến rộng rãi, ông Kiệt yêu cầu tháo dỡ tất cả các nhà ở ven đê.
Ví dụ thứ ba là quyết định làm đường dây 500kv Bắc Nam. Quyết định này có một đặc điểm là cả TBT Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đều đồng ý, nên mặc dù Bộ trưởng Khoa học – Công nghệ Đặng Hữu phản đối quyết liệt, nhưng dự án vẫn được Trung ương nhất trí. TBT Đỗ Mười trước đó từng làm bộ trưởng, phó thủ tướng, rồi thủ tướng, nên 80% các quyết định về kinh tế đều hỏi ý kiến ông. Biết trước điều đó, ông Kiệt đã gọi tôi lên và giao nhiệm vụ sang trình bày với TBT Đỗ Mười, và thuyết phục ông đồng ý. Tôi lại là tư vấn riêng (không chính thức) của TBT Đỗ Mười từ vụ chống lạm phát nên tư vấn của tôi với ông Đỗ Mười luôn được lắng nghe.
2. Có thời điểm, có người phê phán đường lối chỉ đạo kinh tế của ông Võ Văn Kiệt, họ cho rằng ông “chệch hướng XHCN”. Ông Trần Đức Nguyên giao cho tôi chuẩn bị bài phản biện lại quan điểm này. Tôi nêu mấy luận điểm như sau:
Một là khi đánh giá một nền kinh tế, chúng ta không nên xem tỷ trọng quốc doanh nhiều hay ít để đánh giá là có đi đúng CNXH hay không, mà phải xem vào tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế thế nào. Nếu như quốc doanh vẫn chiếm tỉ trọng lớn, nhưng tăng trưởng trì trệ, hiệu quả kinh tếthấp, thì còn lâu mới tiến lên CNXH được, mà phải nhìn vào tốc độ và hiệu quả. Và, nếu nhìn tốc độ và hiệu quả, thời ông Võ Văn Kiệt làm thủ tướng tốc độ tăng trưởng cao và hiệu quả nền kinh tế tăng rõ rệt.
Thứ hai, nếu tính về thành phần kinh tế, lúc Việt Nam chưa đổi mới thì khu vực quốc doanh chiếm tới 90%, trong khi kinh tế hộ gia đình (tư nhân) chỉ chiếm 5% thôi. Nếu theo quan điểm của một vài người thì lúc đó kinh tế Việt Nam là XHCN nhất, nhưng lại lâm vào khủng hoảng và lạm phát phi mã (có lúc tới 700%).
Tôi chỉ nói độ mươi phút thôi, nhưng ông Kiệt lắng nghe rất kỹ. Khi họp Thường vụ Bộ Chính trị bàn về kinh tế, ông Kiệt đã nói một mạch nửa tiếng đồng hồ để chứng minh Việt Nam không đi chệch hướng XHCN.
3. Vấn đề hội nhập (…). Lúc đó, trong Bộ Chính trị ý kiến phản đối hội nhập rất nhiều và rất mạnh. Ông Kiệt giao nhiệm cho tôi vụ sang trình bày với TBT Đỗ Mười. Sau một buổi ngồi nghe tôi giới thiệu những mặt lợi hại khi hội nhập, ông Đỗ Mười hoàn toàn đồng ý, và bảo rằng bây giờ phải nghĩ cách thuyết phục Bộ Chính trị. Ông giao cho tôi, với tư cách học giả, phát biểu cho Bộ Chính trị nghe.
Trước Bộ Chính trị, tôi đã trình bày, thứ nhất, tuy các tổ chức quốc tế này do các nước tư bản chủ nghĩa thành lập, nhưng trong tất cả những nguyên tắc của các tổ chức này đều được công bố công khai và không có một nguyên tắc nào là phản động cả, mà đảm bảo công bằng, và lợi ích của dân tộc. Thứ hai, trên thực tế, những tổ chức quốc tế này đã mang lại lợi ích cho tất cả những nước tham gia, và chứng minh điều đó không có gì là khó cả. Thứ ba, chúng ta không tham gia các tổ chức này thì chúng ta cô lập, đứng một mình, như trong thập kỷ 80.
Sau đó, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, rồi Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết mỗi người nói chừng nửa tiếng, về quan điểm từ góc độ ngoại giao và thương mại. Thế là Bộ Chính trị quyết định là Việt Nam sẽ gia nhập ASEAN, APEC và WTO, và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ…
Phải nói công tổ chức của ông Võ Văn Kiệt rất lớn trong chuyện hội nhập.
4. TBT Đỗ Mười không ít lần phàn nàn rằng cứ họp bộ tứ (Gồm TBT, Chủ tịch nước, Thủ tướng và Thường trực Ban Bí thư) ông Kiệt rất hay vắng mặt. Lý do rất đơn giản là cứ mỗi lần ông Kiệt phát biểu về vấn đề gì đó, có một số ý kiến luôn luôn phản ứng lại rất quyết liệt.
Ông Mười nói với tôi: ‘Cậu về bảo với ông Kiệt nên tham gia họp bộ tứ, do có những ý kiến còn trái chiều, nên nếu anh Kiệt có mặt, tỷ lệ hai bên là 2-2, và ý kiến của tôi với tư cách là Tổng Bí thư sẽ quyết định’.
Và khi ông Võ Văn Kiệt, người có tư tưởng đổi mới nhất, và ông Đỗ Mười, người mang tiếng bảo thủ nhất, đã nhất trí được với nhau, mọi chuyện đa phần thành công.
5. Ông Võ Văn Kiệt từng đi thăm Singapore, và đánh giá rất cao những thành tựu mà Singapore đạt được, và, theo ông, sở dĩ có điều đó là hoàn toàn nhờ vào Thủ tướng Lý Quang Diệu. Cho nên, ông Kiệt là người đích thân mời Bộ trưởng Cố vấn Lý Quang Diệu sang làm cố vấn cho ông, nhưng Bộ Chính trị không đồng ý. Ông Kiệt chia sẻ với tổ tư vấn rằng ‘bây giờ Bộ Chính trị không đồng ý để ông Lý Quang Diệu là cố vấn cho tôi, vậy ông ấy sẽ làm cố vấn cho tổ tư vấn các anh’.
Sau đó, chúng tôi mỗi tuần nghe ông Lý Quang Diệu chia sẻ 3-4 buổi về các kinh nghiệm quản lý, quản trị đất nước… Tôi thấy nhiều ý kiến Lý Quang Diệu nêu ra cho đến ngày nay, tức là sau một phần tư thế kỷ, vẫn có giá trị.
Tôi xin nêu 3 ý kiến thể hiện rõ nét nhất nhận định của mình.
Thứ nhất, chúng tôi có hỏi là, ‘theo kinh nghiệm ông làm thủ tướng, mức độ lạm phát của nền kinh tế ở mức nào là vừa phải’. Ông ấy trả lời là xấp xỉ thấp hơn mức tăng trưởng.
Thời ông Kiệt, và cả thời Thủ tướng kế nhiệm là ông Phan Văn Khải, đều duy trì mức độ lạm phát thấp hơn mức tăng trưởng.
Thứ hai, khi chúng tôi hỏi rằng ‘ông quan niệm như thế nào về đầu tư nước ngoài’, ông ấy trả lời, ‘đối với Singapore, chúng tôi chỉ ưu đãi những doanh nghiệp không phải của châu Á, kể cả Nhật, mà chỉ có Mỹ và châu Âu’. Chúng tôi hỏi tại sao, ông đáp ‘có hai lý do, một là là chỉ Mỹ và châu Âu mới có công nghệ nguồn, hai là các nước châu Á, thường không có công nghệ nguồn, khi chuyển giao thường là công nghệ hạng hai, hạng ba…, thêm nữa lại mang theo nhiều hoạt động tiêu cực vào’.
Thứ ba, ông Lý Quang Diệu khẳng định chính sách trọng dụng người tài Singapore là điểm rất quan trọng. Vì ‘khi tôi làm Thủ tướng chỉ có hai bộ trưởng là người Singapore, tức là bộ trưởng quốc phòng và bộ trưởng an ninh, còn các bộ trưởng khác tôi thuê người nước ngoài hết’. Ông nói ‘làm bộ trưởng ở Singapore lương rất cao, cao hơn cả tổng thống Mỹ, và đấy là một trong những lý do nước Singapore chúng tôi không có tham nhũng’.
Tất cả những điều chúng tôi nghe được trong mấy tuần lễ ông Lý Quang Diệu ở lại Việt Nam đều được báo cáo lại cho ông Võ Văn Kiệt. Trong ba điều mà ông Lý Quang Diệu đã nói, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thực hiện rất tốt điều đầu tiên.
(Theo Vietnamnet)
 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32