Benjamin Franklin là một trong những người
thành lập đất nước nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ. Ông vừa là một chính trị
gia, một nhà khoa học, một tác giả, thợ in, triết gia, nhà phát minh,
nhà hoạt động xã hội và một nhà ngoại giao hàng đầu.
Benjamin Franklin sinh ngày 17 tháng 1 năm 1706 tại Boston,
Massachusetts và là con trai trong một gia đình 17 anh em. Gia đình ông
không được sung túc lắm nên ông chỉ được theo đuổi việc học trong một
thời gian ngắn. Ngay từ thuở nhỏ, Benjamin đã thích đọc sách. Thấy con
ưa thích sách như vậy, gia đình cho cậu theo học nghề in. Cũng nhờ theo
nghề in này mà Benjamin đọc được nhiều sách hơn. Cậu đã tự học được
nhiều môn như đại số, hình học, văn phạm, luận lý, các môn vật lý và
khoa học tự nhiên.
Ben Franklin không được giáo dục chính thức. Năm 11 tuổi, cậu đã tự
học tiếng Anh, Pháp và Ý. Tuy nhiên, Ben không đơn giản tự giới hạn mình
với kiến thức sách vở. Cậu là một học sinh xuất sắc, luôn học hỏi từ
những người hiểu biết hơn mình về nhiều chủ đề rộng - từ thơ ca cho tới
lịch sử tự nhiên.
Một trong những phương pháp học của Benjamin là
để những người khác tham gia vào tranh luận. Cậu thường cùng với một
người bạn cũng ham đọc sách, tranh luận về bất cứ đề tài nào. Lúc đầu,
họ còn dùng lời, sau dùng chữ viết, nhờ vậy cậu thấy mình còn kém về
phương pháp và lý luận còn thiếu minh bạch.
Ở tuổi 16, Franklin rời quê hương Boston đến Philadelphia. Trong vòng
1 năm, đã thiết lập nhà in riêng, và 3 năm sau, cậu đã trở thành một
trong những thợ in nổi tiếng nhất ở Philadelphia.
Khi còn là thanh niên, Franklin đọc cuốn "Lives" của tác giả Plutarch
- một cuốn sách dựa trên tiền đề rằng sự nỗ lực cá nhân có thể thay đổi
một thời kỳ lịch sử. Franklin đã bị cuốn hút vào thông điệp đó và nó
ảnh hưởng đến rất nhiều giai đoạn trong cuộc đời ông.
Triết lý ấy được phản ánh tốt nhất trong quyết định của ông, vào tuổi
42, khi ông chuyển từ công việc kinh doanh in ấn rất thành công của
mình sang việc tập trung vào khoa học. Và chặng thứ hai trong cuộc đời
ông, ông đã làm chính xác điều đó, tập trung vào việc cải thiện thế giới
hơn là công việc làm ăn riêng của ông.
Benjamin Franklin - Tranh của họa sĩ Joseph-Siffrein Duplessis
Với tư duy mở, Franklin để bản thân mình cởi mở trước những thay đổi
trong môi trường chính trị và để nhìn thấy những cơ hội mới. Trong lĩnh
vực khoa học, ông là gương mặt điển hình của lịch sử vật lý vì những
khám phá của ông và những lý thuyết về điện, ví dụ như các khám phá về
hiện tượng sấm, sét.
Với vai trò một chính trị gia và một nhà hoạt động xã hội, ông đã đưa
ra ý tưởng về một nước Mỹ và với vai trò một nhà ngoại giao trong thời
kỳ Cách mạng Mỹ, ông đã làm cho liên minh là Pháp giúp đỡ để có thể
giành độc lập.
Franklin nổi tiếng về các tác phẩm có tính phổ biến, tính chính trị
và khoa học và tính đa dạng các lĩnh vực mà ông quan tâm. Là một nhà
lãnh đạo của Thời đại Khai Sáng, ông đã có được công nhận, ủng hộ của cả
các nhà khoa học và giới trí thức khắp Châu Âu.
Ông đã thành công trong việc bảo đảm về quân sự cũng như trợ giúp tài
chính của Pháp - một đóng góp to lớn cho sự thắng lợi của cách mạng
chống lại Anh. Ngoài ra, Franklin cũng là người đã phát minh ra cột
chống sét. Ông là người sớm đề xướng về sự thống nhất của các thuộc địa.
Ông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập Đại học
Pennsylvania và Trường Franklin và Marshall. Ông đã được bầu làm chủ
tịch đầu tiên của Hội Triết học Mỹ, hội học thuật đầu tiên tại Hoa Kỳ,
năm 1769. Franklin nói thành thạo năm thứ tiếng. Ông được công nhận là
người đa tài.
Minh Ly
(Tổng hợp)
Benjamin Franklin ( 1706 – 1790) Nhà lập quốc Hoa Kỳ
Benjamin Franklin là một trong các nhân
vật hàng đầu đã xây dựng nên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ông là người duy
nhất đã ký tên vào 4 văn kiện quan trọng trong Lịch Sử Mỹ Quốc, đó là
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Hiệp ước Đồng Minh với Pháp, Hiệp Ước Hòa Bình
với Anh và Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ. Benjamin Franklin là một nhân vật đa
diện. Ông đã từng làm thợ nấu xà bông, nấu nến, thợ in, nhà văn, nhà
xuất bản, nhà khoa học và phát minh, nhân vật tổ chức và lãnh đạo cộng
đồng… và cũng là một nhà ngoại giao có tài. Các phục vụ của ông trong
công tác ngoại giao tại nước Pháp đã giúp ích rất nhiều trong cuộc chiến
tranh giành Độc Lập của Hoa Kỳ. Nhiều sử gia Hoa Kỳ đã coi ông là nhà
ngoại giao có khả năng nhất và thành công nhất từ xưa tới nay. 1- Thuở thiếu thời. Benjanim Franklin sinh ngày 17 tháng 1
năm 1706 tại Boston, Massachusetts. Cậu là con trai thứ 15 và là út
trong một gia đình 17 anh em. Tổ tiên của Benjanin sinh sống tại Anh
Quốc và không thuộc một giòng họ danh tiếng. Các cụ làm nghề thợ rèn,
song là những người thực thà, cần mẫn. Trong giòng họ này chỉ có cha của
Benjamin, ông Josiah, sang lập nghiệp bên Mỹ Châu. Ông Josiah có với người vợ trước 5 người
con và người vợ sau 12. Ông cũng là con út trong gia đình và vì rất mến
người anh ruột tên là Benjamin mà ông đặt cho con trai út của mình cái
tên đó. Gia đình ông Josiah không được sung túc lắm nên các con của ông
chỉ được theo đuổi việc học trong 2 hay 3 năm rồi kiếm một nghề tay
chân. Ông cho các con làm các ngành nghề khác nhau, tùy theo sở thích và
năng khiếu của từng đứa : thợ in, thợ nhuộm, thợ rèn . . . Benjamin Franklin biết đọc, biết viết
rất sớm, vì vậy ông Josiah định cho cậu sau này làm mục sư. Ở trường
tiểu học, Benjamin học rất thông minh, tiến dần tới đầu lớp nhưng khi
lên bậc trung học, vì tốn kém quá, ông Josiah đành cho con đến học tư
toán và văn chương tại nhà ông Brownell song cậu Benjamin lại khá về văn
chương mà kém về môn Toán. Năm 1716, vì nghề nhuộm ế ẩm, ông Josiah
phải đổi sang nghề làm nến và nấu xà bông. Benjamin phải thôi học, ở
nhà giúp cha. Công việc của cậu là cắt bấc, đổ sáp vào khuôn, mua bán
lặt vặt hay trông coi cửa hàng thay cha khi người bận việc. Ngoài thời giờ giúp việc tại nhà,
Benjamin thường hay chơi đùa cùng các bạn : nào bơi lội, nào chèo
thuyền. Cậu không thích nghề nghiệp của cha mà mơ mộng trở thành thủy
thủ song ông Josiah không bằng lòng cho con theo đuổi ngành này. Thấy
con đã lớn mà còn lông bông, nên ông có ý tìm cho con một nghề kiếm ăn
thích hợp. Ông đưa con đi thăm các cơ xưởng trong tỉnh để xem con ưa
thích ngành nghề nào nhất. Ngay từ thuở nhỏ, Benjamin đã thích đọc
sách. Hễ gặp quyển sách nào là cậu nghiềm ngẫm say sưa, hễ được đồng
tiền nào là cậu để dành rồi mua sách về đọc. Thấy con ưa thích sách như
vậy, ông Josiah cho con theo hoc nghề in tuy rằng trong nhà đã có người
con lớn, anh James, theo đuổi nghề này. Năm 12 tuổi, Benjamin ký giao kèo với
anh James nhận làm thợ in cho tới năm 21 tuổi mà không lãnh lương thực
thụ. Một người tinh nhanh, chăm chỉ như Benjamin thì chẳng bao lâu đã
thạo việc. Thực vậy, cậu đã giúp anh một cách đắc lực. Cũng nhờ theo
nghề in này mà Benjamin đọc được nhiều sách hơn: các sách đưa đến in,
đến đóng lại, cậu đều đọc qua, có khi cậu thức suốt đêm để đọc nốtù vì
sáng ngày mai đã phải trả sách lại cho khách hàng. Cậu đã tự học được
nhiều môn như đại số, hình học, văn phạm, luận lý, các môn vật lý và
khoa học tự nhiên. Một hôm, có một nhà buôn trong tỉnh lại
thăm nhà in. Ông này thấy Benjamin ham mê đọc sách mà mình có sách
thường để không, nên đã dẫn Benjamin về nhà mình và cho phép cậu mượn
bất cứ quyển nào cậu muốn. Nhờ nghề in mà Benjamin đọc thông viết thạo
hơn, song cậu còn kém về cách hành văn và từ ngữ không được dồi dào. Để
sửa chữa, cậu nghĩ tới việc làm thơ. Anh James cũng khuyến khích em vì
anh ta nghĩ có thể in thơ rồi đem bán được. Vì vậy vài ba quyển thơ cũng
ra đời song cha cậu đã chế nhạo cậu vì ông biết rằng nghề làm thơ chỉ
mang lại nghèo túng mà thôi. Benjamin thường cùng với một người bạn
cũng ham đọc sách, tranh luận về bất cứ đề tài nào. Lúc đầu, họ còn dùng
lời, sau dùng chữ viết, nhờ vậy cậu thấy mình còn kém về phương pháp và
lý luận còn thiếu minh bạch. Năm 1721, anh James bắt đầu ra một tờ
báo lấy tên là The New England Courant (Bản Tin Tân Anh Cát Lợi). Đây là
tờ báo thứ nhì phát hành tại châu Mỹ. Vào thời đó, các nhà trí thức
thường viết các bài báo song ký tên khác đi vì sợ chính quyền làm khó
dễ. Nhiều người có tài đã gửi các bài viết rất hay, làm tăng gía trị cho
tờ báo. Benjamin cũng muốn viết báo song e ngại
rằng nếu ký tên thật, anh James sẽ vứt ngay bài vào sọt rác, cậu bèn
viết với tên hiệu là “Silence Dogood” rồi đợi đến đêm, ném bài qua khe
cửa sổ nhà in. Sáng hôm sau, anh James nhận được bài, đọc thấy cũng khá
đặc sắc nên cho in. Nhiều khi Benjamin còn được nghe anh và các bạn ca
tụng các bài viết đó trước mặt mình. Họ tin chắc rằng các bài viết đó
phải do một người học rộng, tài ba, mới viết nổi. Benjamin vẫn phải bấm
bụng nhịn cười. Sau cùng, vì không giữ bí mật được nữa, cậu đành phải
thú nhận mình là tác giả của các bài viết trên. Kể từ khi đó, các bạn
của cậu trọng nể cậu hơn trước song anh James lại lấy làm khó chịu. Anh
thường bắt em làm việc quá nhiều, có khi còn đánh đập em nữa. Vì vậy
giữa anh em thường xẩy ra các vụ bất hòa. Anh James quả là một người anh
bắt nạt em, một người chủ áp bức thợ. Năm 16 tuổi, Benjamin được đọc một cuốn
sách nói về sự ăn chay. Cậu liền quyết định theo đuổi cách dinh dưỡng
này rồi đề nghị với anh xin một số tiền để nấu ăn lấy. Nhờ chỉ ăn rau,
Benjamin đã để dành được phân nửa món tiền, đỡ mất thời giờ về ăn uống
mà trí óc lại sáng suốt hơn trước. Thực vậy, trong khi anh James và các
bạn ra quán ăn thì ở nhà, cậu thổi nấu ăn uống theo ý muốn và đọc được
mấy chục trang sách rồi bọn kia mới bắt đầu ra về. Năm 1723, tờ báo của anh James có đăng
một bài xã luận xúc phạm đến chính quyền nên anh James bị bắt giam một
tháng. Benjamin thay anh làm quản lý nhà in. Khi được tha về và vì bị
cấm không được ra báo nữa, anh James đành phải nhờ em làm chủ nhiệm tờ
báo. Vì luật pháp thời đó không cho phép một người làm công chịu trách
nhiệm một công việc to tát như vậy nên anh James đành phải hủy bỏ tờ
giao kèo bắt buộc Benjamin làm công với mình khi trước. Ít lâu sau, một cuộc xung đột xẩy ra và
Benjamin đã bỏ nhà ra đi. Về sau cậu hối hận mãi về điều này. Anh James
liền thông báo cho các in trong tỉnh đừng mướn Benjamin. Vì vậy cậu phải
đi New York là nơi có nhiều nhà in mà lại ở gần Boston nhất. Cậu
Benjamin phải bán bớt sách để lấy tiền đi đường, lúc đó cậu mới 17 tuổi.
Tới New York, Benjamin không tìm ra việc nhưng nhờ có người giới thiệu,
cậu lại đi Philadelphia cách New York 160 cây số. Đây là thành phố lớn
nhất của thuộc địa châu Mỹ thời bấy giờ. Đến nơi, cậu Benjamin vào ngay
một hiệu bánh mì trên đường Market mua ba ổ bánh, mỗi ổ kẹp ở một nách
rồi ăn ngấu nghiến ổ thứ ba. Một cô gái ở ngôi nhà đối cửa khi trông
thấy cảnh đó, đã ôm bụng cười. Cô này tên là Deborah Read, vợ của
Benjamin sau này. Tại Philadelphia, Benjamin tìm được việc
làm nơi nhà in của ông Samuel Keimer. Ít lâu sau, cậu quen được ông
thống đốc Keith. Thấy cậu là người học rộng, ông Keith muốn giúp
Benjamin làm chủ một nhà in. Ông ta bảo cậu kê khai các thứ cần mua rồi
ông ta sẽ bỏ tiền và Benjamin sang Anh Quốc mua sắm các dụng cụ đó. Song
ông Keith chỉ là người hứa suông, nên khi đã sang tới nước Anh rồi, cậu
chẳng nhận được sự giúp đỡ nào cả, ngay cả bức thư giới thiệu. Benjamin
đành phải làm công cho các nhà in Palmer và Watt. 2- Thời thanh niên. Năm 21 tuổi, Benjamin trở về
Philadelphia và lại giúp việc cho ông Keimer. Từ đây, Franklin đã trở
nên một chàng thanh niên khôn ngoan, tháo vát. Việc đọc sách vẫn là sở
thích của chàng. Franklin nghĩ rằng nếu riêng rẽ thì một người chỉ có
thể đọc được một số sách. Vậy nếu một số người hiếu học họp lại với
nhau, trao đổi sách báo và thảo luận cùng nhau thì sẽ có lợi biết bao.
Chàng liền lập ra Câu Lạc Bộ Junto để các hội viên thay nhau thuyết
trình về các vấn đề luân lý, chính trị và khoa học. Lúc đầu câu lạc bộ
gồm 7 hay 8 hội viên hay đọc sách, họp với nhau vào chiều thứ sáu để
thảo luận về các vấn đề đã nêu ra từ tuần lễ trước. Nhờ việc thảo luận
này mà các hội viên đều tiến bộ về cách nói năng và sự nghiên cứu. Hơn
nữa, cứ ba tháng mỗi hội viên lại phải sáng tác một luận án về bất cứ
vấn đề gì. Câu Lạc Bộ Junto này đã nổi tiếng trong thành phố thời bấy
giờ. Năm 22 tuổi Franklin thôi không làm cho
ông Keimer nữa mà mở một nhà in riêng với Hugh Meridith. Lúc đầu công
việc còn ít song chàng cố gắng làm việc và yêu nghề, thức khuya dậy sớm,
không bao giờ la cà tại các tửu quán nhờ vậy dân chúng tín nhiệm và các
công việc thương mại càng tăng hơn. Hồi đó giấy bạc khan hiếm, người ta e
ngại nếu in thêm, đồng tiền sẽ mất gía còn nếu không in thì tình trạng
kinh tế không được phát triển. Franklin liền mang việc này ra bàn với
các hội viên Junto rồi chàng cho in một cuốn sách nhan đề là “Tính chất
và sự cần thiết của giấy bạc”. Việc làm này đã khiến cho Nghị Viện thành
phố quyết định in thêm tiền và họ giao cho Franklin công việc đó vì
chàng đã có công đóng góp. Nhờ thế mà nhà in của chàng có thêm việc làm. Năm 24 tuổi, Franklin cưới cô Deborah
Read, người đã cười chàng khi trông thấy chàng gặm ổ bánh mì lúc bắt đầu
đặt chân tới Philadelphia. Deborah là người ít học song cặp vợ chồng
Franklin là những người tận tụy làm việc. Họ có 3 con, 2 trai và 1 gái.
Một người con trai tên là William, sau này trở nên Thống Đốc của tiểu
bang New Jersey. Franklin thấy rằng khi tra cứu thì cần
phải có nhiều sách mà mỗi người chỉ có một số nhỏ. Vậy nếu các hội viên
Hội Junto cùng mang sách đặt tại một nơi thì người nọ có thể đọc được
sách của người kia và sự tra cứu sẽ dễ dàng hơn. Các hội viên đều nghe
lời đề nghị này của Franklin. Việc này rất có lợi song cũng có điều bất
tiện, chẳng hạn như ai cũng đòi hỏi người khác giữ gìn sách của mình cho
cẩn thận nên một năm sau, Hội Junto phải giải tán tủ sách. Franklin lại nghĩ đến việc lập một thư
viện công cộng cho mượn sách. Chàng nhờ một viên chưởng khế thảo điều
lệ. Hội viên có tới 100 người. Số tiền đóng góp của các hội viên dùng để
mua sách bên nước Anh. Đây là thư viện đầu tiên tại Bắc Mỹ, nó đã mở
đầu cho phong trào thư viện sau này. Chính nhờ có thư viện mà dân xứ
Philadelphia thời đó có một trình độ văn hóa cao hơn dân của các vùng kế
cận. Vì thế các miền chung quanh chẳng bao lâu cũng bắt chước làm công
việc ích lợi kể trên. Franklin tin rằng chăm chỉ bao giờ cũng
vẫn là phương thuốc để trở nên giàu sang. Chàng cho rằng một người muốn
thành công phải làm việc chăm chỉ hơn những kẻ đang cạnh tranh với mình.
Chàng lại có ước vọng muốn trở nên một nhà đạo đức, muốn khắc phục mọi
thói xấu để sống một cuộc đời trong sạch. Chàng thấy rằng tin tưởng
suông vào đạo lý chưa đủ để giữ cho khỏi sa ngã, cần phải luyện tập các
đức tính, xếp chúng theo thứ tự rồi thêm vào đó các định nghĩa để làm
sáng tỏ các quan niệm về các đức tính đó: 1- Điều độ: không ăn đến chán, không uống đến say. 2- Yên lặng: không nói nếu lời nói không hữu ích cho người khác hoặc cho bản thân. Không nói dỡn cợt. 3- Thứ tự: xếp đặt mọi vật vào một chỗ riêng, các việc làm vào những thời giờ nhất định. 4- Quyết tâm: phải quyết tâm làm những việc cần. Việc gì đã quyết tâm rồi thì phải làm cho kỳ được. 5- Tiết kiệm: chỉ tiêu tiền về những việc có ích cho mình và cho người khác. 6- Chuyên cần: không bỏ phí thời giờ, lúc nào cũng làm việc hữu ích. 7- Thật thà: phải nói cho đúng, không nói xấu người, có những ý nghĩ lành mạnh. 8- Công bằng: không làm hại người khác và nhớ hưởng những gì mình đáng được hưởng. 9- Dung hòa: tránh mọi thái cực, chịu đựng những điều trách mắng nếu mình có lỗi. 10- Sạch sẽ: thân thể, quần áo và nhà cửa phải sạch sẽ. 11- Yên tĩnh: tránh ưu phiền về các việc thường xẩy ra hay không thể tránh được. 12- Trong sạch: tránh trác táng, hại sức khỏe, hại thanh danh của mình và của người khác. 13- Khiêm tốn: noi gương Chúa Jesus và Socrates. Chính nhờ cách sửa mình này mà về sau, Benjamin Franklin đã trở nên một người khôn ngoan và đạo đức của Hoa Kỳ. Năm 26 tuổi, Franklin thấy rằng cần phải
phổ biến các tư tưởng hướng thiện, chàng liền soạn rồi cho xuất bản
cuốn Niên Lịch lấy tên là “Niên Lịch của Richard nghèo khó” (Poor
Richard’s Almanach). Trong cuốn này, chàng đặt những tư tưởng cao thượng
và ích lợi thành các châm ngôn để người đọc dễ nhớ hơn. Ngày nay các
câu châm ngôn này còn được phổ thông chẳng hạn như câu “ngủ sớm, dậy sớm
làm cho con người khỏe mạnh, giàu có và khôn ngoan” (Early to bed and
early to rise makes a man healthy, wealthy and wise). Mọi người đã tán
thưởng cuốn niên lịch đến nỗi 10 ngàn cuốn được xuất bản trong một năm
và cứ thế kéo dài trong 25 năm liền, quả là một sự việc hi hữu tại một
nơi và vào một thời kỳ mà tình trạng dân chúng còn kém mở mang. Cũng vào năm 26 tuổi, chàng Franklin lập
ra tờ báo lấy tên là Nhật Báo Philadelphia (the Philadelphia Gazette).
Chàng đã làm phát triển tờ báo thành một trong các báo thành công nhất
tại thuộc địa châu Mỹ. Chàng luôn luôn chú ý đến tư tưởng mới. Các sử
gia Hoa Kỳ cho rằng Franklin là viên chủ nhiệm đầu tiên tại châu Mỹ đã
cho phổ biến trên các trang báo những mẩu tranh hí họa và hướng dẫn các
tin tức bằng bản đồ. Nhờ tờ báo của mình, Franklin đã trình bày cho dân
chúng biết rõ nhiều dự án cải tiến công ích. Tờ báo Philadelphia đã sống
được từ năm 1729 tới năm 1766. Franklin lại còn soạn thêm cuốn sách
“Con đường dẫn tới giàu sang” (the Way to Wealth). Cuốn sách này cũng có
một giá trị đặc biệt về kinh tế. Năm 27 tuổi, Franklin cảm thấy cần phải
biết thêm ngoại ngữ để dễ thông cảm với các dân tộc khác. Chàng liền bắt
đầu học tiếng Pháp và chẳng bao lâu đã nói thạo và đọc sách tiếng Pháp
một cách dễ dàng. Học xong tiếng Pháp rồi, chàng quay sang học tiếng Ý.
Ít lâu sau, Franklin lại học tiếng Tây Ban Nha và rồi cũng thông thạo
thứ ngôn ngữ này. Năm 30 tuổi, nhờ sự hiểu biết của bản
thân, nhờ sự tín nhiệm của mọi người, Franklin được bầu làm thư ký Nghị
Viện Pennsylvania (the Pennsylvania Assembly). Thành phố Philadelphia
càng ngày càng được mở mang mà chưa có một đội lính cứu hỏa, Franklin
liền đứng ra thành lập đội quân tình nguyện này. Ông còn có công trong
việc cải tiến cách tuần phòng trong thành phố. Cũng vào năm 30 tuổi, Franklin được đề
cử làm Giám Đốc Bưu Điện của Philadelphia. Cách làm việc hữu hiệu của
ông đã khiến cho chính quyền Anh Quốc phải chú ý nên về sau, vào năm
1753, ông đã trở nên Phó Tổng Giám Đốc Bưu Điện của tất cả các miền đất
thuộc địa Bắc Mỹ. Ông đã làm việc rất tận tâm, cải tiến rất nhiều dịch
vụ Bưu Điện, làm tăng tốc độ chuyển thư bằng cách dùng tới các tầu biển
chạy nhanh nhất qua Đại Tây Dương. Đối với các thư từ trong vùng, ông đã
thuê mướn các người đưa thư đi ngựa chuyển thư cả ngày lẫn đêm. Ông
cũng giúp cho xứ Canada thiết lập ra các dịch vụ bưu điện đầu tiên. Ông
đã cho mở các trạm bưu điện tại Quebec, Montreal và Trois Rivière vào
năm 1763 và rồi xếp đặt việc chuyển thư giữa Montreal và New York. Benjamin Franklin cũng để ý tới sự cải
tiến các dụng cụ thường dùng. Năm 36 tuổi, ông đã phát minh ra được một
thứ lò sưởi không có khói, cho sức nóng gấp hai lần mà lại dùng 1/4 số
lượng củi đốt. Phát minh của ông được phổ biến trong thành phố vì nó rất
hợp với khoa học lại tiện lợi. Chính quyền định cấp cho ông bằng phát
minh song ông từ chối và nói : “Tôi được dùng các phát minh của người
khác thì tôi cũng sung sướng khi thấy phát minh của tôi đã giúp ích cho
các người chung quanh”. Năm 37 tuổi, vì Hội Junto kém phát triển
nên Franklin đề nghị lập ra “Hội Triết Học Mỹ Quốc” (the American
Philosophical Society) gồm các người đạo đức, có kiến thức rộng, ở các
thuộc địa khác nhau tại Bắc Mỹ. Hội Triết Học này được tổ chức theo lề
lối của Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh Quốc (the Royal Society). Nhiều người
đã ghi tên tham dự và Franklin được bầu làm thư ký của Hội. Các hội
viên thường trao đổi thư từ cùng nhau. Trụ sở của Hội đặt tại
Philadelphia là thành phố trung tâm lại có thư viện đầy đủ và nhiều
tương lai về kiến thiết. 3- Nhà Khoa Học. Vào năm 40 tuổi, vì kinh tế gia đình đã
khá đầy đủ nên Benjamin Franklin có thời giờ để tâm đến Khoa Học. Thời
đó châu Mỹ nhận được các sách báo cùng các dụng cụ thí nghiệm về điện
học từ nước Anh gửi sang. Hội Triết Học nhờ Franklin làm các thí nghiệm
như đã mô tả sẵn, song không những ông đã làm lại được hoàn toàn các thí
nghiệm đó mà còn khám phá ra được nhiều điều mới lạ. Năm 42 tuổi, Franklin cắt nghĩa được sự
phân phối điện tích ở chai Leyde. Sang năm sau, ông lập bảng nhận xét về
các đặc điểm chung giữa điện và sét. Ngày nay người ta còn nhắc lại thí
nghiệm về sét bằng chiếc diều của ông. Franklin vẫn quan niệm rằng sự
phát điện từ chai Leyde cũng giống như sét đánh, song với một cường độ
nhỏ hơn nhiều. Oâng tìm cách chứng minh. Nhân một ngày có bão, Franklin
cùng con trai là William mang một chiếc diều ra thả. Cuối sợi dây diều,
ông buộc một chiếc chìa khóa bằng các dải lụa. Bỗng nhiên ông nhận thấy
các sợi của dải lụa tách ra như có một sức đẩy chúng xa nhau. Khi để
ngón tay gần đầu nhọn của chiếc chìa khóa, một tia lửa bật ra và ông cảm
thấy bị điện giật. Thí nghiệm này đã khiến ông kết luận rằng sét thường
bị hút bởi các đầu nhọn bằng kim loại và ông tìm ra rằng các đám mây
thường chứa điện âm. Khi thử lại với chai Leyde, Franklin thấy cùng kết
quả. Ông lại có thể tiếp điện cho chai Leyde bằng điện của bầu trời.
Thật là may mắn cho Franklin đã không bị sét đánh trong cuộc thí nghiệm
táo bạo đó mà ông không biết, bởi vì về sau, Giáo Sư Richman thuộc Đại
Học St. Petersbourg khi làm lại thí nghiệm của ông đã bị thiệt mạng. Năm 44 tuổi, sau khi đã hiểu rõ về sấm
sét, Franklin đã phát minh ra cột thu lôi. Ông dựng ngay trên nóc nhà
của mình một cột rồi sau lại cải tiến thêm. Franklin phổ biến phát minh
này bằng một bài đăng trong quyển niên lịch của mình. Cũng năm này,
Franklin được bầu vào Nghị Viện Pennsylvania. Franklin luôn luôn nghĩ tới việc khai
hóa dân chúng. Đối với ông, Hội Triết Học không đủ. Ông cho xuất bản
cuốn sách mỏng : “Các đề nghị liên quan tới vấn đề giáo dục các thanh
niên ở Pennsylvania”, nhờ vậy chương trình học đã được sửa đổi và nhà
trường đã bắt đầu dạy tiếng La Tinh, Hy Lạp và Toán Học. Franklin được
bầu làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị các trường Trung Học Pennsylvania.
Philadelphia khi đó không có cơ sở đào tạo nền giáo dục cao cấp vì thế
ông đã giúp tay vào việc thành lập Viện Hàn Lâm (the Academy) mà sau này
là trường Đại Học Pennsylvania. Kết quả của các chương trình giáo dục
và thư viện của Franklin đã giúp cho Pennsylvania trở nên một địa phương
tiến bộ nhất trong 13 xứ thuộc địa thời bấy giờ. Vào năm 1751, một người trong thành phố
nghĩ đến việc lập ra một bệnh viện công cộng và một nhà tế bần, Franklin
liền bắt tay ngay vào công tác thực hiện hai chương trình này. Tháng 8 năm 1752, Franklin gửi cho ông
Collison, nhân viên Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh Quốc những kết quả về các
phát minh của mình. Tài liệu đó được đọc trước Hội Khoa Học vào tháng
12. Mọi nhà khoa học đều trầm trồ khen ngợi ông. Cuốn sách “Thí nghiệm
và nhận xét về điện học” của ông được xuất bản tại London và năm sau,
được dịch sang tiếng Pháp và in tại Paris. Franklin cũng phát minh ra loại kính đeo
mắt hai tròng (bifocal eyeglasses) nhờ đó kính đọc sách và kính nhìn xa
được ghép chung vào một gọng kính. Ông cũng nhận thấy bệnh tật phát
sinh nhiều tại các căn phòng kém thoáng khí và ông cũng chỉ dẫn cho dân
chúng cách cải thiện đất đai có acít bằng vôi bột (lime). Năm 47 tuổi, Franklin được Hội Khoa Học
Hoàng Gia Anh Quốc trao tặng huy chương vàng Copley và Vua Louis 15 đích
thân khen ngợi ông về các phát minh điện học. Các trường đại học
Harvard và Yale tặng ông bằng cấp Cử Nhân Danh Dự. Ông lại được đề cử
làm Tổng Giám Đốc Bưu điện và đã giữ chức vụ này trong 21 năm liền. Mùa xuân năm 1754, khi đó Franklin 48
tuổi, đã xẩy ra cuộc chiến tranh giữa người Anh và người Pháp tại châu
Mỹ. Franklin cho rằng các thuộc địa Bắc Mỹ nên đoàn kết lại để tự bảo vệ
chống lại người Pháp và sự quấy nhiễu của thổ dân da đỏ. Ông đã cho in
tấm hình hài hước nổi tiếng có tên là “Tham gia hay là chết” (Join or
Die) trên báo của minh. Tấm hình này vẽ một con rắn bị chặt ra thành
nhiều khúc, tượng trưng cho các thuộc địa Bắc Mỹ. Ông đã đề nghị Chương
Trình Liên Bang (Plan of Union) tại hội nghị 7 xứ thuộc địa họp tại
Albany, New York. Theo chương trình này, 13 xứ thuộc địa nên cùng nhau
họp lại thành “một chính phủ tổng quát” (one general government). Chương
trình liên bang đó đã chứa đựng các ý tưởng mà sau này có trong Bản
Hiến Pháp Hoa Kỳ. Các đại biểu tại Hội Nghị Albany đã đồng ý với chương
trình của Franklin nhưng các thuộc địa đã không đồng lòng phê chuẩn. Rồi chiến tranh đã khiến Franklin phải
chú ý đến phạm vi quân sự. Đầu năm 1755, Tướng Edward Braddock và hai
trung đoàn quân Anh tới Bắc Mỹ với lệnh chiếm lại căn cứ của người Pháp
tại Fort Duquesne, là nơi hội tụ của hai giòng sông Allegheny và
Monogahela. Đội quân Anh đã gặp khó khăn trong việc tìm mua ngựa và các
toa xe. Franklin đã giúp công vào việc trang bị này. Nhưng rồi quân Pháp
và dân da đỏ đã phục kích đoàn quân Anh tại các bờ sông Monogahela và
tướng Braddock tử trận, đoàn quân Anh hầu như bị tiêu diệt. Lúc này,
Franklin đã lo việc thành lập đội quân tình nguyện địa phương để bảo vệ
các thành phố biên giới, ông được đề cử làm Đại Tá quân đội để chống
nhau với người Pháp và dân da đỏ. Ông cũng là người đã trông coi xây
dựng một pháo đài tại Weissport thuộc Carbon County, Pennsylvania. Năm 50 tuổi, Franklin đựơc đề cử làm ủy
viên quân sự của địa hạt Northampton. Ngoài ra, ông còn được bầu làm Hội
Viên Danh Dự của Hội Triết Học Edinburg và nhân viên Hội Khoa Học Hoàng
Gia Anh Quốc, một danh dự ít khi dành cho một người sống tại xứ thuộc
địa. Chính khách nổi tiếng người Anh thời đó là William Pitt đã nói
trước Viện Quý Tộc Anh (the House of Lords) rằng Benjamin Franklin là
một nhà khoa học đáng được xếp ngang hàng với Isaac Newton. Oâng ta đã
ca tụng Franklin là “một Danh Dự không chỉ dành cho nước Anh mà còn cho
bản chất của con người” (an honor not to the English nation only but to
human nature). 4- Nhà Ngoại Giao. Cuộc chiến tranh với nước Pháp đã khiến
cho Anh Quốc phải chi tiêu quá nhiều. Anh Quốc liền bắt các xứ thuộc địa
phải gánh thêm phí tổn. Tất cả các đất đai đều phải chịu thuế. Vì vậy
Nghị Viện Philadelphia liền cử Franklin sang nước Anh năm 1757. Tới
London, khi xin bãi bỏ thuế không được, Franklin liền đưa ra một đề nghị
theo đó các đất đai chưa đo đạc được miễn thuế. Đề nghị căn cứ trên sự
công bằng của ông đã được phê chuẩn. Đây là thắng lợi đầu tiên của ông
tại nước ngoài. Franklin đã ở Anh Quốc và hoạt động như một đại sứ không
chính thức và cũng là người phát biểu các quan điểm của lục địa châu
Mỹ. Đầu năm 1760, sau khi cuộc chiến tranh
với người Pháp và dân da đỏ chấm dứt, đã có một cuộc tranh luận lớn lao
tại nước Anh. Người Pháp bị thất trận nên đã bằng lòng nhường lại cho
nước Anh hoặc là một tỉnh thuộc Canada, hoặc là hòn đảo Guadeloupe trong
quần đảo Tây Aán (West Indies). Vào lúc cao điểm của cuộc tranh luận,
Franklin đã cho phổ biến một tập sách mỏng so sánh một cách sáng suốt
tương lai vô bờ của xứ Canada so với sự không quan trọng của hòn đảo
Guadeloupe. Việc làm này đã khiến cho tại châu Aâu và châu Mỹ, nhiều
người đã đọc kỹ tập sách của Franklin. Vài sử gia tin rằng do ảnh hưởng
của tập sách này mà nước Anh đã chọn Canada. Mùa hè năm 1762, Franklin trở về Bắc Mỹ.
Ông được hoan hô nhiệt liệt và được bầu vào Nghị Viện Philadelphia. Vài
năm sau Franklin lại sang nước Anh để tranh đấu cho việc ký kết văn
kiện về Bưu Điện. Vào ngày 13 tháng 2 năm 1766, Franklin ra trước Hạ
Viện Anh (the House of Commons) để trả lời 174 câu hỏi liên quan tới
việc “đánh thuế mà không có đại diện”. Các nghị viên Hạ Viện Anh đã chất
vấn ông trong gần hai giờ và ông đã trả lời vừa vắn tắt, vừa rõ ràng.
Kiến thức về các vấn đề đánh thuế của ông đã làm cho mọi người phải ngạc
nhiên và danh tiếng của ông vì thế đã vang lừng khắp châu Aâu. Đạo luật
về Tem Thuế (the Stamp Act) đã bị hủy bỏ sau đó và phần lớn công lao là
của ông. Franklin đã là một người không những chỉ tranh đấu cho riêng
miền Pennsylvania mà còn cho cả châu Mỹ. Vào năm 60 tuổi, Franklin được bầu làm
hội viên ngoại quốc của Hội Khoa Học Đức Quốc tại Gottingen, và Hàn Lâm
Viện Pháp Quốc chọn ông làm một trong 8 hội viên nước ngoài, lúc đó ông
66 tuổi. Khi các liên lạc chính trị giữa Anh Quốc
và các thuộc địa trở nên xấu đi, Franklin vẫn muốn các thuộc địa châu
Mỹ nằm trong đế quốc Anh nếu các quyền lợi của người dân thuộc địa được
tôn trọng và bảo vệ. Ông sẵn sàng dùng tài sản của mình để bồi thường
cho số trà bị phá hủy tại Boston (the Boston Tea Party) nếu chính quyền
Anh hủy bỏ các thuế trà không công bằng. Nhưng người Anh đã làm ngơ
trước đề nghị của ông, vì thế ông thấy mình không còn hữu ích nữa và
ngày 21 tháng 3 năm 1775, Franklin buồn bã xuống tầu trở về châu Mỹ. Ông
đã làm đủ mọi cách để giữ cho các thuộc địa châu Mỹ nằm trong đế quốc
Anh trên căn bản thiện chí và tôn trọng lẫn nhau. Franklin về tới Philadelphia vào ngày 5
tháng 5 năm 1775, vào khoảng hai tuần lễ sau khi cuộc chiến tranh Cách
Mạng bắt đầu. Ngày hôm sau, dân chúng Philadelphia đã chọn ông làm đại
biểu phục vụ trong Quốc Hội Lục Địa Kỳ II (the Second Continental
Congress). Ông Franklin ít khi tuyên bố tại Quốc Hội song ông là một
trong các nhân vật tích cực và có ảnh hưởng nhất. Ông đã đề nghị Chương
Trình Liên Bang (Plan of Union) trong đó có chứa đựng các ý tưởng căn
bản dùng cho các điều khoản của Liên Bang Bắc Mỹ (Confederation).
Franklin cũng giúp việc trong một ủy ban đi qua Canada để thuyết phục
người Pháp tại đó tham gia vào cuộc chiến tranh Cách Mạng nhưng cuộc vận
động này không thành. Năm 1776, Benjamin Franklin được đề cử
cùng với Thomas Jefferson và John Adams thảo ra Bản Tuyên Ngôn Độc Lập
và ông cũng là một trong các nhân vật ký tên vào bản văn quan trọng này.
Lúc bấy giờ, cuộc chiến tranh với người Anh chưa mang lại các thành quả
tốt đẹp và vì Quốc Hội cho rằng việc đồng minh với nước Pháp có thể đưa
tới thắng lợi nên Quốc Hội đã đề cử Franklin làm một trong ba ủy viên
đại diện cho Hoa Kỳ tại nước Pháp. Cuối năm 1776, ở tuổi 70, Benjamin
Franklin đã lãnh một nhiệm vụ quan trọng nhất trong đời ông. Oâng đã tới
đất Pháp và được chào đón nồng nhiệt. Dân chúng Pháp đã mến phục ông vì
lòng tử tế, cách phục sức đơn giản, cử chỉ bình dị, trí óc khôn ngoan
và các lời nói sáng suốt cũng như cách đối xử lịch thiệp với cả giới quý
tộc lẫn giai cấp bình dân. Các đám đông đã đi theo ông trên đường phố.
Các nhà thơ đã làm các bài ca tụng ông. Chân dung và tượng của ông được
đặt tại nhiều nơi. Mặc dù có tình cảm với ông Benjamin
Franklin nhưng chính quyền Pháp thời đó còn rất do dự trong việc ký hiệp
ước đồng minh với các thuộc địa Bắc Mỹ, vì một việc làm như vậy sẽ dẫn
đến cuộc chiến tranh giữa nước Pháp và nước Anh. Tuy nhiên, với sự lịch
thiệp, tài khôn khéo và tính kiên nhẫn, Franklin đã lấy dần được lòng
tin tưởng của nước Pháp. Và cuối cùng vận may của ông đã tới khi đội
quân Anh của Tướng John Burgoyne đầu hàng tại Saratoga. Thắng lợi của
người Mỹ đã khiến cho nước Pháp ký kết hiệp ước đồng minh vào ngày 6
tháng 2 năm 1778. Sau đó, Franklin đã xếp đặt việc chuyên chở các sĩ
quan, binh lính Pháp và súng đạn qua Bắc Mỹ. Franklin cũng mượn được
tiền vay và xin được tiền tặng chuyển về cho Hoa Kỳ. Nhiều sử gia cho
rằng nếu không có Benjamin Franklin, người Mỹ chưa chắc đã giành được
độc lập. Năm 1778, Benjamin Franklin được chỉ
định làm bộ trưởng tại Pháp. Ông đã giúp công vào việc soạn thảo Hiệp
Ước Paris là thứ đã làm chấm dứt cuộc chiến tranh Cách Mạng. Hiệp ước
này đã hứa dành cho quốc gia non trẻ Hoa Kỳ mọi thứ cần thiết và
Franklin đã là một trong các nhân vật ký nhận Hiệp Ước Paris vào năm
1783, và từ hiệp ước này, nền độc lập của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ được
công nhận. Từ năm 1776 tới năm 1785, Franklin sống ở
ngoại quốc và luôn luôn mang thắng lợi về cho đất nước. Ngoài ra, các
vinh dự vẫn tới tấp đến với ông. Hàn Lâm Viện Y Học Paris mời ông làm
hội viên. Ông cũng là nhân viên của Hàn Lâm Viện Mỹ Thuật và Khoa Học
Boston, là một trong 24 nhân viên ngoại quốc của Hàn Lâm Viện Khoa Học,
Văn Chương và Mỹ Thuật Padoue, hội viên Hàn Lâm Viện Lịch Sử Madrid, hội
viên danh dự Hội Văn Chương và Triết Học Manchester cũng như tại Hội
Vật Lý, Vạn Vật và Mỹ Thuật Orleans, tại Hàn Lâm Viện Khoa Học, Mỹ Tự và
Mỹ Thuật Lyons. Hơn nữa, các tác phẩm của ông in tại các nước Anh, Đức,
Pháp, Ý đã mang lại cho ông các danh vọng vô bờ. 5- Nhà Lập Quốc. Năm 1785, Benjamin Franklin trở lại
Philadelphia và được cử làm chủ tịch của Hội Đồng thành phố này, rồi lại
được bầu làm Thống Đốc Tiểu Bang Pennsylvania. Ông được bầu lại vào
chức vụ sau này vào những năm 1786 và 1787. Ngoài ra, Franklin còn có
công trong việc phản kháng chế độ nô lệ tại châu Mỹ. Năm 80 tuổi, Franklin vẫn còn hoạt động.
Hồi đó các tầu biển chạy từ Falmouth ở nước Anh tới New York mất hai
tuần lễ lâu hơn nếu không theo con đường London-Rhode Island. Các chủ
tầu không biết tại sao như vậy, và đã đề nghị chỉ cho tầu đến Rhode
Island mà không tới New York trong khi 2 nơi này chỉ cách nhau một ngày
đường. Nhiều người đã cầu cứu đến Franklin. Ông liền tìm gặp các thuyền
trưởng nên được biết rằng có một dòng nước chảy từ mạn dưới lên mà người
ta chưa được biết rõ lắm, đó là dòng Gulf Stream. Franklin liền nghiên
cứu dòng nước này : nào đo bề rộng, chiều sâu, đo nhiệt độ, sức chảy…
Franklin khuyên các tầu bè nên lợi dụng dòng nước để cuộc hành trình
được nhanh chóng hơn. Năm 1787, xứ Pennsylvania đã đề cử
Benjamin Franklin, 81 tuổi, tới họp Hội Nghị Lập Hiến (Constitutional
Convention). Các đại biểu đã gặp nhau tại Sảnh Đường Độc Lập và thảo ra
Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ. Vào lúc này, Franklin là đại biểu cao tuổi nhất
của Hội Nghị. Sức khỏe yếu kém và tuổi cao đã không cho phép ông tích
cực tham gia vào các hoạt động nhưng sự khôn ngoan, hiểu biết của ông đã
giúp cho Hội Nghị tiến hành. Franklin đã dàn xếp được các cuộc tranh
luận về quyền đại biểu tại Quốc Hội của các tiểu bang lớn và nhỏ. Sự
dung hòa của ông đã là nguyên do thành lập một quốc hội lưỡng viện. Dịp tham dự Hội Nghị Lập Hiến là lần
phục vụ công ích cuối cùng của ông, song tuy cao tuổi, ông vẫn quan tâm
tới các công việc quốc gia. Ông rất sung sướng khi thấy ông George
Washington nhậm chức Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Ông đã hi vọng rằng
gương mẫu của Hiệp Chủng Quốc Bắc Mỹ có thể dẫn tới một hiệp chủng quốc
khác tại châu Aâu. Benjamin Franklin qua đời tại
Philadelphia vào đêm 17 tháng 4 năm 1790 vì bị sưng phổi, thọ 84 tuổi.
Vào khoảng 20 ngàn người đã tôn kính ông trong buổi tang lễ. Ông được
chôn trong nghĩa địa của nhà thờ Christ Church tại Philadelphia, bên
cạnh vợ ông chết năm 1774. Benjamin Franklin được kể là một trong 6
công dân hàng đầu của nước Mỹ. Chân dung của ông xuất hiện trên các tem
thư, tiền đồng và tiền giấy của Hoa Kỳ. Hai tổng thống Hoa Kỳ đã hãnh
diện mang tên của ông: Franklin Pierce và Franklin D. Roosevelt. Thành
phố Philadelphia cũng tưởng nhớ người Công Dân lừng danh nhất. Một sân
vận động của Đại Học Pennsylvania đã được đặt bằng tên của ông, ngoài ra
còn có Công Viên Franklin, Viện Franklin với bức tượng tạc ra do nhà
điêu khắc James Earl Frase. Vào năm 1790, khi được tin ông Benjamin
Franklin qua đời, Quốc Hội nước Pháp quyết định để tang ba ngày và Bá
Tước Honoré de Mirabeau đã ca tụng “Nhà Hiền Triết mà cả hai lục địa đều
cho là của mình” (the sage whom two worlds claims as their owns). Còn
Quốc Hội Hoa Kỳ chịu tang một tháng để tỏ lòng kính cẩn một Công Dân đã
có công lớn đối với Quốc Gia, với Khoa Học, với Tự Do và với Nhân Loại.
Tại sao tờ 100USD lại in hình chân dung Benjamin Franklin?
VOV.VN - Dù Benjamin
Franklin chưa từng là Tổng thống Mỹ, chân dung của ông vẫn được in trên
tờ tiền được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới.
Theo trang web History.org
của Mỹ, điều này là hết sức đặc biệt bởi Benjamin Franklin chưa từng là
Tổng thống Mỹ và trong lịch sử Mỹ chỉ có 2 người không phải là Tổng
thống Mỹ từng xuất hiện trên các tờ tiền giấy của Mỹ. Người còn lại là
Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của Mỹ Alexander Hamilton.
Chân dung Benjamin Franklin trên tờ 100USD. Ảnh: History.org
Alexander
Hamilton làm Bộ trưởng từ năm 1789-1795 dưới thời Tổng thống George
Washington và được coi là “kiến trúc sư trưởng” cho hệ thống kinh tế Mỹ.
Đây cũng là lý do chính để chân dung của ông xuất hiện trên tờ tiền
10USD- tờ tiền có mệnh giá cao nhất của Mỹ.
Trong khi đó,
chân dung của Benjamin Franklin được xuất hiện trên tờ 100USD là bởi,
ông là người đóng vai trò rất quan trọng trong những ngày đầu hình thành
nước Mỹ.
Benjamin Franklin
cũng là một trong 7 “người cha lập quốc” của Mỹ (6 người khác là John
Adams, Alexander Hamilton, John Jay, Thomas Jefferson, James Madison và
George Washington).
Cùng với Benjamin
Franklin và Alexander Hamilton, John Jay cững chưa từng là Tổng thống
Mỹ. Vị trí cao nhất mà ông John Jay nắm giữ là Thống đốc bang New York.
Benjamin
Franklin còn được đặc biệt coi trọng bởi những cống hiến của ông cho
công cuộc giành độc lập của Mỹ. Ông chính là người ký Hiệp ước Đồng minh
Pháp-Mỹ và là người thuyết phục Chính phủ Pháp ủng hộ Mỹ chống lại thực
dân Anh. Ngoài ra, Benjamin Franklin cũng là người đàm phán về các
khoản cho vay và thương mại với các nước châu Âu.
Benjamin Franklin
là “người cha lập quốc” duy nhất ký vào 3 văn kiện quan trọng nhất đem
lại nền độc lập cho nước Mỹ là Hiệp ước Đồng minh Pháp-Mỹ, Hiệp ước
Paris và Tuyên ngôn Độc lập. Ông cũng là một trong những người đặt bút
ký vào bản Hiến pháp Mỹ.
Không chỉ là một
chính trị gia lỗi lạc, Benjamin Franklin còn là một doanh nhân và một
nhà khoa học trứ danh. Ông là một trong những người Mỹ được biết đến
nhiều nhất tại châu Âu trong thế kỷ 18.
VOV.VN - Có 10 người suýt trở thành Tổng thống Mỹ thông qua bầu cử hoặc luật về kế vị.
Những điều thú vị về Benjamin Franklin:
Từ năm 1948-1963, chân dung của Benjamin Franklin đã xuất hiện trên đồng tiền xu 1/2 USD.
Vào năm 1731,
Benjamin Franklin đã sáng lập ra hệ thống nhượng quyền thương mại đầu
tiên tại Mỹ bằng cách thiết lập một hệ thống các đối tác, trong đó có 2
đối tác nữ- đây là điều rất hiếm xảy ra vào thời điểm đó.
Tạp chí Forbes đánh giá Benjamin Franklin là người giàu thứ 89 trong lịch sử nước Mỹ.
Benjamin Franklin
là người đầu tiên phát minh ra phông chữ tại Mỹ. Ông sáng tạo ra một
loại phông dạng sans-serif với tên gọi Franklin Gothic. Font này mang
tên ông vào năm 1902 sau khi nó thường xuyên được sử dụng để in tít
chính trên những tờ báo lớn.
Benjamin Franklin
chưa từng đăng ký bản quyền các sáng chế của mình. Ông coi đó là “quà
tặng” dành cho cộng đồng. Những sáng chế của ông hầu hết mang tính thực
tiễn rất cao.
Trong bản hồi ký
của mình, ông chia sẻ lý do của việc này như sau: “Khi chúng ta được
hưởng lợi từ những sáng chế của người khác, chúng ta nên vui mừng vì có
cơ hội được đền đáp lại cho họ bằng chính những sáng chế của chúng ta.
Điều này nên được thực hiện một cách tự nguyện và hào phóng”.
Benjamin Franklin
có đóng góp rất quan trọng vào nhiều dự án công lớn của Mỹ như Đại học
Pennsylvania, Bệnh viện Pennsylvania và Thư việnCông cộng Mỹ.
Benjamin Franklin
là người lớn tuổi nhất ký tên vào bản Hiến pháp Mỹ khi ông đã 81 tuổi,
người trẻ nhất là Jonathan Dayton, 26 tuổi.
Ông là Đại sứ đầu
tiên của Mỹ được một quốc gia [Pháp-ND] tiếp nhận quốc thư. Ông cũng
từng được chọn là Công sứ Toàn quyền tại Thụy Điển vào năm 1782. Dù vậy,
ông chưa từng đặt chân đến Thụy Điển.
Benjamin Franklin
là người đầu tiên đệ trình lên Quốc hội Mỹ yêu cầu xóa bỏ chế độ nô lệ
vào tháng 2/1790, chỉ 2 tháng trước khi ông qua đời ở tuổi 84.
Tầm ảnh hưởng lớn
lao của Benjamin Franklin đối với nước Mỹ khiến ông được mệnh danh là
“Tổng thống duy nhất của Mỹ chưa từng làm Tổng thống”./.
VOV.VN - Hơn 153 năm trước, Tổng
thống Abraham Lincoln đã đọc bài diễn văn Gettysburg- bài diễn văn nổi
tiếng và được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử Mỹ.
Trần Khánh/VOV.VN
Ngày 15/6: Benjamin Franklin thực hiện thí nghiệm với sét đầu tiên bằng cánh diều
Năm 1752, Benjamin Franklin đã thực hiện thí nghiệm sét trong khí quyển vô cùng nổi tiếng.
Năm 1752, Benjamin Franklin đã thực hiện thí nghiệm
sét trong khí quyển vô cùng nổi tiếng. Ông đã buộc một chiếc diều vào
một chiếc cột nhà, ở đó ông cũng buộc một chiếc chìa khóa . Sau đó, cơn
giông ập tới, mưa bắt đầu xối xả, thấm ướt vào chiếc dây của diều. Sấm
sét lúc đó cũng rất đáng sợ, đánh vào con diều.
Do bị ẩm ướt nên con diều có khả năng dẫn điện. Franklin đã sờ vào
chìa khóa đã cảm thấy bị điện giật nhẹ. Sau đó, ông dùng chai Leyden để
tích điện và đã tích một lượng điện lớn. Benjamin Franklin thực hiện thí
nghiệm này với con trai là William Franklin.
Thí nghiệm với sét bằng một cánh diều rất nổi tiếng của Benjamin Franklin.
Thật may mắn cho Benjamin vì 1 năm sau đó, nhà vật lý người Nga gốc Đức Georg Wilhelm Richmann đã bị sét đánh chết.
Nhờ có thí nghiệm nói trên, Benjamin Franklin đã mạnh dạn sử dụng cột
thu lôi đầu tiên tại Philadelphia . Sau nhiều ngày dông bão, căn nhà
của ông, nơi đặt chiếc cột thu lôi đó, không hề bị ảnh hưởng. Thấy vậy,
dân chúng vùng Philadelphia cũng làm theo. Dần dần, cột thu lôi trở nên
phổ biến.
Cột thu lôi chỉ hoạt động khi có trận giông bão. Lúc ấy, các đám mây
đã tích điện tích âm và mặt đất tích điện tích dương . Giữa mây và mặt
đất có hiệu điện thế rất lớn. Khi đó, sét được hình thành. Những chỗ nhô
cao trên mặt đất giống như những mũi nhọn là nơi có điện trường mạnh
nhất. Sau khi hình thành, sét sẽ đánh vào những chỗ đó nhiều nhất.
Phát minh cột thu lôi của Benjamin Franklin được trưng bày tại viện bảo tàng.
Do cao và nhọn, cột thu lôi sẽ có điện trường lớn, nên sét sẽ đánh
vào đó. Sau khi bị sét đánh, nó dẫn dòng điện ấy xuống dưới mặt đất.
Dòng điện ấy sẽ được trung hòa về điện, bởi lúc này đất mang điện tích
dương, còn dòng diện trong cột thu lôi mang điện tích âm.
Không chỉ là một nhà khoa học, Benjamin
Franklin còn là một nhà chính trị gia. Ông cũng là một trong những
người thành lập đất nước nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ . Ông đã đưa ra ý
tưởng về một nước Mỹ và với vai trò một nhà ngoại giao trong thời kỳ
Cách mạng Mỹ, ông đã làm cho liên minh là Pháp giúp đỡ để có thể giành
độc lập.
Năm 1665, tại nước Anh, một cuốn sách ra đời với nhan đề "Hình ảnh vi thể"
(Micrographia) gây xôn xao bàn tán trong giới khoa học ở Anh và châu
Âu. Cuốn sách chứa đựng những khám phá cơ bản trong sinh học, gồm 60
hình lớn do chính tay tác giả vẽ, trong đó có hình một con rận phóng đại
tới vài chục centimet chiều dài, một con chấy thật to chiếm cả một
trang sách, con mắt phức tạp của ruồi, cấu trúc tỉ mỉ của lông chim, quá
trình chuyển dạng của ruồi, tất cả với đầy đủ chi tiết. Tác giả cuốn sách là Robert Hooke, một nhà thực vật học người Anh, lúc đó 30 tuổi.
Hình con bọ chét trong cuốn sách “Hình ảnh vi thể” của Hooke ra đời năm 1665 (Ảnh: sfr.ee.teiath)
Robert Hooke sinh ngày 18 tháng 7 năm 1935 tại một
làng quê đảo Wright, gần bờ biển phía Nam nước Anh, trong gia đình một
mục sư Tin lành. Thời niên thiếu, cậu bé thường ốm yếu nhưng rất thông
minh và chăm học; chỉ trong hai tuần lễ cậu đã học hết bộ sách nhập môn
toán của Euclide. Suốt ngày cậu mải mê chế tạo những dụng cụ cơ khí, tàu
thủy, cối xay chạy bằng dòng nước chảy, đồng hồ quả lắc, máy bay gỗ...
Năm cậu mười ba tuổi, ông bố qua đời, cậu phải đến xin việc tại một
xưởng họa, học vẽ chân dung để kiếm sống. Nhưng mùi sơn dầu và thuốc vẽ
làm cậu nhức đầu, ốm mệt nên phải thôi việc. Sau đó Hooke đến phụ giúp
phòng thí nghiệm của Hội Hoàng gia Anh (vừa mới thành lập), nhận lau rửa
các dụng cụ thực nghiệm. Lòng ham muốn hiểu biết thúc đẩy cậu tự học
hỏi và đến dự các lớp
Robert Hooke (Ảnh: wikipedia)
tại trường Oxford.
Năm 26 tuổi, Hooke cho xuất bản cuốn sách đầu tiên,
nghiên cứu về sức căng bề mặt. Vào những năm giữa thế kỷ 17, tại châu
Âu, nhiều nhà khoa học có xu hướng chế tạo và dùng các dụng cụ quang học
để nghiên cứu thiên nhiên, Hooke cũng là một trong số những người đóng
góp cho xu hướng đó phát triển. Sau 4 năm làm việc, ông công bố kết quả
nghiên cứu trong cuốn sách nổi tiếng “Hình ảnh vi thể”. Trong cuốn sách, ông ghi chú đầy đủ các phương thức tiến hành nghiên cứu: “...
Tôi chọn một căn phòng nhỏ, chỉ có một cửa sổ duy nhất hướng về phía
Nam. Cách cửa sổ khoảng một mét, tôi kê chiếc bàn có đặt kính hiển vi để
nghiên cứu... Tôi phải sử dụng một quả cầu bằng thủy tinh hoặc một thấu
kính 2 mặt (phẳng và lồi), mặt lồi hướng về phía cửa sổ để thu hút được
nhiều ánh sáng tạo nên nguồn chiếu, rồi tôi đặt giữa nguồn sáng và vật
quan sát một mảnh giấy dầu, một kính lúp có độ phóng đại cực lớn để tập
trung thật nhiều ánh sáng đi qua giấy dầu và chiếu trên vật thể, nhưng
cũng phải chú ý ước lượng sao cho tờ giấy dầu khỏi bị quá nóng có thể
bốc cháy..”.
Những ghi nhận của Hooke chứng tỏ sự công phu tỉ mỉ của ông trong công việc nghiên cứu: “Để
có thể làm việc cả trong những ngày không ánh sáng mặt trời, và cả lúc
đêm khuya, tôi làm một dụng cụ thẳng đứng với 3 giá ngang, trên một giá
có đặt một đèn dầu có thể di chuyển gần xa, trên giá kia đặt một quả cầu
bằng thủy tinh chứa dịch trong suốt, trên giá thứ ba đặt một thấu kính 2
mặt (phảng và lồi) có thể di động theo nhiều hướng”. Với những
dụng cụ tự chế tạo như thế Hooke tiến hành những nghiên cứu thực vật
học. Trong cuốn sách, ông ghi nhận những kết quả thu thập được: “Qua
kính hiển vi tôi quan sát những mảnh bần (liège), tôi nhận thấy có cấu
tạo giống những khoang, lỗ nhỏ. Tôi dùng dao cắt thành nhiều mảnh khác
mỏng hơn và rõ ràng tôi lại nhận thấy các mảnh đó có cấu trúc như những
tổ ong, những phòng nhỏ. Tôi đếm kỹ và thấy có 60 tế bào (cell - từ
nguyên latin cellulate, có nghĩa là: phòng nhỏ, như vậy Hooke là người
đầu tiên đặt ra và sử dụng từ “tế bào”), các tế bào đó xếp sát nhau trên
một vùng kích thước 1mm, như vậy sẽ có tới trên 1 triệu (tính thật đúng
là 1.666.400) tế bào trên mảnh diện tích bần 6,5cm2, một con số khổng lồ khó tin được”. Sau đó, Hooke quyết định nghiên cứu thêm qua kính hiển vi dạng cấu trúc nhỏ bé mà ông vừa mới phát hiện.
Đúng vào lúc cuốn sách “Hình ảnh vi thể” của ông ra đời, năm 1665, Hooke trình bày trước Hội Hoàng gia Anh những kết quả quan sát trong bản tường trình “Cấu trúc của bần qua thấu kính phóng đại”.
Năm sau, ông được bầu làm Uỷ viên kiêm Thư ký Hội Hoàng gia và ở cương
vị này suốt 15 năm. Năm 36 tuổi, ông tiến hành thử nghiệm ngay trên bản
thân về ảnh hưởng của môi trường áp suất thấp: ông ngồi trong một căn
buồng nhỏ và chịu đựng một áp suất rất thấp (chỉ bằng 1/4 áp suất bình
thường) và ghi nhận các triệu chứng bản thân ông đã cảm thụ
Hình con bọ chét trong cuốn sách “Hình ảnh vi thể” của Hooke ra đời năm 1665 (Ảnh: roberthooke.org)
được như: nhức đầu, đau tai đến mức gần điếc đặc v.v... Ông còn làm nhiều thử nghiệm về ghép da, hô hấp nhân tạo, truyền máu...
Hooke là một con người say mê khoa học,
từ sáng sớm trong phòng thí nghiệm đã thấy bóng dáng ông: nhỏ bé, thấp
gầy, dáng đi hơi khom lưng, nét mặt không đẹp lắm vì miệng hơi rộng và
cằm quá nhọn. Ông giản dị và rộng lượng: suốt những năm làm việc tại Hội
Hoàng gia và trường đại học, ông không hề phàn nàn về lương bổng. Tính
nết ông thẳng thắn cương trực đến mức dễ nóng nảy, va chạm với đồng
nghiệp (về sau người ta mới biết đó là do tình trạng ốm yếu từ lúc còn
nhỏ làm ông ăn uống kém và mất ngủ thường xuyên). Cuộc tranh luận của
ông với Issac Newton (1642-1727) đã trở thành nổi tiếng: có lẽ Hooke đã
thông báo cho Newton biết những kết quả nghiên cứu vật lý học của ông và
tạo điều kiện để Newton phát hiện ra một số định luật mới nhưng cũng có
thể là tự bản thân mình phát hiện ra các định luật đó nên Newton đã
không nêu rõ vai trò đóng góp của Hooke. Dẫu sao, sự va chạm này đã trở
thành mâu thuẫn đến mức chỉ sau khi Hooke qua đời thi Newton mới được
bầu làm Chủ tịch Hội Hoàng gia Anh (trong thời gian 1703-1727).
Hooke không chỉ là nhà thực vật học nổi tiếng với việc phát hiện ra tế bào, ông còn là một nhà thiên văn học lỗi lạc.
Ông có nhiều đóng góp khoa học lớn như chế tạo ra kính viễn vọng, quan
sát sự chuyển động quay của các thiên thể, đề nghị dùng nhiệt độ đóng
băng của nước là 0o, đưa ra lý thuyết cơ học của nhiệt,
nghiên cứu nguồn gốc vật thể hóa thạch. Ông cũng là một kiến trúc sư tài
năng: sau vụ dịch lớn (vào năm 1665) và đám cháy lớn (năm 1666) tại
Luân Đôn, chính ông đã tham gia thiết kế xây dựng lại nhiều ngôi nhà lớn
và các khu vực rộng của thủ đô Anh.
Danh tiếng Robert Hooke vang dội không chỉ lúc sinh
thời mà còn lưu truyền nhiều thế kỷ sau, có điều đặc biệt là không ai
lưu trữ được một bức hình nào của ông và cũng không ai biết rõ phần mộ
của ông đặt nơi nào.
Bảy năm sau khi Robert Hooke phát hiện ra tế bào, vào
năm 1672, Malpighi cũng mô tả những túi nhỏ trong cấu trúc thực vật.
140 năm sau đó, vào năm 1805, một thầy thuốc và nhà khoa học tự nhiên
người Đức, Lorenz Oken (1779-1851) cũng khẳng định: “Mọi cơ thể sinh vật đều do những tế bào cấu tạo nên”.
Nhưng phải 174 năm sau phát hiện của Hooke, cuối cùng tế bào mới được
xác nhận là đơn vị cấu trúc cơ bản của cả động vật và thực vật, nhờ công
lao của Schleiden và Schwann.
Nguồn: Sách 20 nhà sinh học tài danh của Trần Phương Hạnh, Nhà xuất bản Thanh niên
Cập nhật: 23/07/2006Theo Sinh học Việt Nam
Robert Hooke (1635 – 1703): Nhà khoa học đại tài người Anh
Robert Hooke sinh ngày 18 tháng 9 năm 1635
tại đảo Wight ngoài khơi bờ biển phía nam nước Anh. Cha của Robert là
giáo sĩ Tin Lành, qua đời khi cậu mới 13 tuổi.
Sau
khi cha mất, Robert chuyển lên Thành phố London để học nghề với Sir
Peter Lely, một họa sĩ hàng đầu về vẽ chân dung. Mặc dù Robert có tài
nhưng cây cọ và các chất liệu vẽ cũng như cách làm việc không thích hợp
với sức khỏe yếu đuối của cậu. Robert Hooke đành thôi nghề hội họa, quay
sang học một nghề khác.
Khi qua đời, cha
của Robert Hooke để lại cho con 100 bảng Anh. Vào thời bấy giờ, đây là
một số tiền rất lớn. Nhờ món tiền này, Robert theo học trường
Westminster cho đến 18 tuổi rồi sau đó vào trường đại học Oxford. Trong
thời gian này, Robert làm nhiều công việc để kiếm thêm tiền đồng thời
vẫn là một sinh viên xuất sắc.
Khi theo Ðại học
Oxford, Robert Hooke gặp Christopher Wren và Robert Boyle. Boyle hơn
Hooke 8 tuổi và là một nhà khoa học xuất sắc giàu có. Boyle đã mướn
Hooke làm người phụ tá trong phòng thí nghiệm. Nhiều người tin rằng các
công trình nghiên cứu của Boyle, kể cả các định luật về chất khí, đều do
khả năng tinh thần và tài khéo léo của Robert Hooke. Khi chiếc bơm chân
không ra đời trong phòng thí nghiệm của Boyle và được mọi người biết
đến gọi là chiếc máy của Boyle, thì chính Robert Boyle đã tuyên bố công
khai về công lao của Hooke trong việc phát minh chiếc bơm này.
Còn về Christopher
Wren, nhà khoa học nổi danh về Hình học vào năm 1660, là Giáo sư Thiên
văn của Trường Ðại học Oxford. Năm 1663, Wren theo nghề kiến trúc và trở
nên nổi tiếng do vẽ kiểu nhà thờ Saint Paul của Thành phố London. Tại
nhà riêng của Wren, các nhà khoa học Anh đã tụ họp lại thành Trường Vô
hình và sau đó phát triển thành Viện Khoa học Hoàng gia (The Royal
Society).
Vào năm 1662,
Robert Hooke được bổ nhiệm làm Trưởng ban Khảo sát (curator of
experiments) của Viện Khoa học Hoàng gia, nhiệm vụ chính là thực hành
lại các thí nghiệm cho các hội viên khác, nhờ vậy ông đã quen thuộc với
các ngành khoa học thịnh hành vào thời bấy giờ. Robert Hooke được bầu
làm hội viên của Viện Hoàng gia vào năm 1663 và được bổ nhiệm làm Giáo
sư Hình học (Gresham Professor) của Ðại học Oxford vào năm 1665.
Khi Viện Hoàng gia
nhận được các bức thư của Anton Van Leeuwenhoek mô tả những điều tìm
thấy trong thế giới cực nhỏ, Viện đã hỏi mượn chiếc kính hiển vi của nhà
phát minh người Hà Lan nhưng bị khước từ. Robert Hooke được Viện giao
phó cho việc kiểm chứng các khám phá của Van Leeuwenhoek, ông liền chế
tạo một kính hiển vi kép rất hữu dụng rồi sau đó còn thực hiện hơn 60
công trình khảo sát bằng kính hiển vi, khám phá ra tế bào thực vật.
Hooke vẽ một cách rất tỉ mỉ những gì ông đã quan sát thấy, chẳng hạn như
cách cấu tạo của lông chim, mắt ruồi, con rận, con bọ chét. Những bức
vẽ giá trị này được ông phổ biến qua tác phẩm Micrographia xuất bản vào
năm 1664. Như vậy, Robert Hooke là người đã phổ biến cách chế tạo và
cách dùng kính hiển vi, trong khi Van Leeuwenhoek được gọi là cha đẻ của
thứ kính đó.
Vào năm 1666, Thành
phố London đã xảy ra một trận hỏa hoạn lớn. 80% thành phố bị thiêu rụi.
Công việc thiết kế lại thành phố được giao cho Christopher Wren và Wren
đã thuê Robert Hooke làm phụ tá. Chính Robert Hooke đã vẽ nhiều đồ án
gồm những công sự xây cất vuông góc, với các đường phố thẳng góc với
nhau. Thành phố được thiết kế rất hoàn hảo, nhưng một số dự án bị bác bỏ
do sự phản đối của chủ nhân các tòa nhà còn lại. Cũng vì thế Thành phố
London ngày nay vẫn còn nhiều đường phố chật hẹp.
Robert Hooke là một
nhà chế tạo dụng cụ khéo léo. Ông đã mang kiến thức về quang học của
mình áp dụng vào việc đo lường thiên văn. Hooke cũng đã vẽ nhiều dụng cụ
đo đạc hàng hải gồm dụng cụ đo bằng âm thanh, dụng cụ đo nước biển ở
các chiều sâu khác nhau. Hooke còn cho ấn hành các tập san khí tượng
dưới quyền bảo trợ của Viện Hoàng gia. Ông cũng xác định sự ảnh hưởng
tới thời tiết do cách xoay tròn của địa cầu và do sự bức xạ của mặt
trời.
5 năm trước khi
Isaac Newton phổ biến tác phẩm “Nguyên lý” trong đó có nói về lực vạn
vật hấp dẫn, Robert Hooke đã trình bày một bài về lực hấp dẫn trong vũ
trụ. Tới khi tác phẩm của Newton ra đời, Hooke cho rằng Newton đã dùng
kiến thức của mình. Vì vậy, giữa hai nhà khoa học này đã xảy ra xích
mích. Thực tế, Newton đã lập công thức cho lý thuyết của ông 10 năm
trước khi tác phẩm “Nguyên lý” được xuất bản.
Vào năm 1676,
Robert Hooke phổ biến định luật đàn hồi theo đó độ dãn của lò xo tỉ lệ
với sức kéo. Nguyên tắc này được áp dụng vào việc phát minh ra lò xo
xoắn. Cách phân tích lò xo giúp ông phát minh ra đồng hồ. Vào thời bấy
giờ, nhiều người đã dùng đồng hồ quả lắc nhưng phải đặt tại một nơi cố
định. Nếu mang lên tàu biển, đồng hồ sẽ chỉ sai giờ và sẽ chạy chậm lại
nếu tới gần đường xích đạo do trọng lực giảm. Robert Hooke đã thay thế
quả lắc bằng một bánh xe chao và dùng một lò xo cân bằng (balance
spring) dao động theo nhịp độ đều đều chung quanh tâm. Lần này, Hooke đã
thành công trong cách cải tiến đồng hồ nhưng một phát minh tương tự đã
được Christian Huygens công bố vào năm 1675, vì vậy lại xảy ra xích
mích, nhưng sau đó giới khoa học đều đồng ý rằng Hooke đã khám phá ra
trước và bằng phát minh của Huygens vẫn có giá trị.
Tại Viện Khoa học
Hoàng gia, Robert Hooke đã giữ chức tổng thư ký cho tới năm 1682, rồi
khi không còn đảm nhiệm chức vụ này, ông vẫn gửi các bài khảo cứu tới
Viện. Robert Hooke không lập gia đình. Ông chỉ có một người cháu gái
sinh sống với ông để chăm sóc công việc nội trợ. Hai năm sau khi ông qua
đời vào năm 1703, các tập sách ghi chú của ông được xuất bản với 400
000 chữ, chứng tỏ kiến thức của ông rất uyên bác về nhiều phương diện
khoa học.
Phạm Văn Tuấn - Bản tin ĐHQG Hà Nội
39- Robert Boyle 1627-1691 Ireland Vật Lý, Hóa Học
Robert Boyle: nhà hóa học thế kỉ 17 đã thấy trước tương lai công nghệ cao
Viết bởi Zero_Gravity
Thứ tư, 09 Tháng 6 2010 14:09
Bộ
sưu tập các bài viết của nhà khoa học người Anh Robert Boyle hiện đang
được trưng bày tại Hội Hoàng gia Anh. Trông chúng có vẻ như là các thành
tựu của khoa học hiện đại.
Bạn đừng nghĩ rằng các ý tưởng dẫn đến những kì công như đạo hàng qua
vệ tinh, cấy ghép cơ qua và giải phẫu thẩm mĩ chỉ mới xuất hiện gần
đây. Cách đây 350 năm, một nhà khoa học tiên phong đã đặt bút soạn ra
một danh sách mơ ước gồm những cái ông hi vọng nền khoa học sẽ đạt được
vào một ngày nào đó.
Và người đó chính là ngài Robert Boyle, một nhà triết học tự nhiên và là người sáng lập của hóa học hiện đại.
Danh sách mơ ước của ông bao quát những phát triển khoa học thật sự
kéo dài suốt bốn thế kỉ sau đó, từ sự xuất hiện của các quán cà phê, đến
sự ra đời của ngành hàng không, từ sự sản xuất hợp kim Kevlar cho đến
các phát triển trong ngành nông nghiệp thương mại hóa.
Boyle là một trong những người sáng lập ra Hội Hoàng gia hồi năm 1660
và bản danh sách của ông, chưa bao giờ trưng bày trước công chúng trước
đây, là một phần của cuộc trưng bày triển lãm kỉ niệm 350 năm thành lập
hội.
Bản danh sách gồm 24 khát vọng, chúng đã được thảo luận rộng rãi với
những người đương thời khoa học của ông nhưng chắc chắn chúng trông như
những ước mơ kì quặc đối với những con người của thế kỉ 17.
Ước mơ đầu tiên của Boyle là “Kéo dài Sự sống”. Vì tuổi thọ trung
bình lúc đầu thế kỉ 17 chỉ là 40, nên chắc chắn mơ ước đầu tiên ấy của
Boyle đã thành hiện thực. Và nó vẫn là đề tài nóng bỏng đối với các nhà
khoa học ngày nay.
Tiếp theo, ông suy nghĩ về “Sự Hồi xuân, hay ít nhất là một số Dấu hiệu của tuổi xuân, như Răng mới, Màu tóc mới như lúc trẻ”.
Trích từ những bài viết riêng tư của Robert Boyle dự đoán tương
lai của khoa học, bao gồm hàng không, cấy ghép cơ quan, định vị địa lí,
nền nông nghiệp thương mại và thuốc chữa bệnh tâm thần.
Có phải ông đã nhận ra rằng bốn thế kỉ sau các thành tựu của ngành
nha khoa hiện đại sẽ cấy được những chiếc răng mới và muốn màu tóc tươi
trẻ thì chỉ cần một chai thuốc nhuộm đã là xong?
Những ước mơ khác bao gồm những phát triển quan trọng trong kĩ thuật
và hóa học, cũng như trong y khoa. Một số ý tưởng như “sự đột biến của
các loài khoáng chất, động vật và thực vật” vẫn nằm ở tiền tuyến của
khoa học ngày nay.
Giáo sư Jonathan Ashmore, thành viên Hội Hoàng gia, nói: “Các tiên
đoán của Boyle về tương lai của khoa học khá đặc biệt. Niềm hi vọng của
ông đối với việc chữa trị các bệnh tật bằng cách cấy ghép và dùng thuốc
giảm đau và trợ ngủ đã trở thành những đặc điểm cố hữu của nền y khoa
đương thời và đây là những tiên đoán ông đã nêu ra cách đây tới 350 năm.
Chúng ta đã thấy nhiều dự đoán khác của ông đã được hiện thực hóa
theo những kiểu khác nhau, bao gồm ngành hàng không, chăm sóc sức khỏe
hiện đại kéo dài sự sống, hợp kim Kevlar, thám hiểm dưới nước và đạo
hàng GPS”.
Felicity Hederson ở Hội Hoàng gia quan sát một Máy đo bức xạ do William Crookes trình bày trước Hội vào năm 1911.
Quản thư Hội Hoàng gia, Keith Moore, khảo sát một cái quadrant
thiên văn (cung một phần tư vòng tròn) được biết đã từng được thuyền
trưởng James Cook sử dụng.
Giáo sư Ashmore nói sẽ thật thú vị nếu có một bản danh sách mới vẽ
nơi những ước mơ ngày nay về tương lai công nghệ. Nhiều ước mơ trong
danh sách của Boyle được phản ánh trong các tài liệu trưng bày trong
triển lãm 350 năm khoa học.
Bắt đầu vào những năm 1660 khi khoa học là một hoạt động theo đuổi
mới và không chắc chắn, cuộc triển lãm thể hiện những tên tuổi lớn trong
lịch sử như Christopher Wren, Issac Newton, Charles Darwin và Humphrey
Davy đã định hình tương lai như thế nào.
Mẩu gỗ từ cây táo Newton sẽ được trưng bày, cùng với một bản sao cuốn Nguồn gốc của các loài do Darwin gửi cho Hội Hoàng gia.
Các tác phẩm xuất sắc của Boyle về chất khí, hóa học, và tôn giáo
khiến ông nổi tiếng khắp châu Âu. Nghiên cứu của ông đã dẫn đến sự thiết
lập định luật Boyle phát biểu rằng áp suất của chất khí tỉ lệ nghịch
với thể tích của nó ở nhiệt độ không đổi.
Duy Khắc (theo Daily Mail)
Vui lòng ghi rõ "Nguồn Thuvienvatly.com" khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi
"Lời tiên tri" khoa học thành sự thực sau 4 thế kỷ
Xuất phát từ trí tưởng tượng phong phú của một nhà khoa học thế kỷ 17,
những thành quả khoa học này giờ đã trở thành hiện thực, cho dù chúng đã
từng bị cho là kỳ dị...
Hơn 350 năm trước, nhà khoa học Robert Boyle viết một danh sách”những điều ước” mà ông hy vọng khoa học có thể đạt được một ngày nào đó.
Trong thời kỳ Isaac Newton khám phá ra trọng lực, Samuel Pepys viết nhật ký và bệnh dịch hạch đang hoành hành ở London thì Boyle đã dự đoán rất nhiều “cuộc cách mạng” trong khoa học mà trên thực tế đã trở thành sự thực sau bốn thế kỷ.
Robert Boyle đã "tiên tri" nhiều phát triển khoa học từ thế kỷ 17.
Danh
sách của ông đề cập đến những sự phát triển mà khi đó bị cho là kỳ dị
đối với giới khoa học đương thời, ví dụ như du lịch hàng không hay thuốc
giảm đau.
Thế nhưng, hầu hết 24 “điều ước” của ông trở thành
hiện thực, bao gồm cả việc sản xuất ra những mùa vụ cây trồng biến đổi
gien và sự xuất hiện của các quán cà phê.
Boyle
là một trong những người sáng lập ra Hiệp hội Hoàng gia Anh năm 1660 và
danh sách khoa học của ông được trưng bày nhân dịp kỷ niệm 350 ngày
thành lập Hội.
Danh sách "tiên tri" của Boyle.
Đứng đầu danh sách của Boyle
là “kéo dài tuổi thọ”. Vào thế kỷ thứ 17, tuổi thọ trung bình của con
người chỉ khoảng 40, cho đến bây giờ con số đó đã tăng đáng kể và hiện
là một đề tài nghiên cứu của khoa học.
Tiếp theo, Boyle
chỉ ra con người có thể “khôi phục tuổi trẻ” hay ít nhất là một phần
của tuổi trẻ như cấy hàm răng mới, thay đổi màu tóc… Cuối cùng, sau bốn
thế kỷ, các nha sĩ hiện đại có thể cấy răng mới hoặc làm cho hàm răng
con người trở nên đều đặn hơn.
Giáo sư Jonathan Ashmore, thành viên của Hiệp hội Hoàng gia, nhận định: “Những
dự đoán của Boyle về tương lai khoa học là rất đáng ghi nhận. Hy vọng
của ông về việc chữa bệnh bằng cách cấy ghép và các loại thuốc giảm đau,
hỗ trợ giấc ngủ đều đã trở thành một phần của y học hiện đại”.
10 lời tiên tri kỳ lạ lần lượt đã trở thành sự thật khiến thế giới kinh ngạc
Rất
nhiều sự kiện lớn trên thế giới được dự đoán trước và đã trở thành sự
thật. Điều đó đã khiến ai không tin vào những lời tiên tri phải đau đầu
vì khó hiểu.
Có
những người được ban tặng tài năng thiên bẩm, có thể nhìn thấy những
điều sẽ diễn ra trong tương lai cách thời đại họ sống nhiều thế kỷ. Dưới
đây là 10 lời tiên tri đã trở thành sự thật khiến nhân loại không khỏi
ngỡ ngàng. 10. Thảm họa RMS Titanic
Vào năm 1898, một tác giả người Mỹ có tên Morgan Robertson đã cho xuất bản một cuốn tiểu thuyết có tựa đề “Futility, or The Wreck of the Titan” (tạm dịch là Sự phù phiếm, hay vụ đắm tàu Titan) được cho là lời tiên đoán về thảm họa RMS Titanic.
Cuốn
tiểu thuyết là một câu chuyện hư cấu về một con tàu chở khách mang tên
SS Titan đã chìm trên biển Đại Tây Dương sau một vụ va chạm với một tảng
băng trôi. 14 năm sau đó, vào năm 1912, những sự kiện trong cuốn sách
của ông tương đồng gần như chính xác sự kiện chìm tàu Titanic với 1503
người ra đi.
Thảm họa chìm tàu Titanic. Ảnh dẫn theo maucuocsong.comKhông
chỉ vậy, có rất nhiều sự trùng hợp giữa con tàu Titan trong cuốn tiểu
thuyết với con tàu Titanic ngoài đời thật. Trong truyện, con tàu Titan
được mô tả có cùng kích thước và tốc độ với tàu Titanic, cả 2 đều được
coi là không thể chìm và đều có số lượng thuyền cứu sinh vô cùng ít. Cả 2
con tàu đều bị chìm vào tháng tư và đều mất đi hơn một nửa hành khách
và thủy thủ đoàn.
Ngay cả cái tên nghe cũng vẻ giống nhau! Điều
đáng ngạc nhiên là Robertson đã viết cuốn sách này nhiều năm trước khi
thảm họa thực tế xảy ra. Làm sao ông có thể tiên đoán nó 1 cách chính
xác đến như vậy?
Mặc dù ông đã phủ nhận tất cả mọi kết luận về khả
năng nhìn thấy trước tương lai của mình và cho rằng đây đơn thuần chỉ
là một sự trùng hợp, là những kiến thức của ông về đóng tàu và hàng hải
vì trước kia cha ông là một thuyền trưởng, tiểu thuyết của ông vẫn tạo
cho người đọc ấn tượng vô cùng mạnh mẽ. 9. Wi-fi
Nikola
Tesla là một nhà sáng chế, đồng thời là một kĩ sư người Do Thái. Ông
được mệnh danh là “Người sáng tạo ra thế kỉ 20”. Ông được biết đến với
những đóng góp cho hệ thống cung cấp điện hiện đại.
Có một điều kỳ diệu là ông đã dự đoán về Wi-fi từ năm 1901. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo New York Times, ông đã đưa ra những dự đoán của mình về công nghệ tương lai và nói rằng: “Sẽ
sớm có thể truyền các tin nhắn không dây trên toàn bộ thế giới. Điều đó
đơn giản tới mức ai ai cũng có thể tự mang và vận hành bộ máy của chính
mình”.
Chắc chắn thứ thiết bị mà ông nhắc đến là chiếc điện
thoại di động và điều đó đã gây ngỡ ngàng cho con người vì chiếc điện
thoại di động đầu tiên được tạo ra vào năm 1973 và mãi cho tới năm 1991,
wifi mới được giới thiệu ra cộng đồng!
Ông cũng đã nhìn thấy được trước sự ra đời của Skype và Video-call vào năm 1926. Trong một cuộc phỏng vấn, ông nói: “Thông
qua màn hình và hệ thống âm thanh chúng ta có thể nghe và thấy người
kia như đang gặp mặt trực tiếp bất chấp mọi khoảng cách, vị trí lãnh
thổ”.
Ngày nay, ở khu vực bức tượng tưởng niệm Tesla ở San
Francisco có phát mạng wifi miễn phí cho khách truy cập để tưởng nhớ đến
ông.
Wifi đã được dự đoán về Wi-fi từ năm 1901. Ảnh dẫn theo fieldguide.gizmodo.com8. Cấy ghép sinh học
Robert
Boyle, một nhà khoa học có tầm ảnh hưởng lớn được biết đến với Định
luật Boyle và là Cha đẻ của hóa học hiện đại ngày nay đã đưa ra một lời
dự đoán về Sinh Học! Ông là một người nổi tiếng vì luôn luôn đi trước
thời đại của mình.
Vào những năm 1660, ông đã đưa ra một danh sách
những điều ông mong muốn trong nhật ký của ông đề cập rõ ràng rằng
trong tương lai, việc cấy ghép tế bào sẽ là một liều thuốc chữa bệnh và
đây là một khái niệm chưa từng được nhắc đến trong thời điểm đó.
Hơn
300 năm sau những lời dự đoán của ông, ca ghép thận đầu tiên đã thành
công. Kể từ đó, nó đã phát triển rộng rãi trên toàn thế giới và rất
nhiều sinh mệnh đã được cứu sống. Ví dụ vào năm 2014, chỉ riêng ở Mỹ đã
có khoảng 17.107 ca ghép thận được thực hiện.
Robert Boyle không
chỉ viết về việc cấy ghép mà trong cuốn nhật ký bí hiểm của ông còn đề
cập đến tàu ngầm, thuốc ảo giác, GPS, máy bay và việc kéo dài sự sống.
Cấy ghép sinh học. Ảnh dẫn theo vietq.vn7. Bom nguyên tử
H.G Wells, một tác giả nổi tiếng được biết đến với hai tiểu thuyết khoa học viễn tưởng The War of Worlds (Tạm dịch: Chiến tranh giữa các Thế giới) và TheTime Machine (Tạm dịch: Cỗ máy thời gian) đã đưa ra lời dự đoán về quả bom nguyên tử.
Trước Chiến
tranh thế giới lần thứ II, hầu hết mọi người đều không thể tưởng tượng
được sức phá hủy của một quả bom nguyên tử trong cuốn tiểu thuyết The world set free (Tạm
dịch: Giải phóng thế giới) của ông Wells. Trong cuốn tiểu thuyết, ông
mô tả về một quả lựu đạn cầm tay chứa uranium sẽ liên tục phát nổ vô
thời hạn.
Ông không phải là người nghiên cứu Khoa học, kiến thức
về các nguyên tố phóng xạ gần như không có, vì vậy gần như không có cách
nào biết được rằng có thể thực sự sử dụng năng lượng nguyên tử trong
tương lai. Dự án đầu tiên khởi động với mục đích chế tạo bom nguyên tử
bắt đầu 28 năm sau khi cuốn sách của ông Wells được phát hành.
Bom nguyên tử. Ảnh dẫn theo spoki.tvnet.lv6. Sự sụp đổ của phố Wall
Edgar
Cayce là một người sở hữu khả năng đặc biệt khá nổi tiếng vào đầu những
năm 1920.Ông có thể trả lời được hầu hết các câu hỏi từ những câu hỏi
cá nhân cho đến các câu hỏi về chính trị quốc gia khi trong trạng thái
xuất thần.
Vào năm 1925, Cayce bắt đầu cảnh báo khách hàng của
mình rằng trong năm 1929 sẽ xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất
từ trước tới giờ ở Mỹ dẫn đến suy thoái. Một số những khách hàng của
ông ta đã để ý đến lời cảnh báo đó và đã đi rút tiền. Khi thời điểm
khủng hoảng xảy đến, Sở Giao dịch Chứng Khoáng New York bị sập và điều
đó đã khiến cho 13 triệu người trở nên thất nghiệp. Giá cổ phiếu đã
không thể trở lại bình thường cho đến năm 1954.
Những lời tiên tri
của Cayce không chỉ kết thúc từ đó. Vào năm 1938, ông đã tiên đoán rằng
các nhà khảo cổ sẽ có những khám phá mới về việc nổi lên của Lục
địa Atlantis ở vùng biển gần Bimini vịnh Banamas. Thật đáng ngạc nhiên
vào năm 1968, con đường Bimini đã được khám phá và đã tìm được một loại
đá bí ẩn dưới nước được mọi người coi là Thành phố đã mất Atlantis.
Cayce
thậm chí còn dự đoán được cái chết của ông vào ngày 1 tháng 1 năm 1945,
và ông sẽ bị chôn 4 ngày sau. Đúng như những lời đã dự đoán, ông qua
đời vì một cơn đột quỵ vào ngày mùng 3 tháng 1.
Sự sụp đổ của phố Wall . Ảnh minh họa vnreview.vn5. Mạng Internet
Biểu
tượng của văn học Mỹ, nhà văn Mark Twain đã đưa ra lời dự đoán về
Internet 90 năm trước khi ông Lee Tim-Berners giới thiệu World Wide Web –
mạng lưới toàn cầu. Vào năm 1898, ông đã viết một câu truyện ngắn về
chủ đề khoa học viễn tưởng có tên “From the “London Time” in 1904” , trong đó ông mô tả một thiết bị có tên “Telectroscope”
kết nối với các hệ thống điện thoại trên thế giới và tất cả mọi người
sẽ biết về những hoạt động diễn ra hàng ngày trên toàn thế giới.
Ông cũng dự đoán trước cái chết của mình trong một cuốn tự truyện vào năm 1909. Ông viết: “Tôi đã đến đây với sao chổi Haley vào năm 1835. Nó sẽ đến vào năm sau, và tôi hi vọng sẽ được đi với nó”.
Ông qua đời vào ngày 21 tháng 4 năm 1910, ngày sao chổi xuất hiện và nó
cũng đã xuất hiện vào ngày sinh của ông 75 năm về trước. 4. Con người đặt chân lên mặt trăng
Jules Verne là một nhà tiểu thuyết gia người Pháp ở thế kỉ 19, nổi tiếng với những câu truyện phiêu lưu cổ điển “Around the World inEighty Days” (
Tạm dịch: Dạo quanh thế giới trong tám mươi ngày). Vào năm 1865, ông đã
viết một cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng nhỏ mang tên “From the Earth to the Moon” (Tạm
dịch: Từ trái đất lên mặt trăng) mô tả chuyến đi đầu tiên của con người
lên mặt trăng. Một thế kỉ sau viễn cảnh của Jules, vào năm 1969, những
sự kiện trong câu chuyện của ông đã trở thành sự thật khi Neil Armstrong
thực hiện 1 bước nhảy vọt của nhân loại.
Tuy nhiên, câu truyện
của Jules về chuyến đi lên mặt trăng không phải là điều đã khiến cho
những dự đoán của ông trở nên nổi bật mà là những điểm tương đồng giữa
cuộc hành trình trong cuốn sách ông viết với hành trình của con tàu
Apollo từ số lượng phi hành gia cho đến cả hai quả tên lửa được phóng
lên từ Florida.
Tuy nhiên, điều lạ lùng nhất trong các sự trùng
hợp là tất cả các phi hành gia đều cảm thấy sự không trọng lượng. Vào
thời ông viết câu chuyện này, ngay cả những nhà khoa học cũng không biết
được rằng lực hấp dẫn trong các không gian vũ trụ hoàn toàn khác nhau.
Vậy tại sao ông có thể biết được điều đó?
Con người đặt chân lên mặt trăng. Ảnh dẫn theo thienvanhoc.tk3. Chiến tranh lạnh
Nhà
khoa học đồng thời là chính trị gia người Pháp, Alexis de Tocqueville
trong bài viết “Democracy in America” (Tạm dịch: Nền dân chủ ở Mỹ) của
ông vào năm 1840 đã viết: “Hiện nay có hai quốc gia lớn trên thế
giới có xuất phát điểm khác nhau, nhưng dường như cả hai đều đang hướng
tới cùng một mục tiêu. Người Nga và người Mỹ gốc Anglo, mỗi bên dường
như được kêu gọi bởi một số mong muốn bí mật của Thượng Đế, một ngày nào
đó có thể nắm giữ trong tay vận mệnh của một nửa thế giới”.
Tại
thời điểm cuốn sách này được viết, nước Mỹ đã giành được độc lập từ tay
người Anh và bị chia rẽ sâu sắc bởi cuộc nội chiến. Trong khi đó, Nga
đang chịu ảnh hưởng bởi sự lãnh đạo độc đoán và có tính phân chia giai
cấp của chế độ Nga hoàng. Trong những trường hợp như vậy, liệu ai có thể
tiên đoán hai quốc gia này sẽ trở thành siêu cường quốc và chiến đấu
với nhau để giành quyền bá chủ thế giới chỉ sau hơn một thế kỷ?
Nhà
khoa học, chính trị gia người Pháp này đã làm được điều đó! Một cuộc
“chiến tranh lạnh” đã thực sự xảy ra giữa Mỹ và Liên bang Xô Viết, khi
quốc gia này luôn cố gắng đánh bại quốc gia kia trong tiến bộ về hạt
nhân, vũ khí, công nghệ vũ trụ và tất nhiên là cả tầm ảnh hưởng tới thế
giới. 2. Cháy lớn ở London
Những lời tiên
tri của dược sĩ người Pháp kiêm nhà tiên tri Michel de Nostredame đã trở
thành huyền thoại khi những dự đoán về vô số những sự kiện lớn trên thế
giới đều trở thành hiện thực sau khi ông qua đời hàng thế kỷ.
Một
trong những dự đoán nổi tiếng nhất của ông là sự kiện cháy lớn ở London
diễn ra vào năm 1666 đã khiến 90% người dân London mất nhà ở. Trong
cuốn sách có tựa đề Les Propheties (Tạm dịch: Những lời sấm), ông viết về Luân Đôn rằng: “Thành phố sẽ bị cháy vào năm 66” (Tạm dịch). Quả thực, Luân Đôn đã xảy ra một vụ cháy kinh hoàng, gây thương vong, mất mát lớn vào ngày 2/9/1666.
Có giả thuyết rằng ông đã tiên đoán về cuộc cách mạng Pháp (1789) thông qua câu: “Những bài ca, thánh ca, và những nhu cầu sẽ đến từ các nô lệ, giới quý tộc bị giam giữ trong chính nhà tù của họ” (Tạm dịch). Đó quả thực giống với cách mà những người nông dân bị áp bức nổi dậy và bắt giam giới quý tộc Pháp.
Cháy lớn ở London. Ảnh dẫn theo sbs.com.au1. Lời sấm của Leonardo Davinci
Một
nhà bác học, một họa sĩ, một nhà toán học, nhạc sĩ, tất cả những điều
đó chỉ gói gọn trong một người duy nhất – Davinci! Các quyển sách của
Davinci đã ghi lại những suy nghĩ của ông từ giữa những năm 1480 cho đến
khi ông qua đời vào năm 1519 với những thiết kế cho những sáng chế và
những công nghệ hoàn toàn đi trước thời đại.
Một trong những phát minh của ông nhìn giống như những cỗ xe tăng, những chiếc xe bọc thép mà 400 năm sau mới xuất hiện.
Ông
còn vẽ một sơ đồ của một chiếc dù bay trước khi chiếu dù bay đầu tiên
xuất hiện tận 3 thế kỷ! Máy bay trực thăng cũng không được chế tạo cho
đến năm 1940 cũng có trong bản phác thảo của Davinci, người tiền nhiệm
của những chiếc máy bay ngày nay! Theo Wonderslist Thiện Uy
Ý nghĩa của tên Robert, bản chất và số phận của chủ sở hữu. Tên Robert có nghĩa là gì, nguồn gốc và lịch sử của nó là gì?
Tên Robert mạnh
mẽ, không có lợi cho tình cảm. Nhưng nó thường biến thành một hình thức
ngắn gọn của "Bob" hoặc mơ hồ "Robik", "Bobik". Nhưng người Aryan,
nghĩa là nguồn gốc Đức cổ đại và lịch sử của tên Robert, đòi hỏi sự kiềm
chế. Cha mẹ quyết định đặt tên cậu bé theo cách đó, điều quan trọng là phải tìm hiểu thêm về ý nghĩa của tên Robert.
Tầm quan trọng và nguồn gốc của tên Robert
Trong truyền thống Chính thống, không có cái tên như vậy, nó là
Công giáo. Do đó, tầm quan trọng của tên Robert phải được giải quyết
trong các nguồn Công giáo phương Tây. Hơn nữa, nguồn gốc của từ này có
liên quan đến các bộ lạc cổ Đức. Tên được tạo thành từ hai gốc rễ cổ xưa:
• roud, có nghĩa là "giới tính, vinh quang";
• beraht, có nghĩa là "sáng, không sáng, sáng."
Rõ ràng, điều đó có nghĩa là tên của Robert là "vinh quang non
nớt", hay "một chi không lộ hành", hay "vinh quang tươi sáng, tươi
sáng". Nếu bạn khôi phục nguồn gốc và lịch sử của tên Robert, bạn sẽ có
được từ Hrodebert với một trong các giá trị được đưa ra.
Nhân vật nào Robert có
Một cậu bé có tên này đề cập đến một cuộc đời học đường với một sự
mát mẻ. Nếu cha mẹ không kiểm soát được thành tích học tập của mình,
học từ ba lớp học và bỏ qua. Nhưng thể thao mang lại rất nhiều thời
gian, với niềm vui tham gia vào các cuộc thi và thường trở thành một vận
động viên chuyên nghiệp.
Tâm của Robert được phân tích, nhân vật bình tĩnh và cân bằng, và
bộ nhớ chỉ đơn giản là tuyệt vời, thậm chí độc đáo. Little Robert đã
đóng cửa, tập trung vào chính mình, nghiêm khắc và hiếm khi biểu lộ cảm
xúc. Xung quanh nó là báo động và thường sợ hãi, vì vậy cậu bé không có
nhiều bạn bè.
Tuy nhiên, Robert trưởng thành, ngược lại, thu hút với toàn bộ bản
chất của nó và một tương quan thành công trong tính chất bình tĩnh và
quan tâm đến thế giới xung quanh mình. Với tuổi tác, ông trở nên rất có
chủ đích, biết làm thế nào để thể hiện sự kiên trì, và thất bại không
thể phá vỡ nó. Mong muốn của Robert luôn rõ ràng, và một kế hoạch hiệu
quả được phát triển để đạt được chúng. Đó là lý do tại sao nhân vật và
số phận của Robert được kết nối trực tiếp và không mơ hồ.
Young Robert - một người có trí thức, người hoài nghi và ảm đạm.
Anh không thích sự xáo trộn, anh kiểm soát cảm xúc và lời nói. Không có
gì là không cần thiết mà bạn sẽ không nghe thấy, nhưng tất cả những
điều đó đều gây ra sự tôn trọng. Vì vậy, Robert đã có rất nhiều bạn bè,
và phụ nữ điên về anh ta. Nhân tiện, Robert thích phụ nữ ngưỡng mộ.
Đôi khi Robert trẻ không bận tâm về hình ảnh của một người nổi dậy,
thậm chí có thể gặp rắc rối, nhưng cuối cùng trở lại theo cách riêng
của mình, và đây luôn là cách thận trọng. Mặc dù khuynh hướng nổi dậy
vẫn tồn tại suốt đời, có thể có vấn đề với luật pháp. Trong trường hợp
này, trong tình huống bất khả kháng, bình tĩnh Olympic vẫn còn.
Số phận của Robert
Người này rất gắn bó với bố mẹ, ít khi quên đi người thân và luôn
sẵn sàng giúp đỡ họ. Giữ bạn bè ở một khoảng cách, chỉ tin tưởng vào
người thân nhất. Bất cứ ai đang cố gắng để có được quá gần gũi với anh
ta hoặc sử dụng cho mục đích của mình, mà không có bất kỳ nghi ngờ, từ
chối và ngừng tình bạn mãi mãi.
Dễ dàng đối phó với phụ nữ không để Robert kết hôn sớm. Thứ nhất,
anh lấy đi tất cả những khoái cảm, sự tốt lành của người phụ nữ không
phiền, và chỉ khi nào cuộc sống mới có được một gia đình. Phụ nữ chọn
sáng, không nhất thiết phải thông minh, nhưng thực sự thú vị một cách cá
nhân. Nó đòi hỏi rất nhiều từ họ, vì vậy nó thường gây ra những xung
đột và chia cắt. Trong vùng lân cận không chỉ có niềm vui thể chất và
cơ hội để loại bỏ sự căng thẳng tích lũy, mà còn là nguồn lực để phát
triển hơn nữa.
Sau khi ổn định, cô trở thành một người chồng tuyệt vời và là một
người cha tốt. Anh ta quan tâm đến vợ mình, tin tưởng vào cô, tạo ra
một mối quan hệ ấm áp trong gia đình. Người phối ngẫu giúp bằng cả lời
nói lẫn việc làm, tìm hiểu những vấn đề của mình, hiểu bằng một nửa từ.
Tuy nhiên, anh ấy thích sự thoải mái, và do đó đòi hỏi người vợ của sự
thoải mái tối đa. Cần một không gian cá nhân, thích ở một mình.
Anh dành rất nhiều thời gian cho con mình, yêu thương họ rất nhiều
và giữ được sự thân mật sau khi con chim bay ra khỏi tổ của cha mẹ. Tuy
nhiên, ông dạy cho con cái một cách nghiêm ngặt, không cho phép bất
tuân. Trẻ em sợ hãi và tôn trọng Robert.
Nghề nghiệp của Robert
Nếu bạn nhớ tên của Robert có nghĩa là gì, nguyện vọng nghề nghiệp
của người này sẽ không gây bất ngờ. Anh ta thường chọn một nghề có khả
năng tôn vinh tên mình, và coi trọng sự nghiệp của mình. Vai trò của
chuột màu xám không phải là đối với anh ta. Có những nỗ lực trực tiếp
theo một cách nào đó, anh ta hoàn toàn tự cho mình vào trường hợp được
lựa chọn. Do bộ nhớ to lớn, hiệu suất điên rồ và sự cống hiến đáng kinh
ngạc có thể nhanh chóng đạt được thành công trong kinh doanh bất kỳ.
Đồng thời, nó không làm cho công việc ý nghĩa của cuộc sống của một
người, có thể có được niềm vui và thư giãn.
Bản chất và số phận của Robert quyết định lựa chọn nghề nghiệp.
Rất tốt, mạnh mẽ, tự tin muzhchin trong thể thao, đặc biệt nếu nó không
phải là một đội bóng, nhưng một loại cá nhân của cuộc thi. Trò chơi
nhóm Robert không thích những nghề khác: anh ta là một kẻ cô độc, một cá
nhân.
Robret thành công trong các lĩnh vực khác nhau, đôi khi trái ngược
với hoạt động của con người: trong khoa học, nghệ thuật, thể thao,
thương mại. Ông không chỉ nhằm mục đích cho kết quả, mà còn cho sự
thịnh vượng, và do đó sẽ không bao giờ chọn một chuyên môn hoặc công
việc được trả lương thấp mà không có quan điểm thu nhập cao.
Những người nổi tiếng tên là Robert
• Robert Rozhdestvensky, nhà thơ;
• Robert Louis Stevenson, nhà thơ, nhà văn;
• Robert Koch, một nhà vi sinh học, một bác sĩ;
• Robert Scott, một du khách, được biết đến với nghiên cứu Nam Cực;
• Robert Pattinson, một nhạc sĩ, diễn viên nổi tiếng;
• Robert Asprin, nhà văn;
• Rbert De Niro, đạo diễn, diễn viên;
• Robert Boyle, nhà khoa học, nhà triết học;
• Robert Kinasoshvili, Kỹ sư Thiết kế;
• Robert Burns, nhà thơ;
• Robert Schumann, nghệ sĩ dương cầm, nhà soạn nhạc;
• Robert Downey Jr., nhạc sĩ, diễn viên;
• Robert Kiyosaki, doanh nhân, nhà văn.
Tương thích Tên
Robert có khả năng cảm xúc mạnh mẽ. Cuộc sống hôn nhân hứa hẹn sẽ
mạnh mẽ và hạnh phúc với Alexandra, Valentina, Vera, Zinaida, Olga,
Nina, Lyubov, Lidia, Nadezhda, Tatiana, Rosa, Edita, Faina, Evdokia,
Anna, Lada.
Sự liên minh với Anastasia, Varvara, Elena, Antonina, Ada, Maria,
Marianna, Taisia, Stella, Emma, Dora, Louise, Elsa sẽ rất mong manh.
Tiểu sử về Robert Hooke
12 Tháng 7 2016
Đăng bởi: Admin
Tên đầy đủ: Robert Hooke
Nghề nghiệp: Nhà học giả, nhà vật lý, nhà khoa học
Ngày sinh: 18/07/1635
Ngày mất: 03/03/1703
Từng học: Đại học Wadham
Nơi sinh: Freshwater, đảo Wight, Anh
Nơi mất: Luân Đôn, Anh
Robert Hooke được biết đến như một "Renaissance Man" (Người
đàn ông của thời kỳ Phục Hưng) của thế kỷ 17 ở Anh vì công việc của
mình trong khoa học, bao gồm các lĩnh vực như thiên văn học, vật lý và
sinh học.
Tóm tắt
Sinh ra ở Freshwater trên hòn đảo nhỏ Wight của Anh năm 1635, nhà
khoa học Robert Hooke đã được học tại Oxford và dành sự nghiệp của
mình tại Hội Hoàng gia và Gresham College. Nghiên cứu và những thí
nghiệm của ông kéo dài từ thiên văn học đến sinh học đến vật lý; ông
nổi tiếng nhờ các kết quả quan sát qua kính hiển vi và "Định luật
Hooke" về sự đàn hồi. Hooke chết ở Luân Đôn năm 1703.
1. Thời thơ ấu
Sinh ra ở Freshwater trên hòn đảo nhỏ Wight của Anh năm 1635. Cha
mẹ ông là John Hooke, người từng là cha phó cho giáo xứ nhà thờ địa
phương, và Cecily (neé Gyles) Hooke.
Là một đứa trẻ ốm yếu, Hooke đã nhanh chóng quan tâm đến hội họa và
thành thạo trong việc làm đồ chơi cơ khí và các mô hình. Sau cái chết
của cha năm 1648, Hooke, mới 13 tuổi, đã được đưa đến Luân Đôn để học
nghề với họa sĩ Peter Lely. Cơ hội này hóa ra là một con đường ngắn,
và ông đã đi thay vì học tại trường Westminster, Luân Đôn.
Năm 1653, Hooke học tại trường Đại học nội trú Giáo phái của
Oxford, nơi ông kiếm được một ít kinh phí khi làm phụ tá cho nhà khoa
học Robert Boyle. Trong khi nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau, từ thiên
văn học đến hóa học, Hooke cũng kết bạn được với nhiều người có uy tín
như kiến trúc sư tương lai Christopher Wren.
2. Giảng dạy nghiên cứu và nghề nghiệp khác
Hooke được bổ nhiệm làm trưởng ban khảo sát (curator of
experiments) của Hội Khoa Học Hoàng Gia của Luân Đôn vào năm 1662, một
vị trí mà ông có được sự hỗ trợ của Boyle. Ông lãnh nhiệm vụ thực hành
lại các thí nghiệm cho các hội viên khác thấy rõ, nhờ vậy ông đã quen
thuộc với mọi ngành khoa học thịnh hành vào thời bấy giờ. Hooke đã trở
thành một thành viên của Hội năm 1663.
Không giống như nhiều nhà khoa học giàu có, Hooke cần có thu
nhập. Năm 1665, ông nhận làm giáo sư dạy hình học tại trường Gresham, ở
Luân Đôn. Sau khi "Đám lửa lớn" tàn phá rất nhiều ở Luân Đôn năm 1666,
Hooke đã trở thành một thanh tra thành phố. Làm việc với Wren, ông đánh
giá thiệt hại và thiết kế lại nhiều đường phố và tòa nhà công cộng của
Luân Đôn.
3. Những khám phá và thành tựu lớn
Một người học giả chân chính, các chủ đề bao phủ suốt sự nghiệp
của Hooke bao gồm sao chổi, sự chuyển động của ánh sáng, chuyển động
quay của sao Mộc, lực hấp dẫn, trí nhớ con người và các tính chất của
không khí. Trong tất cả các nghiên cứu và luận chứng của mình, ông coi
trọng các phương pháp khoa học thực nghiệm và quan sát. Hooke cũng sử
dụng hầu hết các phương tiện hiện đại trong nhiều dự án của mình.
Ấn phẩm quan trọng nhất Hooke là Micrographia, một tập tài
liệu về những khám phá mà ông đã thu được nhờ vào kính hiển vi. Trong
nghiên cứu đột phá này, ông đặt ra thuật ngữ "tế bào", trong khi thảo
luận về cấu trúc của nút chai. Ông cũng mô tả ruồi, lông và bông tuyết,
và các hóa thạch được tìm thấy là tàn dư của những lần sinh trưởng.
Tác phẩm Nhữngbài giảng về lò xo của Hooke được
công bố nắm 1678 chia sẻ lý thuyết của ông về tính đàn hồi; trong những
gì đã được biết đến như là "Định luật Hooke," ông nói rằng lực cần
thiết để kéo giãn hoặc nén một lò xo tỉ lệ với độ giãn hoặc nén.Trong
một dự án đang tiến hành, Hooke nhiều năm nghiên cứu để phát minh ra
một chiếc đồng hồ quả lắc.
4. Cuộc sống riêng tư và danh tiếng
Hooke không lập gia đình. Cháu gái của ông, Grace Hooke, sống
cùng ông và coi sóc việc nội trợ, đã qua đời vào năm 1687; Hooke không
thể nguôi ngoai sự mất mát.
Sự nghiệp Hooke của bị ảnh hưởng bởi tranh luận với các nhà khoa học
nổi tiếng khác. Ông thường tranh cãi với đồng nghiệp người Anh Isaac
Newton, trong đó có một năm 1686 tranh chấp về ảnh hưởng của Hooke đén
cuốn sách nổi tiếng của Newton Principia Mathematica.
Trong năm cuối đời, Hooke bị các triệu chứng gây ra do bệnh tiểu
đường. Ông qua đời ở tuổi 67 tại London vào ngày 03 Tháng Ba 1703.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét