CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 57/a ( Đường mòn HCM)
(ĐC sưu tầm trên NET)
B. MỞ RỘNG HÀNH LANG CHIẾN LƯỢC – TĂNG CƯỜNG CHI VIỆN, CHỐNG CHIẾN TRANH NGĂN CHẶN CỦA MỸ – NGỤY (1965-1975)
1. Mở rộng hành lang chiến lược – tăng cường chi viện cho chiến trường miền Nam
Ngày 19/5/1959, Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) thành
lập, đánh dấu sự khởi đầu của tuyến đường Trường Sơn. Mạng lưới giao
thông quân sự này chạy dọc dãy Trường Sơn, từ miền Bắc qua miền Trung,
hạ Lào và Campuchia để chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội
Nhân dân Việt Nam. Vào những năm đầu, việc vận chuyển hàng chi viện
được thực hiện bằng hình thức đi bộ, gùi thồ. Trong ảnh là các chiến sĩ
của trung đoàn 70 - đơn vị đầu tiên của bộ đội Trường Sơn - đang thồ
hàng trên tuyến Tây Trường Sơn tháng 9/1961.
Tuy giữ được bí mật nhưng việc vận chuyển bằng phương
pháp thô sơ không đem lại hiệu quả do quãng đường vận tải dài tới 2.000
km. Sau 2 năm như vậy, việc vận tải bắt đầu chuyển sang cơ giới. Trong
ảnh, đại đội 128 dân công tỉnh Thái Bình xẻ rừng, mở đường cơ giới.
Mạng lưới đường cơ giới dần được hình thành lẩn khuất
giữa núi rừng Trường Sơn tạo điều kiện cho những đoàn xe quân sự vận
chuyển lượng lớn binh lực, lương thực và vũ khí từ miền Bắc vào miền
Nam. Cũng từ đây, lực lượng quân sự Mỹ ra sức đánh phá hệ thống giao
thông này bằng bộ binh và không quân, đường Trường Sơn trở thành tuyến
lửa - nơi diễn ra cuộc đấu gan, đấu trí ác liệt giữa hai bên.
Để đánh phá tuyến đường này, quân đội Mỹ lập một hệ
thống máy móc điện tử, thường được gọi là hàng rào điện tử McNamara, để
hướng dẫn máy bay ném bom. Ngoài ra, chất độc da cam cùng một số loại
chất diệt cỏ khác được rải xuống nhiều vùng rừng trên đường Trường Sơn
làm trụi lá cây, các dự án tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn cũng được
Mỹ sử dụng để phá hủy tuyến đường.
Bất chấp bom đạn và chất độc hóa học, những đoàn xe
vẫn tiến về miền Nam. Trong ảnh là chiến sĩ của tiểu đoàn công binh 25,
binh trạm 31, Bộ tư lệnh 559, đang dẫn đường cho xe quân sự tại ngã ba
bắc Siêng Phan đi Xômpêng.
Suốt 16 năm, chiến trường Trường Sơn hứng chịu hơn 4
triệu tấn bom mìn do không quân Mỹ trút xuống. Trên toàn tuyến đường có
tới 2.500 trọng điểm đánh phá. Trong ảnh là trọng điểm ngã ba Đồng Lộc
(Hà Tĩnh), đoàn xe di chuyển qua khu vực dày đặc hố bom.
Đảm bảo sự thông suốt của hệ thống đường Trường Sơn là
các đơn vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không, hoạt động
trong rừng ngay dưới làn bom Mỹ. Trong ảnh là một trạm y tế, nơi các bác
sĩ quân y đang điều trị cho bộ đội.
Các nữ thanh niên xung phong tuổi 20 trên chiến trường
đường Trường Sơn. Vai trò của lực lượng thanh niên xung phong trong
thời gian này thể hiện rõ hơn bao giờ hết.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (giữa) và trung tướng Đồng Sỹ
Nguyên (bên phải) trong chiến dịch đường 9 Nam Lào 1971 - chiến dịch
đem lại quyền kiểm soát hoàn toàn trên mặt đất cho Quân đội nhân dân
Việt Nam trên chiến trường Trường Sơn. Với sự phát triển của thế trận
phòng ngự chủ động, bộ đội Trường Sơn ngày càng làm chủ chiến trường.
Với tổng chiều dài hàng chục ngàn km trải dài trên 5 trục dọc, 21 trục
ngang... các đoàn xe vận tải có thể dễ dàng xuyên dãy Trường Sơn từ Bắc
vào Nam.
Cầu treo bắc qua sông Talê - đường 20, do tiểu đoàn
công binh 33 xây dựng. Khi bị không quân Mỹ oanh tạc, cầu được cất giấu
tại bờ sông, đến khi yên ắng lại cho dựng lại. Cây cầu tồn tại trong 6
năm, giúp hàng nghìn chuyến xe vượt sông an toàn ra mặt trận.
Đoàn xe vận tải hùng hậu của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong
chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 trên đường Trường Sơn, chiến dịch cuối cùng
thống nhất hai miền Nam - Bắc. Ngày
3/6/1976, lời tuyên dương công trạng Bộ đội Trường Sơn của Đảng và Nhà
nước ghi: "Từ buổi đầu mới thành lập, chỉ lấy gùi, thồ làm chính, vận
chuyển trên những con đường nhỏ, hẹp; từ chỗ chỉ hoạt động theo mùa,
phục vụ cho từng chiến dịch, bộ đội Trường Sơn đã đem mồ hôi, xương máu,
lòng dũng cảm, trí thông minh và tài thao lược, xây dựng nên tuyến
đường chiến lược mang tên Bác Hồ vĩ đại". Theo
văn bản lịch sử chính thức của Cơ quan An ninh quốc gia Hoa Kỳ, đường
Trường Sơn được coi là "một trong những thành tựu vĩ đại của nền kỹ
thuật quân sự ở thế kỷ 20".
Ngày nay, tuyến tây Trường Sơn (địa phận Lào) nhiều nơi đã bị bỏ
hoang, một vài điểm được xây dựng trở thành di tích lịch sử. Năm 2000,
đường Hồ Chí Minh, con đường xuyên Việt thứ hai sau quốc lộ 1, bắt đầu
được xây dựng trên tuyến đông Trường Sơn. Chiếc
xe tải ZIL157 của bộ đội Trường Sơn vận chuyển hàng hóa và bộ đội năm
xưa cùng hàng nghìn tư liệu, hiện vật về con đường huyền thoại được lưu
trữ trong Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh tại Km15 - quốc lộ 6, phường Yên
Nghĩa, quận Hà Đông, Hà Nội.
Km số 0 tọa lạc giữa thị trấn Lạt, nằm ngay cạnh con đường huyền thoại Hồ Chí Minh. Ngày 27/11/1972, cán bộ chiến sĩ Đoàn 559 đã khởi công xây dựng tuyến đường Đông Trường Sơn nối đến tận Lộc Ninh là tuyến mạch máu cung cấp hậu cần góp phần để quân và dân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử của chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.
Nguyễn Duy
Trận đồ bát quái xuyên rừng rậm - Phần 1
Đường Trường Sơn - Đường mòn Hồ Chí Minh hay đường 559 là một con đường
huyền thoại.
Trước sự đàn áp của chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm và quan điểm chỉ
đấu tranh ngoại giao của các nước anh em, Đảng và Nhà nước ta đã quyết
định sử dụng con đường vượt dãy Trường Sơn, con đường xuyên suốt chiều
dài lịch sử dân tộc để chi viện cho Miền Nam, thống nhất đất nước
Khái lược về: Đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước – qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn
A. CON ĐƯỜNG MANG TÊN BÁC
1. Đường “xuyên sơn Hồ Chí Minh”
Năm 1954, Hiệp định Genève về chấm dứt
chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Theo các điều khoản
của Hiệp định, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, lấy vĩ tuyến
17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, 2 năm sau sẽ thực hiện tổng tuyển cử
thống nhất đất nước.
Ở miền Nam Việt Nam, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về nước dựng lên chính quyền tay sai, dã tâm chia cắt lâu dài đất nước ta.
Lên cầm quyền ở miền Nam, Ngô Đình Diệm
tuyên bố không công nhận Hiệp định Genève, từ chối hiệp thương tổng
tuyển cử cũng như mọi đề nghị bình thường hóa quan hệ hai miền Nam –
Bắc.
Thực hiện chia cắt lực lượng cách mạng 2
miền Nam – Bắc, từ năm 1955, ngụy quyền Sài Gòn huy động lực lượng biệt
kích, thám báo, lần tìm dấu vết hệ thống đường mòn mà Đảng – nhà nước
và nhân dân Việt Nam đã sử dụng để chi viện cho chiến trường miền Nam
trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đến năm 1956, những báo cáo bước đầu của
Nha Giám đốc An ninh Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa đã
cho thấy sự hiện diện của một hệ thống đường mòn mang tên Bác mà ngụy
quyền Sài Gòn gọi là con đường “XUYÊN SƠN HỒ CHÍ MINH” hay “ĐƯỜNG MÒN HỒ
CHÍ MINH”([1]).
Theo các báo cáo này, “đường mòn Hồ Chí
Minh” được thiết lập từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp nhưng đến
cuối năm 1949 mới hoàn thành, là trục đường cho cán bộ “Quân chính và các đơn vị, đồng thời làm trục chuyển vận vũ khí, vật dụng, tài liệu quan trọng([2])” từ miền Bắc vào Nam (và ngược lại) nằm trên địa bàn các tỉnh miền Trung Việt Nam, có lộ trình:
Chạy dọc Quốc lộ 1 đoạn từ Thanh Hóa đến
Ròn (Bắc tỉnh Quảng Bình) – xuyên qua vùng rừng núi phía Tây các tỉnh
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên cho đến Nam Quảng Nam – theo Quốc lộ 1
từ Quảng Ngãi, Bình Định và một phần Phú Yên – qua vùng rừng núi của
các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận([3]).
2. Xây dựng tuyến chi viện chiến lược (1959-1965)
Năm 1959, trước sự phát triển của cách
mạng, chính quyền Ngô Đình Diệm đẩy mạnh đàn áp, thực thi “quốc sách Tố
cộng” với phương châm “Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Diệm ban hành Luật
10/59, đặt “những người cộng sản” ra ngoài vòng pháp luật, lê máy chém
khắp miền Nam, “tự do” truy lùng, khủng bố, bắt, giết, giam cầm hàng
chục vạn quần chúng yêu nước và cán bộ, chiến sỹ cách mạng.
Từ thực tế phong trào cách mạng, tháng 1
năm 1959, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị
lần thứ 15, xác định rõ con đường cách mạng miền Nam: “là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Đồng
thời đề ra nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam. Thi hành nhiệm vụ
đề ra, tháng 5/1959, Tổng Quân ủy thành lập “Đoàn công tác quân sự đặc
biệt” lấy phiên hiệu là Đoàn 559 do đồng chí Võ Bẩm làm Đoàn trưởng.
Cùng thời điểm trên, ở trong Nam, Xứ ủy Nam bộ cũng chỉ đạo các tỉnh tổ
chức đội tuyên truyền vũ trang làm nhiệm vụ xoi đường, bắt liên lạc với
đoàn cán bộ miền Bắc vào.
Đến năm 1960, với phương châm: “Tuyệt đối bí mật và an toàn tránh địch, lánh dân”, thực hiện khẩu hiệu “ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”,
sau thời gian xoi đường, hai đoàn Nam – Bắc đã gặp nhau, chuyến hàng
đầu tiên đã vào chiến trường miền Nam an toàn. Hành lang nối hậu phương
lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam được thông suốt. Hệ thống đường
giao liên giữa các tỉnh, các vùng và các bưu trạm, căn cứ cũng được
thiết lập thành hệ thống hành lang thống nhất, từ khu IV vào khu V, VI
và Nam bộ.
Theo báo cáo của Phòng Nhì, Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa, hành lanh trên bộ mang tên “hành lang Thống Nhất”, “chạy từ miền Bắc, dọc theo biên giới Lào – Việt vào miền Nam, đi sâu trong nội địa tới tận Cà Mau”. Trên hành lang này “cứ cách 1 ngày đường lại có trạm nghỉ chân cho cán bộ và cách 2,3 ngày đường lại có trạm tiếp tế”. Riêng tuyến trên biển, được thiết lập từ năm 1960, tiến dọc theo duyên hải vào sâu phía Nam, đổ bộ lên bờ biển các tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận ở miền Trung và các tỉnh An Xuyên, Ba Xuyên, Vĩnh Bình, Kiến Hòa([4]) ở miền Tây Nam bộ bằng thuyền đánh cá hoặc tàu biển.
Đường Hồ Chí Minh trên bộ([5])
Gồm 2 cung đoạn:
- Từ Xuân Mai (Hà Đông) tới Vinh theo 2 hướng tới Tchépone dài 550-600km, đi mất 4-5 ngày bằng xe hơi:
+) Theo Quốc lộ 8 qua trạm Quan hệ Bắc Nam, qua Napé, xuống tới gần Tchépone.
+) Theo Quốc lộ 12 qua đèo Mụ Già, qua Na-phao, xuống Tchépone.
- Từ Tchépone đi bộ xuống phía Nam qua Mương-nong – Tamprill (10 ngày).
+) Các Đoàn vào khu V, khu VI (miền Trung – Tây Nguyên) sẽ theo các lộ trình:
- Tamprill – Ayen – Bengiang: 15 ngày
- Tamprill – Mangkhel – Đỗ Xá: 37 ngày
- Tamprill – Van Tat – Konhannung: 60 ngày
- Tamprill – Bản Đôn – Chud’lcya: 75 ngày
+) Các Đoàn vào khu VII, khu VIII và khu
IX (Nam bộ) sẽ theo lộ trình Tamprill – Bản Đôn – Chiến khu D (72
ngày), rồi từ Chiến khu D sẽ tới các đia phương.
Từ giữa năm 1962 trở đi, bên cạnh hệ
thống đường, một hệ thống đường mới được xây dựng nằm sát biên giới Việt
– Lào, có lộ trình:
Từ Xuân Mai qua Phủ Nho Quan (Ninh Bình)
– Hà Trung – Cẩm Thủy – Bái Thượng – Như Xuân (Thanh Hóa) ra đến Quốc
lộ 1, xe chạy về hướng Nam qua Phủ Diễn Châu – Vinh – Hà Tĩnh đến Đồng
Hới. Qua Đồng Hới đến xã Mỹ Đức chạy theo đường đất đến Trạm 70 rồi đến
chân núi 1001. (thời gian đi khoảng 4 ngày)
Từ đây Đoàn bắt đầu đi bộ qua chân núi
đến Trạm 2 – Núi 800 – Trạm 4 qua Bến Hải đến Trạm 9 – vượt qua Quốc lộ 9
(cách Lao Bảo khoảng 10km). Sau đó, Đoàn tiếp tục qua các trạm giao
liên đến Bắc An để về Quảng Nam, Quảng Tín.
Sau đó, đi cặp theo biên giới xuống vùng Vạn Tất (Kon Tum) để về các tỉnh Kon Tum – Pleiku – Darlac và vào thẳng Nam bo.
Đường Hồ Chí Minh trên biển([6])
Hải trình trên biển được thiết lập theo 3 hình thức.
- Hợp pháp:
Các ghe, thuyền từ Cửa Thuận có đầy đủ
giấy tờ hợp pháp, tới hải phận tỉnh Thừa Thiên chạy và sinh hoạt theo
hải trình của những thuyền đánh cá miền Nam (cách bờ biển khoảng 5km)
- Bán hợp pháp:
Thường đi vào tháng 11 âm lịch đến tháng 3 âm lịch, là mùa có gió thuận.
- Bất hợp pháp:
Là những tàu hay thuyền biển dùng để chở nhiều vũ khí, quân dụng,… thường chạy cách bờ biển khoảng 100km, trên hải phận quốc tế.
Các bến đổ bộ vào miền Nam([7])
| 1. Từ biển Thừa Thiên đến Vũng Tàu | 2. Từ biển Vũng Tàu đến Hà Tiên |
| – Vũng Chơn Mây
– Tam Quan – Vũng Mu – Vũng Lá – Vũng Rô – Phía Đông bến Goi Bay – Phía Nam hòn Keo – Vĩnh Hy – Cửa sông – Cù lao Ré |
– Rạch Khâu Băng
– Sông Bồ Đề – Rạch Gộc – Sông Đồng Cùng: +) Soi Rạp +) cửa Tiểu +) Các cửa sông Cửu Long và Bassac – Vùng bờ biển Hà Tiên |
1. Mở rộng hành lang chiến lược – tăng cường chi viện cho chiến trường miền Nam
Trước nguy cơ sụp đổ của ngụy quân, ngụy
quyền, cứu vãn thất bại của chiến tranh đặc biệt, từ năm 1965, chính
phủ Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu trực tiếp tham chiến ở miền Nam
Việt, tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ và mở rộng chiến tranh ra
miền Bắc.
Đối phó âm mưu mới của Mỹ – ngụy, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, nêu cao khẩu hiệu: “tất cả cho tiền tuyến lớn, tất cả để chiến thắng”.
Thực hiện mục tiêu trên, hành lang chi
viện cho chiến trường miền Nam được mở rộng, đặc biệt là sự xuất hiện
của các tuyến chi viện bằng xe cơ giới. Từ năm 1967, trở đi hệ thống
đường Hồ Chí Minh thực sự trở thành huyết mạch chi viện cho chiến trường
miền Nam.
Về tổ chức, Đoàn 599 – bí danh Đoàn Quang Trung, có nhiệm vụ chiến lược, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị phải trở thành “một Đoàn hậu cần chiến lược, chiến dịch và chiến đấu” với các nhiệm vụ của: “Một
đội quân hậu cần chiến lược rất giỏi”; “Một đội quân sản xuất rất
giỏi”; “Một đội quân chiến đấu rất giỏi”; “Một đội quân quốc tế giúp bạn
rất giỏi”. Theo báo cáo của chính quyền Sài Gòn, giai đoạn
1965-1975, Đoàn có lực lượng trên 40 tiểu đoàn, bao gồm công binh, quân
giới, phòng không, bộ binh, quân y, thông tin, hậu cần, dân công. Trong
đó có 10 tiểu đoàn và 2 đại đội biệt lập cơ giới với hàng ngàn chiếc xe
vận tải từ 2-4 tấn.
Cùng phối hợp với Đoàn 559, còn các đoàn
Hậu cần R (hậu cần Trung ương Cục miền Nam), các khu và tỉnh, tạo thành
một hệ thống thông suốt, thống nhất từ hậu phương lớn miền Bắc vào các
chiến trường miền Nam.
Hệ thống đường sá cũng được nâng cấp gồm
5 loại: đường đất, đường trải đá, đường “rong đanh” (lát thân cây),
đường ngầm và đường “Ghi” (lát bằng những tấm grille), đảm bảo cho xe cơ
giới lưu thông ngày đêm. Đồng thời, trong giai đoạn này, nhiều lộ trình
mới cũng được mở. Đặc biệt là hệ thống đường Sihanouk được mở từ cuối
năm 1965, nối đường Hồ Chí Minh từ ngã ba biên giới (Việt – Lào –
Campuchia) chạy dọc biên giới Campuchia đưa hàng vào miền Nam.
Đường Hồ Chí Minh([8])
- “Đường Trục” – đường chính:
Từ Hà Tĩnh xuống Quảng Bình qua Binh
trạm 1 (tại km số 50 Quảng Bình) qua Khe Rinh, qua Tây Bắc Bến Hải, qua
Lào vào Quốc lộ 9 (Binh trạm 2) qua phà Thamé. Từ đây chia làm 2 ngả:
+) Một đường vào Khe Sanh, Rào Quán – Cà Lu
+) Một đường xuống Binh trạm 3 (trên
đất Lào, Tây Bắc Ashau) xuống Binh trạm 4 (Tây Ashau) vào Binh trạm 7
(tại thung lũng Ashau).
Từ Binh trạm 7 (Ashau) con đường chia làm các hướng:
+) Tiến về Huế (đường B73): Khởi hành từ
Binh trạm 7 lên Kon Tum qua Tà Bạt đi Đông A Tây, lên phía Bắc, qua
sông Bồ (sông Rào Nai) đến Binh trạm 8 chi viện cho Mặt trận Huế.
+) Đường đi Binh trạm 21 (dài 123 km):
Từ Binh trạm 7 qua biên giới Lào, thẳng xuống Đông Đông Nam vào đất
Quảng Nam, qua các trạm S9, 10, 11, 12,… xuống Binh trạm 21 tại Quốc lộ
14 (thuộc vùng Thượng Đức – Quảng Nam), chi viện cho Mặt trận B3 và khu
V.
- Đường phụ:
+) Ngả Khe Sanh:
Từ Binh trạm 2 vào Quốc lộ 9, vòng trên
phía Bắc Khe Sanh, đến sông Rào Quán, sang Cà Lu, xuống Kako (ranh giới
giữa Quảng Trị – Thừa Thiên) vào A Lưới, xuống Tà Bạt, vào thung lũng
Ashau (Binh trạm 7). Và một đường khác từ Kako đi Phong Điền qua động
Cô Tiên.
+) Ngả Nam Lao Bảo:
Từ Binh trạm 2, vòng xuống phía Nam Quốc lộ 9 với tới Quảng Trị, qua Tà Riệp, Tà Còng vào Kako, xuống A Lưới – Tà Bạt – Ashau.
- Trục qua Lào:
Hệ thống đường qua Lào được gọi là “Cụm
C” nói với “Cụm B” (phía Việt Nam), qua Binh trạm 2 – “Binh trạm Vạn
tấn” theo 2 lộ trình, một từ đèo Mụ Già xuống và một đường từ Binh trạm 1
qua Khe Rinh, qua Bản San, xuống Tchépone, tới Binh trạm 2 vào Quốc lộ
9.
Cùng với hệ thống các trục đường là hệ
thống giao liên (còn gọi là “Đường giây”) đặt dọc đường trục (đường
chính), có nhiệm vụ đón, đưa, tiếp nhận và dẫn đường cho cán bộ, chiến
sỹ. Các trạm giao liên được tổ chức gồm Văn phòng, câu lạc bộ, nhà
khách, có chỗ ăn ở trú ngụ và hầm trú ẩn. Bên cạnh còn có cơ sở hậu cần,
chăn nuôi, trồng trọt để tự túc lương thực.
Cùng với các trạm là hệ thống các kho
được đặt tên theo cây số, hoặc tên theo binh trạm và địa danh, có nhiều
“lán” để trữ hàng. Mỗi lán có hầm sâu xuống đất. Đặc biệt còn có 1 số
kho đào vào núi “từ sườn bên nọ sang sườn bên kia” để giấu hàng và xe.
- Đường qua Campuchia:
Gồm 10 lộ trình đường bộ và 2 thủy trình
tiến vào miền Nam, được thiết lập dài theo biên giới Việt – Campuchia
vào các tỉnh Kontum, Pleiku, Quảng Đức, Phước Long, Bình Long, Tây Ninh,
Kiên Giang.
Đường bộ([9]):
- Đường mòn Sihanouk: xuất phát từ Stung Treng qua Siempang đến B. Tassaing vào vùng giáp biên giới Việt – Campuchia – Lào vào Kontum.
- Theo Quốc lộ 19 bis (Campuchia) hàng hóa được chở đến Tây biên giới Campuchia với tỉnh Pleiku, tại đây xe thồ và dân công sẽ đưa hàng vào miền Nam.
- Quảng Đức: hàng hóa được Đoàn 86 hậu cần R dùng các phương tiện cơ giới để đưa sâu vào miền Nam.
- Phước Long: đường Bù Gia Mập, khơi công thiết lập từ tháng 2/1966 đến tháng 12/1966, xuất phát từ đất Campuchia đến Bù Gia Mập chạy song song với Quốc lộ 4 qua sông Dak Hoyt về Phước Bình.
- Bình Long: do Đoàn vận tải 18 phụ trách đưa hàng từ biên giới Campuchia vào Bình Long.
- Tây Ninh: từ Minmốt (Campuchia) qua biên giới vào Kàtum và chiến khu Dương Minh Châu.
- Tây Ninh: theo Quốc lộ 22 qua Xamát vào Tây Ninh.
- Tây Ninh: đi ngang chợ trờ Gò Dầu Hạ qua khu vực Bavet.
- Tây Ninh: từ Campuchia vượt biên giới vào khu vực Lò Gò, xóm Giữa. Tại đây, các bộ phận chuyên chở của R sẽ chuyển hàng vào kho suối Dày và vùng bến Tha La.
- Kiên Giang: từ Kompot (Campuchia) hàng hóa được xe chở đến Kampong Trạch vượt biên giới, hàng sẽ được ghe máy chở vào mật khu Trà Tiên (Kiên Giang).
Đường biển([10]):
- Từ hải phận Campuchia, dùng ghe máy hoặc tàu nhỏ qua đảo Phú Quốc đưa hàng vào Kiên Giang, An Xuyên.
- Dùng tàu theo dòng Cửu Long đến gần biên giới, chuyển hàng qua ghe nhỏ vào vùng Tân Châu (Châu Đốc), Hồng Ngự, đưa về tỉnh Tiền Giang.
Ngay từ những ngày đầu phát hiện sự hiện
diện của hệ thống đường Hồ Chí Minh, Mỹ – ngụy đã tập trung rất nhiều
sức lực và tiền của hòng ngăn chặn con đường huyết mạch chi viện cho
tiền tuyến miền Nam.
Dưới thời Ngô Đình Diệm, ngụy quyền Sài
Gòn ồ ạt triển khai các chiến dịch càn quét, đánh phá trên toàn miền
Nam, mục tiêu là các căn cứ kháng chiến cũ. Với những vùng rừng núi,
Diệm cho tung lực lượng thám báo, biệt kích dưới danh nghĩa các đại đội
địa hình với nhiệm vụ đo vẽ bản đồ, nhưng thực chất là đi sâu vào các
vùng rừng núi để tìm kiếm dấu vết, làm chỉ điểm cho không quân ném bom
hệ thống đường mòn chi viện của cách mạng. Đồng thời, Diệm ban hành một
loạt chính sách phong tỏa rừng và kiểm soát gắt gao sự đi lại của quần
chúng.
Từ sau năm 1965, Mỹ – ngụy càng đẩy mạnh
hơn nữa hoạt động ngăn chặn, biến nó thành một cuộc chiến tranh ngăn
chặn thật sự với sự có mặt của các phương tiện chiến tranh hiện đại
nhất, khốc liệt nhất. Có thể kể đến hệ thống máy móc điện tử hướng dẫn
máy bay ném bom, được gọi là hàng rào điện tử Mc. Namara, pháo đài bay
B52. Các loại chất diệt cỏ, hay các chương trình, dự án tạo mưa, các
chất hóa học tạo bùn,… được rải xuống dãy Trường Sơn để phá hủy tuyến
đường.
Cùng với đó là các chiến dịch đánh phá
bằng không quân, như chiến dịch Barrel Roll, chiến dịch Steel Tiger cuối
năm 1964; chiến dịch Sấm Rền nén bom miền Bắc và Bắc Trung bộ từ ngày
20/3/1965,… Chỉ riêng hoạt động của B52, trong 3 năm 1967-1969, Mỹ –
ngụy đã thực hiện 7.252 phi vụ với 1.117.881 tấn bom([11]).
Từ sau năm 1970, để ngăn chặn tuyến chi
viện của cách mạng, Mỹ – ngụy đã tiến hành một cuộc chiến tranh ngăn
chặn toàn diện, có hệ thống với sự hiện diện hầu hết các binh chủng. Bộ
binh, thiết giáp với một loạt cuộc hành quân đổ bộ sang biên giới Việt –
Campuchia, như: Bình Tây I triển khai ngày 5-5-1970 đánh vào biên giới
Việt – Campuchia ở Pleiku; Toàn Thắng 42 triển khai ngày 29-4-1970 mục
tiêu là là vùng biên giới tại Tây Ninh; Toàn Thắng 43 triển khai ngày
1-5-1970 vùng Bình Long, Phước Long; Cửu Long triển khai ngày 8-5-1970 ở
vùng biên giới Mộc Hóa,… quy mô hơn cả là cuộc hành quân Lam Sơn 719
năm 1971.
Song song với các cuộc hành quân, Mỹ –
ngụy huy động đến mức cao nhất hoạt động đánh phá của không quân. Đặc
biệt trong năm 1972, Mỹ đã mang nhiều loại vũ khí và kỹ thuật tôi tân,
lần đầu tiên được sử dụng, như máy bay F111, bom có đầu dẫn bằng tia
lade, tên lửa điều khiển,… với cường độ lớn chưa từng có. Bình quân mỗi
ngày có từ 300-500 lần máy bay cường kích, cùng hàng chục phi vụ B52
trút hàng ngàn tấn bom xuống Việt Nam.
Trong suốt quá trình hoạt động
(1959-1975), đường Hồ Chí (trên bộ) đã chịu đựng trên 8 triệu tấn bom
của Mỹ, trung bình, mỗi mét đường Trường Sơn chịu 5 quả bom. Mỹ – ngụy
hy vọng với sức mạnh quân sự có thể đè bẹp hậu phương lớn miền Bắc và
cắt đứt hành lang chi viện chiến lược của cách mạng.
Nhưng thực tế lịch sử đã có một “huyền
thoại” về con đường mang tên Bác – đường Hồ Chí Minh. Vượt qua bom đạn
và sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cán bộ, chiến sỹ cách mạng đã xây
dựng hệ thống đường gồm:
– 16.700km đường cho xe cơ giới, xuyên
cả 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Trên hệ thống này có 6 tuyến dọc dài
6.800km và 21 tuyến ngang dài 5.000km, 5.000km đường vòng tránh, trong
đó có 800km đường kín, 1.500km đường trải đá, trên 200km đường nhựa;
– 3.000km đường giao liên (đường đi bộ);
– 1.445km đường ống dẫn xăng dầu;
– 600km đường sông([12]);…
Và vận chuyển hơn 1 triệu tấn vũ khí,
cùng hàng triệu lượt cán bộ, chiến sỹ vào Nam an toàn, kịp thời chi viện
cho chiến trường, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tới
thắng lợi hoàn toàn.
Nguyễn Xuân Hoài – Hà Kim Phương
[1]
Công văn số 03353/38/19/H/1/4/N ngày 5-11-1956 của Nha Giám đốc An ninh
Quân đội Cộng hòa VN, hồ sơ 5479, Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng
hòa, TT LTQG II.
[2]
Công văn số 1190/V2CT/2/2/K ngày 30-1-1962 của Phòng 2, Bộ Tư lệnh Vùng
II Chiến thuật VNCH về đường mòn Hồ Chí Minh, hồ sơ 7519, Phông Phủ
Tổng thống đệ nhất Cộng hòa, TT LTQG II.
[3]
Công văn số 1190/V2CT/2/2/K ngày 30-1-1962 của Phòng 2, Bộ Tư lệnh Vùng
II Chiến thuật VNCH về đường mòn Hồ Chí Minh, hồ sơ 7519, Phông Phủ
Tổng thống đệ nhất Cộng hòa, TT LTQG II.
[4]
Công văn số 0236/TTM/2 ngày 21-2-1960 của Phòng Nhì, Tổng Tham mưu Bộ
Quốc phòng VNCH, hồ sơ số 6262, Phông Phủ Tổng thống đệ nhất Cộng hòa,
TT LTQG II.
[5]
Phiếu trình số 01347/TTM/2/6 ngày 24-6-1963 của Phòng Nhì, Tổng Tham
mưu Bộ Quốc phòng VNCH, hồ sơ 32159, Phông Phủ Thủ tướng VNCH, TT LTQG
II.
[6]
Bảng phân phối số 00274/TTM/2/TTOB/2 năm 1966 của Phòng Nhì, Bộ Tổng
Tham mưu Quân lực VNCH, hồ sơ số 15230, Phông Phủ Thủ tướng VNCH, TT
LTQG II.
[7]
Bảng phân phối số 00274/TTM/2/TTOB/2 năm 1966 của Phòng Nhì, Bộ Tổng
Tham mưu Quân lực VNCH, hồ sơ số 15230, Phông Phủ Thủ tướng VNCH, TT
LTQG II.
[8]
Bản phân tách số 1828/TTM/2 ngày 31-5-1968 của Phòng Nhì, Bộ Tổng Tham
mưu Quân lực VNCH, hồ sơ 16177, Phông Phủ Thủ tướng VNCH, TT LTQG II.
[9]
Bản nghiên cứu đặc biệt (tối mật – khẩn) số 023/PTUTB/R/TU ngày
29-12-1967 của Phủ Đặc ủy Turng ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa, hồ sơ
627, Phủ Thủ tướng VNCH, TT LTQG II.
[10]
Công văn (mật) số 2850/PTƯTB/R ngày 14-5-1965 của Phủ Đặc ủy Trung ương
Tình báo Việt Nam Cộng hòa, hồ sơ 15232, Phủ Thủ tướng VNCH, TT LTQG
II.
[11] Báo cáo hoạt động của B52 các năm 1967-1968, hồ sơ 16458, Phông Phủ Thủ tướng VNCH, TT LTQG II.
[12] Đặng Phong, 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Nxb Tri Thức, HN-2008, tr. 119.
Đường mòn Hồ Chí Minh – con đường của những con đường…
VOV.VN-Đường Trường Sơn- Hồ
Chí Minh góp phần to lớn kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến
chống Mỹ, thu non sông về một mối.
Trong
lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã từng khai thông nhiều con
đường để mở mang bờ cõi, bảo vệ non sông, vượt lên sự bao vây, ngăn
chặn… Nhưng có lẽ con đường Trường Sơn – đường mòn Hồ Chí Minh là con
đường vĩ đại nhất, cả trong ý tưởng và thực tế. Đó là con đường sáng
tạo, đột khởi, làm thay đổi cục diện thế lực cách mạng và đi tới thắng
lợi vẻ vang… Đó cũng là con đường của những con đường, con đường của gợi
mở, tiếp nối những con đường…
Đại văn hào người Trung Quốc Lỗ Tấn có câu nói với đại ý: Trên thế giới này làm gì có đường. Người ta đi mãi rồi thành đường.
Không
hẳn thế. Trước khi có con đường hằn trên mặt đất, đã có những con đường
trong ý tưởng, con đường của ý chí. Con đường Trường Sơn 55 năm trước,
trước khi thành con đường mòn có dấu chân lớp lớp chiến sỹ giải phóng
hằn in trên đó, đã là con đường trong tâm tưởng của những người lãnh
đạo, trong khát vọng mỗi người dân Việt Nam. Đó chính là con đường thống
nhất đất nước, con đường vũ trang cách mạng. Cùng tắc biến. Con đường
đi đến thống nhất hai miền Nam – Bắc bằng hiệp thương chính trị, tổng
tuyển cử theo tinh thần Hiệp định Geneva đã không thể thực hiện, do đối
phương tráo trở, thì con đường vũ trang cách mạng phải được tiến hành,
và đường Trường Sơn mở ra, là một tất yếu lịch sử.
|
| Đoàn xe vận tải hùng hậu và quân đội ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 trên đường Trường Sơn (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam)
|
Đường
Trường Sơn, mà sau này, chính đối phương định danh đường mòn Hồ Chí
Minh, là con đường của tinh thần sáng tạo, đột khởi, bất ngờ và biến hóa
không ngừng. Từ một nhóm nhỏ cán bộ soi đường, đến tiểu đoàn giao liên
đầu tiên dẫn quân, đã hình thành một binh đoàn mang tên Binh đoàn Trường
Sơn – Đoàn 559. Từ lối mòn men theo dãy Trường Sơn, đã hình thành hệ
thống đường trục dọc, trục ngang, với đường bộ, đường sông, đường ống,
dài gần 2 vạn km. Trên hệ thống giao thông này, hơn một triệu tấn hàng
hóa, vũ khí được đưa vào các chiến trường; hơn 2 triệu lượt người, 10
lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, 90 đơn vị binh chủng kỹ thuật vào Nam ra Bắc.
Với đối phương, đây là con đường mang đến thảm họa, báo trước sự sa lầy và thất bại. Hơn 4 triệu tấn bom đạn, chất độc hóa học đã đổ xuống; nhiều đời Tổng thống đối phương huy động nhiều bộ não siêu phàm để đối phó, ngăn chặn, nhưng đường Hồ Chí Minh vẫn cứ như gọng kìm siết chặt sào huyệt kẻ thù, chạy thẳng cả vào giấc ngủ, bữa ăn mỗi ngày của đối phương… Chiều sâu kỳ tích và chất huyền thoại của con đường được xây đắp bằng trí tuệ, mồ hôi, xương máu của hàng ngàn, vạn nhân dân, cán bộ, chiến sĩ. Tính từ ngày mở đường đến ngày thống nhất đất nước, con đường tồn tại gần 60.000 ngày đêm. Hơn 20.000 bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông đã hy sinh; hơn 3 vạn người bị thương…
Với đối phương, đây là con đường mang đến thảm họa, báo trước sự sa lầy và thất bại. Hơn 4 triệu tấn bom đạn, chất độc hóa học đã đổ xuống; nhiều đời Tổng thống đối phương huy động nhiều bộ não siêu phàm để đối phó, ngăn chặn, nhưng đường Hồ Chí Minh vẫn cứ như gọng kìm siết chặt sào huyệt kẻ thù, chạy thẳng cả vào giấc ngủ, bữa ăn mỗi ngày của đối phương… Chiều sâu kỳ tích và chất huyền thoại của con đường được xây đắp bằng trí tuệ, mồ hôi, xương máu của hàng ngàn, vạn nhân dân, cán bộ, chiến sĩ. Tính từ ngày mở đường đến ngày thống nhất đất nước, con đường tồn tại gần 60.000 ngày đêm. Hơn 20.000 bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông đã hy sinh; hơn 3 vạn người bị thương…
Con
đường xuyên qua 20 tỉnh từ Bắc vào Nam; chạy qua nước bạn Lào và
Campuchia; vắt từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn, từ Tây Nguyên
xuyên xuống miền Đông, miền Tây Nam Bộ, nếu không có sức sáng tạo và
lòng quả cảm của những người mở đường, nếu không có lòng dân chở che,
bảo vệ và tiếp thêm nguồn lực, nếu không có sự ủng hộ, sẻ chia của bạn
bè quốc tế thì làm sao có thể tồn tại và đến cái đích cần đến! Đường mòn
Hồ Chí Minh là một kỳ tích vĩ đại thể hiện sâu sắc ý Đảng lòng dân,
biểu tượng của khối đoàn kết liên minh 3 nước Đông Dương. Từ con đường
trên bộ, đã có trên đường Hồ Chí Minh trên biển, đường Hồ Chí Minh trên
không, vượt lên sự phong tỏa, ngăn chặn, hướng về miền Nam ruột thịt, vì
sự nghiệp thống nhất đất nước. Đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh chính là
con của những con đường, con đường gợi mở, tiếp nối con đường.
Đường
Trường Sơn – Hồ Chí Minh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, góp phần to lớn
kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, thu non sông về
một mối. Nhưng tính chiến lược, bất ngờ, sức sáng tạo, gợi mở của con
đường có giá trị lâu bền, vượt thời gian…
Từ
mấy chục năm trước, nhà thơ Tố Hữu đã cảm nhận về tầm vóc và sức lan
tỏa con đường: “Đường mòn Hồ Chí Minh” là con đường sáng tạo/Trường Sơn
cao hay địa đạo âm thầm/ Cũng là linh hồn ta, từ bốn nghìn năm/ Tự xây
đắp để ngang tầm thế kỷ”. Và nhà thơ Tố Hữu, trong một bài thơ sau này –
Cảm nghĩ đầu xuân 2002, đã lại dự cảm: “Mở rộng con đường huyền thoại
Hồ Chí Minh/ Cho Tổ Quốc mai sau lên tuyến đầu nhân loại”.
Từ
con đường mòn trong chiến tranh, con đường Hồ Chí Minh thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa dài hơn, rộng hơn và hiện đại gấp nhiều lần
đang được các thế hệ lớn lên sau chiến tranh dựng xây, sẽ là một kỳ tích
mới trong hòa bình. Nhưng, như thế chưa đủ, 55 năm trước, nếu Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Trung ương không có quyết định dũng cảm mở đường Trường
Sơn, thì sự nghiệp thống nhất đất nước sẽ cam go, quanh co như thế nào!
Khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc về con đường Hồ Chí Minh trong thời
đại ngày nay, đó là con đường trí tuệ, đột khởi, dũng cảm vượt lên tư
duy giáo điều mòn cũ, không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng tầm dân tộc
“ngang tầm thế kỷ”, đưa dân tộc “lên tuyến đầu nhân loại”./.
Đường Hồ Chí Minh - đường Trường Sơn huyền thoại
Thứ năm - 10/02/2011 16:46
Trên dãy Trường Sơn hùng vĩ của đất nước công hình chữ S,
con đường vinh dự được mang tên vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc - Đường
Hồ Chí Minh đã trở thành một huyền thoại, còn mãi âm vang khúc trường ca
của một thời: "Xẽ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy
tương lai". Ngày ấy, ngày sinh nhật Bác Hồ (19/5/1959), tuyến giao liên
vận tải quân sự Trường Sơn chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ
được phát lệnh mở đường.
Đường Hồ Chí Minh - đường Trường Sơn huyền thoại
Địa điểm
Khe Hó, một thung lũng phía Tây nam Vĩnh Linh- Quảng Trị được chọn làm
điểm xuất phát đầu tiên của con đường lịch sử. Trải qua 16 năm chiến
đấu ác liệt gian khổ, không chùn bước trước mọi khó khăn, gian khổ, cả
Trường Sơn sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Lực lượng nào, đơn vị
nào cũng có những sự tích anh hùng; con đường nào, địa điểm nào cũng là
mãnh đất thiêng liêng rực lửa. Bộ đội đường Hồ Chí Minh đã thắng địch,
"thắng trời" làm nên con đường huyền thoại- Con đường đi tới độc lập, tự
do của Tổ quốc. Văn bia trên Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn khắc đậm
dòng chữ: "Năm tháng sẽ trôi qua, những đóng góp của bộ đội đường Hồ Chí
Minh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến vào cuộc chi viện cho
các chiến trường sẽ mãi mãi được ghi vào trang sử oanh liệt của dân tộc
ta, của quân đội ta như một thiên anh hùng ca bất tử..."Từ năm 1973,
Tổng Bí thư Lê Duẩn đã từng căn dặn, đường Trường Sơn sau này phải được
mở rộng và kéo dài phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa. Hơn 20 năm sau ngày đất nước thống nhất, huyền
thoại Trường Sơn lại được tô đậm với con đường mà cả nước mong đợi.
Tháng 5 năm 2000, đường Trường Sơn được phát lệnh khởi công. Con đường
của thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa được bạt núi, san đèo nối dài
đất nước, mở hướng khai thác tiềm năng kinh tế - xã hội phía Tây của
Tổ quốc. Con đường mòn huyền thoại- con đường Hồ Chí Minh oai hùng sẽ
mãi mãi là niềm tự hào và kiêu hãnh.
Dọc hai bên đường Hồ Chí Minh hiện đại, nhánh đông từ Thạch Quảng
(Thanh Hoá) đến Khe Sanh (Quảng Trị), dáng dấp của con đường xuyên Việt
hiện ra với 2 làn xe chạy cùng những cầu, cống, hệ thống thoát nước,
chống sụt trượt được kiên cố. Trên tuyến đường phẳng lì còn tươi màu sơn
đã hình thành những khu phố, những thị tứ mới với nhà cửa san sát. Hơi
thở của cuộc sống hiện đại đã tràn về hai bên đường Hồ Chí Minh, cho tới
những bản làng heo hút dọc dải đất phía Tây xa xôi. Trên tuyến đường
thuộc tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, nhà sàn của đồng bào dân tộc Vân Kiều,
Pa Cô mọc lên san sát, nhiều gia đình đã bắt đầu biết mở quán bán
hàng. Trước đây những vùng này đất hoang hoá, bom cày, đạn xới, đường đi
khó khăn, cách trở, cơ sở hạ tầng đều thấp kém, lạc hậu. Nay được ''dải
lụa Trường Sơn'' vắt qua, những công trình, những nét văn minh đã về
tới gần 200 xã đặc biệt khó khăn ở vùng xâu, vùng xa của đất nước. Con
đường Hồ Chí Minh công nghiệp hoá cũng sẽ là tiền đề cho việc phát huy
mọi nguồn lực ở địa phương. 10 triệu ha đất trồng cây công nghiệp dọc
tuyến đang được quy hoạch lại. Tỉnh Quảng Trị đang tập trung đầu tư cho
khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo, xây dựng Lao Bảo trở thành
phố núi trên dãy Trường Sơn hùng vĩ, cửa ngõ trên tuyến đường xuyên Á
Đông - Tây. Các huyện Hướng Hóa, Đakrông, Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh có
con đường Hồ Chí Minh đi qua đã chuẩn bị dự án về các khu công nghiệp,
vùng nguyên liệu để xoá đói giảm nghèo, để tận dụng đất đai và nguồn
nhân lực. Các làng thanh niên lập nghiệp dọc tuyến đường đã được thành
lập và bắt đầu phát huy hiệu quả. Đoạn đường Hồ Chí Minh huyền thoại nối
từ Đường 9- Khe sanh đến Tà Long (huyện ĐaKrông) đi qua khu bảo tồn
thiên nhiên kỳ vĩ, qua các bản làng đồng bào dân tộc đang sinh sống đã
được phục hồi nguyên trạng với các lán trại, hầm hào chiến đấu để phục
vụ du khách trong chương trình hoài niệm chiến trường xưa, như là một
gạch nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa một thời con đường Hồ Chí Minh
trong chiến trận đến con đường Hồ Chí Minh CNH-HĐH thế kỷ 21.
Đường Hồ Chí Minh nhánh Tây đã hoàn thành. Con đường mòn chỉ toàn cỏ
dại, suối sâu, đèo cao và mây mù thời chiến tranh nay đã là con đường
Tây Trường Sơn bằng bê tông uốn lượn vắt vẻo qua từng dãy núi phía Tây
của Tổ quốc. Con đường nhánh Tây đi từ địa danh một thời khói lửa Khe
Sanh trở về ''hang tám cô'' linh thiêng trên ''đường 20 quyết thắng'' ở
Quảng Bình. Trên độ cao trung bình hơn 400m so với mặt nước biển, khí
hậu nơi đây hòa hợp giữa 2 vùng Đông và Tây Trường Sơn, nên 200km đường
lúc ẩn trong sương mù Trường Sơn, lúc hiện ven đường biên giới nước bạn
Lào. Trải dài trên con đường là bạt ngàn rừng cây đang vươn mình tít
tắp, thấp thoáng những trang trại vườn đồi VAC quy mô lớn, hứa hẹn những
vụ mùa bội thu. Đường Trường Sơn Tây đang trở thành trục đường kinh tế -
quốc phòng quan trọng, góp phần trong việc phát triển du lịch với những
sản phẩm độc đáo, đa dạng. Trên những chặng đường Đông Trường Sơn và
Tây Trường Sơn huyền thoại hôm nay đang bừng thức dậy những tiềm năng,
thế mạnh để cùng hoà nhịp trên tuyến Hành lang kinh tế Đông- Tây trong
công cuộc dựng xây vì một Quảng Trị mạnh giàu.
Con đường Trường Sơn năm xưa trải đầy thử thách. Dù gian khổ, hy sinh, đèo cao, vực sâu nhưng lòng người không nản, bước chân không lùi, tất cả vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: "Trường Sơn đông nắng, tây mưa, ai chưa đến đó như chưa rõ mình". Hôm nay, trên con đường Trường Sơn hiện đại, rộn rã đi lên trong nhịp sống mới, đang đòi hỏi thế hệ chúng ta hãy mang sức lực và trí tuệ ra sức khai thác tiềm năng dồi dào phía tây của Tổ quốc, để con đường CNH-HĐH đưa đất nước, quê hương ngày càng trở nên giàu đẹp, phồn vinh.
Con đường Trường Sơn năm xưa trải đầy thử thách. Dù gian khổ, hy sinh, đèo cao, vực sâu nhưng lòng người không nản, bước chân không lùi, tất cả vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: "Trường Sơn đông nắng, tây mưa, ai chưa đến đó như chưa rõ mình". Hôm nay, trên con đường Trường Sơn hiện đại, rộn rã đi lên trong nhịp sống mới, đang đòi hỏi thế hệ chúng ta hãy mang sức lực và trí tuệ ra sức khai thác tiềm năng dồi dào phía tây của Tổ quốc, để con đường CNH-HĐH đưa đất nước, quê hương ngày càng trở nên giàu đẹp, phồn vinh.
Những hình ảnh hiếm về đường Trường Sơn huyền thoại
Đường Trường Sơn hay đường mòn Hồ Chí Minh là mạng lưới giao thông quân
sự chiến lược vận chuyển binh lực, lương thực và vũ khí từ miền Bắc chi
viện cho chiến trường miền Nam. Người Mỹ ghi nhận, đây là "một trong
những thành tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ 20".
Ngày 19/5/1959, Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) thành
lập, đánh dấu sự khởi đầu của tuyến đường Trường Sơn. Mạng lưới giao
thông quân sự này chạy dọc dãy Trường Sơn, từ miền Bắc qua miền Trung,
hạ Lào và Campuchia để chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội
Nhân dân Việt Nam. Vào những năm đầu, việc vận chuyển hàng chi viện
được thực hiện bằng hình thức đi bộ, gùi thồ. Trong ảnh là các chiến sĩ
của trung đoàn 70 - đơn vị đầu tiên của bộ đội Trường Sơn - đang thồ
hàng trên tuyến Tây Trường Sơn tháng 9/1961.
Tuy giữ được bí mật nhưng việc vận chuyển bằng phương
pháp thô sơ không đem lại hiệu quả do quãng đường vận tải dài tới 2.000
km. Sau 2 năm như vậy, việc vận tải bắt đầu chuyển sang cơ giới. Trong
ảnh, đại đội 128 dân công tỉnh Thái Bình xẻ rừng, mở đường cơ giới.
Mạng lưới đường cơ giới dần được hình thành lẩn khuất
giữa núi rừng Trường Sơn tạo điều kiện cho những đoàn xe quân sự vận
chuyển lượng lớn binh lực, lương thực và vũ khí từ miền Bắc vào miền
Nam. Cũng từ đây, lực lượng quân sự Mỹ ra sức đánh phá hệ thống giao
thông này bằng bộ binh và không quân, đường Trường Sơn trở thành tuyến
lửa - nơi diễn ra cuộc đấu gan, đấu trí ác liệt giữa hai bên.
Để đánh phá tuyến đường này, quân đội Mỹ lập một hệ
thống máy móc điện tử, thường được gọi là hàng rào điện tử McNamara, để
hướng dẫn máy bay ném bom. Ngoài ra, chất độc da cam cùng một số loại
chất diệt cỏ khác được rải xuống nhiều vùng rừng trên đường Trường Sơn
làm trụi lá cây, các dự án tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn cũng được
Mỹ sử dụng để phá hủy tuyến đường.
Bất chấp bom đạn và chất độc hóa học, những đoàn xe
vẫn tiến về miền Nam. Trong ảnh là chiến sĩ của tiểu đoàn công binh 25,
binh trạm 31, Bộ tư lệnh 559, đang dẫn đường cho xe quân sự tại ngã ba
bắc Siêng Phan đi Xômpêng.
Suốt 16 năm, chiến trường Trường Sơn hứng chịu hơn 4
triệu tấn bom mìn do không quân Mỹ trút xuống. Trên toàn tuyến đường có
tới 2.500 trọng điểm đánh phá. Trong ảnh là trọng điểm ngã ba Đồng Lộc
(Hà Tĩnh), đoàn xe di chuyển qua khu vực dày đặc hố bom.
Đảm bảo sự thông suốt của hệ thống đường Trường Sơn là
các đơn vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không, hoạt động
trong rừng ngay dưới làn bom Mỹ. Trong ảnh là một trạm y tế, nơi các bác
sĩ quân y đang điều trị cho bộ đội.
Các nữ thanh niên xung phong tuổi 20 trên chiến trường
đường Trường Sơn. Vai trò của lực lượng thanh niên xung phong trong
thời gian này thể hiện rõ hơn bao giờ hết.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (giữa) và trung tướng Đồng Sỹ
Nguyên (bên phải) trong chiến dịch đường 9 Nam Lào 1971 - chiến dịch
đem lại quyền kiểm soát hoàn toàn trên mặt đất cho Quân đội nhân dân
Việt Nam trên chiến trường Trường Sơn. Với sự phát triển của thế trận
phòng ngự chủ động, bộ đội Trường Sơn ngày càng làm chủ chiến trường.
Với tổng chiều dài hàng chục ngàn km trải dài trên 5 trục dọc, 21 trục
ngang... các đoàn xe vận tải có thể dễ dàng xuyên dãy Trường Sơn từ Bắc
vào Nam.
Cầu treo bắc qua sông Talê - đường 20, do tiểu đoàn
công binh 33 xây dựng. Khi bị không quân Mỹ oanh tạc, cầu được cất giấu
tại bờ sông, đến khi yên ắng lại cho dựng lại. Cây cầu tồn tại trong 6
năm, giúp hàng nghìn chuyến xe vượt sông an toàn ra mặt trận.
Đoàn xe vận tải hùng hậu của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong
chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 trên đường Trường Sơn, chiến dịch cuối cùng
thống nhất hai miền Nam - Bắc. Ngày
3/6/1976, lời tuyên dương công trạng Bộ đội Trường Sơn của Đảng và Nhà
nước ghi: "Từ buổi đầu mới thành lập, chỉ lấy gùi, thồ làm chính, vận
chuyển trên những con đường nhỏ, hẹp; từ chỗ chỉ hoạt động theo mùa,
phục vụ cho từng chiến dịch, bộ đội Trường Sơn đã đem mồ hôi, xương máu,
lòng dũng cảm, trí thông minh và tài thao lược, xây dựng nên tuyến
đường chiến lược mang tên Bác Hồ vĩ đại". Theo
văn bản lịch sử chính thức của Cơ quan An ninh quốc gia Hoa Kỳ, đường
Trường Sơn được coi là "một trong những thành tựu vĩ đại của nền kỹ
thuật quân sự ở thế kỷ 20".
Ngày nay, tuyến tây Trường Sơn (địa phận Lào) nhiều nơi đã bị bỏ
hoang, một vài điểm được xây dựng trở thành di tích lịch sử. Năm 2000,
đường Hồ Chí Minh, con đường xuyên Việt thứ hai sau quốc lộ 1, bắt đầu
được xây dựng trên tuyến đông Trường Sơn. Chiếc
xe tải ZIL157 của bộ đội Trường Sơn vận chuyển hàng hóa và bộ đội năm
xưa cùng hàng nghìn tư liệu, hiện vật về con đường huyền thoại được lưu
trữ trong Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh tại Km15 - quốc lộ 6, phường Yên
Nghĩa, quận Hà Đông, Hà Nội.
Theo VnExpress
Con đường huyền thoại và di tích Km số 0
Dân trí Ngày 19/5/1959, Bác Hồ quyết định thành lập tuyến vận tải chiến lược để chi viện cho miền Nam và các nước bạn- sau này trở thành con đường Hồ Chí Minh. Điểm xuất phát tại thị trấn Lạt (Tân Kỳ, Nghệ An) được đánh dấu bằng cột mốc số 0.
Km số 0 tọa lạc giữa thị trấn Lạt, nằm ngay cạnh con đường huyền thoại Hồ Chí Minh. Ngày 27/11/1972, cán bộ chiến sĩ Đoàn 559 đã khởi công xây dựng tuyến đường Đông Trường Sơn nối đến tận Lộc Ninh là tuyến mạch máu cung cấp hậu cần góp phần để quân và dân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử của chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.
“Đường Trường Sơn là một chiến công chói lọi, trong lịch sử kháng
chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Đường Trường Sơn là con đường
của ý chí quyết thắng, của lòng dũng cảm và của khí phách anh hùng. Đó
là con đường nối liền Nam - Bắc thống nhất nước nhà, là con đường tương
lai giàu có của Tổ quốc ta. Đó cũng là con đường đoàn kết của các dân
tộc, của ba nước Đông Dương” - Phát biểu của đồng chí Lê Duẩn trong dịp
về thăm bộ đội Trường Sơn năm 1973.
Cột mốc số 0 thời chiến tranh. (Ảnh do Trung tâm văn háo huyện Tân Kỳ cung cấp)
Để có được con đường Trường Sơn với bao chiến thắng hào hùng của
một thời kỳ lich sử và có được như ngày hôm nay đã trải qua một thời kỳ
lịch sử lâu dài với bao nhiêu mồ hôi nước mắt, đánh đổi cả sự hy sinh
xương máu của bao lớp cha anh đi trước. Năm 1954, đất nước ta chia làm
hai miền và hai chế độ chính trị xã hội khác nhau. Miền bắc hoàn toàn
giải phóng và đi lên CNXH, đồng thời làm nhiệm vụ hậu phương lớn cho
Miền nam để đánh Mỹ cứu nước.
Cột mốc số 0 thời chiến tranh. (Ảnh do Trung tâm văn háo huyện Tân Kỳ cung cấp)
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra ngày càng ác liệt, trước
tình hình đó. Ngày 19/5/1959, Bác Hồ đã quyết định và trực tiếp giao
nhiệm thành lập tuyến đường vận tải chiến lược để chi viện sức người sức
của cho cách mạng miền Nam và giúp nước bạn Lào, Campuchia. Tuyến vận
tải đó sau này lấy tên là đường Hồ Chí Minh. Đây là con đường chiến lược
đặc biệt nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn, con đường mang tên
Hồ Chí Minh vĩ đại.
Cột mốc số 0 (Km 0) sau ngày giải phóng đã được làm lại lần thứ hai và sau này lại được xây dựng lại... (ảnh Trung tâm VH huyện Tân Kỳ cung cấp)
Ngày
9/8/1964, trung đoàn 98 đơn vị công binh do đồng chí Phan Quang Tiệp
làm trung đoàn trưởng đã vào Trường Sơn sớm nhất, bổ nhát cuốc đầu tiên,
mở đường cơ giới trên đường Hồ Chí Minh (dốc Com Mèo, A Lưới, Thừa
Thiên Huế). Đường cơ giới chiến lược Hồ Chí Minh được mở từ giữa ra 2
đầu và đến huyện Tân Kỳ (Nghệ An) năm 1972.
Ngày 25/10/1965, đoàn xe cơ giới đầu tiên với hàng
trăm chiếc mang tên “Ngọn đèn xanh Bác Hồ” đưa hàng sâu vào chiến
trường, mở đầu cho giai đoạn vận tải cơ giới lớn liên tục trên đường Hồ
Chí Minh. Đường mở tới đâu xe tiến sâu tới đó.
Lãnh đạo Nhà nước về thăm cột mốc số 0 và chụp ảnh kỷ niệm (Ảnh do TTVH huyện Tân Kỳ cung cấp)
Năm 1972, đường cơ giới chiến lược Hồ Chí Minh được mở ra đến Tân Kỳ
và mốc Km 0. Đây cũng chính là điểm khởi đầu của con đường cơ giới chiến
lược Hồ Chí Minh ở phía đông Trường Sơn bắt đầu từ Tân Kỳ (Nghệ An) đến
Lộc Ninh (Bình Phước). Đường cơ giới chiến lược Hồ Chí Minh kéo dài từ
Bắc vào Nam với tổng 17.000km, riêng ở đông Trường Sơn là 1.920km với 5
hệ thống đường dọc và 21 trục ngang nối liền các chiến trường.
Đường mòn Hồ Chí Minh không chỉ có vai trò quan trọng trong chiến tranh mà ngày nay còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội…Và năm 1989, đường mòn Hồ Chí Minh được xây dựng lại theo tiêu chuẩn quốc gia và gắn với con đường huyền thoại này là cột mốc số 0. Ngày 27/4/1990, Km 0 được công nhận là di tích lịch sử quốc gia.
Đường mòn Hồ Chí Minh không chỉ có vai trò quan trọng trong chiến tranh mà ngày nay còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội…Và năm 1989, đường mòn Hồ Chí Minh được xây dựng lại theo tiêu chuẩn quốc gia và gắn với con đường huyền thoại này là cột mốc số 0. Ngày 27/4/1990, Km 0 được công nhận là di tích lịch sử quốc gia.
Cột
mốc số 0 nay đã được xây dựng lại rất hoành tráng, bề thế như thế này,
ngày ngày đón nhiều du khách trong và ngoài nước tới tham quan.
Sau một thời gian dài với nhiều sự thay đổi, cột mốc số 0 được xây
dựng, sửa sang lại uy nghi, bề thế. Khuôn viên Km 0 có diện tích 600m2,
có nhà truyền thống trưng bày các hiện vật của thời chiến tranh, là nơi
phục vụ nhân dân trong và ngoài nước tham quan, tìm hiểu…
Con đường Hồ Chí Minh huyền thoại đoạn qua thị trấn Tân Kỳ, huyện Tân Kỳ, Nghệ An. (Ảnh: Nguyễn Duy)
Kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh và ngày
truyền thống bộ đội Trường Sơn, Tân Kỳ đang xúc tiến việc xây dựng tượng
đài với chủ đề “Hậu phương hướng về tiền tuyến” nằm trong quần thể khu
di tích Km số 0 này.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đế
quốc Mỹ đã ném xuống đường mòn HCM hơn 7,5 triệu quả bom phá, bom sát
thương và hàng triệu quả mìn các loại. Ta đã san lấp 78.000 hố bom trúng
đường, phá hơn 2 vạn quả bom nổ chậm và bom từ trường, hơn 85.000 mìn
các loại; đào đắp đất đá gần 30 triệu m3; xây dựng được 16.000km đường ô
tô, 3.082km đường ống xăng dầu, 10.000km đường dây thông tin; khôi phục
và sửa chữa 83 cây cầu với chiều dài 4.316km...
Từ ngày 24/7/1965 đến 9/3/1974, các lực lượng phòng không trên
tuyến đã đánh 11 vạn trận; bắn rơi 2.458 máy bay Mỹ gồm 30 loại, trong
đó có cả B52, bắt sống 10 giặc lái. Các đơn vị bộ binh bảo vệ hành lang
đánh 2.500 trận tiêu diệt 16.933 tên địch, bắt sống 1.196 tên, kêu gọi
đầu hàng 10.000 tên.Trong suốt quá trình chiến đấu trên tuyến, có 19.387 cán bộ chiến sĩ của ta đã anh dũng hy sinh, hơn 32.000 người bị thương. Bộ đội đường Hồ Chí Minh có 77 đơn vị được tuyên dương đơn vị anh hùng và 44 chiến sỹ được tuyên dương anh hùng quân đội. |
Tối 24/3, tại 2 địa điểm Khu di tích Km số 0
(huyện Tân Kỳ) và Quảng trường Hồ Chí Minh (TP Vinh) đã diễn ra chương
trình biểu diễn nghệ thuật và lễ kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn
- đường Hồ Chí Minh (19/5/1959 - 19/5/2009).
Tham gia biểu diễn trong đêm nghệ thuật hoành tráng này là 600 diễn viên đến từ nhiều tỉnh thành trong cả nước.
(Ảnh: Nguyễn Duy)
Nghệ An chính là điểm đầu của hành trình biểu diễn liên hoan
tuyên truyền cổ động với chủ đề: “Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh
huyền thoại”, từ ngày 24/3 đến ngày 4/4; điểm kết thúc là tỉnh Quảng
Trị. |
Nguyễn Duy
Nhận xét
Đăng nhận xét