Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 136 (Nguyễn Văn Thiệu)
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Cuộc " Mây Mưa" Chấn Động Dư Luận Của Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu
Cuộc " Mây Mưa" Chấn Động Dư Luận Của Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Văn Thiệu cũng khoái “ăn vụng” nhưng “ăn vụng trong bóng tối,
cũng thích “cua gái” nhưng “cua gái” bằng những tính toán, mưu mô thâm
hiểm và giấu rất kỹ . Tuy nhiên, ở Sài Gòn trước năm 1975 chuyện “ăn
vụng” của Nguyễn Văn Thiệu vẫn bị phát hiện, có điều do ở cương vị đương
kim tổng thống đương thời, thế lực trùm thiên hạ nên những bê bối tình
ái này được đám đàn em thân tín, vây cánh của Thiệu cố gắng dàn xếp,
bưng bít. Nhưng “cây kim giấu trong bọc lâu ngày cũng lòi ra”. Cuộc đời,
ái tình, sự nghiệp của Nguyễn Văn Thiệu riêng phần ái tình ít nhất có 3
mỹ nhân đã được ghi nhận là người tình hoặc “vợ ngoài luồng” của ông ta
được dư luận biết đến. Đặc biệt cả 3 “chuyện tình” này đều rất ly kỳ,
thuộc vào loại “thâm cung bí sử” của ông chủ Phủ Đầu Rồng trước năm 1975
được bàn tán suốt mấy chục năm qua mà vẫn chưa ngã ngũ: trong đó có câu
chuyện tình với ca sĩ Kim Loan và nàng gái nhảy Kim Anh Cyrnos.
Lật lại hồ sơ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu
22/04/2016 05:31
Tháng 4/1975, trước đà tấn công như vũ bão của quân giải phóng, từ
Sài Gòn, tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu trong cơn bi quẫn
đã gửi thư tới ông chủ Nhà Trắng lúc đó là Gerald Ford xin “vay nợ vì
tự do”,để tìm kiếm cơ hội sống sót cuối cùng.
Tuy nhiên, Quốc hội Mỹ bác bỏ yêu cầu
này và Nguyễn Văn Thiệu đã bắt buộc phải từ chức ngày 21/4/1975. Trong
bài phát biểu trên truyền hình, Thiệu đã không tiếc lời công kích chủ cũ
là “một đồng minh vô nhân đạo, với những hành động vô nhân đạo”...
Lỡ lầm dọc lối
Nguyễn Văn Thiệu là người con thứ tám trong một gia đình
có cha làm nghề đi biển và lo chuyện ruộng đồng tại làng Tri Thủy, xã
Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận, nay là xã Tân Hải, huyện Ninh
Hải, tỉnh Ninh Thuận (trước ông ta là năm người anh và hai người chị).
Một số tư liệu cho rằng, Thiệu sinh ra
vào ngày 5/4/1923. Tuy nhiên, cũng có nhiều giả thuyết khác nhau về
ngày, giờ và năm sinh của ông ta. Những định kiến và những suy diễn dị
đoan rất quen thuộc với chính trường Sài Gòn cũ đã càng làm tăng thêm sự
rối lẫn xung quanh những dữ kiện này.
Theo sách "Việt Nam máu lửa quê hương
tôi" của Đỗ Mậu, người từng làm Giám đốc An ninh Quân đội dưới cái gọi
là thời Ðệ nhất Việt Nam Cộng hòa, khi gia đình họ Ngô trấn giữ chính
quyền Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu dường như có một số tử vi cực oách: Tuổi
Giáp Tý (sinh năm 1924), sinh vào giờ Tý (nửa đêm), tháng Tý (tháng 11
Âm lịch) và cung Mệnh Viên cũng nằm ở Tý (?!).
Thêm vào đó, theo sách bói toán,
mệnh Kim của Nguyễn Văn Thiệu lại được nằm ở cung Thủy cũng là một sự
rất hiếm hoi (?!). Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nếu thực sự lá số tử vi
của Nguyễn Văn Thiệu là tốt đẹp thì ông ta đã không phải kết thúc cuộc
đời mình trong cảnh tha hương như thế ở tuổi 78, vào ngày 27/9 năm Tân
Tỵ 2001...
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu.
Gia đình Nguyễn Văn Thiệu theo đạo Công
giáo tuy không thuộc loại giàu có nhưng cũng tương đối khá giả. Tên
Thánh của vị tổng thống tương lai trong chế độ Sài Gòn cũ là Martino.
Thiệu từng học tiểu học và trung học ở Phan Rang. Và học không giỏi.
Ngay từ bé, Thiệu đã bộc lộ rõ tính khí
lầm lì và đa nghi. Hết lớp 9 ở quê nhà, Thiệu đã lên Sài Gòn để học nghề
ở Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị (sau đổi là Trường Cao Thắng) rồi lại nhảy
sang học ở Trường Hàng hải dân sự.
Tháng 12/1948, Nguyễn Văn Thiệu đã vào
học khóa sĩ quan trung đội trưởng tại Trường Sĩ quan Đập Đá (Huế), tốt
nghiệp trường này vào tháng 6/1949, Nguyễn Văn Thiệu với quân hàm thiếu
úy đã tham gia binh nghiệp trong lực lượng người Việt trong quân đội
liên hiệp Pháp và đã được cử tới khu vực miền Tây Nam Bộ.
Ở đó có lẽ ông ta cũng đã sớm bộc lộ
khá rõ sự hung hăng và trung thành với “mẫu quốc” nên đã được chọn đi
thụ huấn ở trường sĩ quan căn bản bộ binh tại Coetquidan, Pháp. Trong
thời gian trước năm 1954, là một sĩ quan trong cái gọi là quân đội quốc
gia của chính quyền do thực dân Pháp dựng lên, Nguyễn Văn Thiệu đã cầm
súng chống lại nhân dân ta ở nhiều nơi trong nước, ở cả Hưng Yên…
Năm 1952, sau khóa đào tạo tiểu đoàn
trưởng và liên đoàn lưu động tại Hà Nội, Nguyễn Văn Thiệu được điều
chuyển cùng với Cao Văn Viên, lúc đó cũng là trung úy, và đại úy Đỗ Mậu
về Bộ Chỉ huy Mặt trận Hưng Yên do Trung tá Dương Quý Phan làm chỉ huy
trưởng.
Nguyễn Văn Thiệu tham gia con đường binh nghiệp từ sớm.
Tại đó, Ðỗ Mậu được giữ chức tham mưu
trưởng, còn Nguyễn Văn Thiệu giữ chức trưởng phòng Ba và Cao Văn Viên
giữ chức trưởng phòng Nhì… Cũng cần phải nhớ rằng, Hưng Yên trong những
năm tháng đó đã là nơi xảy ra rất nhiều vụ việc đẫm máu mà binh lính
Pháp và tay sai đã gây ra cho đồng bào ta…
Thực chất, việc Nguyễn Văn Thiệu được
điều chuyển ra Hưng Yên không phải là một minh chứng cho sự tín nhiệm
đối với ông ta, mà có lẽ là ngược lại, ít ra là nếu ta xét đoán theo hồi
ức của Đỗ Mậu. Trong cuốn sách đã dẫn, Đỗ Mậu viết:
“Hồi bấy giờ, “ra Bắc” được xem như là
một biện pháp chế tài đối với những sĩ quan ở miền Trung và miền Nam, vì
tình hình sôi động của chiến sự và vì những tổn thất nặng nề về phía
những quân nhân Việt Nam".
"Hầu hết những sĩ quan Việt Nam trung
cấp bị đổi ra Bắc đều ít nhiều có hồ sơ chống Pháp, hoặc chống Bộ Tổng
Tham mưu của tướng Nguyễn Văn Hinh...”. Đỗ Mậu kể tiếp:
“Nguyễn Văn Thiệu, có thêm Trung úy Cao
Văn Viên và tôi, được lệnh thuyên chuyển ra mặt trận Hưng Yên, trình
diện với Trung tá Dương Quý Phan, một sĩ quan nổi tiếng thân Pháp, tay
chân của tướng Cogny. Tư Lệnh miền Đông Bắc Việt đang đóng ở Hải Dương".
Nguyễn Văn Thiệu được tương truyền mang lá số tử vi "tứ Tý
"Mặt trận Hưng Yên vừa được Bộ tư lệnh
Pháp trao trả phần trách nhiệm lại cho quân đội quốc gia Việt Nam và
đang bị những áp lực nặng nề. Bộ Tổng Tham mưu Sài Gòn chỉ định tôi làm
Tham mưu trưởng, Cao Văn Viên làm Trưởng phòng Nhì và Nguyễn Văn Thiệu
làm Trưởng phòng Ba".
"Còn phòng Tư vẫn do một đại úy người
Pháp phụ trách. Bộ chỉ huy và trung tâm hành quân khu chiến được đặt tại
ngôi giáo đường to lớn rộng rãi của tỉnh lỵ Hưng Yên mà linh mục bề
trên đã vui lòng cho quân đội Pháp sử dụng từ trước".
"Ba anh em chúng tôi được cấp phát chung
một căn phòng nhỏ vừa đủ để ba cái ghế bố loại nhà binh và hàng ngày ăn
cơm tại câu lạc bộ sĩ quan. Buổi tối, lúc trở lại phòng để chuẩn bị đi
ngủ, Thiệu và tôi thường phân tích và luận bàn về tình hình chính trị và
chiến sự đến khuya. Riêng Viên vốn tính ít nói nên chỉ thỉnh thoảng góp
ý kiến mà thôi…”.
Vốn là người không nông nổi và sớm biết
lo xa, ngay trong thời gian đi theo quân Pháp ở Hưng Yên, trước thực tế
ngày càng bất lợi cho “mẫu quốc”, Nguyễn Văn Thiệu đã sớm tính tới nước
thay thầy đổi chủ. Trong hồi ký của mình, Đỗ Mậu nhận xét:
“Thiệu trầm tĩnh khôn ngoan, lại có khả
năng về tham mưu, đã từng được Đại tướng Pháp De Linarès, Tư lệnh chiến
trường Bắc Việt phê điểm rất tốt: Thông minh sắc bén, siêng năng, có
phương pháp và tỉ mỉ. Sĩ quan hảo hạng. Có ý thức tuyệt hảo về tổ chức
và bảo mật...”.
Thiệu được đánh giá rất cao khi ở trong quân đội.
Một số người thân cận với Nguyễn Văn
Thiệu cũng nhận xét, ông ta là “người có tính tình rất bình dân mộc mạc,
ăn nói huỵch toẹt theo nếp sống của người miền biển”... Đỗ Mậu cũng có
một nhận xét nữa về Nguyễn Văn Thiệu:
“Có một điều tôi vô ý là dù quen biết
Thiệu đã lâu ngày nhưng mãi cho đến khi nhìn ông Thiệu qua màn ảnh
truyền hình tôi mới thấy được cặp mắt “láo liên”, biểu hiện sự gian trá
và làm cho ông Thiệu trở thành tay gian hùng, tham nhũng…”.
Còn đây là nhận xét của Cao Văn Viên về
người chiến hữu từ thời trai trẻ của mình khi ông này so sánh Nguyễn Văn
Thiệu với Ngô Đình Diệm ở trên cương vị tổng thống của chế độ Sài Gòn:
“Mỗi người độc tài theo cách riêng. Tổng thống Diệm duy trì chế độ như
một quan lại của thời quân chủ, ông bẩm sinh chống Cộng…
Còn Nguyễn Văn Thiệu thì theo đường lối
“độc tài trong dân chủ”, vỏ ngoài dân chủ nhưng bên trong thì chi phối
cả hai ngành lập pháp và tư pháp, bàn tay sắt trong đôi găng nhung…
Nguyễn Văn Thiệu “đa nghi Tào Tháo” và
không e ngại ban phát ân huệ để tạo phe cánh và chia rẽ đối phương như
ông ta đã làm tại quốc hội. Ông ta chủ trương “làm chính trị phải lỳ”.
Những năm tại chức, Nguyễn Văn Thiệu luôn bị ám ảnh bởi cái chết của Ngô
Đình Diệm…”.
Và đây cũng là lời kể của Đỗ Mậu: “Một
hôm Nguyễn Văn Thiệu đã hỏi tôi: “Theo anh thì cuộc chiến tranh hiện tại
sẽ đi về đâu và tương lai Việt Nam sẽ như thế nào?” Đó là câu hỏi có
tính toàn bộ và lâu dài nhưng tôi vẫn xác quyết với Thiệu và Viên là
“thế nào Pháp cũng bị bại trận và tìm giải pháp thỏa hiệp với Việt Minh,
đất nước sẽ bị chia đôi nhưng không biết chia ở khu vực nào. Hoa Kỳ sẽ
can thiệp vào Việt Nam để chặn đứng mưu đồ bành trướng của Cộng sản ở
Đông Nam Á và Hoa Kỳ sẽ đưa ông Diệm về nước nắm chánh quyền”…
Thực ra trên chiến trường và trong cương
vị sĩ quan tác chiến, Nguyễn Văn Thiệu chưa bao giờ bộc lộ được những
năng lực chiến đấu ở mức ít ra là khá khẩm. Trong những tình huống phải
hành động, các đơn vị mà ông ta chỉ huy thường hay bị, lại nói theo cách
diễn tả của Đỗ Mậu, “ôm quần mà chạy”.
Ở cuối giai đoạn của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, cũng theo lời tường thuật nhiều phần phóng đại theo
lợi ích cá nhân của Đỗ Mậu, khi lực lượng Việt Minh tấn công các cơ sở
của bọn ngoại bang ở khắp cả nước, trong đó có Ninh Thuận mảnh đất quê
hương của Nguyễn Văn Thiệu, “tiến chiếm và tiêu hủy các căn cứ ngoại vi”
mà Đỗ Mậu nhận là ông ta đã xây dựng để che chở mặt Tây Nam của Bộ Chỉ
huy Phan Rang, “trong một trận đánh ác liệt gần Tháp Chàm”, khi Nguyễn
Văn Thiệu “đích thân dẫn một đơn vị đi tiếp cứu bị Việt Minh phục kích”,
ông ta đã phải “ôm quần mà chạy”...
Mặc dầu những phẩm chất quân nhân của
Nguyễn Văn Thiệu vẫn nặng phần hoang tưởng, nhưng trong bối cảnh cụ thể
của chính trường Sài Gòn lúc ấy, trong thế bó buộc của đội ngũ nhân sự
xuất thân từ lực lượng đã cam tâm làm tay sai cho Pháp nhưng vẫn còn cơ
để thay thầy đổi chủ, Nguyễn Văn Thiệu vẫn còn là một trong những gương
mặt có thể đầu tư được đối với những thủ lĩnh sắp sửa nắm quyền ở đây
với sự trợ giúp của ngoại bang.
Nói cho cùng, lý lịch công vụ của ông ta
cũng còn hơn rất nhiều kẻ đồng thời. Chính vì thế nên năm 1955, sau khi
thực dân Pháp thất bại và phải rời khỏi Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu đã
gia nhập cái gọi là quân lực Việt Nam cộng hòa, phục vụ chính quyền Ngô
Đình Diệm và được xếp vào vị trí chỉ huy của Sư đoàn 1 Bộ binh của quân
đội Sài Gòn đóng tại Huế.
Rồi năm 1958, ông ta lại được đưa lên
cấp trung tá, giữ chức chỉ huy trưởng Trường Võ bị quốc gia Đà Lạt.
Những ông chủ mới từ bên kia đại dương tới cũng đã kịp để ý tới viên sĩ
quan trầm tính và có vẻ đa mưu Nguyễn Văn Thiệu. Chính vì thế nên năm
1957, Trung tá Thiệu được cho đi học một khóa chỉ huy và tham mưu tại
Command and General Staff College ở Ft. Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ (tuy
nhiên, trong danh sách khóa sinh tốt nghiệp học đường quân sự này đã không có tên Trung tá Nguyễn Văn Thiệu, có thể vì một lý do gì đó mà ông ta đã không dự thi tốt nghiệp).
Năm 1959, Nguyễn Văn Thiệu cũng được đi
tu nghiệp tại trường phối hợp kế hoạch đồng minh ở Okinawa, Nhật Bản, và
năm 1960 trở lại Mỹ học về vũ khí mới ở Fort Bliss. Chính trong những
chuyến đi như thế, CIA đã tiếp cận ông ta để tìm hiểu rõ hơn về một con
bài có thể sẽ trở thành đắc dụng trên chính trường Sài Gòn.
Con người bất trắc
Nhìn chung, dưới chế độ Ngô Đình Diệm,
con đường binh nghiệp của Nguyễn Văn Thiệu đã được rộng mở vì như Đỗ Mậu
nhận xét, tính xu thời của viên sĩ quan này, dám “dứt khoát bỏ đạo Phật
để theo Công giáo bên vợ”
(vợ ông ta là một bà sơ người Mỹ Tho xuất dòng) nên đã được các linh mục
vốn rất có quyền uy nâng đỡ và đang làm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh hành
quân cho tướng Dương Văn Minh đã được Ngô Đình Diệm cử giữ chức Chỉ huy
trưởng Trường Võ bị quốc gia Đà Lạt.
Đường binh nghiệp của Thiệu rộng mở dưới thời Ngô Đình Diệm.
Đỗ Mậu viết tiếp: “Ngày ông Diệm có ý
định cử Thiệu giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 (gồm toàn những binh lính là
người Nùng từ Bắc vào theo chân thực dân Pháp, rất lì lợm và trung
thành, được coi như tinh binh của chế độ - TG), ông bảo tôi làm tờ trình
về Thiệu".
"Trong mục ý kiến, tôi đã viết rằng:
“Thiệu không theo một đảng phái nào mặc dù có người anh ruột theo đảng
Đại Việt. Ông Thiệu là một trong số những sĩ quan ưu tú nhất của quân
đội…”. Cũng Đỗ Mậu nhận xét: “Dù sao thì Công giáo mới là yếu tố chính
để hình ảnh Nguyễn Văn Thiệu được ghi khắc vào con tim ông Diệm để Thiệu được ông tín nhiệm và nâng đỡ...”.
Theo một số nguồn tin, cuối năm 1960,
Đại tá Nguyễn Văn Thiệu từ Mỹ trở về Sài Gòn và được Ngô Đình Nhu xếp
vào làm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh hành quân do tướng Dương Văn Minh làm
Tư lệnh.
Có ý kiến cho rằng, Bộ tư lệnh hành quân
này thực ra chỉ là một tổ chức mới được lập ra để làm vì cho tướng Minh
ngồi chơi xơi nước vì chính quyền Diệm – Nhu lúc đó đã nghi ngờ tướng
Minh có mối quan hệ với Hà Nội qua người em trai là một cán bộ cao cấp,
đảng viên Cộng sản.
Vì sợ rút dây động rừng, lại cũng không
có những chứng cớ rõ ràng nên Ngô Đình Diệm đành ngậm bồ hòn làm ngọt và
vô hiệu hóa tướng Dương Văn Minh bằng cách này.
Hiểu rõ tình thế của mình, Nguyễn Văn
Thiệu đã đi một nước cờ khá cao là xin gia nhập đảng cần lao để lấy lòng
Ngô Đình Nhu hòng mua được sự tin tưởng hơn và có thể nhảy lên chức vụ
hữu lợi hơn. Không những thế, Nguyễn Văn Thiệu còn cống hiến cho cố vấn
Nhu nhiều ý kiến mà ông ta cho là rất xuất sắc để lấy lòng gia đình họ
Ngô.
Sau khi tổng thống chính quyền Sài Gòn
Ngô Đình Diệm quyết định giải tán Bộ tư lệnh hành quân và đưa tướng
Dương Văn Minh về ngồi ở một vị trí thực ra cũng hữu danh vô thực khác
là “cố vấn quân sự” của Tổng thống, Đại tá Thiệu được cử đi làm Tư lệnh
Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế.
Đầu năm 1963 (hoặc cuối năm 1962, theo
một số nguồn tư liệu khác), khi thấy tình hình có vẻ lộn xộn và bất
trắc, Ngô Đình Diệm đã đưa Nguyễn Văn Thiệu về làm Chỉ huy Sư đoàn 5 đồn
trú ở Biên Hòa. Đại tá Thiệu còn được cố vấn Ngô Đình Nhu trao nhiệm vụ
giải cứu thủ đô khi có đảo chính.
Trớ trêu thay! Bởi lẽ chính với cương vị
này, ông ta đã tham gia cuộc đảo chính lật đổ chế độ gia đình trị của
Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu, ngày 1/11/1963.
Mặc dù được hưởng ân huệ không ít của
chế độ Ngô Đình Diệm nhưng thực tâm, trong mắt của Nguyễn Văn Thiệu, ông
quan to còn lại từ triều đình nhà Nguyễn này, với rất nhiều tham vọng
và định kiến, khó có thể trở thành minh chủ đối với một đội ngũ tướng
lĩnh nhiều tham vọng và xu thời của Sài Gòn khi đó.
Thực ra, trong cuộc đảo chính này,
Nguyễn Văn Thiệu, khi ấy vẫn chỉ là đại tá, chỉ là kẻ theo đóm ăn tàn,
hành xử theo lệnh của CIA, cụ thể là thông qua Lucien Conein, đặc sứ của
CIA ở Sài Gòn lúc đó.
Một nguồn tư liệu cho biết, chiều
31/10/1963, theo lệnh của Lucien Conein, Đại tá Thiệu đã điều động 2
trung đoàn của Sư đoàn 5, một tiểu đoàn pháo binh và một chi đoàn thiết
giáp, nói là đi hành quân ở Phước Tuy, nhưng khi đến ngã ba xa lộ Biên
Hòa và quốc lộ 15 đi Vũng Tàu thì lại nhận được lệnh dừng ở đó chờ đợi.
Sáng 1/11/1963, Thiếu tá Nguyễn Bá Liên,
Tham mưu trưởng Lữ đoàn Thủy quân lục chiến, cháu của Đỗ Mậu, ra lệnh
hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến của Đại úy Trần Văn Nhựt và Đại úy Lê
Hằng Minh đi hành quân ở núi Thị Vãi, Bà Rịa, rồi bất ngờ quành về Sài
Gòn tiến chiếm Tổng nha Cảnh sát, Bộ Nội vụ, Nha Truyền tin và Đài Phát
thanh Sài Gòn. Còn tướng Mai Hữu Xuân đưa tân binh quân dịch ở Trung tâm
huấn luyện Quang Trung về chặn các ngả vào Sài Gòn.
Tiếp theo, đến 1h trưa cùng ngày, Đại tá
Nguyễn Văn Thiệu cũng bất ngờ ra lệnh cho cả hai trung đoàn thuộc sư
đoàn do mình chỉ huy hành quân về Sài Gòn để một trung đoàn đóng ở Phú
Lâm, còn một trung đoàn đóng ở ngã tư Hàng Xanh nhằm ngăn chặn quân cứu
viện từ ngoài tiến về giải cứu thủ đô của nền đệ nhất cộng hòa. Bản
doanh của Bộ tư lệnh tiền phương Sư đoàn 5 do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu
khi đó đã được đặt tại Trường Đại học Sư phạm ở đường Cộng Hòa.
Vào lúc 1h30 ngày 1/11/1963, tại một vài
nơi ở Sài Gòn đã vang lên tiếng súng. Khi ông Cao Xuân Vĩ, Tổng Giám
đốc Thanh Niên, đã gọi cho cố vấn Ngô Đình Nhu, đang ở Dinh Gia Long,
hỏi thăm tin tức, ông Nhu bảo ông Vĩ đi quanh thành phố xem binh tình ra sao. Ông Vĩ lái xe đi một vòng rồi vào báo tin cho ông Nhu biết tình hình có vẻ vẫn yên tĩnh.
Ngô Đình Nhu hỏi: “Chúng nó lấy lực
lượng nào để đảo chính?”. Bản thân cố vấn Nhu cũng không thể hiểu được
rằng, người vừa sáng nay vào gặp ông ta, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, để nói
chuyện và báo cáo tình hình vẫn yên tĩnh, thực ra lại đang chỉ huy Sư
đoàn 5 tham gia đảo chính.
Trong tình cảnh rối bời và chua chát của
chính trường Sài Gòn lúc ấy, Nguyễn Văn Thiệu cũng rất khéo lảng chuyện
vì khi Trung tá Lê Như Hùng, Tham mưu trưởng biệt bộ tại phủ Tổng thống
đặc trách liên lạc với quân đội, được gọi đến dinh Gia Long để liên lạc
với những đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Sài Gòn và liên lạc ngay với Đại tá
Thiệu thì được trả lời rằng viên chỉ huy sư đoàn này “đang đi hành
quân” (!). Nguyễn Văn Thiệu, với tư cách Sư trưởng Sư Đoàn 5, đã không
làm việc gì để thay đổi tình thế hòng giúp cho kết cục chính trị của gia
đình họ Ngô đỡ thảm thiết hơn.
Thế nhưng, sau khi anh em Ngô Đình Diệm
và Ngô Đình Nhu đã bị sát hại, Nguyễn Văn Thiệu, như sau này ông ta kể
lại, đã về trình diện Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và tiếp theo, ra
lệnh cho lính mở bửng thiết vận xa để chào thi hài anh em Diệm, Nhu
trước khi về nhà.
Và sau cuộc đảo chính ngày 1/11/2063,
hàng năm cứ đến ngày này, Nguyễn Văn Thiệu lại có lễ xin thánh cầu hồn
cho anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu tại dinh Độc lập… Một cử chỉ
lễ nghĩa thật lòng hay là một hành động nước mắt cá sấu?
Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963,
Nguyễn Văn Thiệu đã có chân trong cái gọi là Hội đồng quân nhân cách
mạng do Dương Văn Minh, lúc đó là trung tướng, cầm đầu. Trong nhóm này
với những chức danh nghe rất kêu còn có đệ nhất phó chủ tịch, trung
tướng Trần Văn Đôn; đệ nhị phó chủ tịch, trung tướng Tôn Thất Đính; tổng
thư ký kiêm ủy viên ngoại giao, trung tướng Lê Văn Kim; uỷ viên chính
trị, thiếu tướng Đỗ Mậu; uỷ viên quân sự, trung tướng Trần Thiện Khiêm;
uỷ viên kinh tế,
trung tướng Trần Văn Minh; uỷ viên an ninh, trung tướng Phạm Xuân Chiểu
cùng các ủy viên khác như các trung tướng Lê Văn Nghiêm, Mai Hữu Xuân,
thiếu tướng Nguyễn Hữu Có (người từng đậu thủ khoa trong khóa đào tạo
thiếu úy của thực dân Pháp ở Đập Đá cùng Nguyễn Văn Thiệu)... Tiếp theo,
gần cuối năm 1964, Nguyễn Văn Thiệu còn được được phong lên cấp thiếu
tướng, giữ chức tư Lệnh quân đoàn IV và vùng 4 chiến thuật kiêm đại biểu
chính phủ miền Tây…
Theo tinnhanh.vn
Phu Nhân NGUYỄN THỊ MAI ANH – Dựa Hơi Nguyễn Văn Thiệu Chỉ Đạo Vụ Làm Ăn Phi Pháp Chấn Động VNCH
Tổng thống chế độ Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu: Chết còn ôm hận
Thế là đã 38 năm trôi qua kể từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước. Vĩnh viễn từ thời điểm 30/4/1975 đã kết thúc một chế độ của những
thế lực chỉ muốn dựa vào ngoại bang để mưu cầu danh lợi và rốt cuộc đã
phải kết thúc đời mình trong cô tủi.
Tổng thống chế độ Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu: Chết còn ôm hận
Thế là đã 38 năm trôi qua kể từ
ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vĩnh viễn từ thời điểm
30/4/1975 đã kết thúc một chế độ của những thế lực chỉ muốn dựa vào
ngoại bang để mưu cầu danh lợi và rốt cuộc đã phải kết thúc đời mình
trong cô tủi.
Một trong những nhân vật như thế là
Nguyễn Văn Thiệu, người đã ngồi trên ghế tổng thống của chế độ Sài Gòn
cũ tới cả một thập niên, và trước lúc bắt buộc phải rời đi đã tức tưởi
thốt lên những câu đầy oán hận đối với các quan thầy Mỹ.
Lỡ một bước, lỡ một đời
Nguyễn Văn Thiệu là người con thứ
tám trong một gia đình có cha làm nghề đi biển và lo chuyện ruộng đồng
tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận, nay là
xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Một số tư liệu cho rằng,
ông ta sinh ra vào ngày 5/4/1923.
Gia đình vị tổng thống tương lai
của chế độ Sài Gòn cũ tuy không thuộc loại khá giả nhưng cũng có đủ điều
kiện cho cậu con trai đi học tiểu học và trung học ở Phan Rang dù học
lực của cậu bé lầm lì và đa nghi từ nhỏ rất tầm tầm. Hết lớp 9 ở quê
nhà, Nguyễn Văn Thiệu đã lên Sài Gòn để học nghề ở Trường Kỹ thuật Đỗ
Hữu Vị (sau đổi là Trường Cao Thắng) rồi lại nhảy sang học ở Trường Hàng
hải Dân sự.
Trong bối cảnh Việt Nam thời đó
đang sôi sục phong trào chống ngoại xâm, Nguyễn Văn Thiệu đã không chọn
con đường đi cùng nhân dân đứng lên bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân
tộc mà lại xung vào đội ngũ những tay sai mới cho thực dân Pháp chống
lại đất nước. Có thể lúc đó chàng trai quê ra tỉnh không hình dung được
rõ tất cả những hệ lụy nảy sinh từ định mệnh mà mình đã chọn mà chỉ vui
sướng với những phù hoa hiện hữu nhỡn tiền dễ dãi trong kiếp làm lính
phục vụ ngoại bang.
Nhưng đã đâm lao thì phải theo lao,
Nguyễn Văn Thiệu không còn lối lui trong những nỗ lực công danh được
xây dựng bởi cuộc đời binh nghiệp tưởng như phục vụ cho lý tưởng dân chủ
tự do nhưng thực chất chỉ là theo đóm ăn tàn phản dân hại nước. Đây
chính là một sai lầm định mệnh, khiến cho mọi nỗ lực sau này của Nguyễn
Văn Thiệu đều trở thành vô nghĩa, mặc dù không thể phủ nhận được những
phẩm chất lính tẩy cá nhân của ông ta.
Tháng 12/1948, Nguyễn Văn Thiệu đã
vào học Khóa Sĩ quan trung đội trưởng tại Trường Sĩ quan Đập Đá (Huế)
cùng với hơn 60 phần tử khác. Tốt nghiệp trường này vào tháng 6/1949 (do
nhu cầu chiến tranh nên quan thầy Pháp đã không thể dành nhiều thời
gian hơn để đào tạo lứa tay sai đầu tiên của thế hệ “hậu 1945”), Nguyễn
Văn Thiệu với quân hàm thiếu úy đã tham gia binh nghiệp trong lực lượng
người Việt trong quân đội liên hiệp Pháp và đã được quan thầy cử tới khu
vực miền Tây Nam Bộ.
Ở đó có lẽ ông ta cũng đã sớm bộc
lộ khá rõ sự hung hăng và trung thành với “mẫu quốc” nên đã được chọn đi
thụ huấn ở Trường Sĩ quan căn bản Bộ binh tại Coequidan, Pháp. Trong
thời gian trước năm 1954, là một sĩ quan trong cái gọi là quân đội quốc
gia của chính quyền do thực dân Pháp dựng lên, Nguyễn Văn Thiệu đã cầm
súng chống lại nhân dân ta ở nhiều nơi trong nước, ở cả Hưng Yên…
Năm 1952, sau khóa đào tạo tiểu
đoàn trưởng và liên đoàn lưu động tại Hà Nội, Nguyễn Văn Thiệu được điều
chuyển cùng với Cao Văn Viên, lúc đó cũng là trung úy, và Đại úy Đỗ Mậu
về Bộ Chỉ huy Mặt trận Hưng Yên do Trung tá Dương Quý Phan làm chỉ huy
trưởng. Tại đó, Ðỗ Mậu được giữ chức tham mưu trưởng, còn Nguyễn Văn
Thiệu giữ chức trưởng phòng 3 và Cao Văn Viên giữ chức trưởng phòng nhì…
Trong hồi ký của mình, Đỗ Mậu nhận xét:
“Thiệu trầm tĩnh khôn ngoan, lại có
khả năng về tham mưu, đã từng được Đại tướng Pháp De Linarès, Tư lệnh
chiến trường Bắc Việt phê điểm rất tốt: Thông minh sắc bén, siêng năng,
có phương pháp và tỉ mỉ. Sĩ quan hảo hạng. Có ý thức tuyệt hảo về tổ
chức và bảo mật…”. Một số người thân cận với Nguyễn Văn Thiệu cũng nhận
xét, ông ta là “người có tính tình rất bình dân mộc mạc, ăn nói huỵch
toẹt theo nếp sống của người miền biển”…
Mặc dầu những phẩm chất quân nhân
của Nguyễn Văn Thiệu vẫn nặng phần hoang tưởng, nhưng trong bối cảnh cụ
thể của chính trường Sài Gòn lúc ấy, trong thế bó buộc của đội ngũ nhân
sự xuất thân từ lực lượng đã cam tâm làm tay sai cho Pháp nhưng vẫn còn
cơ để thay thầy đổi chủ, Nguyễn Văn Thiệu vẫn còn là một trong những
gương mặt có thể đầu tư được đối với những thủ lĩnh sắp sửa nắm quyền ở
đây với sự trợ giúp của ngoại bang.
Nói cho cùng, lý lịch công vụ của
ông ta cũng còn hơn rất nhiều kẻ đồng thời. Chính vì thế nên năm 1955,
sau khi thực dân Pháp thất bại nhục nhã và phải rời khỏi Việt Nam,
Nguyễn Văn Thiệu đã gia nhập cái gọi là quân lực Việt Nam cộng hòa, phục
vụ chính quyền Ngô Đình Diệm và được xếp vào vị trí chỉ huy của Sư
đoàn 1 Bộ binh của quân đội Sài Gòn đóng tại Huế.
Rồi năm 1958, ông ta lại được đưa
lên cấp trung tá, giữ chức chỉ huy trưởng Trường Võ bị quốc gia Đà Lạt.
Những ông chủ mới từ bên kia đại dương tới cũng đã kịp để ý tới viên sĩ
quan trầm tính và có vẻ đa mưu Nguyễn Văn Thiệu. Chính vì thế nên năm
1957, Trung tá Thiệu được cho đi học một khóa chỉ huy và tham mưu tại
Command and General Staff College ở Ft. Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ (tuy
nhiên, trong danh sách khóa sinh tốt nghiệp học đường quân sự này đã
không có tên Trung tá Nguyễn Văn Thiệu, có thể vì một lý do nào đó mà
ông ta đã không dự thi tốt nghiệp).
Năm 1959, Nguyễn Văn Thiệu cũng
được đi tu nghiệp tại Trường Phối hợp kế hoạch đồng minh ở Okinawa, Nhật
Bản, và năm 1960 trở lại Mỹ học về vũ khí mới ở Fort Bliss.. Chính
trong những chuyến đi như thế, CIA đã tiếp cận ông ta để tìm hiểu rõ hơn
về một con bài có thể sẽ trở thành đắc dụng trên chính trường Sài Gòn.
Nguyễn Văn Thiệu đi thị sát một đơn vị quân đội Việt Nam cộng hòa. Ảnh tư liệu.
Lừa thầy phản bạn
Nhìn chung, dưới chế độ Ngô Đình
Diệm, con đường binh nghiệp của Nguyễn Văn Thiệu đã được rộng mở vì như
Đỗ Mậu nhận xét, tính xu thời của viên sĩ quan này, dám “dứt khoát bỏ
đạo Phật để theo đạo Công giáo bên vợ” (vợ ông ta là một bà sơ người Mỹ
Tho xuất dòng) nên đã được các linh mục vốn rất có quyền uy nâng đỡ và
đang làm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh hành quân cho tướng Dương Văn Minh
đã được Ngô Đình Diệm cử giữ chức chỉ huy trưởng Trường Võ bị quốc gia
Đà Lạt.
Đỗ Mậu kể tiếp: “Ngày ông Diệm có ý
định cử Thiệu giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 (gồm toàn những binh lính là
người Nùng từ Bắc vào theo chân thực dân Pháp, rất lì lợm và trung
thành, được coi như tinh binh của chế độ - TG), ông bảo tôi làm tờ trình
về Thiệu. Trong mục ý kiến, tôi đã viết rằng: “Thiệu không theo một
đảng phái nào mặc dù có người anh ruột theo đảng Đại Việt. Ông Thiệu là
một trong số những sĩ quan ưu tú nhất của quân đội…”.
Cũng Đỗ Mậu nhận xét: “Dù sao thì
Công giáo mới là yếu tố chính để hình ảnh Nguyễn Văn Thiệu được ghi khắc
vào con tim ông Diệm để Thiệu được ông tín nhiệm và nâng đỡ…”.
Theo một số nguồn tin, cuối năm
1960, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu từ Mỹ trở về Sài Gòn và được Ngô Đình Nhu
xếp vào làm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh hành quân do tướng Dương Văn Minh
làm Tư lệnh. Có ý kiến cho rằng, Bộ tư lệnh hành quân này thực ra chỉ
là một tổ chức mới được lập ra để làm vì cho tướng Minh “ngồi chơi xơi
nước” vì chính quyền Diệm – Nhu lúc đó đã nghi ngờ tướng Minh có mối
quan hệ với Hà Nội qua người em trai là một cán bộ cao cấp, đảng viên
cộng sản. Vì sợ “rút dây động rừng”, và lại cũng không có những chứng cớ
rõ ràng nên Ngô Đình Diệm đành ngậm bồ hòn làm ngọt và vô hiệu hóa
tướng Dương Văn Minh bằng cách này.
Hiểu rõ tình thế của mình, Nguyễn
Văn Thiệu đã đi một nước cờ khá cao là xin gia nhập đảng cần lao để lấy
lòng Ngô Đình Nhu hòng mua được sự tin tưởng hơn và có thể nhảy lên
chức vụ hữu lợi hơn. Không những thế, Nguyễn Văn Thiệu còn cống hiến cho
cố vấn Nhu nhiều ý kiến mà ông ta cho là rất xuất sắc để lấy lòng gia
đình họ Ngô.
Sau khi Tổng thống chính quyền Sài
Gòn Ngô Đình Diệm quyết định giải tán Bộ tư lệnh hành quân và đưa tướng
Dương Văn Minh về ngồi ở một vị trí thực ra cũng hữu danh vô thực khác
là “cố vấn quân sự” của tổng thống, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu được cử đi
làm Tư Lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế.
Đầu năm 1963 (hoặc cuối năm 1962,
theo một số nguồn tư liệu khác), khi thấy tình hình có vẻ như lộn xộn và
bất trắc, Ngô Đình Diệm đã đưa Nguyễn Văn Thiệu về làm chỉ huy Sư đoàn 5
đồn trú ở Biên Hòa. Đại tá Thiệu còn được cố vấn Ngô Đình Nhu trao
nhiệm vụ giải cứu thủ đô khi có đảo chính.
Trớ trêu thay! Bởi lẽ chính với
cương vị này, ông ta đã tham gia cuộc binh biến ngày 1/11/1963 vì mặc dù
được hưởng ân huệ không ít của chế độ Ngô Đình Diệm nhưng thực tâm,
trong mắt của Nguyễn Văn Thiệu, ông quan to còn lại từ triều đình nhà
Nguyễn này, với rất nhiều tham vọng và định kiến, khó có thể trở thành
minh chủ đối với một đội ngũ tướng lĩnh nhiều tham vọng và xu thời của
Sài Gòn khi đó.
Và Nguyễn Văn Thiệu đã như “buồn
ngủ gặp chiếu manh” khi một nhóm tướng lĩnh chóp bu và sĩ quan cao cấp
của chế độ Sài Gòn dưới sự khuyến khích khá trắng trợn của quan thầy Mỹ
đã tiến hành cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 để lật đổ chế độ gia đình trị
của Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu.
Thực ra, trong cuộc đảo chính này,
Nguyễn Văn Thiệu, khi ấy vẫn chỉ là đại tá, chỉ là kẻ theo đóm ăn tàn,
hành xử theo lệnh của CIA, cụ thể là thông qua Lucien Conein, đặc sứ của
CIA ở Sài Gòn lúc đó. Trong vòng chơi nhớp nháp của cuộc đảo chính
ngày 1/11/1963, Nguyễn Văn Thiệu đã hành xử theo kiểu đòn xóc hai đầu.
Một mặt, ông ta nhất nhất tuân theo
lệnh của những viên tướng cầm đầu đảo chính nhưng mặt khác, vẫn để cho
mình kẽ hở để sau này “thanh minh thanh nga” về sự bất đắc dĩ của mình.
Vào lúc 1 giờ rưỡi ngày 1/11/1963, tại một vài nơi ở Sài Gòn đã vang
lên tiếng súng.
Khi ông Cao Xuân Vĩ, Tổng giám đốc
Thanh niên, đã gọi cho cố vấn Ngô Đình Nhu, đang ở Dinh Gia Long, hỏi
thăm tin tức, ông Nhu bảo ông Vĩ đi quanh thành phố xem binh tình ra
sao. Ông Vĩ lái xe đi một vòng rồi vào báo tin cho ông Nhu biết tình
hình có vẻ vẫn yên tĩnh. Ngô Đình Nhu hỏi: “Chúng nó lấy lực lượng nào
để đảo chính?”. Bản thân cố vấn Nhu cũng không thể hiểu được rằng, người
vừa sáng nay vào gặp ông ta, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, để nói chuyện và
báo cáo tình hình vẫn yên tĩnh, thực ra lại đang chỉ huy Sư đoàn 5 tham
gia đảo chính.
Trong tình cảnh rối bời và chua
chát của chính trường Sài Gòn lúc ấy, Nguyễn Văn Thiệu cũng rất khéo
lảng chuyện vì khi Trung tá Lê Như Hùng, Tham mưu trưởng biệt bộ tại Phủ
Tổng thống đặc trách liên lạc với quân đội, được gọi đến Dinh Gia Long
để liên lạc với những đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Sài Gòn và liên lạc ngay
với Đại tá Nguyễn Văn Thiệu thì được trả lời rằng viên chỉ huy sư đoàn
này “đang đi hành quân”(!).
Nguyễn Văn Thiệu, với tư cách Sư
trưởng Sư đoàn 5, đã không làm việc gì để thay đổi tình thế hòng giúp
cho kết cục chính trị của gia đình họ Ngô đỡ thảm thiết hơn. Thế nhưng,
sau khi anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đã bị sát hại, Nguyễn Văn
Thiệu, như sau này ông ta kể lại, đã về trình diện Bộ tổng tham mưu quân
đội Sài Gòn và tiếp theo, ra lệnh cho lính mở bửng thiết vận xa để chào
thi hài anh em Diệm, Nhu trước khi về nhà.
Và sau cuộc đảo chính ngày
1/11/1963, hàng năm cứ đến ngày này, Nguyễn Văn Thiệu lại xin thánh lễ
cầu hồn cho anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu tại Dinh Độc lập… Một
cử chỉ lễ nghĩa thật lòng hay là một hành động nước mắt cá sấu?!
Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963,
Nguyễn Văn Thiệu đã có chân trong cái gọi là Hội đồng quân nhân cách
mạng do Dương Văn Minh, lúc đó là trung tướng cầm đầu.
Trong nhóm này với những chức danh
nghe rất kêu còn có đệ nhất Phó chủ tịch, Trung tướng Trần Văn Đôn; đệ
nhị Phó chủ tịch: Trung tướng Tôn Thất Đính; Tổng thư ký kiêm ủy viên
ngoại giao, Trung tướng Lê Văn Kim; uỷ viên chính trị, Thiếu tướng Đỗ
Mậu; uỷ viên quân sự, Trung tướng Trần Thiện Khiêm; uỷ viên kinh tế,
Trung tướng Trần Văn Minh; uỷ viên an ninh, Trung tướng Phạm Xuân Chiểu
cùng các ủy viên khác như các Trung tướng Lê Văn Nghiêm, Mai Hữu Xuân,
Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có (người từng đậu thủ khoa trong khóa đào tạo
thiếu úy của thực dân Pháp ở Đập Đá cùng Nguyễn Văn Thiệu)... Tiếp theo,
gần cuối năm 1964, Nguyễn Văn Thiệu còn được phong lên cấp Thiếu tướng,
giữ chức Tư lệnh Quân đoàn IV và vùng 4 chiến thuật kiêm đại biểu chính
phủ miền Tây…
Tay sai dưới búa
Ngay từ giữa những năm 60 của thế
kỷ trước, Washington đã nhanh chóng nhìn thấy trong Nguyễn Văn Thiệu một
quân bài mới cho cuộc chơi tiếp theo của mình trong ván cờ Việt Nam.
Người Mỹ đã hỗ trợ rất nhiều để Nguyễn Văn Thiệu và đảng Dân chủ do ông
ta lập ra chiếm được thế thượng phong trên chính trường Sài Gòn.
Chính nhờ thế nên trong cuộc bầu cử
dân chủ giả hiệu ngày 4/9/1967, Nguyễn Văn Thiệu trong liên danh với
Nguyễn Cao Kỳ dù chỉ giành được 34,8% số phiếu của các cử tri đi bầu
nhưng vẫn trở thành tổng thống của cái gọi là nền đệ nhị cộng hòa. Tuy
nhiên, tiếng gọi là tổng thống của một quốc gia độc lập nhưng trong hoàn
cảnh đó, Nguyễn Văn Thiệu thực ra chỉ là một kẻ tay sai luôn nằm dưới
búa của các quan thầy Mỹ…
Và ông ta cũng đã có lần phải cay
đắng thú nhận: “Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không
phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ
rời khỏi Dinh Độc Lập!”.
Khi nước Mỹ bước vào cuộc bầu cử
tổng thống tháng 3/1968, để lấy điểm với cử tri, tổng thống Mỹ lúc đó là
Lyndon Johnson đã buộc phải tuyên bố ngừng bắn vô điều kiện miền Bắc
Việt Nam và cam kết sẽ không tái tranh cử nữa để, như chính lời ông ta
nói, “dồn sức cho những nỗ lực hòa bình”.
Và để tìm kiếm cơ hội thắng cử cho
Phó tổng thống Hubert Humphrey của ông ta có thể vượt lên truớc các đối
thủ từ đảng Cộng hòa. Hà Nội lúc đó cũng đồng ý đàm phán với đối phương.
Tuy nhiên, người đã chơi xấu ông Johnson lại chính là nhân vật mà ông
ta đã góp phần dựng lên trong Dinh Độc Lập.
Bản tính thích những trò chơi hai
mang, Nguyễn Văn Thiệu một mặt tỏ ra thuần phục Johnson nhưng mặt khác
đã có nhiều lần tiếp xúc với ứng cử viên Tổng thống Mỹ Nixon thông qua
nữ thành viên trong nhóm vận động tranh cử Tổng thống Nixon là bà Anna
Chennault. Và khi cảm thấy có thể dùng mới để nới cũ, Tổng thống Thiệu
đã tuyên bố ngay truớc khi bầu cử ở Mỹ bắt đầu là chính quyền Sài Gòn sẽ
không tham gia đàm phán ở Paris như đã định trước đó.
Việc làm này đã được đánh giá như
những điểm cộng rất đáng kể cho ưu thế của ứng cử viên Tổng thống Nixon
và dồn ông Johnson vào thế bí và trong bộ sậu của ông này đã nảy sinh ra
ý định hạ bệ Tổng thống Thiệu cho rảnh nợ. Người bộc lộ rõ nhất ý định
này là Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford…
Vì nhiều lý do, Tổng thống Thiệu đã
sống sót được qua năm 1968. Người kế nhiệm ông Johnson trong Nhà Trắng
là vị Tổng thống Mỹ thứ 37 Richard Nixon về sau đã được biết về âm mưu
ám sát tổng thống Thiệu qua lời cảnh báo của cố vấn Henry Kissinger. Ông
Kisinger nói: “Nếu ông Thiệu chịu chung một số phận với ông Diệm thì
tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ nghĩ rằng làm kẻ thù của Mỹ có thể
là nguy hiểm, chứ làm bạn với Mỹ chắc chắn là chết…”.
Tuy nhiên, khi Nixon đã làm chủ Nhà
Trắng rồi thì cũng chính Nguyễn Văn Thiệu vẫn gây nên những nỗi đau đầu
bất tận cho các quan thầy Mỹ. Để có thể tái đắc cử thêm một nhiệm kỳ
nữa, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã gia tăng những nỗ lực để “Việt Nam
hóa chiến tranh” và loại dần sự có mặt về quân sự của quân đội Mỹ ở Việt
Nam.
Một mặt, Washington gia tăng viện
trợ quân sự cho quân đội Sài Gòn. Mặt khác, sau những thất bại của các
đợt ném bom tàn bạo xuống miền Bắc Việt Nam, chính quyền Mỹ đã buộc phải
tìm cách thương thảo với Hà Nội tại bàn hội nghị ở Paris. Lo sợ vì bị
quan thầy “đem con bỏ chợ”, Nguyễn Văn Thiệu lại thêm một lần trở nên
cứng đầu cứng cổ, tìm mọi cách chống phá quá trình thương thảo ở Paris.
Đến mức ngay cả Henry Kissinger,
Trưởng phái đoàn đàm phán của Mỹ ở Paris, trong hồi ký của mình cũng đã
phải nhận xét rằng, trong suốt 5 năm từ 1968, Nguyễn Văn Thiệu, với tư
cách là tổng thống của chế độ Việt Nam cộng hòa, đã phá hoại tất cả
những nỗ lực của quan thầy như muốn “bóp nát trái tim nước Mỹ”. Nắm
1972, khi mọi việc đã gần như suôn sẻ ở Paris, Nguyễn Văn Thiệu đã nhất
định không chấp nhận ký Hiệp định. Cực chẳng đã, Tổng thống Mỹ Nixon đã
phải nhắn khéo về một nguy cơ đảo chính có thể xảy ra ở Sài Gòn.
Trong bức thư đề ngày 6/10/1972,
Nixon viết: “Tôi yêu cầu ông cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra
sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố
mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch
liệt phản đối năm 1968...”.
Bản tính lì lợm, lại phải đối mặt
với vấn đề sinh tử là mất hay còn tương lai, Nguyễn Văn Thiệu bất chấp
những đe dọa từ phía Mỹ vẫn ngoan cố chống phá việc ký kết Hiệp định
Paris về Việt Nam. Già néo dễ đứt dây, Tổng thống Mỹ Nixon, chuẩn bị cho
lễ nhậm chức lần thứ hai trong Nhà Trắng, tỏ ra rất bức xúc vì thái độ
hỗn hào của kẻ “muốn ăn không muốn làm” theo ý người trả tiền trong Dinh
Độc Lập, đã viết thẳng toẹt ra cho Nguyễn Văn Thiệu về nguy cơ đảo
chính: “Tôi nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp định vào ngày 23/1, và sẽ
ký vào ngày 27/1/1973 tại Paris. Tôi sẽ làm việc này dù phải làm một
mình… Kết quả không tránh khỏi sẽ là việc cắt viện trợ quân sự và kinh
tế ngay lập tức, mà dù có sự thay đổi về nhân sự trong chính phủ của ông
cũng không thể cứu vãn được…”.
Và đành “thân lươn chẳng quản lấm
đầu”, dù rất cay đắng nhưng rốt cuộc Nguyễn Văn Thiệu vẫn bắt buộc phải
xuống nước và thế là Hiệp định Paris về Việt Nam đã được ký kết coi như
là suôn sẻ vào đúng thời hạn mà Nixon đã nói…
Một tay sai như thế hiển nhiên
không thể được quan thầy ưa chuộng. Henry Kissinger về sau trong hồi ký
của mình đã dành những lời rất nặng nề để nói về Nguyễn Văn Thiệu, mặc
dù không phủ nhận rằng Tổng thống Thiệu là một người khôn ngoan hoạt bát
nhưng lại cho rằng, Nguyễn Văn Thiệu đã điều hành quốc sự theo một kiểu
“tàn bạo”, “xấc láo”, “ích kỷ, độc ác” với những “thủ đoạn gần như điên
cuồng” khi làm việc với người Mỹ… Kissinger cũng tiết lộ rằng, trong
những câu chuyện riêng, khi nói về Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Mỹ
Nixon đã giận dữ thốt lên: “Đó là một thằng chó đẻ” (!)
Ngày tàn tức tưởi
Cuộc tấn công và nổi dậy của quân
và dân ta mùa xuân năm 1975 đã dồn chế độ Việt Nam cộng hòa vào con
đường cùng. Tới lúc đó thì người Mỹ không thể không nhìn thấy sự phá sản
của con bài Nguyễn Văn Thiệu trong ván cờ thế sự ở đây. Washington đã
cố gắng tạo mọi sức ép để buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức và đưa một nhân
vật nào đó khả dĩ hơn lên sân khấu chính trị nhằm vớt vát được chừng nào
hay chừng ấy những điều kiện thuận lợi nào đó.
Ngày 21/4/1975, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn
Martin đã báo cáo cho ông Kissinger, lúc này là Ngoại trưởng Mỹ: “Tôi
sẽ nói cho ông Thiệu rõ tôi đã đi đến một kết luận vô tư là nếu ông ta
không chịu từ chức thì các tướng lĩnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông ta
làm điều này…”. Và thế là, cùng ngày 21/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu đã phải
từ chức trong một tâm trạng thật là tức tưởi và đầy oán hận đối với các
quan thầy Mỹ.
Người lên thay Nguyễn Văn Thiệu là
một gương mặt rất cựu trào ở Sài Gòn thuở đó, ông Trần Văn Hương. Ông
Hương cũng chẳng hẹp lòng gì mà đuổi Nguyễn Văn Thiệu ra khỏi Dinh Độc
Lập ngay nhưng dưới sức ép của dư luận xã hội, đã phải tìm cách để cựu
Tổng thống Thiệu tháo lui ra hải ngoại.
Nhân dịp có tang lễ Tưởng Giới
Thạch ở Đài Loan, ông Hương lại sử dụng bài bản cũ là đề cử Nguyễn Văn
Thiệu cũng như Trần Thiện Khiêm làm đại sứ lưu động sang Đài Loan dưới
danh nghĩa phái đoàn đại diện Việt Namcộng hòa đến phúng điếu Tưởng
Giới Thạch… Và thế là đêm 25/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu đã vĩnh viễn phải
rời khỏi Việt Nam.
Câu chuyện khởi hành ly hương của
kẻ đã từng một thời làm mưa làm gió ở Sài Gòn đã được các thuộc hạ về
sau tường thuật như sau: “Vào khoảng 7 giờ 30 tối, Tổng thống Thiệu thay
bộ đồ bốn túi trong phòng ngủ rồi qua phòng nhỏ bên cạnh nghiêng đầu
qua cửa sổ nhìn xuống.
Dưới sân, bên cạnh thềm tam cấp một
chiếc xe Mercedes màu xanh đậm đã đậu sẵn. Người lái xe là Đại tá Nhan
Văn Thiệt. Thấy mọi việc đã sẵn sàng, Tổng thống Thiệu vội vã rút trong
hộc tủ cây Browning đã lắp đạn, ông khóa chốt an toàn rồi cho vào túi
áo.
Ông xuống tầng trệt bằng thang máy.
Khi cánh cửa mở ra thì Đại tá Trần Thanh Điền đã túc trực tại đó. Ông
vừa bước xuống bậc tam cấp thì cũng vào lúc có hai binh sĩ (tên là Sanh
và Khình) xuất hiện làm ông giật mình. Thực ra là họ chỉ đến để đổi gác.
Ông Thiệu và ông Điền lanh lẹ bước
vào xe. Đại tá Điền ngồi bên phải Tổng thống Thiệu ở băng sau. Như vậy
là ông Điền đã ngồi vào chỗ chính thức của tổng thống và chịu làm Lê Lai
liều mình cứu chúa! Vừa ngồi vào xe, ông Thiệu hỏi: “Có mấy cây súng?”.
Đại tá Điền đáp: “Có hai cây, một cây dài, một cây ngắn”.
Như vậy thì vào lúc đó, Tổng thống
Thiệu đã nhận thấy ông bị nguy hiểm trên đường tới Bộ tổng tham mưu (ta
nhớ lại là Tổng thống Diệm đã bị sát hại trên đường tới Bộ tổng tham
mưu).
Việc ông Điền ngồi vào chỗ chính
thức của tổng thống thì cũng trùng hợp với câu chuyện ông Thiệu kể cho
chúng tôi là khi đi xe tới dự nghi lễ bên quốc hội hay nơi khác, ông
thường ngồi ngay bên cạnh tài xế lái xe chứ không ngồi chỗ dành cho tổng
thống ở băng sau. Khi đoàn xe tới phi trường Tân Sơn Nhất, Thiếu tá
Phận kể lại là đã “giật mình khi nhận ra cả khu vực phi trường tối om.
Dường như hệ thống điện hoàn toàn bị cắt…
Đoàn xe chạy vòng qua khu dành
riêng cho Hãng hàng không Air America của cơ quan tình báo Mỹ. Khi sắp
tới đường băng, tất cả xe đều tắt đèn di chuyển trong bóng đêm. Sau đó
một chiếc máy bay lù lù hiện ra dưới chân trời nhờ đèn trong buồng máy
cháy sáng, một loại máy bay giống như DC6. Khi tới gần chiếc máy bay,
đoàn xe bất thần thắng gấp vì thấy có bóng người…
Xe Tổng thống Thiệu bị bao vây bởi
ba chiếc xe Chevrolet to lớn. Xa xa trong bóng đêm, xung quanh chúng tôi
xuất hiện nhiều người Mỹ vạm vỡ, vận thường phục, súng M.16 dựng đứng
bên hông, trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Rồi hình ảnh ông Đại sứ
Graham Martin hiện ra tại chân cầu thang máy như một vị thần hộ mạng”.
Chuyện này làm cho chúng tôi mới
hiểu được tại sao khi nói về chuyến ra đi của Tổng thống Thiệu, Đại sứ
Martin cứ nói úp úp mở mở là “ông Thiệu đã ra đi trong điều kiện hết sức
khó khăn,” và “chúng tôi đã để ý và cố gắng sắp xếp mọi chi tiết.” Thì
ra, mọi chi tiết được sắp xếp gồm cả việc cắt điện để phi trường tối om
và việc đoàn xe phải di chuyển trong bóng đêm. Khi máy bay đáp xuống thì
đã có sẵn một toán lính Mỹ canh gác để đề phòng những biến động có thể
xảy ra vào phút chót…”.
Cho tới cuối đời, Nguyễn Văn Thiệu
vẫn không nguôi nỗi oán hận quan thầy mặc dù đã phải “bó thân” về ở trên
đất Mỹ. Cựu phụ tá đặc biệt Nguyễn Văn Ngân nhận xét rằng, Tổng thống
Thiệu “đã mang mối hận thù xương tủy người Mỹ đến tận cuối đời…”.
Đến mức, lúc chết vào ngày
29/9/2001, Nguyễn Văn Thiệu đã bày tỏ ý nguyện rằng, nếu có thể ông ta
muốn xác của mình được hỏa táng để đem tro cốt về Việt Nam, bằng không
thì sẽ rải xuống biển chứ không muốn chôn trong lòng đất Mỹ…
Theo Anninhthegioi
Thực Hư Về Cậu Con Trai Của Kim Loan Và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
Những bóng hồng qua tay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
Trái
với người phó của mình là Nguyễn Cao Kỳ thủa còn làm việc chung ở Phủ
Đầu Rồng tức Dinh Độc Lập, Nguyễn Văn Thiệu trên cương vị Tổng thống của
nền đệ nhị cộng hòa trong chuyện tình ái có phần kín kẻ hơn, đúng với
bản chất của một tay họat đầu chính trị gặp thời. Nếu Nguyễn Cao Kỳ
“phổi bò”, đúng chất võ biền của con nhà tướng bất đắc dĩ nhảy ra làm
chính trị nên trong chuyện “cua gái” cũng tỏ ra hào hoa, phong nhã,
thích được người ta ca ngợi là một người đàn ông có nhiều “tuyệt chiêu”
chinh phục mỹ nhân.
Ngược
lại, Nguyễn Văn Thiệu cũng khoái “ăn vụng” nhưng “ăn vụng trong bóng
tối, cũng thích “cua gái” nhưng “cua gái” bằng những tính toán, mưu mô
thâm hiểm và giấu rất kỹ như “mèo giấu cứt”.
Tuy nhiên, ở Sài Gòn
trước năm 1975 chuyện “ăn vụng” của Nguyễn Văn Thiệu vẫn bị phát hiện,
có điều do ở cương vị đương kim tổng thống đương thời, thế lực trùm
thiên hạ nên những bê bối tình ái này được đám đàn em thân tín, vây cánh
của Thiệu cố gắng dàn xếp, bưng bít.
Nhưng “cây kim giấu trong
bọc lâu ngày cũng lòi ra”. Cuộc đời, ái tình, sự nghiệp của Nguyễn Văn
Thiệu riêng phần ái tình ít nhất có 3 mỹ nhân đã được ghi nhận là người
tình hoặc “vợ ngoài luồng” của ông ta được dư luận biết đến.
Đặc
biệt cả 3 “chuyện tình” này đều rất ly kỳ, thuộc vào loại “thâm cung bí
sử” của ông chủ Phủ Đầu Rồng trước năm 1975 được bàn tán suốt mấy chục
năm qua mà vẫn chưa ngã ngũ: trong đó có câu chuyện tình với ca sĩ Kim
Loan và nàng gái nhảy Kim Anh Cyrnos Lời phủ nhận yếu ớt của ca sĩ Kim Loan
Ở
số báo trước, chúng tôi đã đề cập đến nghi vấn về mối tình của ca sĩ
Kim Loan với Nguyễn Văn Thiệu – nguyên nhân khiến Kim Loan phải bỏ sự
nghiệp đang rực sáng của mình ở Sài Gon để sang Đức sống.
Mặc dù
ca sĩ Kim Loan đã phủ nhận mối quan hệ của cô vói TT Nguyễn Văn Thiệu.
Tuy nhiên những lời giải thích của ca sĩ Kim Loan đã không thuyết phục
được dư luận, nhất là với cánh nhà báo.
Ca sĩ Kim Loan - người tình của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu?
Bởi
lẽ chuyện Kim Loan trở thành “phòng nhì “ của TT Nguyễn Văn Thiệu được
Trung tướng Đặng Văn Quang và Trung tá Ngân kể cả Hoàng Đức Nhã, Tổng
trưởng Dân vận-Thông tin và Chiêu hồi chế độ cũ cố gắng dàn xếp, tém dẹp
gọn gàng bằng cách “gài độ” cho Kim Loan…di tản sang Đức với người
chồng hờ làm “Lê Lai cứu chúa” cũng không che mắt được thế gian, nhất là
với bà Mai Anh, vợ chính thức của Nguyễn Văn Thiệu.
Còn vì sao,
phải đợi khi TT Nguyễn Văn Thiệu mất rồi, ca sĩ Kim Loan mới “dám” lên
tiếng nhằm “giải nỗi oan tình” bấy lâu nay phải đa mang cũng là chuyện
dễ hiểu.
Nhưng Kim Loan đã quên rằng vẫn còn nhiều nhân chứng sống
biết được chuyện này tường tận đến từng chân tơ kẽ tóc mà có thể hồi
còn “dung dăng dung dẻ” với ngài Tổng thổng đầy quyền uy, Kim Loan đã
không để ý hoặc đã quên.
Trong số những nhân chứng sống ấy có một
người từng là “đầu bếp” của đôi tình nhân Thiệu-Loan, phục vụ trên chiếc
tàu chiến của lực lượng Hải Quân vùng Duyên Hải để lo câu cá, chế biến
những món ăn “đặc sản biển” theo kiểu dân dã, lạ miệng, hợp khẩu vị với
ngài Tổng thống đã chán cao lương mỹ vị và người đẹp ca sĩ cũng bắt đầu
quen thói cao sang, thích được Tổng thổng chiều chuộng và có “lính” để
hầu hạ 24/24 giờ những khi Thiệu lén lút bà Mai Anh với lý do công vụ để
ra đảo Phú Quốc du hí với Kim Loan.
Phải nói đây là mưu kế của
Đặng Văn Quang và Trung tá Ngân nhằm tổ chức một cuộc hẹn hò cho Thiệu
với Kim Loan xa đất liền, tới một nơi chỉ có trời và nước và những tay
chân thân tính nhằm tránh miệng lưỡi thế gian.
Nhất là tai mắt của
“đệ nhất phu nhân” Mai Anh và những đối thủ chính trị của Thiệu. Nhưng
Đặng Văn Quang cũng không dại ra mặt, tay trùm tình báo này có thừa mưu
ma chước quỷ để “né đạn” với cô cháu gái Mai Anh gọi ông ta bằng cậu mà
vừa lấy được lòng đứa cháu rể Tổng thống nên đã giao nhiệm vụ tổ chức
cuộc hẹn hò, du hí này cho đàn em thân tín dưới quyền của mình là Trung
tá Ngân, còn Quang chỉ đứng phía sau chỉ đạo.
Trung tá Ngân đã tới
tận nhà gặp ca sĩ Kim Loan khéo léo nhắn lời của ngài tổng thống mời cô
tham gia với đoàn văn nghệ hát giúp vui cho sĩ quan, binh lính Hải Quân
thuộc Bộ Tư lệnh vùng 4 Duyên Hải tại căn cứ An Thới đảo Phú Quốc. Tất
nhiên Kim Loan hoan hỉ nhận lời. Cuộc hoan lạc trên đảo Phú Quốc của TT Thiệu và người tình
Tới
ngày N, giờ G của cuộc hò hẹn với người đẹp, Đặng Văn Quang tổ chức cho
Nguyễn Văn Thiệu bay ra đảo Phú Quốc trước với một toán cận vệ trung
thành bằng chiếc D.C4 đáp xuống sân bay An Thới (Lúc này Phú Quốc có 2
sân bay dã chiến, nhưng chỉ có sân bay An Thới sử dụng, còn sân bay
Dương Đông bỏ hoang).
Trước khi Thiệu bay ra Phú Quốc, Đặng Văn
Quang đã mật lệnh cho cho Đại tá Đỗ Kiểm Tư lệnh Hải Quân vùng 4 Duyên
Hải và Đại tá Trần Văn Thì, Đặc Khu trưởng Phú Quốc biết tổng thống sẽ
ra Phú Quốc nghỉ mát xã stress để hai ông trùm xứ biển này tổ chức
nghênh đón và dàn đội hình tàu chiến ra bảo vệ an ninh vòng ngoài.
Đại
úy Phạm Ngọc Kình chỉ huy Hải đội 4 lập tức nhận lệnh đưa toàn bộ tàu
PCF của Hải đội ra biển án ngữ cách địa điểm tổng thống “nghỉ mát” chỉ
non cây số để cảnh giới, đề phòng bất trắc từ đêm hôm trước.
Khi
chiếc D.C4 vượt trùng dương vừa đưa ngài tổng thống đáp xuống phi trường
An Thới, hai ông đại tá trùm xứ biển Phú Quốc đã tục trực, tiền hô, hậu
ủng đón rước đưa ra một chiếc tàu chỉ huy lúc bấy giờ đã được ngụy
trang giống như một chiếc du thuyền nghỉ ngơi chờ người đẹp.
Trong
khi đó, ở đất liền, Trung tá Ngân tới tận nhà đón ca sĩ Kim Loan ra phi
trường Tân Sơn Nhất có Trung tướng Đặng Văn Quang chờ sẵn cũng trên một
chiếc D.C4 rồi cùng bay ra Phú Quốc hội ngộ với tổng thống Thiệu.
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
Có
lẽ chán những món cao lương mỹ vị mà trùm xứ biển khoản đãi hay người
đẹp Kim Loan nổi chứng…thèm hải sản nên một hôm Thiệu hỏi “chúa đảo”
Trần Văn Thì xem có đệ tử nào là tay sát cá tiến cử cho Thiệu để đưa lên
“du thuyền” làm nhiệm vụ câu cá, rồi chế biến luôn trên tàu thành những
món ăn dân dã để Thiệu và “em bé ca sĩ” thưởng thức.
“Chúa đảo”
Trần Văn Thì đáp ứng ngay yêu cầu của ngài tổng thống, lập tức Phan Văn
Muôn, một anh lính nghĩa quân người tại An Thới xuất thân từ gia đình “
ngư ông” thứ thiệt thuộc thế hệ thứ 2 được tay chân của “Chúa đảo” truy
tìm đưa tới, Thì tiến cử ngay Phan Văn Muôn cho Thiệu.
Ngắm nghía
Phan Văn Muôn từ đầu tới chân, Thiệu rất ưng ý gã thanh niên cục mịch,
vai u thịt bắp ra dáng một ngư ông đích thực, nhất là gương mặt lầm lì,
ít nói và hầu như chẳng quan tâm tới người ngồi trước mặt mình là ai.
Cái
ngữ lầm lì, ít nói này rất được việc và kín tiếng, đó là điều kiện tiên
quyết để trở thành người hầu cận thân tín của thiệu trong những chuyến
vui chơi, giải trí với người đẹp mà không sợ “tai vách, mạch rừng”.
Thiệu hài lòng cho Phan Văn Muôn thử tay nghề “thợ câu”.
Ngay lập
tức, Phan Văn Muôn đã cho ngài tổng thống biết tài nghệ siêu quần của
mình. Anh ta câu được rất nhiều cá, mực, tôm, cua, ghẹ…nói chung là quà
tặng của biển cả.
Phan Văn Muôn còn hay ở chỗ là biết chế biến các
loại hải sản tươi sống thành những món ăn dân dã tuyệt ngon khiến Thiệu
và người đẹp Kim Loan mê tít và giữ rịt anh thợ câu này suốt 24/24 trên
tàu và lệnh cho Trần Văn Thì miễn tất cả mọi thứ trực gác cho anh lính
nghĩa quân, biệt phái luôn lên tàu làm hầu cận cho “vợ chồng” Thiệu suốt
những ngày du hí ở Phú Quốc.
Sau đó “cái ông tổng thống mê hài
sản” này còn ra du hí với người đẹp ca sĩ vài lần nữa rồi…mất hình luôn.
Phan Văn Muôn cũng được “giải tháo số phận hầu cận, đưa về vị trí cũ.
Anh
ta thắc mắc với ngài Đại tá “Chúa đảo” sao không thấy tổng thống và
người đẹp mê hải sản ra chơi nữa? Trần Văn Thì chỉ nói một câu gọn lỏn:
“Từ bây giờ mày hãy quên chuyện ấy đi”.
Nhưng ca sĩ Kim Loan có
thể quên hoặc cố tình không nhớ chứ Phan Văn Muôn thì còn nhớ rất rõ
những cuộc du hí giữa trời nước mênh mông của cô với tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu, bởi ngoài những kỷ niệm câu cá, chế biến các món ăn từ hải
sản tươi sống cho hai người ăn ngon miệng, tăng cường sinh lực tha hồ du
hí.
Phan Văn Muôn trong vai trò người hầu cận thân tín suốt một
thời gian cho ngài tổng thống đã được ông ta tưởng thưởng rất nhiều
tiền, đồng thời cả hai ông Đại tá trùm xứ đảo Phú Quốc vì muốn lấy lòng
“người hầu cận thân tín của vua” nên cũng cho rất nhiều bổng lộc đủ để
Phan Văn Muôn xây một ngôi nhà khang trang tại An Thới.
Và trở
thành một trong những nhân chứng sống kể chuyện mối tình của ngài tổng
thống đệ nhị cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu và cô ca sĩ Kim Loan thời ân ái
mặn nồng tại đảo Phú Quốc mà dù muốn quên đi chuyện cũ, cô ca sĩ cũng
khó “đỡ” nổi. Nàng Kim Anh Cyrnos
Nàng
Oanh ở bến Sông Cầu tỉnh Phú Yên mối tình thắm thiết, lãng mạn của
Nguyễn Văn Thiệu thời trai trẻ, công chưa thành, danh chưa toại gặp
nhiều trắc trở, do hoàn cảnh chiến tranh nên chia tay rồi không có con
đường quay lại.
Đến cô ca sĩ Kim Loan khi danh đã toại, công đã
thành thì Nguyễn Văn Thiệu sợ các thế lực chính trị thù địch moi móc ra
chuyện bê bối này để tấn công, hạ uy thế nên cực chẳng đã trong lúc
hương đang đượm, lửa đang nồng mà phải tổ chức…di tản người đẹp sang Tây
Đức để lánh nạn.
Nhưng Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa dừng lại trong
cuộc chơi ái tình khi Nguyễn Cao Thăng, một dược sĩ tên tuổi, giàu nứt
đố đổ vách trước năm 1975 ở Sài Gòn đồng thời giữ chức “phụ tá” cho tổng
thống vì mưu đồ chính trị, lợi lộc kinh doanh đã bày mưu tính kế với
Đặng Văn Quang và Hoàng Đức Nhã gài độ cho Nguyễn Văn Thiệu một kiều nữ
lẳng lơ, dâm đãng bậc nhất Sài Gòn để “ăn vụng” rồi trở thành vợ bé của
ông ta mãi tới khi Sài Gòn sụp đổ.
Người đẹp lẳng lơ dâm đãng nổi tiếng “chài trai” này chẳng phải ai khác mà chính là “nhân tình” của Nguyễn Cao Thăng.
Nàng
tên là Trần Thị Kim Anh, một phụ nữ không còn trẻ, chẳng phải thuộc
hạng hoa khôi, hoa hậu, chân lại ngắn, thân hình đẩy đà, nước da chẳng
trắng như trứng gá bóc nhưng bù lại ăn nói có duyên, giọng như rót mật
vào tai dàn ông và có biệt tài trong khoa giường chiếu nên làm cho bao
đàn ông mê mệt.
Trần Thị Kim Anh xuất thân là ca ve hạng sang rồi
nhảy lên làm chủ quán bar, vũ trường Cyrnos nổi tiếng ở Vũng Tàu nên có
biệt danh là Kim Anh Cyrnos. Nguyễn Cao Thăng đã “xài” nàng Kim Anh
Cyrnos chán chê nên đã biến cô nàng thành “hàng gài” cho Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu.
Chắc chắn Thiệu cũng như Nguyễn Cao Thăng chẳng
yêu thương gì Kim Anh Cyrnos, nhưng rõ ràng là rất “kết mô đen” người
phụ nữ dâm đãng lộ ra tới gương mặt này. Do đó khi được bộ ba hoạt đầu
chính trị Đặng Văn Quang-Hoàng Đức Nhã-Nguyễn Cao Thăng gợi ý, tổ chức
cho Thiệu gặp Kim Anh Cyrnos tại Vũng Tàu, Thiệu hoan hỉ OK. Đứa con rơi của Tổng thống Thiệu và Kim Anh Cyrnos
Chỉ
một vài lần Nguyễn Văn Thiệu và bộ sậu: Quang, Nhã, Thăng đi họp
“chuyện quốc gia đại sự” ở Vũng Tàu thì…nàng Kim Anh Cyrnos mang thai và
hạ sinh một cậu con trai. Cậu con trai không mong muốn này chẳng biết
có phải của Thiệu không chắc chỉ có…nàng Kim Anh Cyrnos biết hoặc một
người nữa là “phụ tá tổng thống” Nguyễn Cao Thăng biết.
Nhưng con
rơi thiệt hay con “gài hàng” sự có mặt của cậu bé này sau khi nàng Kim
Anh Cyrnos quan hệ với ngài tổng thống dù bí mật, cũng không thể chấp
nhận, bởi nếu thông tin này lọt ra ngoài thì sự nghiệp chính trị của
Thiệu có thể đi tong trong phút chốc.
Do đó sau khi sinh ra được
ít lâu, cậu bé này bỗng dưng…biến mất như chưa hề có mặt trên đời. Người
ta đồn rằng n2ng Kim Anh Cyrnos đã gửi con cho người khác nuôi ở một
nơi bí mật, lớn lên cậu bé đã được đưa ra nước ngoài du học.
Còn
nàng Kim Anh Cyrnos thì từ giã quán bar, vũ trường Cyrnos ở Vũng Tàu
nhảy vào chính trường, được Nguyễn Văn Thiệu chống lưng đưa lên làm dân
biểu quốc hội, tức bà Nghị Kim Anh danh giá một thời ở Hạ nghị viện Sài
Gòn.
Gần ngày 30/4/1975 thời thế đã xoay chuyển với tốc độ cực
nhanh. Quân Giải phóng đã làm chủ miền Trung và Tây Nguyên đang tiến về
Sài Gòn bằng 5 cánh quân thần tốc.
Ván cờ đã sắp tàn, con cờ
Nguyễn Văn Thiệu không còn sử dụng vào việc gì được nữa, ngay cả làm con
chốt thí cũng chẳng xong nên Mỹ muốn thay Thiệu bằng ê kíp khác bằng
giải pháp chính trị hơn là quân sự.
Do đó Nguyễn Văn Thiệu bị Mỹ
ép từ chức và ra đi trong danh dự, không còn con đường nào khác, nguyễn
Văn Thiệu chấp nhận giải pháp này và lên truyền hình đọc bài diễn văn
lâm ly bi đát khóc than đã bị Mỹ bỏ rơi rồi nhường ghế tổng thổng lại
cho ông già gân Trần Văn Hương vào ngày 21/4/1975.
Rồi cũng rất
nhanh chóng ông già gân Trần Văn Hương lên đài giọng run rẩy, lắp
bắp…nhường ghế Tổng thống lại cho Big Minh, tức tướng Dương Văn Minh dẫn
tới sự đầu hàng vô điều kiện của chính phủ này vào trưa 30/4/1975 lịch
sử.
Trước đó, sau khi đọc xong bài diễn văn từ chức có những lúc
phải nghẹn ngào dừng lại trong khoảnh khắc, Nguyễn Văn Thiệu lập tức ra
phi trường Tân Sơn Nhất “bỏ của chạy lấy người”.
Thiệu đi một mình
mà không có vợ con, bởi “đệ nhất phu nhân” Mai Anh đã mang theo của nả,
con cái đi trước đó mấy ngày. Người ta cũng chẳng thấy Thiệu cho nàng
Kim Anh Cynos đi theo mà bị Thiệu bỏ lại trong tình thế hỗn loạn của
cuộc đào thoát có tổ chức. Kim Anh Cyrnos là CIA của Mỹ "Gài" cho Thiệu ?
Chuyện
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đào thoát không mang theo nàng Kim Anh
Cynos trong giờ phút cuối cùng, cũng như nghi vấn đứa con rơi của ông ta
với người tình Kim Anh Cynos vẫn còn là một ẩn số cho tới ngày Nguyễn
Văn Thiệu rời Việt Nam.
Nhưng chuyện nàng Kim Anh Cyrnos là một
nhân viên CIA thì đã rõ, sau ngày 30/4/1975 Trần Thị Kim Anh bị bắt đi
cải tạo tập trung tại trại giam Tam Hiệp, TP Biên Hòa- Đồng Nai.
Tại
đây Kim Anh Cynos có cơ hội gặp gỡ một người đàn ông khác, một cán bộ
cách mạng biến chất và một lần nữa đã dùng nhan sắc và sự hấp dẫn của
mình để mồi chài Nguyễn Hữu Giộc tức Mười Vân Giám đốc Công an tỉnh Đồng
Nai thời kỳ đó để được Nguyễn Hữu Giộc ký lệnh trả tự do, thoát khỏi
trại giam Tân Hiệp sống lén lút với nhau “già nhân ngãi non nghĩa vợ
chồng”.
Chính cuộc gặp gỡ định mệnh và mối tình sét đánh với nàng
Kim Anh Cyrnos đã biến Mười Vân thành con cờ trong tay để nàng sai
khiến, rồi đưa Mười Vân ra pháp trường lãnh án tử. Nhưng đó lại là một
câu chuyện khác.
Trở lại với Nguyễn Văn Thiệu, sau khi ra nước
ngoài ông ta không chung sống với vợ con ở Mỹ mà sống riêng một mình ở
Anh Quốc. Không biết có phải Thiệu sống như vậy là cố ý đợi nàng Kim Anh
Cyrhos tái hợp ở trời Tây không?
Nhưng khi nàng Kim Anh Cyrnos xỏ
mũi được Nguyễn Hữu Giộc, được ông Đại tá Giám đốc CA Đồng Nai chống
lưng cho làm chủ một số bãi đáp tổ chức đưa người vượt biên có thu tiền
thời đó, cả hai đã tạo được một khối lượng tài sản kếch sù, thu cả bao
vàng mỗi đêm.
Sau đó Nguyễn Hữu Giộc đã tổ chức cho nàng Kim Anh
Cyrnos vượt biên mang theo số tài sản khổng lồ mà hai người kiếm được
qua Mỹ với kế hoạch mua nhà, chuẩn bị điều kiên vật chất đầy đủ đợi
Nguyễn Hữu Giộc tìm cơ hội vượt biên qua đó sống chung. Tái hồi Kim Trọng và cú đánh hiểm hạ Nốc - ao Mười Vân
Nhưng
với một người như Kim Anh Cyrnos, gián điệp của CIA thì Nguyễn Hữu Giộc
cũng chỉ là một con cờ để ả lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ của mình.
Sau khi qua Mỹ, Kim Anh Cyrnos đã tìm cách liên lạc với Nguyễn Văn Thiệu
và hai người đã “tái hợp” nơi đất khách sau khoảng thời gian dài cách
biệt.
Đồng thời không biết có phải nàng Kim Anh Cyrnos đã bàn mưu,
tính kế với Thiệu để “triệt buộc” Nguyễn Hữu Giộc hay không mà sau đó
nàng đã viết đơn gửi về tố cáo “ân nhân” đã cứu mình ra khỏi trại giam
Tam Hiệp rồi tạo dựng cho nàng một sự nghiệp bên trời Tây với lời hứa
hẹn sẽ gặp lại nhau, hưởng vinh hoa phú quý, hạnh phúc suốt đời.
Nhưng
khi đã đạt được ý nguyện, nàng Kim Anh Cyrnos đã quay lại với người
tình cũ, một ông tổng thống thua cuộc, chạy trốn, náu thân nơi xứ người
để quay ngoắt 180 độ đánh cho Nguyễn Hữu Giộc tức Mười Vân một đòn hiểm
hóc hạ đo ván ông này ngay tại võ đài.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét