HỔ PHỤ - HỔ TỬ (ĐL)
(Liệt sĩ Võ Dũng)
Hổ phụ sinh hổ tử
Người xưa nói chớ sai
Đúng là con nhà Võ
Khí khái một đời trai!
Đòi về quê yêu dấu
Noi theo cha kiên cường
Hy sinh trong chiến đấu
Lặng lẽ thành tấm gương!
Chuyện ít biết về liệt sỹ Võ Dũng, con trai cả của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
Chiều ngày 23/7/2017, 30 thầy trò khóa 5 trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-1970) lần đầu tiên tới thăm quê ngoại liệt sĩ Võ Dũng. Trên hai chiếc vỏ lãi, chúng tôi theo con rạch chừng 2km tới nhà con trai dì thứ ba của Võ Dũng. Mọi người được gia đình đón tiếp thịnh tình, rồi cùng ra “Trần Môn Chi Mộ” thắp hương cho các cụ cùng cô Trần Kim Anh, Võ Dũng và 2 em Phan Ánh Hồng, Phan Chí Tâm.
Liệt sỹ Võ Dũng.
Họ Trần, một dòng họ có tiếng ở Sóc Trăng
Ông Trần Văn Ngưu, tự Nhất Ngưu – Cố
ngoại1 của Võ Dũng, người con thứ sáu của ông Trần Quang – vị quan trong
thành Vĩnh Long, dưới quyền của cụ Phan Thanh Giản. Thành Vĩnh Long
thất thủ, ông Trần Quang đưa vợ con về làng Trường Thạnh, Cần Thơ, dặn
không theo Pháp rồi ông đi biệt tích. Để giấu gốc tích, bà Trần Quang
dẫn 6 người con đến Kinh Sáng, vùng đất thuộc thị xã Ngã Năm ngày nay,
sinh sống.
Cuối thế kỷ thứ 18 (khoảng năm 1890) ông
Trần Văn Ngưu đưa vợ con đến khu vực hoang vu này. Bấy giờ xung quanh
là rừng, lau sậy rậm rạp, kênh rạch chằng chịt… Dân quanh vùng khuyên
nên cắm sào giữa sông, ngủ trên ghe và đốt lửa trên bờ phòng thú dữ mò
về.
Cụ Trần Văn Ngưu cùng con trai lớn thứ
năm Trần Quang Quy khảo sát và quyết định lập nghiệp ở vùng đất cách chợ
nổi Ngã Năm chừng 5km đường sông. Sau 10 năm khai khẩn, thấy khu vực
này trũng, cá từ khắp nơi đổ về, ông Ngưu tìm cách đắp đập và khai thác
cá. Ông thuê cả một vùng đất rộng để khai thác cá.
Ông Trần Văn Ngưu có 9 người con, trong
đó ông Trần Quang Quy (ông ngoại Võ Dũng) là con trai lớn. Ông Ngưu mất
năm 1928. Ông Quy có 7 người con: dì hai Trần Thị Chơi, dì ba Trần Thị
Giác, cậu tư Trần Tấn Lướt, cậu năm Trần Tấn Khả, cậu sáu Trần Quang
Hiến, má của Võ Dũng là con gái thứ bảy Trần Kim Anh, cô út Trần Kim Em.
Năm 1929, ông Ngưu mua máy xay xát lúa,
đặt tại chợ Ngã Năm. Nhà cửa được xây theo kiến trúc Pháp cùng một ngôi
đình. Cứ dịp tết hay thu hoạch mùa màng, ông cho rước gánh hát bội về
hát cho bà con nghe.
Từ khi đến đây lập nghiệp, dòng họ Trần
được dân làng kính trọng. Nhiều người xin vào làm mướn rồi định cư đến
giờ. Người nghèo được ông cho lúa gạo, cấp đất cất nhà.
Có tư tưởng tân tiến, tiếp thu văn hóa
thị thành, khi con trai, con gái còn nhỏ ông cho thuê gia sư giỏi về nhà
dạy học; khi các con trai đã lớn ông cho đi học trường Lyséum Bassac
Cần Thơ. Ngày đó con gái không được đến trường nên 2 cô út Kim Anh, Kim
Em được đưa ra chợ Ngã Năm học mỗi ngày. Người trong làng ngày nay vẫn
nhắc đến 2 cô con gái xinh đẹp, công dung ngôn hạnh, mỗi khi xuống ghe
tam bản hầu 2 để đi học thì cửa ghe đóng lại, không ai nhìn thấy.
Ngày Cụ Hồ kêu gọi toàn dân ủng hộ chính
phủ, ông Năm Quy hiến vàng bạc, 3300 công đất cùng nhiều đồ đồng (thau
nồi, lư đồng …) để đúc súng đạn, chỉ giữ lại 100 công đất nơi có mộ
phần cha mẹ. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ông
cho phá nhà lớn và ngôi đình “tiêu thổ kháng chiến”, máy móc xay xát
được tháo về, cho đốt khung bao nhà máy.
Sau này, ông cho ráp lại máy móc tại
rạch Đường Mốp; vừa xay lúa cho dân, vừa xay lúa cho cách mạng, cung cấp
gạo cho Tỉnh ủy Long Châu Hà. Do bị chỉ điểm nên Pháp đã vào bỏ bom
xăng, làm cháy một phần nhà máy. Ông kiên trì sửa chữa cho đến khi không
còn ráp lại được nữa.
Chiến tranh làm mất hết tài sản, mất cả
con nhưng ông bà vẫn nén nỗi đau, dựng lại nhà, tiếp tục sinh sống. Đến
năm 1964, khi bị thả hai trái bom trên vườn nhà, sau nhiều trận càn và
tuổi đã cao, không còn đủ sức chạy bom đạn, ông mới rời quê về sống với
người con trai thứ sáu tại số nhà 158 Nguyễn An Ninh, phường Vĩnh Bảo,
TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Tiếp tục nuôi giấu cán bộ, khi có điều
kiện, ông tiếp tế thuốc men, cá khô, thuốc hút, phương tiện xe cộ…
Ông Trần Quang Quy mất năm 1972, bà mất
sau ông một năm. Sự nhớ thương, mong chờ gặp lại Võ Dũng và Hiếu Dân
không bao giờ thực hiện được. Còn Hiếu Dân sau này về vẫn cứ tiếc: “Ông
bà ngoại mất mà không kịp đợi con về”.
Chú Sáu Dân và gia đình bên vợ
Năm 1949, chú Sáu Dân là Tỉnh ủy viên,
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Rạch Giá. Một lần đi công tác, ghé qua lớp học
của Hội Phụ nữ mở tại rạch Đường Mốp, chú sáu gặp cô Kim Anh. Ngay từ
cái nhìn đầu tiên chú đã xao động. Hỏi thăm chú Hai Hữu đi cùng thì
biết, đó là con gái ông Năm Quy - một gia đình giàu có, từng hiến đất
cho cách mạng. Từ đó chú Sáu thường ghé thăm nhà cô Kim Anh. Chuyện tình
bắt đầu.
Khi ngỏ lời cưới cô thì chị thứ hai và
anh thứ tư băn khoăn: không biết gia đình chú Sáu ở đâu; cha mẹ, anh em
thế nào? Rồi chú là cán bộ cách mạng, chưa biết sống chết ra sao… nên
không muốn gả. Riêng ông Năm là người có tư tưởng tiến bộ và có cảm tình
với chú Sáu, mặt khác người chị thứ ba biết cô Kim Anh thương chú Sáu
nên cũng nói vào. Ông Năm đồng ý gả cô Kim Anh cho chú.
Sau ngày cưới, chú luôn giữ liên lạc với
gia đình. Thời gian chống Pháp, chống Mỹ, mỗi lần đi công tác gần nhà,
chú cũng tìm cách ghé qua thăm Ngoại. Chú quan tâm và nhớ hoàn cảnh từng
người trong gia đình.
Những chuyến về quê thăm mộ phần các cụ,
chú Sáu vẫn nhắc lại kỷ niệm cũ: “… Ngày xưa không có chuyện rủ nhau đi
chơi… - rồi chú nhìn Hiếu Dân cười - Ngày tết, đến nhà Ngoại là ba
“xung phong” chụm lửa nấu bánh tét để được nói chuyện với má bay...”.
Nhắc lại chuyện tình của ba má, Hiếu Dân trêu: “Ba đi vận động cách mạng
Ngoại rồi “vận động” luôn cả má con… Con biết rồi, ba cưới má khi mới
17 nghen?”. Lúc đó chú Sáu vui vẻ: “Đâu có, má mày sắp 18 mà!” rồi cười
mãn nguyện.
Sau này nghỉ hưu, thời gian sống ở nhà
con gái Hiếu Dân, chú mới có thời gian dành cho gia đình bên vợ. Thỉnh
thoảng chú cho rước bà chị thứ ba và anh thứ sáu lên chơi. Trong bữa cơm
sum họp, chú thường nhắc lại chuyện ngày cưới: “Anh Sáu lấy những hạt
gạo nhuộm đỏ, dán trên tấm kính chiếu thủy 2 chữ “Tổ Quốc”. Trong lễ
tuyên hôn, cô dâu, chú rể trong bộ bà đen bằng vải san đầm; đứng trước
bàn thờ Tổ quốc, xúc động như thấy có mình ở trong đó”.
Đám cưới cô chú được tổ chức đơn giản
nhưng rất trang trọng, với sự chứng kiến của hai họ nội, ngoại cùng đông
đảo bà con xóm giềng. Ông Nguyễn Thành Nhơn, bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá,
đại diện tổ chức và cũng là “đại diện nhà trai”.
Chú Sáu cưới cô Kim Anh năm 1950. Cưới
xong sống ở nhà Ngoại. Sau này, chú cứ nhắc mãi cái ao sen nhà ngoại đã
bị lấp, từng chứng kiến kỉ niệm đẹp của 2 người. Cũng năm ấy, chú có
lệnh ra Bắc. Lúc đó cô Kim Anh đã có mang Võ Dũng.
Cùng chuyến đi còn có một cán bộ cũng có
cô vợ trẻ. Cô Năm Liễu (Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Kiên Giang), người hoạt
động cách mạng trong vùng, chứng kiến cuộc chia tay của 2 cặp vợ chồng,
đã kể: “Cả 2 cô vợ đều con nhà giàu, rất trẻ, đẹp. Cô thầm nghĩ, không
biết rồi đây họ có chờ đợi chồng được hay không? Vì đi ra Bắc thì biết
ngày nào trở lại, không biết ai còn, ai mất!
Lúc chuẩn bị đi, cô vợ kia khóc dữ lắm,
làm chồng phải quay xuồng lại tới 2, 3 lần mới dứt đi được. Còn má con
gan lắm, khi xuồng ba con đi xa rồi mới khóc… Thật buồn, người phụ nữ
kia không chờ đợi được, đã đi lấy chồng. Đó cũng là một thực tế phũ
phàng! Còn má Kim Anh của con vẫn một mực thủy chung, chờ ba bay trở
về”.
Võ Dũng và những năm tháng sống ở bên ngoại
Tiễn chú Sáu đi Việt Bắc, cô Kim Anh vẫn
sống ở nhà ông bà ngoại. Đầu năm 1951, cô sinh Võ Dũng mẹ tròn con
vuông. Theo ý chú Sáu, cô đặt tên con trai đầu lòng là Phan Chí Dũng.
Năm 1952, con trai thứ hai Phan Thanh Nam ra đời tại Việt Bắc. Biết tin,
ông bà ngoại và má Võ Dũng muốn đưa Nam về sống bên ngoại.
Ở miền Nam, Võ Dũng lớn lên trong sự bảo
bọc của ông bà ngoại. Ngoại thương Võ Dũng nhiều nhất vì là đứa cháu
duy nhất còn sống với ông bà, hơn nữa ba Dũng đi làm cách mạng chưa về…
Ngoại cũng thương má của Dũng vì là con gái út, lại phải sống xa chồng.
Cô Kim Anh còn xắn áo xắn quần, đi nhổ mạ cấy lúa, giã gạo phồng cả tay…
để “tự cải tạo thành phần” gia đình.
Khi má Kim Anh đi thăm ba, dẫn Dũng theo
sợ lộ nên đã gửi Dũng ở nhà với Ngoại. Cậu Sáu Hiến thương cháu, đi đâu
cũng cho Dũng đi cùng.
Năm 1954, khi Dũng được 4 tuổi, chú Sáu
trở về. Đó là lần đầu cha con gặp nhau. Thời gian đó, chú hoạt động ở
Bạc Liêu nên cô đi đi về về. Đầu năm 1956, Ngoại đưa cô Kim Anh ra bệnh
viện Cần Thơ sinh Hiếu Dân; rồi năm 1962 sinh em Ánh Hồng.
Năm 1965, cô về nhà Ngoại, sinh em Chí
Tâm ở Rạch Giá. Đầu năm 1966, trên đường lên thăm chú Sáu, cô đã mất
cùng 2 em trên con tầu Thuận Phong.
Tuổi thơ của Võ Dũng ở nhà Ngoại có rất
nhiều kỷ niệm. Ai cũng nhớ, Dũng rất nghịch, từng bắt gà lôi của ông
ngoại nhổ lông đuôi, gắn vào lưng quần, vừa khom lưng chạy vừa kêu “lức
lức”; hay lấy lưỡi cưa trong nhà máy xay dắt vào lưng giả làm kiếm. Mỗi
lần giục đi tắm thì cứ chạy vòng vòng quanh đống trấu. Tới giờ đi học
thì lần khân, có khi trèo tót lên cây xoài, ngồi vắt vẻo không chịu
xuống, má phải cầm roi mới đi…
Võ Dũng ở nhà Ngoại đến năm 1959 thì
cùng má và Hiếu Dân qua Phnôm-pênh sống với ba. Ở đó, Dũng được học
tiếng Pháp ở trường Lạc Hồng. Dũng rất nghịch, hay ném ống bơ cát qua
nhà bên cạnh, bị thưa cảnh sát. Cảnh sát đến kiểm tra, làm cơ quan ta sợ
địa điểm bị lộ, phải chuyển.
Gia đình cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Ra Bắc rồi về Nam
Từ Phnôm-pênh, Dũng được các chú cho bay
sang Hồng-Kông rồi đi phà biển vào Quảng Châu. Từ đây đi tầu liên vận
về Hà Nội. Cô Bảy Huệ (phu nhân ông Nguyễn Văn Linh3) đón Dũng về nuôi.
Dũng được gửi xuống Hải Phòng học Trường
Học sinh miền Nam số 19, 21 ở Cầu Rào. Đến năm 1963, Bộ Giáo dục trả số
học sinh có ba mẹ hoặc người thân ở ngoài Bắc về với gia đình, Dũng lại
về nhà cô Bảy Huệ. Dũng và Hiếu Dân được cô chăm sóc và coi cô như má.
Các em trong nhà thì gọi Dũng là anh Hai.
Hè năm 1965, cô đưa Dũng lên Trường Văn
hóa quân đội ở Trại Hòe, Hà Bắc, bắt đầu cuộc sống Thiếu sinh quân. Có
lẽ vì từng tiếp xúc với lính Mỹ, ngụy mà những ngày ở trường, Dũng không
hề sợ khi máy bay Mỹ bay qua. Có báo động, Dũng toàn đứng trên nóc hầm
theo dõi trận không chiến. Khi thấy tên lửa SAM hay Mig-21 của ta bắn
cháy máy bay Mỹ, Dũng nhảy lên hò reo.
Do chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ mở
rộng, nhà trường di chuyển từ Trại Hòe lên An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái rồi
sang Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc… Xa má đã 7 năm mà không có thư từ.
Sốt ruột, hỏi thăm ba thì ba không trả lời. Hai anh em linh cảm có điều
gì chẳng lành. Dũng bỏ học, nhiều lần xin được về nước chiến đấu. Cuối
cùng, Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh phải đồng ý.
Về nước, các chú ở Tổng cục Chính trị
cho đi học tiếp nhưng Dũng quyết xin về Nam. Thuyết phục không được, các
chú cho Dũng về Trường Quân chính QK Tả Ngạn. Tại đây Dũng được học các
yếu lĩnh cơ bản của người lính trận: lăn lê, bò toài, đào hầm hào, hành
quân, bắn súng, ném lựu đạn, đặt mìn…
Mãn khóa, các chú có ý định cho Dũng đi
theo đường qua Hồng-Kông về Campuchia. Dũng lắc đầu: “Mọi người có thể
đi dọc Trường Sơn vào B2 thì cháu cũng đi được”. Tháng 8/1969, khi tập
trung ở Đoàn huấn luyện cán bộ đi B trên Lương Sơn, Hòa Bình, các chú
muốn phát cho Dũng tăng bạt, quần áo, đồ dùng tốt hơn, Dũng cũng không
đồng ý.
Trước ngày lên đường, cô Bảy Huệ, cô Tư
Duy Liên và em Hiếu Dân lên thăm. Các cô rất lo, thằng cháu nghịch ngợm
từ bé sẽ sống thế nào suốt dọc đường vào Nam, nó mà vô kỉ luật thì không
chỉ tổn thất cho mình nó. Hiểu lo lắng đó, Dũng trả lời: “Các cô và em
yên tâm đi, con sẽ không làm cô và em phải hổ thẹn. Con đi lần này, một
là xanh cỏ, hai là đỏ ngực!”. Hai cô rơm rớm nước mắt thương thằng cháu
đã mất má và 2 em, giờ lại đi vào nơi hòn tên mũi đạn có thể dính bất kì
lúc nào.
Cuối năm 1969, lên đường đi B. Anh Long,
chị Phương cùng chuyến đi với Dũng kể lại, suốt dọc đường không ai biết
nó là con ông to, lúc nào cũng vui cười, luôn kể chuyện, tán dóc, luôn
sẵn sàng khoác ba-lô, súng đạn giúp người khác, có điếu thuốc thì cùng
hút. Ngày chia tay các anh rẽ xuống B5 miền Trung, Dũng lấy trong ba-lô
ra tút thuốc, chia đôi: “Anh cầm đi mà hút, em có rồi. Hết thì hút thuốc
rê”.
Về đến căn cứ R trên Tây Ninh, ba, con
gặp nhau. Nước mắt rưng rưng, chú Sáu ôm Dũng vào lòng: “Từ Rạch Giá, má
con bế thằng Tâm mới 4 tháng tuổi, dắt theo Ánh Hồng đi cùng cô Ba giao
liên, lên xe đò đi Sài Gòn. Từ Sài Gòn lên con tầu Thuận Phong vẫn
thường chở vợ con sĩ quan ngụy đi thăm chồng trên Tây Ninh.
Không ngờ khi tầu rời bến thì công lệnh
“cấm tầu bè qua lại trên đoạn đường sông qua Củ Chi” do lính Mỹ mở trận
càn trên sông, đã phát, nhưng nhân viên công vụ lại đi uống cà phê nên
lệnh cấm đến trễ. Tàu đã xuất bến.
Sau hơn một giờ đồng hồ, con tầu vào khu
vực cấm. Trực thăng UH-1 vè vè trên đầu. Chủ tầu cho tàu chạy ra giữa
sông rồi cho trải cờ 3 sọc trên nóc. Phi công trên UH-1 điện về bến tầu
thì biết công lệnh đã phát. Cho là “tàu Việt Cộng cải trang” nên từ trên
UH-1 đã bắn rốc-két xuống tàu. Tàu chìm. Nhiều người bị chết và bị
thương, nhiều người tìm cách bơi vào bờ, nhưng chúng tiếp tục quần thảo,
bắn rát…
Nghe tin má và 2 em đi trên con tầu này,
ba cùng các chú đã đi dọc bờ sông phía thượng nguồn tìm kiếm mấy ngày
trời. Nhà Ngoại xin cấp giấy phép thuê tầu đi suốt từ hạ lưu sông Sài
Gòn lên Củ Chi tìm mà không thấy. Đau lắm. Sợ con và em Hiếu Dân biết,
buồn mà sinh bệnh nên ba dặn các chú giấu các con.
Giờ, con về đây, ba, con mình có nhau, làm cho ba vơi đi nỗi buồn vì mất mát lớn quá…”.
Cũng buổi đầu tiên gặp lại ba, Dũng kể
chuyện được gặp Bác: “Cuối năm 1968, Bác Hồ cho đón các cháu học sinh
đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ: Hà Nội - Huế - Sài Gòn” về Phủ Chủ
tịch chơi. Là con em miền Nam, con và em Dân cũng được dự. Các bạn thiếu
nhi quây quần bên Bác. Bác lần lượt chia kẹo và ân cần hỏi thăm học tập
ra sao, có ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ, thầy cô.
Đến lượt con, Bác hỏi: “Cháu có ngoan
không?”. Con khoanh tay lễ phép: “Dạ, cháu còn nghịch, chưa ngoan ạ!”.
Bác xoa đầu con: “Giỏi! Cháu thật thà như vậy là tốt, nhưng phải cố gắng
lên để bằng các bạn nhé!”. Nói rồi, Bác chia phần kẹo cho con”. Nghe
đến đây chú Sáu xúc động ghì chặt Dũng vào lòng.
Về tới B2 nhưng không muốn sống ở trên
chiến khu nên Dũng nằng nặc đòi đi chiến đấu. Chú Sáu thắt ruột vì còn
thương nó mới từ miền Bắc vào nhưng trước sự kiên quyết của Dũng, chú đã
gửi con cho các chú dưới đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Thương chú Sáu,
các chú xếp Dũng về đơn vị thông tin. Chỉ một thời gian, Dũng không muốn
làm lính thông tin: “Suốt ngày ngồi trực bên máy, con không chịu được.
Phải cho con về quê má, xuống đơn vị…”.
Tháng 6/1971, Dũng được điều về Mặt trận
T3 thuộc Khu 9, gần quê ngoại. Tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba, nằng nặc
xin các chú xuống Trung đội 2 (Tiểu đoàn 3 trinh sát). Đơn vị đóng ở
Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, chỉ cách nhà chừng 30km. Về trinh sát, Dũng
không cậy mình là “con ông cháu cha” từ ngoài Bắc vào mà cùng chia lửa
với anh em. Cùng đi trinh sát, cùng lặn lội sông nước điều nghiên. Ai
cũng quý.
Chú Sáu Nam 4 ngày đó là Tư lệnh Khu 9,
nghe có con trai đồng đội về làm lính trinh sát; chưa kịp kéo Dũng lên
cơ quan thì nghe tin đau, Dũng đã hy sinh ngày 21/4/1972.
Sớm hôm đó, Dũng đi trinh sát cùng 2
đồng đội, không ngờ bị lọt vào ổ phục kích. Chúng bất ngờ xả đạn làm 3
chiến sĩ không kịp trở tay. Cả 3 hy sinh. Biết tin, đơn vị cử người tìm
xác, chôn cất ngay bờ kênh Tây Ký (thuộc xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân,
tỉnh Rạch Giá).
Nơi yên nghỉ cuối cùng của cô Kim Anh, Võ Dũng và 2 em
Ông Trần Quang Hiến nhớ lại: “Tới năm
1980, dượng Bảy (cô Kim Anh vợ chú là thứ bảy) mới cho bốc hài cốt Võ
Dũng. Sau khi đưa đi hóa thân hoàn vũ, di cốt Dũng được để ngay trong
phòng của dượng ở An Phú, quận 2. Từ đó, Dũng luôn được ở bên cạnh ba”.
Sau ngày con tầu Thuận Phong được cẩu
lên nhưng bên trong chả còn lại gì. Chú cho xây 3 ngôi mộ gió cho cô Kim
Anh và 2 em, ngay tại Củ Chi, nơi con tầu Thuận Phong bị bắn chìm. Sau
này mới làm mộ gió cho cô và 2 em ở NTLS TPHCM, không xa Tượng đài Bà má
Việt Nam anh hùng.
20 năm sau ngày cô Kim Anh ra đi, có
người gợi ý làm thủ tục truy tặng danh hiệu liệt sỹ cho cô. Chú lắc đầu:
“Mất mát của gia đình tôi cũng như mất mát của hàng triệu gia đình
Việt. Đã 20 năm rồi, vết thương chưa thể lành hẳn nhưng làm việc đó để
làm gì? Nếu làm chỉ khoét thêm nỗi đau bấy lâu!”.
… Năm 1982, được Quốc hội phê chuẩn là
Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước, Phó chủ tịch rồi Phó chủ tịch thứ
nhất Hội đồng Bộ trưởng, chú Sáu phải ra Hà Nội. Chú cho đưa hài cốt
Dũng vào nằm bên cạnh mộ gió má và 2 em.
Năm 2005, khi đã nghỉ hưu, chú quyết
định đưa 4 má con về quê ngoại ở Sóc Trăng. Hôm đưa Dũng về quê ngoại,
chú Sáu không về được. Suốt dọc đường từ TPHCM, Hiếu Dân ôm anh mình
trên tay cho đến khi hạ anh xuống lòng đất mẹ. Nhìn Hiếu Dân ai cũng đều
xúc động vì Hiếu Dân mất gần hết: má, anh Hai Dũng cùng 2 em; giờ chỉ
còn lại một mình và anh Ba Nam…”.
Bia tưởng niệm cho 4 má con được chuẩn
bị từ trước, do 2 điêu khắc gia Nguyễn Văn Sánh, Vũ Thế Thái thực hiện.
Chân dung cô Kim Anh ở giữa, 2 bên là Ánh Hồng và Chí Tâm, phía dưới là
Võ Dũng. Không được gặp má và 2 em nên khó hình dung, nhưng hình tượng
Võ Dũng trên bức phù điêu rất sống động, có nhiều nét giống Dũng ngày ở
trường.
Trước nấm mộ của má Kim Anh, Võ Dũng và 2
em, Võ Thúc Minh – bạn thuở Thiếu sinh quân chống Mỹ – xúc động kể:
“Trước ngày chia tay, Dũng nhờ tôi xăm lên cánh tay 2 chữ “Hoài Mẫu”.
Tôi cầm cái kim khâu đã quấn chỉ, chấm mũi kim vào bát mực Tàu, run run
chích từng mũi lên da thịt bạn. Máu bật ra, đau lắm. Mắt rơm rớm nhưng
Dũng cắn răng chịu đựng. Tôi hiểu Dũng nhớ má, yêu má đến chừng nào…”.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7/2018
Trần Kiến Quốc
Chuyện chưa biết về sự hy sinh anh dũng của người con cả Thủ tướng Võ Văn Kiệt
Đầu năm 1967, không quân Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Nhà trường được sơ tán sang Quế Lâm, Trung Quốc. Xa má đã 7 năm mà không có một lá thư, Dũng linh cảm đã có chuyện chẳng lành. Hỏi ba thì ba không trả lời. Nhiều lần Dũng lên gặp Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh xin nghỉ học, về nước chiến đấu.
* Tháng 7-2016, tác giả Trần Kiến Quốc có bài viết xúc động kể về tấm gương dũng cảm hy sinh của người con cả cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước... Nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Thương binh -Liệt sỹ, chúng tôi đăng tải lại bài viết này.Trong lịch sử 35 năm tồn tại của Trường Văn hóa Quân đội thì có 5 năm (1965 – 1970) được mang tên Trường Văn hóa Quân đội Nguyễn Văn Trỗi (còn gọi là Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, gọi thân mật là Trường Trỗi). Nhà trường đã đào tạo 8 khóa với 1.200 học sinh, hơn 900 học sinh đã nhập ngũ; trong đó hơn 800 người trở thành sĩ quan.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, 2 thầy giáo và 28 học sinh của trường đã anh dũng hy sinh, trong đó có người bạn thân thiết của chúng tôi, liệt sỹ Võ Dũng.

Nợ nước, thù nhà
Anh Võ Dũng tên thật là Phan Chí Dũng (SN 1951 tại Rạch Giá), là bạn học Trường Trỗi với chúng tôi. Ba của Dũng là chú Sáu Dân (sau này là Thủ tướng Võ Văn Kiệt), má là cô Trần Kim Anh. Cô kém chú 10 tuổi và họ thành thân năm 1948.
Dũng có 3 em: Phan Hiếu Dân (1955), Phan Thị Ánh Hồng (1958) và Phan Chí Tâm (1966). Sau 1954, đất nước chia cắt, chú Sáu ở lại Nam Bộ. Mấy anh em Dũng phiêu bạt theo má mưu sinh và trốn chạy sự truy bức của chính quyền địch. Cuối những năm 50 của thế kỷ trước, chính quyền Ngô Đình Diệm lê máy chém khắp nơi. Cơ quan Trung ương Cục phải tạm lánh sang Phnômpênh. Chú Sáu Dân đưa Dũng và em Dân đi cùng.
Năm 1960, anh em Dũng cùng một số bạn được đón ra Bắc theo tuyến đường đặc biệt trên chuyến bay Air France từ Pochentong tới Hồng Kông rồi qua phà biển về Quảng Châu, Trung Quốc, sau đó đi tàu liên vận quốc tế về Hà Nội. Võ Dũng được gửi vào Trường Học sinh miền Nam ở Cầu Rào, Hải Phòng.
Đến năm 1963, Bộ Giáo dục có chủ trương đưa học sinh miền Nam có cha mẹ hoặc người thân về sống với gia đình. Cô Bảy Huệ, vợ bác Nguyễn Văn Linh (sau này là Tổng Bí thư), đã đón Dũng về nhà. Theo lời Hiếu Dân kể với chúng tôi, anh Dũng rất thương các em. Đêm nào cũng hay kể những chuyện kiếm hiệp, vừa kể anh vừa hóa thân thành các hiệp sĩ oai hùng.
Tháng 5-1965, Dũng nhập Trường Thiếu sinh quân tại Trại Hòe, Hiệp Hòa, Hà Bắc (cũ, huyện Hiệp Hòa nay thuộc tỉnh Bắc Giang). Những năm tháng ở trường, Dũng rất hiếu động và nghịch ngợm, hay cầm đầu các cuộc vui chơi pha chút mạo hiểm. Những lần máy bay Mỹ bay qua khu vực trường, Dũng không sợ mà đứng hẳn trên bờ hào, lấy tay che mắt, theo dõi đường bay. Khi máy bay Mỹ bị bắn rơi, Dũng là người đầu tiên nhảy cẫng lên, vỗ tay reo hò...
Trong khi Võ Dũng đang ở miền Bắc thì xảy ra một chuyện đau lòng với má và các em tại quê nhà. Cuối năm 1966, Trung ương Cục cử dì Tư, liên lạc viên, về Sài Gòn đón má và 2 em lên chiến khu thăm chú Sáu. Lúc này, em út Chí Tâm chưa đầy 1 tuổi. Để đảm bảo bí mật, dì Tư chọn đi chuyến tàu Thuận Phong chuyên chở vợ con sĩ quan, binh lính Sài Gòn lên thăm chồng ở đồn Dầu Tiếng.
Đúng ngày 17-12-1966, địch có lệnh thiết quân luật, cấm mọi tàu bè chạy trên tuyến đường sông qua Củ Chi. Chủ tàu Thuận Phong không hay biết vẫn cho tàu chạy, vừa rời Sài Gòn được hơn tiếng đồng hồ thì bị một tốp trực thăng bắn xối xả. Tàu trúng đạn và bị chìm, toàn bộ hành khách trên tàu không còn ai sống sót…
Chú Sáu đau buồn, tha thẩn suốt mấy ngày dọc bờ sông, mong tìm kiếm được chút gì của vợ con, trong đó có thằng út chưa hề biết mặt. Đau đớn đến tột cùng nhưng chú Sáu vẫn dặn anh em, đừng cho Võ Dũng và Hiếu Dân biết tin này.
Đầu năm 1967, giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Nhà trường được sơ tán sang Quế Lâm, Trung Quốc. Xa má đã 7 năm mà không có một lá thư, Dũng linh cảm đã có chuyện chẳng lành. Hỏi ba thì ba không trả lời. Nhiều lần Dũng lên gặp Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh xin nghỉ học, về nước chiến đấu. Tháng 3-1968, anh được về nước vào học Trường Quân chính Quân khu Tả ngạn ở Chí Linh, Hải Dương.
Về Nam chiến đấu
Tháng 8-1969, Võ Dũng tập trung ở Trường 105B – Trường huấn luyện cán bộ đi B ở Hòa Bình. Thương Võ Dũng, các chú ở Ban Tổ chức Trung ương bảo: “Các chú cho cháu đi máy bay qua Campuchia, rồi giao liên đưa về chỗ ba cháu”, nhưng Dũng trả lời: “Con không đi máy bay đâu. Đã đi Nam là phải vượt Trường Sơn. Nhiều chú bác, anh chị là cán bộ còn vượt Trường Sơn; con tuổi 18, làm sao con lại đi máy bay”.
Các chú phát cho Dũng tăng võng bằng vải dù, Dũng cũng từ chối, chỉ nhận tăng võng ka-ki, màn vải như các anh chị khác. Trước ngày đi, cô Bảy Huệ cùng cô Tư Duy Liên và em Hiếu Dân lên thăm. Ai cũng lo vì hồi đi học Dũng nghịch ngợm quá, không hiểu Dũng sẽ ra sao khi trở về Nam? Võ Dũng cười và hứa: “Các cô yên tâm đi, con quyết sẽ trả thù cho má và 2 em. Lần này con đi, các cô sẽ thấy “một - xanh cỏ, hai - đỏ ngực”!
Dũng hồ hởi nhập đoàn quân “Xẻ dọc Trường Sơn” về Nam chiến đấu. Trong đoàn còn có vợ chồng anh Long, chị Phương. Sau này, Hiếu Dân được anh Long kể lại, dọc đường hành quân, tuy rất vất vả, nhưng Dũng rất vui vẻ và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Khi thì đeo hộ ba lô, lúc lại đeo thêm khẩu súng, tới đâu cũng kể chuyện vui để quên đi vất vả. Có ít thuốc lá mang theo, Dũng chia đều cho mọi người.
Tới căn cứ B2, Dũng được gặp ba. Hai ba con ôm nhau vào lòng, nghẹn ngào không nói nên lời. Chỉ dăm bữa, Dũng nằng nặc xin về Đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Biết càng vào sâu thì cái chết càng cận kề, hòn tên mũi đạn có chừa ai; vậy mà chú Sáu đã gật đầu. Các chú cho Dũng về đơn vị Thông tin, nơi ít phải giáp mặt với quân thù; nhưng Dũng xin về Rạch Giá: “Má cháu đã bị giặc giết hại, các chú phải cho cháu về quê má chiến đấu”.
Đến tháng 6-1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9. Tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba và xin bằng được về Trung đội 2 trinh sát (thuộc Tiểu đoàn 3). Thấy con trai thủ trưởng quyết tâm, các chú đành chấp nhận. Từ đó, Dũng hăng hái lặn lội đi trinh sát cùng anh em, no đói, gian khổ cùng sẻ chia.
Sáng sớm ngày 21-4-1972, Dũng cùng 2 đồng đội đi trinh sát nhưng bị sa vào ổ phục kích và cả 3 anh em hy sinh trên kênh Tây Ký (xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá). Võ Dũng hy sinh khi vừa tròn tuổi 21, ngay trên quê hương má Trần Kim Anh.
Sau ngày giải phóng, tháng 11-1975, chú Sáu nhờ đơn vị tìm mộ phần Võ Dũng, cải táng và đưa về nghĩa trang An Nhơn Tây, huyện Củ Chi. Thật cảm động, khi đưa thi hài Dũng lên, trong túi quần vẫn còn bịch nilon đựng thuốc rê… Nghe Hiếu Dân kể đến đây, chúng tôi nhớ lại những ngày học ở trường, Dũng là một trong những số ít “tay nghiện” thuốc lá của lớp.

Khi chú Sáu Dân còn bình sinh, mỗi lần Hội trường Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi đều mời chú đến dự. Còn nhớ dịp 27-7-1993, chúng tôi đã đến thắp hương cho Võ Dũng. Chú chia sẻ: “Nhà chú mất thằng Dũng, Trường Nguyễn Văn Trỗi mất 27 bạn nữa như nó cùng 2 thầy. Đất nước có chiến tranh thì mất mát có của riêng ai. Nhưng chúng ta phải sống, phải sống cho tương lai, các con ạ!". Lúc chia tay, chú vấn vương: “Chả hiểu hồi ở trường, Dũng có thương con bé nào? Biết đâu... để chú còn đi tìm?”.
Trước ngày về cõi vĩnh hằng, chú Sáu Dân đã đưa cô Kim Anh, Võ Dũng, Ánh Hồng, Chí Tâm về nghĩa trang dòng họ ở Vĩnh Long... Mới đây, Hiếu Dân gửi cho tôi mấy bức ảnh quý mà chú Sáu đã gìn giữ bấy lâu. Trong đó có bức ảnh cả gia đình, nhưng nhìn là biết ảnh ghép.
Hiếu Dân tâm sự: "Ba em rất thương má, thương anh Dũng và các em. Cụ đã lấy ảnh chụp ba với má đang bế Ánh Hồng, rồi nhờ thợ ghép thêm anh Dũng, em và Chí Tâm vào để có đầy đủ các thành viên trong gia đình".
Theo Trần Kiến Quốc
Công an nhân dân
Công an nhân dân
2-LỤC DÂN
Võ dũng lừng vang một thủ quân
Văn nhân nức tiếng khắp lục dân
Kiệt xuất đổi dời, xây, trị thủy
Hòa khí lan tràn chín tầng vân
Là con xứ sở Cửu Long điền
Là anh xung phong của thanh niên
Là bộc cúc cung vì đại chúng
Hồn nay an lạc Vĩnh Long viên...
Trần Hạnh Thu

Nhận xét
Đăng nhận xét