Chuyển đến nội dung chính

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 58/a (Bảo vệ đường mòn HCM)

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Trừng trị bóng ma trên đỉnh Trường Sơn - Phần 1
Trong chiến tranh Việt Nam, AC-130U được trang bị khí tài trinh sát, hệ thống vũ khí hiện đại phục vụ mục đích duy nhất là bằng mọi giá ngăn chặn hoạt động vận chuyển đường Trường Sơn. AC 130 có vai trò hỗ trợ tấn công đường không tầm gần và đánh phá tuyến đường giao thông. AC-130 lắp đặt thiết bị nhìn đêm hồng ngoại, thiết bị khuếch đại ánh sáng mờ (độ khuếch đại tối đa tới 4.000 lần), thiết bị nhìn đêm tạo ảnh nhiệt và thiết bị phát hiện tia lửa điện khi ô tô hoạt động… 

Kỳ tích Đường Trường Sơn huyền thoại

06:38am - 28/08/2016

Tạp chí GTVT - Ngày 19/5/1959, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở tuyến vận tải chi viện chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Đây là một quyết định lịch sử, thể hiện quyết tâm và ý chí sắt đá của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đường Trường Sơn đã đi vào lịch sử, trở thành con đường huyền thoại, một biểu tượng của dân tộc anh hùng.

truong son
Huyết mạch nối liền hậu phương và tiền tuyến
Khi tuyến đường vận tải quân sự chiến lược đường Trường Sơn ra đời, Đoàn 559 vinh dự được giao nhiệm vụ tổ chức tuyến chi viện chiến luợc này. Lực lượng ban đầu gồm 500 cán bộ chiến sĩ “quân đi tính từng người, hàng chuyển tính từng cân” do Thượng tá Võ Bẩm chỉ huy. Điểm đầu tuyến đường là khu rừng Khe Hó (Bãi Hà, Do Linh, Quảng Trị) - điểm khởi đầu cho một trận đồ bát quái giữa đại ngàn Trường Sơn. Đoàn vừa vận chuyển vừa mở đường hành quân với phương châm: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” để đảm bảo bí mật tối đa.
Theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ngày 23/10/1961, Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân để vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng đường biển - làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển với những con tàu không số, nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam.
Từ những con đường mòn men theo dải Trường Sơn hùng vĩ, từ những đội quân “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, trong suốt 16 năm hoạt động (1959 - 1975), đường chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh - huyết mạch nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam không chỉ là tuyến vận tải quân sự, tuyến hậu cần chiến lược mà còn là một chiến trường tổng hợp, một mặt trận chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch.
Đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh - một kỳ tích của quân đội nhân dân Việt Nam ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; một “con đường của ý chí quyết chiến quyết thắng và lòng dũng cảm, của khí phách một dân tộc anh hùng”; là tuyến đường huyền thoại, bởi đây không chỉ là một tuyến chi viện chiến lược quy mô lớn mà còn là một chiến trường thực sự, nơi đấu trí, đấu lực quyết liệt giữa một bên là toàn dân tộc Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu với một bên là đế quốc Mỹ giàu có hùng mạnh với bộ máy chiến tranh khổng lồ, tối tân nhất thời đại.
thao
Đường Trường Sơn - tuyến vận tải huyền thoại
Việc mở đường Trường Sơn vào miền Nam xuất phát từ ý chí, quyết tâm đấu tranh thống nhất nước nhà của toàn thể dân tộc, một chiến lược sáng suốt của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ điểm khởi công Khe Hó và liên tục được phát triển trong suốt cuộc kháng chiến, đường Trường Sơn với tổng chiều dài đường vận tải bộ và hành quân cơ giới gần 17.000km, gồm nhiều trục dọc, trục ngang ở cả Đông và Tây Trường Sơn, qua các trọng điểm nổi tiếng: Cua Chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích, Lùm Bùm, Văng Mu, Tha Mé, Xiêng Phan... Đường giao liên bộ dài hơn 3.000km, xuất phát từ Bãi Hà (Quảng Trị) đến Đông Nam bộ. Đường gùi thồ chủ yếu dựa vào đường giao liên bộ, có cải tạo để phù hợp với phương tiện gùi thồ. Đường ống dẫn xăng dầu dài gần 1.400km, được xây dựng vào tháng 6/1968 từ Khe Hó đến Lộc Ninh, gồm 46 kho với sức chứa 17.050 tấn, 113 trạm bơm đẩy và cấp phát.
Đường thủy lợi dụng các đoạn sông Xê Băng Hiêng, Xê Công, Mê Kông... để thả gạo, xăng theo dòng chảy hoặc vận chuyển hai chiều bằng ca nô, thuyền gắn máy. Dọc tuyến đường còn có hệ thống bảo đảm kỹ thuật, hệ thống kho tàng, bệnh viện quân y, hệ thống thông tin liên lạc với gần 1.350km đường thông tin tải ba, 14.000km đường thông tin hữu tuyến dây bọc. Trong quá trình xây dựng đường Trường Sơn, Đoàn 559 đã đào đắp khoảng 21 triệu m3 đất đá để làm đường, lấp hố bom bằng cả sức người và phương tiện cơ giới, làm 13.418m cầu, hơn 10.000 cống với 9,520 triệu ngày công. Trong 16 năm liên tục đó, lực lượng vận tải toàn tuyến đã vận chuyển hơn một triệu tấn vũ khí và phương tiện vật chất, vận chuyển cơ động 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, hộ tống 90 đoàn binh khí kỹ thuật, bảo đảm hành quân cho hơn 2 triệu lượt người qua lại.
Đế quốc Mỹ đã biến tuyến đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh thành chiến trường thử nghiệm hàng loạt các chủ trương chiến lược và thủ đoạn chiến thuật, đồng thời cũng là chiến trường thử nghiệm các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Với hơn 150.000 trận đánh phá bằng không quân, trong đó sử dụng hàng vạn lần chiếc máy bay B-52, ném xuống tuyến đường hơn 4 triệu tấn bom đạn trong tổng số hơn 7 triệu tấn sử dụng trên toàn chiến trường Việt Nam, tiến hành trên 120 cuộc hành quân đánh phá, 1.235 vụ biệt kích. 
Quân và dân ta trên chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, bao gồm bộ đội Trường Sơn, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, đồng bào các dân tộc và nhân dân nước bạn, với tinh thần dũng cảm, thông minh đầy mưu trí sáng tạo, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, ác liệt đã đánh bại mọi thủ đoạn chiến tranh ngăn chặn của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển sức người, sức của từ hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn, góp phần rất quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến. Trong chiến đấu bảo vệ giao thông, bộ đội Trường Sơn đã bắn rơi 2.455 máy bay, diệt 01 trung đoàn, 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 5 trung đoàn bộ binh, diệt 16.900 tên, bắt 1.190 địch, thu và phá hủy hơn 100 xe quân sự.
Để có thành công đó, hơn 2 vạn cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn anh dũng đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường, 3 vạn người bị thương; 14.500 xe máy các loại, 400 khẩu pháo, 9 vạn tấn hàng bị phá hỏng và phá hủy. 
Đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh  thực sự ghi vào lịch sử dân tộc ta như một con đường huyền thoại, một kỳ tích của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một “kỳ tích của thế kỷ XX”. Những chiến công, kỳ tích ấy không chỉ thể hiện đường lối đúng đắn, sáng tạo, nghệ thuật quân sự tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết tâm sắt đá, ý chí dời non, lấp biển của toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Rõ ràng, đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước là biểu tượng sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam nói chung, sức mạnh đại đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương nói riêng. Đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh vẫn mãi mang tầm vóc và ý nghĩa lớn lao không bao giờ phai mờ trong ký ức các thế hệ người Việt Nam.
Minh Khánh

Đường Trường Sơn - biểu tượng của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt - Lào

Thứ Hai, 19/05/2014, 03:12:42
 Font Size:     |        Print
Mối quan hệ Việt-Lào là một thành tố đặc biệt quan trọng của liên minh chiến lược giữa ba dân tộc anh em Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia trên bán đảo Đông Dương. Trong đó, Trường Sơn được ví như cột sống của cơ thể con người, hai nước Việt Nam - Lào không thể tách rời nhau. Một trong những biểu hiện sâu đậm và mãi trường tồn cùng thời gian, đó chính là đường Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh - biểu tượng của tình đoàn kết chiến đấu, mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào.
Tên gọi đường mòn Hồ Chí Minh xuyên núi rừng Trường Sơn xuất hiện từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, do cán bộ, chiến sĩ Liên khu 5 và Đông Nam Bộ đặt ra. Đó mới chỉ là tuyến giao liên bắcnam, dựa theo những lối mòn qua lại của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên dãy Trường Sơn tạo ra. Khi đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở miền nam, Đảng ta chủ trương khôi phục và phát triển con đường lịch sử này để chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền nam. Theo đó, ngày 19-5-1959, Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn được chính thức thành lập, nhằm đáp ứng yêu cầu bức thiết đó. Nhưng do địa hình đông Trường Sơn hiểm trở, địch lại đánh phá, ngăn chặn rất quyết liệt, công tác chi viện cho chiến trường gặp vô vàn khó khăn... Để nhanh chóng giải quyết vấn đề chiến lược này, tuyến vận tải chiến lược tây Trường Sơn chính thức được hình thành. Năm 1961, tuyến vận tải Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh chuyển sang thời kỳ mới, lấy phương châm hành động là "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến", tuyến vận tải mang tên Bác nhanh chóng được nối dài, vượt qua vùng ba biên giới ở đông nam tỉnh Át-tô-pư và vùng đông bắc Cam-puchia, vòng về nam Tây Nguyên nối với Khu 6, Khu 5 và Đông Nam Bộ. Thực tế lịch sử đã minh chứng rằng, đường Trường Sơn chỉ thật sự trở thành tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh, nguồn bảo đảm sức sống, chiến đấu và chiến thắng của nhân dân ba nước Đông Dương, đặc biệt là của nhân dân Việt-Lào khi nó được "lật cánh" sang phía tây Trường Sơn, với chiều dài hơn một nghìn km.
Hơn mười năm, kể từ khi ta chuyển sang vận tải cơ giới đến khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, địch sử dụng tới 733.000 lần chiếc máy bay tiêm kích và cường kích đánh 152.000 trận, trút xuống Trường Sơn gần bốn triệu tấn bom đạn (trung bình mỗi km đường phải hứng chịu 736 quả bom các loại), hàng triệu galông chất độc hóa học hủy diệt tận gốc các cánh rừng; tiến hành hơn 100 cuộc hành quân càn quét, nống lấn và hơn một nghìn vụ biệt kích, nhằm ngăn chặn, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta.
Năm 1969, không quân Mỹ đã oanh kích hàng nghìn trận vào 180 mường của đồng bào các dân tộc Lào, dọc theo tuyến đường, thiêu hủy 845 nóc nhà, giết hại 482 người, làm bị thương 344 người...
Không chịu khuất phục trước mưa bom, bão đạn của quân thù, nhân dân các dân tộc Lào ở 17 mường, huyện nằm dọc tuyến vận tải chiến lược tây Trường Sơn vẫn kiên cường bám trụ, cùng lực lượng vũ trang yêu nước Lào và bộ đội Việt Nam chiến đấu, đánh trả máy bay, ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm, phá hoại của địch, bảo vệ tuyến đường. Tất cả các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến của Việt Nam hành quân qua lại hoặc trực tiếp tham gia mở đường, chiến đấu trên tuyến tây Trường Sơn đều nhận được sự cưu mang, giúp đỡ tận tình của nhân dân nước bạn như anh em một nhà: giúp bộ đội trinh sát thực địa, tham gia mở đường, vận chuyển và bốc dỡ hàng hóa khi có yêu cầu...
Qua 16 năm, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã vận chuyển được 1,5 triệu tấn hàng hóa, 5,5 triệu tấn xăng dầu, bảo đảm cho hơn 1,1 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ cùng khối lượng lớn binh khí kỹ thuật hiện đại vào chiến trường miền nam và các hướng mặt trận lớn; đưa 650.000 lượt cán bộ, chiến sĩ từ các chiến trường về hậu phương miền bắc, trong đó có 310.000 thương, bệnh binh... Có thể khẳng định, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh đối với nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân dân hai nước Việt Nam-Lào nói chung là con đường dẫn đến sự toàn thắng của sự nghiệp kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng đất nước.
Quá trình hình thành và phát triển tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh là biểu tượng sống động của mối quan hệ đặc biệt ViệtLào, cũng như tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; được tạo dựng không chỉ bởi yếu tố địa lý tự nhiên, xã hội vững chắc, mà còn xuất phát từ yêu cầu khách quan, mang ý nghĩa sống còn trong cuộc đấu tranh giành, giữ, bảo vệ độc lập tự do và xây dựng đất nước của mỗi dân tộc. Đường mòn Hồ Chí Minh - con đường huyền thoại, nhân cốt của mối quan hệ đặc biệt đó là kết quả của một quá trình vận động cách mạng tự giác, từ thấp đến cao, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, thật sự tin cậy, thủy chung, gắn bó, hợp tác giúp đỡ nhau toàn diện, vì lợi ích chung của hai quốc gia cũng như của riêng mỗi dân tộc...
Thật trân trọng, biết ơn Đảng và nhân dân các dân tộc Lào khi được biết nhiều đoạn đường thuộc tuyến vận tải chiến lược tây Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh năm xưa, đến nay vẫn được lưu giữ gần như nguyên vẹn, để góp phần giáo dục thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Đại tá, TS NGUYỄN HUY THỤC
17/03/2017 16:08 17/03/2017 16:08 1185
Vị tướng của đường Trường Sơn huyền thoại
Trong số chúng ta không ai là không biết đến con đường mang tên Hồ Chí Minh, con đường huyết mạch cung cấp binh lực, lương thực, vũ khí cho chiến trường miền Nam, đó là thành tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ XX. Nhưng có lẽ không phải tất cả chúng ta đều hiểu hết được những đóng góp, công lao to lớn của những người đã làm lên con đường huyền thoại đó. Người chúng ta phải nhớ đến đầu tiên đó là đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm tổng cục Hậu cần, người trực tiếp chỉ huy con đường Trường Sơn huyền thoại.
Đồng chí Đinh Đức Thiện tên thật là Phan Đình Dinh, sinh năm 1913 trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước tại xã Nam Vân, huyện Nam Ninh (nay thuộc thành phố Nam Định), tỉnh Nam Định. Đồng chí đã từng bị thực dân Pháp bắt và giam tại các nhà tù: Nam Định, Hỏa Lò. 
 
Đồng chí Đinh Đức Thiện, Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
(hàng đầu, thứ hai từ phải sang) thăm bệnh viện tại chiến trường Nam bộ, tháng 3/1973
Sống trong cảnh tù đày khắc nghiệt, nhưng đồng chí luôn lạc quan yêu đời, tạo cho mình một tâm thế tốt nhất để vượt lên những khó khăn về vật chất. Đồng chí luôn tham gia tích cực các hoạt động trong tù, đặc biệt đồng chí thường tham gia đóng vai nữ trong các vở kịch do anh em tù nhân tổ chức biểu diễn trong những dịp lễ tết. Cũng vì năng khiếu diễn kịch nên đồng chí đã vận dụng ngay vào hoàn cảnh của mình: “Từ ngày bị bắt, anh luôn đóng vai tuồng là một người bệnh hoạn. Dù cho trời nắng nóng anh vẫn mặc bên ngoài một áo bành tô, đầu tóc bù xù, nét mặt mệt mỏi, ít ăn, ít nói. Nửa tin nửa ngờ, bọn lính kín nói: “Để tụi tao đưa mày đi khám bệnh cho rõ trắng đen”. Và chúng đưa anh đi khám bệnh thật… Người y tá khám qua loa rồi cho anh về. Quả nhiên sau đó bọn lính kín tra tấn anh cũng nhẹ đòn hơn trước nhiều…” (Trích: Đinh Đức Thiện - một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần tài trí, Nxb Phụ nữ, 2005, tr.47). Trong phiên xét xử tại toà án Nam Định, đồng chí đã chống án và bị đưa về giam tại nhà tù Hỏa Lò. Năm 1943, đồng chí được trả tự do. 
Là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đồng chí đã suy nghĩ nhiều về nhiệm vụ ngành Hậu cần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vừa để giải phóng miền Nam, vừa để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới thống nhất đất nước.
Được giao nhiều trọng trách, đồng chí luôn quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước, năng động, sáng tạo, giữ vững nguyên tắc tập thể dân chủ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tác phong sâu sát, tìm hiểu thực tế, kiên quyết tổ chức thực hiện. 
 
Từ trái sang: Phó Tư lệnh Trần Văn Trà, đại diện Bộ Chính trị tại Mặt trận Lê Đức Thọ,
Tư lệnh Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, Phó Tư lệnh Đinh Đức Thiện
trong Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh (Lộc Ninh, tháng 4/1975)
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí Đinh Đức Thiện “đã đề xuất nhiều chủ trương và biện pháp táo bạo để xây dựng và phát triển tuyến đường chi viện chiến lược mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh; mở nhiều đường ôtô ngang, dọc, tập trung lực lượng thành lập các binh đoàn vận tải cơ giới, xây dựng mạng thông tin chỉ huy vận tải tương đối hoàn chỉnh, lắp đặt tuyến đường ống để bơm xăng từ hậu phương miền Bắc vào tuyến vận tải và các chiến trường, tổ chức lực lượng phòng không đánh lại máy bay địch bảo vệ đường, cầu, phương tiện và lực lượng vận tải…” (Sách: Đinh Đức Thiện - Một chiến sỹ trung kiên, một vị tướng hậu cần tài trí, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 11 - 12).
Trong những chuyến đi xuống các đơn vị bộ đội, đi đến các chiến trường để kiểm tra, đồng chí luôn quan tâm đến việc đảm bảo sinh hoạt và sức khỏe bộ đội, nhất là những người trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở chiến trường, yêu cầu đảm bảo cho bộ đội được ăn no, đồng thời từng bước cải tiến chất lượng bữa ăn. Đồng chí thường trao đổi với Cục Quân y về các biện pháp để giữ vững và nâng cao sức khỏe bộ đội, làm tốt công tác vệ sinh, phòng bệnh, nhất là  phòng chống chất độc hóa học của quân đội Mỹ.
Trong ký ức của nhiều cán bộ, chiến sĩ, vóc dáng cao lớn, mái tóc bạc và bộ quần áo bà ba phai màu, nhìn Chủ nhiệm Đinh Đức Thiện có dáng vẻ của một nông dân nhiều hơn là một vị tướng hậu cần với những quyết định táo bạo. Là người lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, đồng chí Đinh Đức Thiện đã dám làm, dám chịu trách nhiệm và mạnh dạn xóa bỏ những gì lỗi thời, ràng buộc, đưa công tác vận tải, chi viện chiến trường đạt tới đỉnh cao. Đó là mốc son chói lọi trong chiến lược quân sự gắn với người chỉ huy và nhiều cộng sự của cán bộ chiến sĩ thuộc Đoàn 559.
Đồng chí Đinh Đức Thiện không chỉ chăm lo cho quốc gia đại sự mà đồng chí còn quan tâm đến từng cán bộ chiến sĩ của mình. Đáp lại sự quan tâm người Thủ trưởng, các cán bộ, chiến sỹ thuộc Đoàn 559 luôn cố gắng, khắc phục khó khăn ở chiến trường, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. 
 
Chiếc lược làm từ vỏ chiếc máy may Mỹ, do cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559
tự làm tặng đồng chí Đinh Đức Thiện
Trong điều kiện khó khăn của chiến tranh, thiếu thốn tại chiến trường, bằng sự sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo, từ xác máy bay Mỹ, các cán bộ, chiến sỹ của các đơn vị thuộc Đoàn 559 còn tạo ra nhiều vật dụng như: ca, cốc, đĩa, lược … vừa để sử dụng đồng thời đó cũng là kỷ vật gửi về hậu phương tặng người thân. Chiếc lược là kỷ vật thiêng liêng luôn đồng hành cùng đồng chí Đinh Đức Thiện trên khắp chiến trường và có một ý nghĩa sâu sắc, đúng như tinh thần của Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ đã từng viết:
Tướng sĩ một lòng phụ tử
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Mặc dù là một vị tướng tài ba, một Thủ trưởng giữ nhiều trọng trách quan trọng công việc luôn bộn bề lo toan. Nhưng với nhân dân, với người lính của mình đồng chí luôn gân gũi, ân cần. Mối quan hệ giữa thủ trưởng và cán bộ chiến sĩ gần gũi như tình yêu của cha và con.
Nguyễn Thị Thu Hiền - Phòng NCST

Trung đội nữ lái xe duy nhất trên đường Trường Sơn

Trong lớp thanh niên xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, có một trung đội của những cô gái tuổi đôi mươi lái xe Zin130, Gaz 51, Gaz 69… vượt núi băng rừng, tải thương, tải đạn suốt những năm chiến tranh ác liệt nhất.

Ba năm sau khi Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam, Tết Mậu Thân 1968, chiến sự trên các mặt trận ngày càng ác liệt. Mỹ huy động lượng lớn máy bay đánh phá các con đường trọng điểm trên chiến trường. Nhu cầu cung cấp nhân lực, vật lực cho miền Nam trở nên cấp bách. Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) được giao nhiệm vụ phải tăng khối lượng chi viện gấp hai lần thời gian trước đó.
Lái xe nam không đủ, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 giao nhiệm vụ cho Binh trạm 9, Binh trạm 12 tuyển gấp một số nữ thanh niên xung phong, lập đội lái xe vận tải tuyến hậu phương để hỗ trợ các khu vực cửa khẩu. Các cô gái tuổi đôi mươi có sức khỏe tốt, tháo vát, biết chút ít về kỹ thuật được tuyển chọn và gửi đi đào tạo cấp tốc.
Trải qua khóa huấn luyện 45 ngày tại Nghệ An, Thanh Hóa, 40 nữ chiến sĩ lái xe và thợ sửa chữa máy được tuyển chọn. Ngày 18/12/1968, tại vùng rừng núi thuộc xã Hưng Phổ, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh), trung đội nữ lái xe mang tên nữ anh hùng Nguyễn Thị Hạnh ra đời.

Những chiếc xe vận tải mà các cô gái Trường Sơn khi đó lái chủ yếu là Zin130, Gaz 51, Gaz 69... Ảnh tư liệu.
Trung tá Nguyễn Thị Hòa, nguyên chính trị viên đội lái xe chia sẻ: "Khi hết 3 năm nghĩa vụ thanh niên xung phong, đứng trước lựa chọn về địa phương, chuyển ngành hay đi văn công, chị em đã chọn cách viết đơn, xin đi học lái xe để tiếp tục chia lửa với đồng đội trên tiền tuyến và đường Trường Sơn".
Đội nữ lái xe có nhiệm vụ chở lương thực, thuốc men, súng ống, đạn dược từ Vinh (Nghệ An) theo các tuyến đường 12, 15, 18, 20, 22 vào đến bờ bắc sông Gianh (Quảng Bình). Giao hàng xong, họ lại chở thương binh, cán bộ từ miền Nam ra Bắc an dưỡng, học tập. Có lúc nhận nhiệm vụ đặc biệt, đội lái xe phải đi sâu vào chiến trường, sang đất bạn Lào.
Chuyến vận tải của các cô gái bắt đầu lúc 17h chiều và kết thúc vào 5h sáng hôm sau. Người giỏi đi một mình, tay lái yếu hơn thì đi hai người. Họ phải chặt lá ngụy trang, đi ban đêm bằng ánh sáng hắt lên từ bóng đèn "quả táo" đặt dưới gầm xe để tránh máy bay phát hiện. Đến nơi tập kết hàng hóa, các cô kiêm luôn việc bốc vác; dọc đường về thì chăm sóc, động viên thương binh, làm thay cả nhiệm vụ của y tá.
Trường Sơn khi ấy trở thành nơi thử nghiệm các loại bom, mìn, chất độc hóa học rải xuống suốt ngày đêm. Thời tiết khắc nghiệt, mùa mưa kéo dài 6 tháng biến con đường đất trở thành những thảm bùn lầy, công binh rải bao nhiêu đá nhưng nhiều xe vẫn bị "nuốt" khi đi qua. Mùa khô nắng cháy, gió Lào thổi đến héo hon cả người, chưa kể vắt, muỗi rừng, rắn rết.
Trên các tuyến đường vận tải, những địa danh như bãi Dinh, Cổng Trời, bãi Đá Đẽo, phà Xuân Sơn, cầu Trạ Ang, ngầm Tà Lê, đèo Phulanhich... được gọi là trọng điểm của trọng điểm, những túi bom của chiến trường. Đoàn xe vận tải chủ yếu men theo sườn núi bên Tây Trường Sơn để đi, một bên là núi, một bên là vực sâu thăm thẳm. Có đoạn đường chỉ vừa cho chiếc xe lăn bánh, người lái căn đường không chuẩn là cả người, cả xe rơi xuống vực.

Những đoàn xe vận tải vượt Trường Sơn, tiếp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Ảnh tư liệu.
Chiến công lớn nhất của trung đội là lần vượt Cổng Trời (Quảng Bình). Cuối năm 1969, trong lúc mùa mưa ở Lào bắt đầu thì cũng là lúc Mỹ điên cuồng bắn phá đường 12. Con đường dài hơn 50 km ngoằn ngoèo bị máy bay Mỹ nhè những đoạn gấp khúc mà thả bom, trọng điểm là khu vực Cổng Trời dốc cao dựng đứng nối với cửa khẩu Cha Lo thông sang Lào. Đây là nơi tập kết hàng hóa và thương binh, nối hai tuyến đường Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây.
Đêm 2/4/1969, đoàn xe nhận nhiệm vụ phải cấp tốc chở súng ống, đạn dược vượt Cổng Trời chi viện ngay cho các đơn vị phía trong. Binh trạm 12 lấy tinh thần xung phong chở hàng ngay trong đêm. Cô gái Phạm Thị Phàn khi ấy người bé nhỏ, chỉ hơn 40 kg đã xung phong dẫn đầu.
"Đoàn xe đi trong ánh sáng soi bằng hỏa pháo của đối phương, tiếng động cơ máy bay gầm rú trên đầu như xay lúa. Khi xe của chúng tôi vượt lên dốc cao, đèn dưới gầm xe hắt lên khiến địch phát hiện. Biết đối phương sắp đánh tọa độ, tôi nhấn mạnh ga lao nhanh về phía trước, cả đoàn lao theo sau. Khi chúng tôi vừa vượt qua con dốc thì nơi đó trở thành chiến địa rực lửa", bà Phàn hiện sống ở Thái Bình kể lại. Sau chuyến đi này, bà Phàn được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng chiếc đồng hồ Poljiot mà đến giờ bà vẫn giữ làm kỷ vật.
Trong ký ức của nhiều lái xe nam trên đường Trường Sơn, thi thoảng họ gặp những chiếc xe tải cản đường vì bị hỏng, các nữ tài xế không dám một mình xuống sửa vì sợ đêm tối, sợ ma. Bảo lùi lại thì chị em bảo: "Xe em không có số lùi, các anh sửa chữa hộ em đề rồi cùng tiến". Hay có lần trung đội lái xe bị địch ném bom dính đội hình đang vận chuyển. Quân y chiến trường đến cấp cứu vẫn nghe tiếng các cô thều thào "Anh ơi, xe của em có bị làm sao không?".
Đầu năm 1972, trung đội nữ lái xe Trường Sơn được điều về Trường đào tạo lái xe D255, thuộc Cục quản lý xe máy. 40 cô gái lái xe trở thành giáo viên đào tạo cho 2 khóa học viên gồm 300 lái xe nữ. Đội quân này tiếp tục phục vụ tại các kho xe, kho hàng, bệnh viện quân đội thay cho các lái xe nam ra trận. Tại đây, Đại đội nữ lái xe C13 được thành lập với nòng cốt là trung đội nữ lái xe Nguyễn Thị Hạnh và 300 học viên lái xe nữ. Sau này, đội nữ lái xe được điều về trường đào tạo lái xe đi tập luyện tham gia lễ duyệt binh năm 1973, 1975, điều khiển những chiếc xe chỉ huy, xe thông tin, xe kéo pháo 157.

Trung đội nữ lái xe mang tên anh hùng Nguyễn Thị Hạnh ngày thành lập gồm 40 cô gái, được tuyển chọn từ những nữ thanh niên xung phong trẻ tuổi, tháo vát. Ảnh tư liệu.
Khi đất nước thống nhất, trung đội nữ lái xe người phục viên, người tiếp tục làm bạn với tay lái. Có người được hưởng cuộc sống yên ấm bên gia đình, nhưng cũng có người được làm mẹ không làm vợ, người làm vợ không được làm mẹ, có người ở vậy không lấy chồng. Bom đạn Trường Sơn không động được đến tuổi thanh xuân của 40 cô gái, nhưng 19 người trong số họ là thương binh, 5 người mất vì ung thư bởi chất độc hóa học, cơ thể nhiễm chì bởi bao lần dùng miệng để hút xăng giữa rừng già.
Thiếu tướng Nguyễn Bá Tòng, nguyên Phó Tư lệnh chính trị Binh đoàn Trường Sơn gọi họ là "những cô gái cưỡi voi ra trận và chiến thắng trở về". Từng có nhiều kỷ niệm gắn bó với đội nữ lái xe từ hồi còn làm nhiệm vụ ở đại đội công binh đảm bảo thông suốt trên tuyến đường 20 Quyết Thắng, theo thiếu tướng Tòng, cuộc chiến khi ấy rất khốc liệt, con gái vào chiến trường đã gian khổ, xông pha trên đường Trường Sơn cùng những chiếc xe quân sự thì chỉ có 40 cô gái ấy. Mỗi khi xe qua ngầm, đến cửa khẩu đều nghe tiếng các cô cười, chào hỏi anh em công binh.
"Đội lái xe nhỏ nhưng sức động viên thì lớn. Cánh lái xe nam thấy các cô là hết văng tục chửi bậy. Cậu nào tức quá muốn bật ra cũng ghìm ngay trong miệng. Chị em lái xe vượt Cổng Trời, vượt Khe Tang, Khe Ve không những khích lệ lái xe nam, còn động viên luôn cả anh em công binh chúng tôi. Có anh ngày sốt rét run cầm cập, tối đỡ rồi liền ra làm nhiệm vụ đảm bảo thông suốt cho tuyến đường", ông Tòng kể.
Khi gặp các chiến sĩ gái lái xe Trường Sơn, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cảm nhận: "Gặp chiến sĩ gái lái xe Trường Sơn, tôi liên tưởng đến các nữ vệ quốc của Liên Xô, các nữ phi công Liên Xô chống phát xít Đức. Tôi thấy tự hào về phụ nữ Việt Nam".
Hàng năm đến ngày truyền thống, đội nữ lái xe Trường Sơn năm xưa vẫn gặp mặt nhau ôn lại chuyện cũ và luôn ghi nhớ lời đội trưởng Phùng Thị Viên: "Đời có thể quên chúng mình, nhưng chị em chúng mình đừng bao giờ quên nhau".
Trung đội nữ lái xe Trường Sơn là đội nữ duy nhất trong hai cuộc kháng chiến; đại đội nữ lái xe là đơn vị huấn luyện, đào tạo lái xe nữ duy nhất của quân đội. Năm 1970, trung đội nữ lái xe được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công hạng ba, 28 người được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, nhiều người là chiến sĩ thi đua nhiều năm liền. Năm 2014, đại đội nữ lái xe C13 đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đại đội trưởng Phùng Thị Viên được truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Theo Hoàng Phương (VnExpress.net)

Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại

Đường Trường Sơn hay đường mòn Hồ Chí Minh là mạng lưới giao thông quân sự chiến lược vận chuyển binh lực, lương thực và vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam. Người Mỹ ghi nhận, đây là "một trong những thành tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ 20".
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 1 Ngày 19/5/1959, Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) thành lập, đánh dấu sự khởi đầu của tuyến đường Trường Sơn. Mạng lưới giao thông quân sự này chạy dọc dãy Trường Sơn, từ miền Bắc qua miền Trung, hạ Lào và Campuchia để chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vào những năm đầu, việc vận chuyển hàng chi viện được thực hiện bằng hình thức đi bộ, gùi thồ. Trong ảnh là các chiến sĩ của trung đoàn 70 - đơn vị đầu tiên của bộ đội Trường Sơn - đang thồ hàng trên tuyến Tây Trường Sơn tháng 9/1961.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 2 Tuy giữ được bí mật nhưng việc vận chuyển bằng phương pháp thô sơ không đem lại hiệu quả do quãng đường vận tải dài tới 2.000 km. Sau 2 năm như vậy, việc vận tải bắt đầu chuyển sang cơ giới. Trong ảnh, đại đội 128 dân công tỉnh Thái Bình xẻ rừng, mở đường cơ giới.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 3 Mạng lưới đường cơ giới dần được hình thành lẩn khuất giữa núi rừng Trường Sơn tạo điều kiện cho những đoàn xe quân sự vận chuyển lượng lớn binh lực, lương thực và vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam. Cũng từ đây, lực lượng quân sự Mỹ ra sức đánh phá hệ thống giao thông này bằng bộ binh và không quân, đường Trường Sơn trở thành tuyến lửa - nơi diễn ra cuộc đấu gan, đấu trí ác liệt giữa hai bên.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 4 Để đánh phá tuyến đường này, quân đội Mỹ lập một hệ thống máy móc điện tử, thường được gọi là hàng rào điện tử McNamara, để hướng dẫn máy bay ném bom. Ngoài ra, chất độc da cam cùng một số loại chất diệt cỏ khác được rải xuống nhiều vùng rừng trên đường Trường Sơn làm trụi lá cây, các dự án tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn cũng được Mỹ sử dụng để phá hủy tuyến đường.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 5 Bất chấp bom đạn và chất độc hóa học, những đoàn xe vẫn tiến về miền Nam. Trong ảnh là chiến sĩ của tiểu đoàn công binh 25, binh trạm 31, Bộ tư lệnh 559, đang dẫn đường cho xe quân sự tại ngã ba bắc Siêng Phan đi Xômpêng.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 6 Suốt 16 năm, chiến trường Trường Sơn hứng chịu hơn 4 triệu tấn bom mìn do không quân Mỹ trút xuống. Trên toàn tuyến đường có tới 2.500 trọng điểm đánh phá. Trong ảnh là trọng điểm ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), đoàn xe di chuyển qua khu vực dày đặc hố bom.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 7 Đảm bảo sự thông suốt của hệ thống đường Trường Sơn là các đơn vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không, hoạt động trong rừng ngay dưới làn bom Mỹ. Trong ảnh là một trạm y tế, nơi các bác sĩ quân y đang điều trị cho bộ đội.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 8 Các nữ thanh niên xung phong tuổi 20 trên chiến trường đường Trường Sơn. Vai trò của lực lượng thanh niên xung phong trong thời gian này thể hiện rõ hơn bao giờ hết.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 9 Đại tướng Võ Nguyên Giáp (giữa) và trung tướng Đồng Sỹ Nguyên (bên phải) trong chiến dịch đường 9 Nam Lào 1971 - chiến dịch đem lại quyền kiểm soát hoàn toàn trên mặt đất cho Quân đội nhân dân Việt Nam trên chiến trường Trường Sơn. Với sự phát triển của thế trận phòng ngự chủ động, bộ đội Trường Sơn ngày càng làm chủ chiến trường. Với tổng chiều dài hàng chục ngàn km trải dài trên 5 trục dọc, 21 trục ngang... các đoàn xe vận tải có thể dễ dàng xuyên dãy Trường Sơn từ Bắc vào Nam.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 10 Cầu treo bắc qua sông Talê - đường 20, do tiểu đoàn công binh 33 xây dựng. Khi bị không quân Mỹ oanh tạc, cầu được cất giấu tại bờ sông, đến khi yên ắng lại cho dựng lại. Cây cầu tồn tại trong 6 năm, giúp hàng nghìn chuyến xe vượt sông an toàn ra mặt trận.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 11 Đoàn xe vận tải hùng hậu của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 trên đường Trường Sơn, chiến dịch cuối cùng thống nhất hai miền Nam - Bắc. Ngày 3/6/1976, lời tuyên dương công trạng Bộ đội Trường Sơn của Đảng và Nhà nước ghi: "Từ buổi đầu mới thành lập, chỉ lấy gùi, thồ làm chính, vận chuyển trên những con đường nhỏ, hẹp; từ chỗ chỉ hoạt động theo mùa, phục vụ cho từng chiến dịch, bộ đội Trường Sơn đã đem mồ hôi, xương máu, lòng dũng cảm, trí thông minh và tài thao lược, xây dựng nên tuyến đường chiến lược mang tên Bác Hồ vĩ đại". Theo văn bản lịch sử chính thức của Cơ quan An ninh quốc gia Hoa Kỳ, đường Trường Sơn được coi là "một trong những thành tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ 20".
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại - ảnh 12 Ngày nay, tuyến tây Trường Sơn (địa phận Lào) nhiều nơi đã bị bỏ hoang, một vài điểm được xây dựng trở thành di tích lịch sử. Năm 2000, đường Hồ Chí Minh, con đường xuyên Việt thứ hai sau quốc lộ 1, bắt đầu được xây dựng trên tuyến đông Trường Sơn. Chiếc xe tải ZIL157 của bộ đội Trường Sơn vận chuyển hàng hóa và bộ đội năm xưa cùng hàng nghìn tư liệu, hiện vật về con đường huyền thoại được lưu trữ trong Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh tại Km15 - quốc lộ 6, phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, Hà Nội.
Theo VnExpress

Lịch sử Thanh niên xung phong Việt Nam hình ảnh và những trang vàng

21-6-1965: Thành lập Đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta kết thúc vẻ vang bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong chiến công chung của dân tộc, không thể không kể đến những đóng góp to lớn của lực lượng Thanh niên xung phong trên mỗi nẻo đường đất nước đầy bom đạn, thử thách và hy sinh.

Bị thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam, Mỹ tiếp tục đưa quân vào chiến trường, đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam.
Được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ giao nhiệm vụ, tháng 3-1965, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã phát động trong toàn đoàn viên, thanh niên tình nguyện gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước.
Ảnh
 Huy hiệu Lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam
Ngày 21-6-1965, Đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đầu tiên ra đời. Đâylà một lực lượng lao động đặc biệt, quân sự hóa của thanh niên, có vũ trang, được tổ chức và xây dựng trên ba mặt: sản xuất, chiến đấu, học tập; có độ tuổi từ 17-30. Với nhiệm vụ mở đường, bảo đảm giao thông vận tải ở Quân khu IV và các tuyến đường vận tải chiến lược vào chiến trường miền Nam và sẵn sàng bổ sung lực lượng cho quân đội khi cần thiết. Từ khi mới thành lập cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), từ phong trào “Ba sẵn sàng” ở miền Bắc và “Năm xung phong” ở miền Nam do Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam phát động, đã có gần 30 vạn thanh niên gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, tiếp bước cha anh lên đường với quyết tâm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Và họ đã có mặt ở hầu hết các chiến trường, các tuyến đường, các trọng điểm… gian khổ nhất, ác liệt nhất, nguy hiểm nhất để mở đường, đảm bảo giao thông thông suốt trên các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy trong cả nước.
Ở miền Bắc và trên mặt trận đường Trường Sơn: Với tinh thần “Ba sẵn sàng”, lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước tập trung với trên 14 vạn cán bộ chiến sĩ, đã có mặt trên khắp mọi tuyến đường ra trận, hăng hái chiến đấu, lao động sáng tạo, học tập, rèn luyện, sẵn sàng hy sinh hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ: mở đường chiến lược, vận chuyển quân trang, trực chiến, chốt giữ những trọng điểm địch đánh phá ác liệt, san lấp hố bom, sửa chữa cầu đường, tháo gỡ bom mìn, hướng dẫn xe đi và chiến đấu bảo đảm mạch máu giao thông thông suốt trong mọi tình huống, góp phần quan trọng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Ảnh 
Nữ Thanh niên xung phong san lấp hố bom
Trong 10 năm, Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đã mở 102 con đường chiến lược với tổng chiều dài 4.130km; vận chuyển trên 10 vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực; trực chiến chốt giữ gần 3.000 trọng điểm chiến lược giao thông quan trọng địch thường xuyên đánh phá ác liệt, san lấp hàng vạn hố bom, phá gỡ trên 10.000 bom địch các loại; bắn rơi 15 máy bay Mỹ, bắt sống 13 phi công Mỹ và gần 1.000 tên địch, phá hỏng 20 xe tăng, xe bọc thép, phục vụ gần 1.000 trận đánh…; bổ sung sang quân đội 16.000 người; 15.000 người được kết nạp vào Đảng khi làm nhiệm vụ; có 52 dũng sĩ diệt Mỹ, 1.432 dũng sĩ quyết thắng trên các chiến trường. Trong đó tiêu biểu là:
– Các đơn vị Thanh niên xung phong N21, N23, N33, N241… làm nhiệm vụ chuyển tải hàng, cáng thương, tải đạn phục vụ quốc phòng ở miền Tây Quảng Bình, Quảng Trị, bằng vai trần, chân đất, xe đạp thồ đã âm thầm vượt qua thời tiết khắc nghiệt, đèo núi, thác ghềnh hiểm trở của dãy Trường Sơn, cùng bộ đội lập nên những binh trạm luân chuyển từng kilôgam hàng ra phía trước và khiêng cáng thương binh về phía sau; đơn vị N263 hoạt động trên các tuyến đường sông và đường biển, lấy đêm làm ngày, tự phá bom từ trường và thủy lôi vượt qua sự truy cản của máy bay địch vận chuyển hàng hóa ra chiến trường; đơn vị N89, N91 làm nhiệm vụ chuyển tải trên các tuyến đường sắt đã dũng cảm không quản hy sinh đương đầu với những trận đánh ác liệt của máy bay Mỹ để di chuyển, cứu hàng hóa quân trang.
Ảnh
Đơn vị nữ Thanh niên xung phong làm đường 20 Quyết Thắng
– Các đơn vị N25, N23, N43, N41, N45, N39, N37, N35… lao động sáng tạo, quên mình mở đường chiến lược xuyên qua núi rừng Trường Sơn hiểm trở, dưới mưa bom bão đạn của địch, cùng lực lượng Ngành giao thông và Bộ đội công binh làm nên những con đường chiến lược nối liền mạch máu giao thông giữa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn. Những tuyến đường như: Đường 20 Quyết Thắng (miền Tây Quảng Bình), Đường 10-20/7, Đường 128… là một kỳ công, kỳ tích, kỳ quan do ý chí vì độc lập tự do của chiến sĩ và Thanh niên xung phong làm nên.
Ảnh
Các đội viên Thanh niên xung phong Hà Nội N43 đang mở đường tại Trường Sơn năm 1967
– Các đơn vị N25, N55, N81, N75, N73, N300… với ý chí “Tim có thể ngừng đập nhưng mạch máu giao thông không thể tắc”, “Sống anh dũng bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đã bất chấp hy sinh gian khổ đứng vững trước sự đánh phá ác liệt, liên tục ngày đêm của địch trên các tuyến đường, đặc biệt là tại các “tọa độ lửa” như Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Truông Bồn (Nghệ An), Đèo Pô Lai Nhích, Cua chữ A, Cổng Trời, Đồi 37, Hàm Rồng, phà Xuân Sơn, phà Long Đại…, bảo đảm giao thông thông suốt ra chiến trường. Tại nơi đây đã ghi đậm những đóng góp, hy sinh và chiến công hiển hách của lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, mãi mãi trở thành những địa danh lịch sử không thể quên trong lòng tuổi trẻ và nhân dân cả nước. Trong đó Đội TNXP 25 trên đường Quyết Thắng, Tổng đội TNXP 572, C759 (Đội TNXP 75), C551 (Đội TNXP 55), 10 chiến sĩ TNXP Ngã ba Đồng Lộc và Nguyễn Trí Ân (Đội TNXP 55), 13 chiến sĩ TNXP Truông Bồn (Đội TNXP 300), Nguyễn Thị Kim Huế (Đội TNXP 75), Đinh Thị Thu Hiệp (Đội TNXP 73), Nguyễn Thị Vân Liệu (Đội TNXP 25)… là những tấm gương tiêu biểu đạt thành tích xuất sắc nhất được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động và Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Ảnh
Tiểu đội 4, Đại đội TNXP 552 trong đó có mười cô gái anh hùng hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Với những thành tích xuất sắc trên, lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, 372 Huân chương, huy chương các loại và hàng ngàn Bằng khen, giấy khen cho các tập thể và cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong có thành tích xuất sắc.
Trên mặt trận chiến trường Nam Bộ: Với tinh thần “Năm xung phong”, Tổng đội Thanh niên xung phong giải phóng miền Nam đã anh dũng kiên cường cùng bộ đội trên các chiến trường tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, vận tải vũ khí, đạn dược, lương thực, vận chuyển thương binh, rà phá bom mìn. Lực lượng Thanh niên xung phong giải phóng miền Nam đã phục vụ 641 trận đánh, trực tiếp chiến đấu trên 40 trận, bắt sống 856 tên địch, trong đó có 286 lính Mỹ, bắn rơi 5 máy bay Mỹ, phá hỏng 20 xe tăng; làm và sửa chữa 29km đường ô tô, 185km đường xe thồ, 125m cầu, đào 1135km hầm hào, xây dựng 8 bệnh viện và 272 kho quân dụng; vận chuyển 23.117 tấn hàng, 9.538 thương binh và đưa 18.000 lượt bộ đội qua sông; chăm sóc nuôi dưỡng 2.077 thương binh; cung cấp cho lực lượng vũ trang 550 cán bộ, chiến sĩ và các cơ quan Trung ương Cục 160 người, điển hình là:
Ảnh 
Thanh niên xung phong miền Nam bốc dỡ hàng hóa phục vụ chiến đấu
– Liên đội I trên tuyến đường 1C, trong suốt 9 năm hoạt động đã dũng cảm chiến đấu vượt qua mưa bom bão đạn của địch, vận chuyển 10.000 tấn quân trang, tiếp nhận đưa về mũi Cà Mau trên 1 vạn quân, phối hợp cùng bộ đội chiến đấu bắn rơi 100 máy bay, diệt 50 xe tăng và tàu sắt, giữ vững thông suốt tuyến đường huyết mạch từ Khu 9 về Trung ương Cục.
– Đội 2311, Đội 1265, Đội 112, Đội 1263, Đội 32… thường xuyên theo sát quân giải phóng đánh trận, âm thầm lần mò trong đêm tối, dưới trời mưa, đường lầy, cắt rừng tránh địch phục kích, vượt qua bãi mìn của địch, vận chuyển quân lương, thương binh, chiến đấu với địch, phục kích bảo vệ thương binh.
Ảnh
 Đội 2311 – Lá cờ đầu của Liên đội 5
Với những thành tích xuất sắc đó, lực lượng Thanh niên xung phong giải phóng miền Nam đã được tặng thưởng 01 Huân chương Thành đồng hạng Nhất, 03 Huân chương Thành đồng hạng Ba, 01 Huân chương Quân công hạng Ba, 10 Huân chương Giải phóng hạng Nhất, 50 Huân chương Giải phóng hạng Hai, 117 Huân chương Giải phóng hạng Ba, 26 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, 152 Huy chương Giải phóng hạng Nhất, 207 Huy chương Giải phóng hạng Hai, 54 dũng sĩ các loại, hàng ngàn Bằng khen, giấy khen. Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho lực lượng Thanh niên xung phong giải phóng miền Nam năm 2009.
Lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy truyền thống của các thế hệ thanh niên xung phong đi trước lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần quan trọng trong sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đóng góp công lao, thành tích to lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
Lê Khiêm (tổng hợp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32