CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 59/1 (Cướp biển Caribbean)
(ĐC sưu tầm trên NET)
Cướp biển vùng Caribe - Phần 1/3
Điểm danh 10 tên cướp biển khét tiếng nhất trong lịch sử
Trong lịch sử thế giới, có những tên cướp biển khét
tiếng, reo rắc sự ám ảnh kinh hoàng đối với người đi biển. Thậm chí,
nhiều tàu thuyền đi biển giơ cờ trắng in hàng ngay khi nhìn thấy tàu của
cướp biển.
Dưới đây là danh sách 10 tên trùm cướp biển nổi tiếng và cuộc đời đầy bí ẩn của họ.

William Kidd vốn là một người Mỹ gốc Scottland. Ông đã từng là một vệ sĩ chuyên chiến đấu chống lại cướp biển Anh bảo vệ các tàu buôn. Nhưng sau đó, ông quay sang làm cướp biển và trở thành một trùm cướp biển khét tiếng, reo rắc nỗi kinh hoàng cho các tàu buôn Âu - Mỹ.
Chính vì vậy, William Kidd bị chính phủ London truy bắt ráo riết. Sau một phi vụ không thành, ông đã bị bắt và bị hành quyết treo cổ tại Anh vào năm 1701.

Edward Teach còn được gọi với cái tên Blackbeard, là tên cướp biển người Anh nổi tiếng nhất lịch sử về sự tàn bạo. Ban đầu hắn tham gia vào nhóm hải tặc của Benjamin Hornigold ở đảo New Providence. Sau khi thuyền trưởng Benjamin Hornigold nghỉ hưu, Blackbeard trở thành thuyền trưởng và reo rắc sự ám ảnh kinh hoàng cho những người đi biển, hắn sẵn sàng giết chết các tù nhân trên những con tàu hắn chiếm được.
Tên cướp khét tiếng này trang bị cho con tàu của mình, Sự trả thù của nữ hoàng Anne, 40 khẩu súng cùng 300 quân dưới quyền để thực hiện các vụ cướp. Thậm chí hắn đã từng đánh bại tàu chiến HMS "Scarborough".
Blackbeard bị đánh bại và bắt sống trong một cuộc đụng độ ác liệt với hải quân Anh. Sau đó, hắn đã bị xử chém và bêu đầu để răn đe những tên cướp biển khác.

Trùm cướp biển xứ Wales, Bartholomew Roberts là tên cướp biển thành công và hào hoa nhất thế giới. Trước khi trở thành cướp biển, hắn là một sĩ quan trong hải quân Anh.
Trong sự nghiệp cướp biển của mình, hắn đã đánh cướp được hơn 400 tàu. Roberts tử trận trong một trận đánh khốc liệt với thuyền trưởng Chaloner Ogle của Hải quân Hoàng gia Anh và được chôn cất trên biển.

Trước khi trở thành cướp biển, Henry đã từng phục vụ trong Hải quân Hoàng gia Anh. Sau một cuộc nổi loạn của binh lính trên tàu hắn trở thành thủ lĩnh cướp biển khét tiếng gây ra nỗi kinh hoàng của thuyền bè qua lại khu vực Biển Đỏ. Hắn được coi là một trong những trùm cướp biển giàu nhất lịch sử. Nhưng cuối cùng, Henry cũng giải nghệ, hắn bị nhiều băng nhóm săn lùng nhưng không ai biết kết cục cuộc đời của hắn ra sao.

Nữ cướp biển khét tiếng này sinh ra ở County Cork, Ireland. Người chồng đầu tiên của cô là James Bonny, một tên cướp biển hèn nhát và phản bội.
Không hài lòng với James Bonny, Anne đã chia tay với người chồng này và yêu thuyền trưởng của một tàu cướp biển tên Rackham. Hành xử như một người đàn ông, Anne dần dần giành được quyền lực và trở thành nữ cướp biển khét tiếng ở vùng biển Caribbean.
Sau đó, Anna gặp nữ cướp biển Mary Read, họ hợp tác với nhau và trở thành cặp đôi nữ cướp biển khét tiếng bắt giữ nhiều tàu. Về sau, Anna bị bắt và kết thúc cuộc đời trong nhà tù.

Henry Morgan là tên cướp biển đã thao túng cả vùng biển Caribbean trong một thời gian dài.
Chiến tích lừng lẫy nhất của Henry là tấn công thành phố "bất khả xâm phạm" Panama, chiếm 30 thuyền với 1.200 nam giới vào cuối những năm 1670. Khi chiến tranh Anh - Tây Ban Nha bùng nổ, Morgan được người Anh trọng dụng và sau này trở thành phó thống đốc Jamaica.

Francois l'Olonnais là người Pháp, trước khi trở thành một tên cướp biển khiến nhiều người kinh sợ, hắn từng là một kẻ làm thuê nghèo khổ ở các đồn điền Mỹ.
Hắn nổi tiếng vì sự man rợ đến khó tin. Từng có tin đồn rằng, hắn đã từng ăn trái tim một người lính Tây Ban Nha vì dám tấn công mình.
Về sau, trong lần đi lạc vào một một hoang đảo ở Panama, hắn và đồng bọn đã bị thổ dân bắt giữ và ăn thịt.

Sir Francis Drake làm một thuyền trưởng người Anh, đồng thời ông cũng là một tên cướp biển nổi tiếng, một kẻ buôn nô lệ, một nhà hàng hải.
Năm 1581, ông được nữ hoàng Elizabeth I phong tước hiệp sĩ. Năm 1588, ông trở thành phó tư lệnh của hạm đội Anh chống lại Hạm đội Armada Tây Ban Nha.
Với người Anh, Sir Francis Drake là một anh hùng nhưng với người Tây Ban Nha ông là một tên cướp biển đáng nguyền rủa.
Tháng 1 năm 1596 sau khi tấn công không thành công vào thành phố San Juan, Puerto Rico, ông qua đời vì chứng kiết lỵ khi đang ở ngoài khơi Florida.

Trương Bảo là con trai một ngư dân Trung Quốc. Năm 15 tuổi ông và mẹ bị cướp biển bắt cóc. Sau này, Trương Bảo trở thành trùm cướp biển lừng lẫy nhất lịch sử Trung Quốc.
Trong sự nghiệp của mình, Trương Bảo đã chỉ huy một đội quân hơn 50.000 người và hàng trăm tàu, kiểm soát bờ biển Quảng Đông và tích lũy một kho tàng vĩ đại giấu trong hang động.
Sau khi hạm đội hải tặc giải thể, Trương Bảo được triều đình nhà Thanh phong tước võ quan tam phẩm. Về sau, ông trở về đất liền an hưởng tuổi già và qua đời năm 1822.

Trịnh Nhất Tẩu là một nữ cướp biển khét tiếng ở Trung Hoa trong thời kỳ nhà Thanh. Vốn là một kỹ nữ có nhan sắc, bà bị hải tặc bắt cóc và sau đó cưới tướng cướp Trịnh Nhất vào năm 1801.
Sau đó, bà và chồng mình đã cùng nhau gây dựng lên đế chế hải tặc thao túng toàn bộ vùng biển từ phía Nam Trung Quốc sang đến tận Malaysia.
Sau khi chồng bà mất, Trịnh Nhất Tẩu thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình.
Năm 1810, theo một thỏa ước với triều đình, nữ cướp biển đã chấp nhận giải nghệ, hoàn lương và sống bằng nghề làm chủ sòng bạc và nhà chứa trên đất liền.
Dưới đây là danh sách 10 tên trùm cướp biển nổi tiếng và cuộc đời đầy bí ẩn của họ.
William Kidd (1645-1701)

William Kidd vốn là một người Mỹ gốc Scottland. Ông đã từng là một vệ sĩ chuyên chiến đấu chống lại cướp biển Anh bảo vệ các tàu buôn. Nhưng sau đó, ông quay sang làm cướp biển và trở thành một trùm cướp biển khét tiếng, reo rắc nỗi kinh hoàng cho các tàu buôn Âu - Mỹ.
Chính vì vậy, William Kidd bị chính phủ London truy bắt ráo riết. Sau một phi vụ không thành, ông đã bị bắt và bị hành quyết treo cổ tại Anh vào năm 1701.
Edward Teach (1680-1718)

Edward Teach còn được gọi với cái tên Blackbeard, là tên cướp biển người Anh nổi tiếng nhất lịch sử về sự tàn bạo. Ban đầu hắn tham gia vào nhóm hải tặc của Benjamin Hornigold ở đảo New Providence. Sau khi thuyền trưởng Benjamin Hornigold nghỉ hưu, Blackbeard trở thành thuyền trưởng và reo rắc sự ám ảnh kinh hoàng cho những người đi biển, hắn sẵn sàng giết chết các tù nhân trên những con tàu hắn chiếm được.
Tên cướp khét tiếng này trang bị cho con tàu của mình, Sự trả thù của nữ hoàng Anne, 40 khẩu súng cùng 300 quân dưới quyền để thực hiện các vụ cướp. Thậm chí hắn đã từng đánh bại tàu chiến HMS "Scarborough".
Blackbeard bị đánh bại và bắt sống trong một cuộc đụng độ ác liệt với hải quân Anh. Sau đó, hắn đã bị xử chém và bêu đầu để răn đe những tên cướp biển khác.
Bartholomew Roberts (1682-1722)

Trùm cướp biển xứ Wales, Bartholomew Roberts là tên cướp biển thành công và hào hoa nhất thế giới. Trước khi trở thành cướp biển, hắn là một sĩ quan trong hải quân Anh.
Trong sự nghiệp cướp biển của mình, hắn đã đánh cướp được hơn 400 tàu. Roberts tử trận trong một trận đánh khốc liệt với thuyền trưởng Chaloner Ogle của Hải quân Hoàng gia Anh và được chôn cất trên biển.
Henry Every (1653-?)

Trước khi trở thành cướp biển, Henry đã từng phục vụ trong Hải quân Hoàng gia Anh. Sau một cuộc nổi loạn của binh lính trên tàu hắn trở thành thủ lĩnh cướp biển khét tiếng gây ra nỗi kinh hoàng của thuyền bè qua lại khu vực Biển Đỏ. Hắn được coi là một trong những trùm cướp biển giàu nhất lịch sử. Nhưng cuối cùng, Henry cũng giải nghệ, hắn bị nhiều băng nhóm săn lùng nhưng không ai biết kết cục cuộc đời của hắn ra sao.
Anne Bonny (1700-1782)

Nữ cướp biển khét tiếng này sinh ra ở County Cork, Ireland. Người chồng đầu tiên của cô là James Bonny, một tên cướp biển hèn nhát và phản bội.
Không hài lòng với James Bonny, Anne đã chia tay với người chồng này và yêu thuyền trưởng của một tàu cướp biển tên Rackham. Hành xử như một người đàn ông, Anne dần dần giành được quyền lực và trở thành nữ cướp biển khét tiếng ở vùng biển Caribbean.
Sau đó, Anna gặp nữ cướp biển Mary Read, họ hợp tác với nhau và trở thành cặp đôi nữ cướp biển khét tiếng bắt giữ nhiều tàu. Về sau, Anna bị bắt và kết thúc cuộc đời trong nhà tù.
Sir Henry Morgan (1635-1688)

Henry Morgan là tên cướp biển đã thao túng cả vùng biển Caribbean trong một thời gian dài.
Chiến tích lừng lẫy nhất của Henry là tấn công thành phố "bất khả xâm phạm" Panama, chiếm 30 thuyền với 1.200 nam giới vào cuối những năm 1670. Khi chiến tranh Anh - Tây Ban Nha bùng nổ, Morgan được người Anh trọng dụng và sau này trở thành phó thống đốc Jamaica.
Francois l'Olonnais (1635-1668)

Francois l'Olonnais là người Pháp, trước khi trở thành một tên cướp biển khiến nhiều người kinh sợ, hắn từng là một kẻ làm thuê nghèo khổ ở các đồn điền Mỹ.
Hắn nổi tiếng vì sự man rợ đến khó tin. Từng có tin đồn rằng, hắn đã từng ăn trái tim một người lính Tây Ban Nha vì dám tấn công mình.
Về sau, trong lần đi lạc vào một một hoang đảo ở Panama, hắn và đồng bọn đã bị thổ dân bắt giữ và ăn thịt.
Sir Francis Drake (1540-1595)

Sir Francis Drake làm một thuyền trưởng người Anh, đồng thời ông cũng là một tên cướp biển nổi tiếng, một kẻ buôn nô lệ, một nhà hàng hải.
Năm 1581, ông được nữ hoàng Elizabeth I phong tước hiệp sĩ. Năm 1588, ông trở thành phó tư lệnh của hạm đội Anh chống lại Hạm đội Armada Tây Ban Nha.
Với người Anh, Sir Francis Drake là một anh hùng nhưng với người Tây Ban Nha ông là một tên cướp biển đáng nguyền rủa.
Tháng 1 năm 1596 sau khi tấn công không thành công vào thành phố San Juan, Puerto Rico, ông qua đời vì chứng kiết lỵ khi đang ở ngoài khơi Florida.
Trương Bảo (1786-1822)

Trương Bảo là con trai một ngư dân Trung Quốc. Năm 15 tuổi ông và mẹ bị cướp biển bắt cóc. Sau này, Trương Bảo trở thành trùm cướp biển lừng lẫy nhất lịch sử Trung Quốc.
Trong sự nghiệp của mình, Trương Bảo đã chỉ huy một đội quân hơn 50.000 người và hàng trăm tàu, kiểm soát bờ biển Quảng Đông và tích lũy một kho tàng vĩ đại giấu trong hang động.
Sau khi hạm đội hải tặc giải thể, Trương Bảo được triều đình nhà Thanh phong tước võ quan tam phẩm. Về sau, ông trở về đất liền an hưởng tuổi già và qua đời năm 1822.
Trịnh Nhất Tẩu (1775 - 1844)

Trịnh Nhất Tẩu là một nữ cướp biển khét tiếng ở Trung Hoa trong thời kỳ nhà Thanh. Vốn là một kỹ nữ có nhan sắc, bà bị hải tặc bắt cóc và sau đó cưới tướng cướp Trịnh Nhất vào năm 1801.
Sau đó, bà và chồng mình đã cùng nhau gây dựng lên đế chế hải tặc thao túng toàn bộ vùng biển từ phía Nam Trung Quốc sang đến tận Malaysia.
Sau khi chồng bà mất, Trịnh Nhất Tẩu thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình.
Năm 1810, theo một thỏa ước với triều đình, nữ cướp biển đã chấp nhận giải nghệ, hoàn lương và sống bằng nghề làm chủ sòng bạc và nhà chứa trên đất liền.
Những con tàu cướp biển khét tiếng thế giới
Với cướp biển, tàu không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là công cụ
chiến đấu. Một chiếc tàu lý tưởng phải không quá cồng kềnh, có tốc độ
nhanh và dễ tấn công.
Sloop
Đây là loại tàu nổi tiếng nhất của cướp biển vùng Caribe và Đại Tây
Dương vào cuối những năm 1600. Với rầm neo buồm lớn, nó rất linh hoạt
với nhiều hướng gió khác nhau.
Chiều dài của tàu khoảng từ 10 đến 20 m và tốc độ tối đa có thể đạt 10 hải lý/giờ. Tàu có sức chứa từ 20 tới 70 người cùng 15 khẩu súng thần công. Thân tàu cũng rất dễ di chuyển khi bị sét hoặc các tàu đối thủ tấn công. Hơn nữa, chiều rộng của tàu chỉ 3 m giúp nó có thể nhanh chóng trú ẩn an toàn trong các khe hẹp.
Schooner
Loại tàu có hai cột buồm này cũng được cướp biển vùng Caribe và Đại
Tây Dương rất yêu thích. Tốc độ tàu nhanh, độ di động tốt và được trang
bị tới 12 khẩu súng thần công.
Sức chứa của tàu lên tới 75 - 100 người và chiều rộng chỉ khoảng gần 2 m, khiến cho việc trú ẩn khá thuận lợi dù không thể chở nhiều của cải hay kho báu.
Brigantine
Những cướp biển vùng Địa Trung Hải thường xuyên sử dụng loại tàu hai
cột buồm này do nó có thể chiến đấu trong điều kiện trời ít gió. Những
cánh buồm của tàu có thể cơ động sắp xếp theo nhiều vị trí phù hợp cho
di chuyển và chiến đấu.
Tàu Brigantine dài và có khối lượng lớn hơn các loại tàu khác nên nó được ưu tiên sử dụng trong những trận chiến kéo dài. Tàu có chiều dài khoảng 30 - 35 m, chiều rộng khoảng 8 - 10 m và chiều cao từ 3 đến 6 m.
Galley
Đây là phương tiện ưa thích của những cướp biển Barbary vùng Địa
Trung Hải những năm 1500. Sức mạnh của con tàu đến từ 30 mái chèo được
vận hành bởi các thủy thủ. Các cánh buồm chỉ tham gia lực đẩy phụ cho
con tàu. Trên tàu chỉ có một số súng thần công phục vụ cho chiến đấu
cùng với hơn 100 cướp biển.
Thuyền trưởng Blackbeard và kho báu khổng lồ
Thuyền trưởng Edward Teach hay còn gọi là Blackbeard đã đánh chiếm
một con tàu nô lệ của Pháp có tên gọi Concorde năm 1717 và lập nên đội
cướp biển của riêng mình. Đây là đội hùng mạnh nhất trong lịch sử cướp
biển nước Mỹ.
Vào tháng 5/1718, Blackbeard tấn công cảng Charleston và chiếm 5 tàu chở hàng. Sau đó, ông bất ngờ giết bớt gần một nửa thuỷ thủ đoàn để chiếm giữ của cải tại Topsail. Do con tàu hỏng nặng, cuối cùng Blackbeard đành bỏ lại Concorde và tìm một con tàu khác.
Tới năm 1997, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy Concorde ngoài khơi bờ biển Beaufort, bắc California. Xác con tàu và toàn bộ kho báu khổng lồ của Blackbeard đều nằm dưới đáy biển sâu. Kho báu này sau đó được trao tặng cho bang Bắc Carolina và được mệnh danh là kho báu lớn nhất thế kỷ 20.
Thuyền trưởng Kidd và con tàu Adventure Galley
Thuyền trưởng William Kidd, người vốn là một thủy thủ Scotland, đã
được đô đốc New York Robert Livingston giao quyền chỉ huy con tàu
Adventure Galley với nhiệm vụ chiến đấu chống lại cướp biển Anh dọc vùng
biển Đông Ấn đồng thời thu thập các tài sản và kho báu của cướp biển
cho chính phủ Mỹ.
Tàu Adventure Galley nặng 287 tấn, chứa 34 súng thần công, 23 mái chèo, và là con tàu tối tân có thể chiến đấu trong cả điều kiện trời lặng gió. Con tàu kiêu hãnh giương buồm ra khơi với hy vọng sẽ bất bại, tuy nhiên Kidd nhận ra rằng việc đối đầu với những tên cướp biển khó hơn ông tưởng. William Kidd quyết định trả lại toàn bộ các khoản đầu tư của chính phủ Mỹ và quay lại tấn công các tàu đồng minh.
Tới năm 1698, Kidd rời bỏ con tàu Galley do hư hỏng nặng tại Madagasca. Ông vẫn cầu xin Livingston tha thứ. Tuy nhiên, khi trở lại London, Kidd bị đưa ra xét xử và bị khép tội cướp biển. Ông bị hành quyết vào năm 1701.
Bartholomew Roberts và đội tàu Royal Fortune
Thuyền trưởng nổi tiếng cuối cùng được nhắc tới chính là Black Bart
cùng đội tàu Royal Fortune. Chiến lợi phẩm đầu tiên được Bart đánh chiếm
là một con tàu brigantine của Pháp vào năm 1720. Ông trang bị 26 súng
thần công cho con tàu này và mang nó tới Caribe.
Không lâu sau, ông tiếp tục đánh chiếm một tàu chiến Anh cho chính quyền Martinique và đổi tên nó thành tàu Royal Fortune thứ hai, chọn nó làm tàu tiên phong cho đội tàu của mình. Tới Tây Phi, Bart thừa thắng đánh tàu Onslow và tiếp tục bổ sung vào đội Royal Fortune thành viên thứ 3.
Tổng cộng hơn 400 con tàu ngoài khơi Tây Phi, Canada và Caribe đã bị Bart đánh chiếm từ năm 1719 đến năm 1722. Mãi tới năm 1722, con tàu cuối cùng của Bart mới bị tàu chiến HMS Swallow của Anh đánh đắm. Black Bart được mệnh danh là cướp biển hào hoa và thành công nhất trong kỷ nguyên vàng của “nghề” cướp biển.
![]() |
Chiều dài của tàu khoảng từ 10 đến 20 m và tốc độ tối đa có thể đạt 10 hải lý/giờ. Tàu có sức chứa từ 20 tới 70 người cùng 15 khẩu súng thần công. Thân tàu cũng rất dễ di chuyển khi bị sét hoặc các tàu đối thủ tấn công. Hơn nữa, chiều rộng của tàu chỉ 3 m giúp nó có thể nhanh chóng trú ẩn an toàn trong các khe hẹp.
Schooner
![]() |
Sức chứa của tàu lên tới 75 - 100 người và chiều rộng chỉ khoảng gần 2 m, khiến cho việc trú ẩn khá thuận lợi dù không thể chở nhiều của cải hay kho báu.
Brigantine
![]() |
Tàu Brigantine dài và có khối lượng lớn hơn các loại tàu khác nên nó được ưu tiên sử dụng trong những trận chiến kéo dài. Tàu có chiều dài khoảng 30 - 35 m, chiều rộng khoảng 8 - 10 m và chiều cao từ 3 đến 6 m.
Galley
![]() |
Thuyền trưởng Blackbeard và kho báu khổng lồ
![]() |
Vào tháng 5/1718, Blackbeard tấn công cảng Charleston và chiếm 5 tàu chở hàng. Sau đó, ông bất ngờ giết bớt gần một nửa thuỷ thủ đoàn để chiếm giữ của cải tại Topsail. Do con tàu hỏng nặng, cuối cùng Blackbeard đành bỏ lại Concorde và tìm một con tàu khác.
Tới năm 1997, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy Concorde ngoài khơi bờ biển Beaufort, bắc California. Xác con tàu và toàn bộ kho báu khổng lồ của Blackbeard đều nằm dưới đáy biển sâu. Kho báu này sau đó được trao tặng cho bang Bắc Carolina và được mệnh danh là kho báu lớn nhất thế kỷ 20.
Thuyền trưởng Kidd và con tàu Adventure Galley
![]() |
Tàu Adventure Galley nặng 287 tấn, chứa 34 súng thần công, 23 mái chèo, và là con tàu tối tân có thể chiến đấu trong cả điều kiện trời lặng gió. Con tàu kiêu hãnh giương buồm ra khơi với hy vọng sẽ bất bại, tuy nhiên Kidd nhận ra rằng việc đối đầu với những tên cướp biển khó hơn ông tưởng. William Kidd quyết định trả lại toàn bộ các khoản đầu tư của chính phủ Mỹ và quay lại tấn công các tàu đồng minh.
Tới năm 1698, Kidd rời bỏ con tàu Galley do hư hỏng nặng tại Madagasca. Ông vẫn cầu xin Livingston tha thứ. Tuy nhiên, khi trở lại London, Kidd bị đưa ra xét xử và bị khép tội cướp biển. Ông bị hành quyết vào năm 1701.
Bartholomew Roberts và đội tàu Royal Fortune
![]() |
Không lâu sau, ông tiếp tục đánh chiếm một tàu chiến Anh cho chính quyền Martinique và đổi tên nó thành tàu Royal Fortune thứ hai, chọn nó làm tàu tiên phong cho đội tàu của mình. Tới Tây Phi, Bart thừa thắng đánh tàu Onslow và tiếp tục bổ sung vào đội Royal Fortune thành viên thứ 3.
Tổng cộng hơn 400 con tàu ngoài khơi Tây Phi, Canada và Caribe đã bị Bart đánh chiếm từ năm 1719 đến năm 1722. Mãi tới năm 1722, con tàu cuối cùng của Bart mới bị tàu chiến HMS Swallow của Anh đánh đắm. Black Bart được mệnh danh là cướp biển hào hoa và thành công nhất trong kỷ nguyên vàng của “nghề” cướp biển.
Thuyền trưởng Edward Teach hay còn gọi
là Blackbeard đã đánh chiếm một con tàu nô lệ của Pháp có tên gọi
Concorde năm 1717 và lập nên đội cướp biển của riêng mình. Đội cướp biển
của ông đã trở thành đội hùng mạnh nhất trong lịch sử cướp biển nước
Mỹ.
Vào tháng 5-1718, Blackbeard tấn công cảng Charleston và chiếm được 5 tàu chở hàng. Sau đó, ông bất ngờ giết bớt gần một nửa thuỷ thủ đoàn của mình để chiếm giữ của cải tại Topsail. Do con tàu bị hỏng nặng, cuối cùng Blackbeard đành bỏ lại tàu Concorde và tìm một con tàu khác.
Tới năm 1997, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ngoài khơi bờ biển Beaufort, Bắc California xác con tàu và toàn bộ kho báu khổng lồ của Blackbeard dưới đáy biển sâu. Kho báu này sau đó được trao tặng cho bang North Carolina và được mệnh danh là kho báu lớn nhất thế kỷ 20.
Vào tháng 5-1718, Blackbeard tấn công cảng Charleston và chiếm được 5 tàu chở hàng. Sau đó, ông bất ngờ giết bớt gần một nửa thuỷ thủ đoàn của mình để chiếm giữ của cải tại Topsail. Do con tàu bị hỏng nặng, cuối cùng Blackbeard đành bỏ lại tàu Concorde và tìm một con tàu khác.
Tới năm 1997, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ngoài khơi bờ biển Beaufort, Bắc California xác con tàu và toàn bộ kho báu khổng lồ của Blackbeard dưới đáy biển sâu. Kho báu này sau đó được trao tặng cho bang North Carolina và được mệnh danh là kho báu lớn nhất thế kỷ 20.
Thuyền trưởng Edward Teach hay còn gọi
là Blackbeard đã đánh chiếm một con tàu nô lệ của Pháp có tên gọi
Concorde năm 1717 và lập nên đội cướp biển của riêng mình. Đội cướp biển
của ông đã trở thành đội hùng mạnh nhất trong lịch sử cướp biển nước
Mỹ.
Vào tháng 5-1718, Blackbeard tấn công cảng Charleston và chiếm được 5 tàu chở hàng. Sau đó, ông bất ngờ giết bớt gần một nửa thuỷ thủ đoàn của mình để chiếm giữ của cải tại Topsail. Do con tàu bị hỏng nặng, cuối cùng Blackbeard đành bỏ lại tàu Concorde và tìm một con tàu khác.
Tới năm 1997, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ngoài khơi bờ biển Beaufort, Bắc California xác con tàu và toàn bộ kho báu khổng lồ của Blackbeard dưới đáy biển sâu. Kho báu này sau đó được trao tặng cho bang North Carolina và được mệnh danh là kho báu lớn nhất thế kỷ 20.
Vào tháng 5-1718, Blackbeard tấn công cảng Charleston và chiếm được 5 tàu chở hàng. Sau đó, ông bất ngờ giết bớt gần một nửa thuỷ thủ đoàn của mình để chiếm giữ của cải tại Topsail. Do con tàu bị hỏng nặng, cuối cùng Blackbeard đành bỏ lại tàu Concorde và tìm một con tàu khác.
Tới năm 1997, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ngoài khơi bờ biển Beaufort, Bắc California xác con tàu và toàn bộ kho báu khổng lồ của Blackbeard dưới đáy biển sâu. Kho báu này sau đó được trao tặng cho bang North Carolina và được mệnh danh là kho báu lớn nhất thế kỷ 20.
Theo Cao Anh Lâm/An ninh thủ đô
8 điều bất ngờ về cướp biển (kỳ 1)
Dù là những kẻ sống ngoài vòng pháp luật, cướp biển rất tôn sùng dân
chủ. Chúng cũng là những kẻ tiên phong trong việc áp dụng chế độ bảo
hiểm lao động.
Công việc hấp dẫn với một số người
Những người sống trên biển luôn đối mặt với nguy cơ thương vong cao. Thực tế này càng thể hiện rõ rệt hơn trong thời đại mà các tàu di chuyển nhờ buồm và không có điện.Vậy tại sao nhiều kẻ vẫn muốn trở thành hải tặc?
Nhiều người nghĩ cướp biển là những tên tội phạm trên các tàu biển
ngay từ khi chúng bước vào đời. Song trên thực tế, vô số cướp biển từng
hành nghề lương thiện trước khi tay chúng nhúng chàm. Chúng gia nhập thế
giới hải tặc vì đó là một công việc béo bở. Sau mỗi phi vụ, thuyền
trưởng sẽ chia đều chiến lợi phẩm cho mỗi thành viên. Ngoài ra điều kiện
sống của cướp biển cũng khá hơn nhiều so với thủy thủ trên tàu buôn và
tàu hải quân.
Những thủy thủ trên tàu buôn có cơ hội trở thành cướp biển khi hải tặc cướp tàu của họ. Theo truyền thống, cướp biển luôn đề nghị những người mà chúng bắt tham gia lực lượng của chúng.
Hành xử theo quy tắc dân chủ
Trái ngược với suy nghĩ của nhiều người, dù chống lại xã hội, cướp biển lại rất tôn sùng dân chủ. Thậm chí chúng ta có thể gọi cướp biển là những kẻ hâm mộ dân chủ một cách cuồng nhiệt. Để duy trì một cuộc sống ổn định trên biển trong nhiều tháng, hải tặc nhận ra rằng dân chủ là cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Thuyền trưởng là người mà phần lớn hải tặc chọn trong các cuộc bầu cử. Việc bầu thuyền trưởng đảm bảo rằng kẻ chỉ huy tàu nhận được sự ủng hộ của phần lớn thành viên trên tàu, nhờ đó mà nguy cơ nổi loạn giảm. Dù có quyền lực tuyệt đối trong một số tình huống – như xung đột hay phân chia tài sản – thuyền trưởng lại chỉ có quyền hạn chế đối với con tàu.
Chế độ bồi thường và bảo hiểm
Cướp biển có chế độ bồi thường cho mọi thành viên trong băng nhóm. Mức độ bồi thường phụ thuộc vào chấn thương của nạn nhân. Theo quy định, mất một chân là thương tổn nặng hơn so với cụt hai ngón tay, còn mất cánh tay thuận sẽ là tổn thương nặng hơn so với mất cánh tay kia. Nếu bạn am hiểu về lịch sử của ngành bảo hiểm, bạn sẽ biết rằng hải tặc là những kẻ đầu tiên áp dụng chế độ bảo hiểm lao động. Chúng cũng cung cấp các “phụ kiện” cho những thành viên tàn tật – như băng che mắt chột, chân gỗ, móc sắt (thay thế bàn tay cụt). Băng đảng luôn khuyến khích những thành viên tàn tật tiếp tục cống hiến. Hải tặc sống theo chế độ tập thể nên việc mất chân, tay hay tàn tật không làm giảm địa vị, vai trò của mỗi thành viên trong tổ chức.
Nhiều phụ nữ hành nghề cướp biển
Nếu lọt vào một tàu của hải tặc, bạn có thể gặp khá nhiều phụ nữ trên đó. Để gia nhập thế giới hải tặc, việc đầu tiên mà một phụ nữ cần thực hiện là mặc như nam giới. Một trong những nữ cướp biển nổi tiếng nhất trong lịch sử là Mary Lacy, một công dân Anh. Bà rời khỏi nhà ở thành phố Portsmouth, Anh khi mới 19 tuổi và cải trang thành một nam giới với cái tên giả William Chandler để trở thành hải tặc. Thậm chí Mary còn có mối quan hệ luyến ái với một phụ nữ trên tàu cướp biển. Về sau Mary từ bỏ cuộc sống của hải tặc do thể lực của bà không cho phép.
Còn nữa
Những người sống trên biển luôn đối mặt với nguy cơ thương vong cao. Thực tế này càng thể hiện rõ rệt hơn trong thời đại mà các tàu di chuyển nhờ buồm và không có điện.Vậy tại sao nhiều kẻ vẫn muốn trở thành hải tặc?
![]() |
| Ảnh minh họa: IMDB |
Những thủy thủ trên tàu buôn có cơ hội trở thành cướp biển khi hải tặc cướp tàu của họ. Theo truyền thống, cướp biển luôn đề nghị những người mà chúng bắt tham gia lực lượng của chúng.
Hành xử theo quy tắc dân chủ
Trái ngược với suy nghĩ của nhiều người, dù chống lại xã hội, cướp biển lại rất tôn sùng dân chủ. Thậm chí chúng ta có thể gọi cướp biển là những kẻ hâm mộ dân chủ một cách cuồng nhiệt. Để duy trì một cuộc sống ổn định trên biển trong nhiều tháng, hải tặc nhận ra rằng dân chủ là cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Thuyền trưởng là người mà phần lớn hải tặc chọn trong các cuộc bầu cử. Việc bầu thuyền trưởng đảm bảo rằng kẻ chỉ huy tàu nhận được sự ủng hộ của phần lớn thành viên trên tàu, nhờ đó mà nguy cơ nổi loạn giảm. Dù có quyền lực tuyệt đối trong một số tình huống – như xung đột hay phân chia tài sản – thuyền trưởng lại chỉ có quyền hạn chế đối với con tàu.
![]() |
| Các cuộc bầu thủ lĩnh của hải tặc luôn diễn ra công khai và dân chủ. Ảnh minh họa: Listverse |
Cướp biển có chế độ bồi thường cho mọi thành viên trong băng nhóm. Mức độ bồi thường phụ thuộc vào chấn thương của nạn nhân. Theo quy định, mất một chân là thương tổn nặng hơn so với cụt hai ngón tay, còn mất cánh tay thuận sẽ là tổn thương nặng hơn so với mất cánh tay kia. Nếu bạn am hiểu về lịch sử của ngành bảo hiểm, bạn sẽ biết rằng hải tặc là những kẻ đầu tiên áp dụng chế độ bảo hiểm lao động. Chúng cũng cung cấp các “phụ kiện” cho những thành viên tàn tật – như băng che mắt chột, chân gỗ, móc sắt (thay thế bàn tay cụt). Băng đảng luôn khuyến khích những thành viên tàn tật tiếp tục cống hiến. Hải tặc sống theo chế độ tập thể nên việc mất chân, tay hay tàn tật không làm giảm địa vị, vai trò của mỗi thành viên trong tổ chức.
Nhiều phụ nữ hành nghề cướp biển
Nếu lọt vào một tàu của hải tặc, bạn có thể gặp khá nhiều phụ nữ trên đó. Để gia nhập thế giới hải tặc, việc đầu tiên mà một phụ nữ cần thực hiện là mặc như nam giới. Một trong những nữ cướp biển nổi tiếng nhất trong lịch sử là Mary Lacy, một công dân Anh. Bà rời khỏi nhà ở thành phố Portsmouth, Anh khi mới 19 tuổi và cải trang thành một nam giới với cái tên giả William Chandler để trở thành hải tặc. Thậm chí Mary còn có mối quan hệ luyến ái với một phụ nữ trên tàu cướp biển. Về sau Mary từ bỏ cuộc sống của hải tặc do thể lực của bà không cho phép.
Còn nữa
8 điều bất ngờ về cướp biển (kỳ 2)
Hải tặc cổ vũ hôn nhân đồng giới nên rất nhiều đàn ông trên tàu cướp
biển sống như vợ chồng. Chúng xây dựng các quy tắc ứng xử để duy trì
trật tự trên tàu.
Nhiều người lương thiện tự nguyện trở thành cướp biển
Người tình nguyện chiếm tỷ lệ lớn trong các toán hải tặc. Đây là nghề nguy hiểm, khó lường nên rất nhiều cướp biển chết hoặc đào tẩu. Vì thế các nhóm hải tặc luôn cần người mới. Giống như mọi nghề khác, để tuyển người mới, cướp biển phải “nhử” họ bằng những triển vọng hấp dẫn. Chúng yêu cầu thuộc hạ ăn mặc thật sang trọng để người khác cảm thấy cuộc sống của chúng rất sung túc. Nếu không có đủ người tình nguyện, hải tặc sẽ dùng vũ lực để bắt người lương thiện gia nhập nhóm của chúng.
Số lượng người muốn làm cướp biển tăng vọt sau năm 1713, khi nhiều thủy thủ săn tàu buôn trở thành hải tặc. Khi các nước châu Âu xung đột trên biển, những thủy thủ săn tàu buôn kiếm khá nhiều tiền. Thậm chí vào năm 1708, chính phủ Anh còn cho phép họ giữ toàn bộ những thứ mà họ lấy từ các tàu buôn của các nước thù địch. Song chỉ 5 năm sau, Hiệp ước Utrecht đã đem lại hòa bình trên đại dương và vài nghìn thủy thủ săn tàu buôn mất việc. Thay vì trở về đất liền, phần lớn gia nhập các tàu cướp biển – nơi họ có thể tiếp tục sử dụng kỹ năng cũ để sống.
Đời hải tặc gắn với rượu và cờ bạc
Mọi người đều biết hải tặc thường xuyên ăn nhậu. Uống rượu trở thành một phần quan trọng đối với văn hóa của cướp biển, còn nghiện rượu đã trở thành một tiêu chuẩn cơ bản đối với chúng. Đối với nhiều tên cướp biển, viễn cảnh uống rượu không giới hạn hấp dẫn hơn nhiều so với của cải mà chúng sẽ nhận được.
Rượu đóng vai trò như sợi dây kết nối những tên hải tặc. Vì thế, nếu một kẻ không uống rượu, những tên khác sẽ nhìn gã với ánh mắt nghi ngờ. Hải tặc coi rượu là thứ giúp chúng trị nhiều bệnh – từ ngộ độc thực phẩm tới “bệnh” tự ti. Rượu rum là một loại hàng hóa rất quan trọng đối với hải tặc vùng Caribbe. Mỗi khi tàu cướp biển tấn công tàu buôn, chúng luôn cướp hết rượu rum.
Đánh bạc là một hình thức tiêu khiển phổ biến khác của hải tặc. Mặc dù một số thuyền trưởng cấm đánh bạc khi tàu lênh đênh trên biển, song cướp biển luôn sát phạt nhau mỗi khi lên bờ. Rượu và cờ bạc đẩy nhiều hải tặc vào hoàn cảnh khốn cùng.
Bộ quy tắc ứng xử của hải tặc
Bộ phim Pirates of the Caribbean bắt đầu với việc một trong những nhân vật chính viện dẫn quyền thương lượng. Đó là một thuật ngữ thực tế. Dù cướp biển không dùng từ đó, song quả thực chúng có quy tắc hành xử. Đạo đức của hải tặc ra đời từ văn hóa tập thể và đa dạng, chịu ảnh hưởng của cuộc sống theo chủ nghĩa bình quân trên biển. Những quy tắc hành xử cơ bản bao gồm: phân chia đều của cải, ra quyết định theo hình thức biểu quyết dân chủ, trung thực với đồng bọn, trung thành với thuyền trưởng.
Trả thù cũng là một quy tắc hành xử của hải tặc. Theo quy tắc này, cướp biển phải báo thù những người động chạm tới chúng bằng bạo lực.
Cướp biển chào đón hôn nhân đồng giới
Hải tặc không tuân theo những chuẩn mực của xã hội nên chúng sống rất tự do. Chúng chào đón hội chứng đồng tính một cách cởi mở và thậm chí còn lập nên hình thức hôn nhân đồng giới của riêng chúng. Ví dụ, matelotage là thuật ngữ mà hải tặc dành cho mối quan hệ hôn nhân giữa hai cướp biển nam. Những “đôi uyên ương” như thế sẽ sở hữu chung tài sản. Nếu một kẻ chết, bạn đời đồng giới của gã sẽ thừa kế tài sản.
Đôi khi những tên cướp biển còn quan hệ tình dục với cả gái lẫn trai. Khi quân Pháp đưa hàng trăm gái điếm vào Tortuga trong những năm giữa thế kỷ 17, họ muốn dẹp tình trạng hôn nhân đồng giới của những tên cướp biển nam tại đây. Nhưng kết quả không như họ mong đợi. Hải tặc chào đón gái điếm, nhưng chúng vẫn quan hệ với những tên bạn đời cùng giới.
Người tình nguyện chiếm tỷ lệ lớn trong các toán hải tặc. Đây là nghề nguy hiểm, khó lường nên rất nhiều cướp biển chết hoặc đào tẩu. Vì thế các nhóm hải tặc luôn cần người mới. Giống như mọi nghề khác, để tuyển người mới, cướp biển phải “nhử” họ bằng những triển vọng hấp dẫn. Chúng yêu cầu thuộc hạ ăn mặc thật sang trọng để người khác cảm thấy cuộc sống của chúng rất sung túc. Nếu không có đủ người tình nguyện, hải tặc sẽ dùng vũ lực để bắt người lương thiện gia nhập nhóm của chúng.
Số lượng người muốn làm cướp biển tăng vọt sau năm 1713, khi nhiều thủy thủ săn tàu buôn trở thành hải tặc. Khi các nước châu Âu xung đột trên biển, những thủy thủ săn tàu buôn kiếm khá nhiều tiền. Thậm chí vào năm 1708, chính phủ Anh còn cho phép họ giữ toàn bộ những thứ mà họ lấy từ các tàu buôn của các nước thù địch. Song chỉ 5 năm sau, Hiệp ước Utrecht đã đem lại hòa bình trên đại dương và vài nghìn thủy thủ săn tàu buôn mất việc. Thay vì trở về đất liền, phần lớn gia nhập các tàu cướp biển – nơi họ có thể tiếp tục sử dụng kỹ năng cũ để sống.
Đời hải tặc gắn với rượu và cờ bạc
Mọi người đều biết hải tặc thường xuyên ăn nhậu. Uống rượu trở thành một phần quan trọng đối với văn hóa của cướp biển, còn nghiện rượu đã trở thành một tiêu chuẩn cơ bản đối với chúng. Đối với nhiều tên cướp biển, viễn cảnh uống rượu không giới hạn hấp dẫn hơn nhiều so với của cải mà chúng sẽ nhận được.
Rượu đóng vai trò như sợi dây kết nối những tên hải tặc. Vì thế, nếu một kẻ không uống rượu, những tên khác sẽ nhìn gã với ánh mắt nghi ngờ. Hải tặc coi rượu là thứ giúp chúng trị nhiều bệnh – từ ngộ độc thực phẩm tới “bệnh” tự ti. Rượu rum là một loại hàng hóa rất quan trọng đối với hải tặc vùng Caribbe. Mỗi khi tàu cướp biển tấn công tàu buôn, chúng luôn cướp hết rượu rum.
Đánh bạc là một hình thức tiêu khiển phổ biến khác của hải tặc. Mặc dù một số thuyền trưởng cấm đánh bạc khi tàu lênh đênh trên biển, song cướp biển luôn sát phạt nhau mỗi khi lên bờ. Rượu và cờ bạc đẩy nhiều hải tặc vào hoàn cảnh khốn cùng.
![]() |
| Một toán cướp biển Philippines hoạt động ở Biển Đông. Ảnh: blogspot.com |
Bộ phim Pirates of the Caribbean bắt đầu với việc một trong những nhân vật chính viện dẫn quyền thương lượng. Đó là một thuật ngữ thực tế. Dù cướp biển không dùng từ đó, song quả thực chúng có quy tắc hành xử. Đạo đức của hải tặc ra đời từ văn hóa tập thể và đa dạng, chịu ảnh hưởng của cuộc sống theo chủ nghĩa bình quân trên biển. Những quy tắc hành xử cơ bản bao gồm: phân chia đều của cải, ra quyết định theo hình thức biểu quyết dân chủ, trung thực với đồng bọn, trung thành với thuyền trưởng.
Trả thù cũng là một quy tắc hành xử của hải tặc. Theo quy tắc này, cướp biển phải báo thù những người động chạm tới chúng bằng bạo lực.
Cướp biển chào đón hôn nhân đồng giới
Hải tặc không tuân theo những chuẩn mực của xã hội nên chúng sống rất tự do. Chúng chào đón hội chứng đồng tính một cách cởi mở và thậm chí còn lập nên hình thức hôn nhân đồng giới của riêng chúng. Ví dụ, matelotage là thuật ngữ mà hải tặc dành cho mối quan hệ hôn nhân giữa hai cướp biển nam. Những “đôi uyên ương” như thế sẽ sở hữu chung tài sản. Nếu một kẻ chết, bạn đời đồng giới của gã sẽ thừa kế tài sản.
Đôi khi những tên cướp biển còn quan hệ tình dục với cả gái lẫn trai. Khi quân Pháp đưa hàng trăm gái điếm vào Tortuga trong những năm giữa thế kỷ 17, họ muốn dẹp tình trạng hôn nhân đồng giới của những tên cướp biển nam tại đây. Nhưng kết quả không như họ mong đợi. Hải tặc chào đón gái điếm, nhưng chúng vẫn quan hệ với những tên bạn đời cùng giới.
5 tàu ma kỳ lạ nhất hành tinh
Tất cả thủy thủ trên tàu MV Joyita đã mất tích giống như nước bay hơi,
còn tàu Baychimo lang thang trên biển suốt 38 năm trước khi biến mất
vĩnh viễn.
1. S.S. Valencia
Với lớp vỏ sắt và chạy bằng hơi nước, S.S. Valencia được đóng vào năm 1882 tại xưởng của hãng đóng tàu William Cramp & Sons, Mỹ. Chiếc tàu khổng lồ có khối lượng gần 1.600 tấn và chiều dài 77 m mất tích vào ngày 22/1/1906 khi nó đang di chuyển gần đảo Vancouver, tỉnh British Columbia, Canada.
Trong hành trình cuối cùng từ thành phố San Francisco đến thành phố Seattle, thời tiết khắc nghiệt cùng màn đêm khiến thủy thủ đoàn không thể xác định phương hướng. Họ buộc phải lui vào mảng hút chìm Juan de Fuca (trải dài từ miền nam British Columbia đến California) để tránh bão. Nhưng tàu đã rơi vào vùng biển phía tây nam đảo Vancouver, đâm trúng đá ngầm và chìm.
Sau khi tàu chìm, các thủy thủ cố gắng cứu hành khách trên tàu bằng 6 xuồng cứu hộ. Nhưng chỉ 2 trong số 6 chiếc xuồng cứu sinh thoát khỏi dòng nước xoáy. Và cũng chỉ 37 người trên tổng số 168 thuyền viên và hành khách thoát nạn. Số người còn lại đã chìm xuống biển. Tới nay, vụ đắm tàu S.S. Valencia vẫn là một trong những tai nạn đường biển kinh hoàng nhất trên Thái Bình Dương.
Tàu S.S. City of Topeka chở những người sống sót trên tàu S.S.Valencia về thành phố Seattle. Một số người khẳng định họ thấy hình dáng tàu S.S.Valencia hiện ra phía trên ống khói của tàu S.S.City of Topeka. Vào năm 1910, báo Seattle Time dẫn lời một số thủy thủ cho biết họ thấy một tàu ma gần Mũi Pachena.
2. MV Joyita
Hãng đóng tàu Wilmington Boat Works hạ thủy du thuyền MV Joyita vào năm 1931. Sau vụ tấn công vào Trân Châu cảng tháng 12/1941, hải quân Mỹ mua lại du thuyền tư nhân này để làm nhiệm vụ tuần tra các đảo lớn tại Hawaii cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc.
Vào giữa năm 1955, trong một chuyến từ Samoa tới quần đảo Tokelau, MV Joyita đã biến mất. 5 tuần sau đó, người ta tìm thấy xác con tàu cách đất liền gần 1.000 km. Toàn bộ 25 thủy thủ trên tàu cũng biến mất.
Sau khi xem xét xác con tàu, các chuyên gia phát hiện thân tàu được đóng một cách đặc biệt để nó không thể chìm. Họ chỉ tìm thấy một vết nứt ở dây cáp. Một lớp sơn phủ lên vết nứt ấy. Một túi thiết bị y tế, với nhiều băng gạc dính máu nằm trên boong tay. Nhóm chuyên gia không thấy xuồng cứu hộ nào và họ cho rằng các thủy thủ đã lấy chúng. Nhiều người cho rằng, ngay cả những thủy thủ ít non nớt nhất cũng hiểu lênh đênh trên xuồng cứu hộ nguy hiểm hơn nhiều so với việc ở trên tàu chờ người cứu. Do đó, vụ mất tích kỳ lạ của thuyền viên tàu MV Joyita vẫn là một ẩn số tới tận ngày nay.
3. Baychimo
Ra đời vào năm 1914 tại Thụy Sĩ, Baychimo là con tàu buôn khổng lồ với lớp vỏ thép và hoạt động bằng hơi nước. Nó trở nên nổi tiếng sau 9 hành trình vượt biển thành công ở vùng biển Tây Bắc nguy hiểm của Canada. Nhưng sau khi mắc kẹt trong tảng băng lớn vào năm 1931, Baychimo lại trở thành tàu ma nổi tiếng nhất dọc bờ biển Alaska băng giá.
Tháng 10/1931, Baychimo kết thúc chuyến chở hàng và trên đường trở về bến cảng, nó mắc kẹt hai lần giữa hai tảng băng lớn gần thành phố Barrow, Alaska. Trực thăng cứu hộ đưa một nửa thuyền viên trên tàu tới nơi an toàn. Song khi quay lại, những nhân viên cứu hộ trên thực thăng phát hiện con tàu vẫn còn nguyên vẹn, nhưng một nửa số thuyền viên còn lại đã biến mất mà không để lại bất kỳ dấu vết nào.
Sau vụ mất tích lạ thường đó, nhiều nhà thám hiểm và khách du lịch thường xuyên thấy Baychimo trôi dạt ở nhiều nơi khác nhau ngoài biển. Năm 1969, Baychimo biến mất sau khi lang thang trong 38 năm. Nhiều người cho rằng các cơn bão, sông băng cùng những hiện tượng siêu nhiên bí ẩn tại vùng Tam giác quỷ Bermuda là thủ phạm gây nên vụ mất tích của thủy thủ đoàn và con tàu Baychimo. Ngày nay người ta vẫn chưa tìm ra lời giải thích thỏa đáng về vụ mất tích ấy.
4. Mary Celeste
Ngày 5/11/1872, Mary Celeste, con tàu thương gia hai cột buồm của Mỹ mất tích trong hành trình vượt Đại Tây Dương. Một tháng sau, ngày 5/12/1872, người ta thấy Mary Celeste đang lênh đênh vô định trên vùng eo biển Gibraltar (Anh) trong tình trạng nguyên vẹn. Toàn bộ các kiện hàng, vật dụng cá nhân vẫn ở nguyên vị trí, trừ những hành khách. Họ biến mất như thể họ chưa từng tồn tại.
Trong quá trình điều tra số phận của những người trên tàu, các chuyên
gia phát hiện ra một điều thú vị về nguồn gốc của Mary Celeste. Tên cũ
của nó là Amazon và nó đã qua tay nhiều chủ. Để tránh những chuỗi tai
nạn mà Amazon mang đến, vào năm 1869, một thương gia người Mỹ đã đổi tên
nó thành Mary Celeste. Ngày nay, người ta đưa rất nhiều giả thuyết nhằm
giải thích số phận bí hiểm và những nạn nhân xấu số trên con tàu ma
Mary Celeste. Rất nhiều tác phẩm điện ảnh, âm nhạc, văn chương đã ra đời
từ vụ tai nạn nổi tiếng ấy.
5. Carroll A. Deering
Là một trong những con tàu mất tích bí ẩn nhất tại vùng Tam giác quỷ Bermuda, Carroll A. Deering xuất hiện trước công chúng lần cuối cùng vào ngày 28/1/1921. Câu chuyện bắt đầu khi nó rời thành phố cảng Rio de Janeiro, Brazil để trở về bến cảng Norfolk, bang Virginia, Mỹ. Thuyền trưởng của tàu, William H. Merritt, đột nhiên ốm nên ông lên bờ để chữa trị cùng con trai, người đảm nhiệm vị trí thuyền phó. Họ giao trách nhiệm thuyền trưởng và thuyền phó cho W.B. Wormell và C.B. McLellan để thủy thủ đoàn tiếp tục chuyến hành trình. Tuy nhiên viên thuyền trưởng mới đã gây mâu thuẫn với thủy thủ đoàn do say rượu.
Carroll A. Deering không về cảng Norfolk theo kế hoạch mà lênh đênh trong tình trạng không người lái ở mũi Cape Hatteras, phía bắc bang Carolina, Mỹ. Khi xem xét, người ta phát hiện không thuyền viên nào hiện diện trên tàu. Mọi đồ dùng cá nhân và hai xuồng cứu sinh cũng biến mất. Họ cho rằng, có thể cướp biển hoặc bọn buôn lâu đã tấn công tàu. Một giả thuyết khác là tàu gặp bão hoặc các thủy thủ đã nổi loạn rồi rời khỏi tàu. Cho đến nay, người ta vẫn chưa thể giải thích thỏa đáng về sự mất tích của Carroll A. Deering. Từ đó tới nay nó trở thành một trong những bí mật hàng hải lớn nhất trong lịch sử.
Với lớp vỏ sắt và chạy bằng hơi nước, S.S. Valencia được đóng vào năm 1882 tại xưởng của hãng đóng tàu William Cramp & Sons, Mỹ. Chiếc tàu khổng lồ có khối lượng gần 1.600 tấn và chiều dài 77 m mất tích vào ngày 22/1/1906 khi nó đang di chuyển gần đảo Vancouver, tỉnh British Columbia, Canada.
Trong hành trình cuối cùng từ thành phố San Francisco đến thành phố Seattle, thời tiết khắc nghiệt cùng màn đêm khiến thủy thủ đoàn không thể xác định phương hướng. Họ buộc phải lui vào mảng hút chìm Juan de Fuca (trải dài từ miền nam British Columbia đến California) để tránh bão. Nhưng tàu đã rơi vào vùng biển phía tây nam đảo Vancouver, đâm trúng đá ngầm và chìm.
Sau khi tàu chìm, các thủy thủ cố gắng cứu hành khách trên tàu bằng 6 xuồng cứu hộ. Nhưng chỉ 2 trong số 6 chiếc xuồng cứu sinh thoát khỏi dòng nước xoáy. Và cũng chỉ 37 người trên tổng số 168 thuyền viên và hành khách thoát nạn. Số người còn lại đã chìm xuống biển. Tới nay, vụ đắm tàu S.S. Valencia vẫn là một trong những tai nạn đường biển kinh hoàng nhất trên Thái Bình Dương.
Tàu S.S. City of Topeka chở những người sống sót trên tàu S.S.Valencia về thành phố Seattle. Một số người khẳng định họ thấy hình dáng tàu S.S.Valencia hiện ra phía trên ống khói của tàu S.S.City of Topeka. Vào năm 1910, báo Seattle Time dẫn lời một số thủy thủ cho biết họ thấy một tàu ma gần Mũi Pachena.
2. MV Joyita
Hãng đóng tàu Wilmington Boat Works hạ thủy du thuyền MV Joyita vào năm 1931. Sau vụ tấn công vào Trân Châu cảng tháng 12/1941, hải quân Mỹ mua lại du thuyền tư nhân này để làm nhiệm vụ tuần tra các đảo lớn tại Hawaii cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc.
Vào giữa năm 1955, trong một chuyến từ Samoa tới quần đảo Tokelau, MV Joyita đã biến mất. 5 tuần sau đó, người ta tìm thấy xác con tàu cách đất liền gần 1.000 km. Toàn bộ 25 thủy thủ trên tàu cũng biến mất.
Sau khi xem xét xác con tàu, các chuyên gia phát hiện thân tàu được đóng một cách đặc biệt để nó không thể chìm. Họ chỉ tìm thấy một vết nứt ở dây cáp. Một lớp sơn phủ lên vết nứt ấy. Một túi thiết bị y tế, với nhiều băng gạc dính máu nằm trên boong tay. Nhóm chuyên gia không thấy xuồng cứu hộ nào và họ cho rằng các thủy thủ đã lấy chúng. Nhiều người cho rằng, ngay cả những thủy thủ ít non nớt nhất cũng hiểu lênh đênh trên xuồng cứu hộ nguy hiểm hơn nhiều so với việc ở trên tàu chờ người cứu. Do đó, vụ mất tích kỳ lạ của thuyền viên tàu MV Joyita vẫn là một ẩn số tới tận ngày nay.
3. Baychimo
Ra đời vào năm 1914 tại Thụy Sĩ, Baychimo là con tàu buôn khổng lồ với lớp vỏ thép và hoạt động bằng hơi nước. Nó trở nên nổi tiếng sau 9 hành trình vượt biển thành công ở vùng biển Tây Bắc nguy hiểm của Canada. Nhưng sau khi mắc kẹt trong tảng băng lớn vào năm 1931, Baychimo lại trở thành tàu ma nổi tiếng nhất dọc bờ biển Alaska băng giá.
Tháng 10/1931, Baychimo kết thúc chuyến chở hàng và trên đường trở về bến cảng, nó mắc kẹt hai lần giữa hai tảng băng lớn gần thành phố Barrow, Alaska. Trực thăng cứu hộ đưa một nửa thuyền viên trên tàu tới nơi an toàn. Song khi quay lại, những nhân viên cứu hộ trên thực thăng phát hiện con tàu vẫn còn nguyên vẹn, nhưng một nửa số thuyền viên còn lại đã biến mất mà không để lại bất kỳ dấu vết nào.
Sau vụ mất tích lạ thường đó, nhiều nhà thám hiểm và khách du lịch thường xuyên thấy Baychimo trôi dạt ở nhiều nơi khác nhau ngoài biển. Năm 1969, Baychimo biến mất sau khi lang thang trong 38 năm. Nhiều người cho rằng các cơn bão, sông băng cùng những hiện tượng siêu nhiên bí ẩn tại vùng Tam giác quỷ Bermuda là thủ phạm gây nên vụ mất tích của thủy thủ đoàn và con tàu Baychimo. Ngày nay người ta vẫn chưa tìm ra lời giải thích thỏa đáng về vụ mất tích ấy.
4. Mary Celeste
Ngày 5/11/1872, Mary Celeste, con tàu thương gia hai cột buồm của Mỹ mất tích trong hành trình vượt Đại Tây Dương. Một tháng sau, ngày 5/12/1872, người ta thấy Mary Celeste đang lênh đênh vô định trên vùng eo biển Gibraltar (Anh) trong tình trạng nguyên vẹn. Toàn bộ các kiện hàng, vật dụng cá nhân vẫn ở nguyên vị trí, trừ những hành khách. Họ biến mất như thể họ chưa từng tồn tại.
![]() |
| Xác tàu Mary Celeste. Ảnh: Scinotions. |
5. Carroll A. Deering
Là một trong những con tàu mất tích bí ẩn nhất tại vùng Tam giác quỷ Bermuda, Carroll A. Deering xuất hiện trước công chúng lần cuối cùng vào ngày 28/1/1921. Câu chuyện bắt đầu khi nó rời thành phố cảng Rio de Janeiro, Brazil để trở về bến cảng Norfolk, bang Virginia, Mỹ. Thuyền trưởng của tàu, William H. Merritt, đột nhiên ốm nên ông lên bờ để chữa trị cùng con trai, người đảm nhiệm vị trí thuyền phó. Họ giao trách nhiệm thuyền trưởng và thuyền phó cho W.B. Wormell và C.B. McLellan để thủy thủ đoàn tiếp tục chuyến hành trình. Tuy nhiên viên thuyền trưởng mới đã gây mâu thuẫn với thủy thủ đoàn do say rượu.
Carroll A. Deering không về cảng Norfolk theo kế hoạch mà lênh đênh trong tình trạng không người lái ở mũi Cape Hatteras, phía bắc bang Carolina, Mỹ. Khi xem xét, người ta phát hiện không thuyền viên nào hiện diện trên tàu. Mọi đồ dùng cá nhân và hai xuồng cứu sinh cũng biến mất. Họ cho rằng, có thể cướp biển hoặc bọn buôn lâu đã tấn công tàu. Một giả thuyết khác là tàu gặp bão hoặc các thủy thủ đã nổi loạn rồi rời khỏi tàu. Cho đến nay, người ta vẫn chưa thể giải thích thỏa đáng về sự mất tích của Carroll A. Deering. Từ đó tới nay nó trở thành một trong những bí mật hàng hải lớn nhất trong lịch sử.












Nhận xét
Đăng nhận xét