Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 58/c (Bảo vệ đường mòn HCM)
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Trừng trị bóng ma trên đỉnh Trường Sơn - Phần 3
Trong chiến tranh Việt Nam, AC-130U được trang bị khí tài trinh sát, hệ
thống vũ khí hiện đại phục vụ mục đích duy nhất là bằng mọi giá ngăn
chặn hoạt động vận chuyển đường Trường Sơn.
AC 130 có vai trò hỗ trợ tấn công đường không tầm gần và đánh phá tuyến
đường giao thông.
AC-130 lắp đặt thiết bị nhìn đêm hồng ngoại, thiết bị khuếch đại ánh
sáng mờ (độ khuếch đại tối đa tới 4.000 lần), thiết bị nhìn đêm tạo ảnh
nhiệt và thiết bị phát hiện tia lửa điện khi ô tô hoạt động…
Diệt "bóng ma" AC-130 trên đỉnh Trường Sơn bằng SAM-2
ANTĐ Trong cuộc đối đầu với “bóng ma” AC-130
của quân đội Mỹ trên đỉnh Trường Sơn, không thể không kể tới chiến công
của bộ đội tên lửa, trong chiến công chung của lực lượng phòng không
đường Hồ Chí Minh.
Quyết trị AC-130 bằng tên lửa
AC-130 của Mỹ là biến thể cải tiến từ
loại máy bay vận tải hạng trung C-130, được trang bị thêm nhiều khí tài
trinh sát hiện đại nhất bấy giờ như hệ thống quan sát hồng ngoại, hệ
thống quang truyền hình và khuếch đại ánh sáng mờ, thiết bị phát hiện
tia lửa điện phát ra từ ôtô, máy nổ…
Vì vậy, loại máy bay vừa có sức chở lớn, vừa được trang bị hỏa lực mạnh:
với các loại pháo 40mm, pháo 20mm và súng máy 7,62mm (đều được đặt ở
sườn trái máy bay). Không chỉ vậy, trong các loại máy bay Mỹ sử dụng ở
chiến trường Việt Nam, AC-130 là loại máy bay chiến đấu có kíp bay đông
nhất, lên tới 13 người, gồm: lái chính, lái phụ, hoa tiêu, nhân viên
điện tử và các hệ thống trinh sát cùng các xạ thủ pháo và súng máy...
Khi đánh phá giao thông, AC-130 thường bay một chiếc ở độ cao 3.000 đến
5.000m, cao hơn tầm bắn hỏa lực pháo cao xạ cỡ nhỏ 37mm mà ta thường
dùng ở đó). Ngoài ra, AC-130 có tốc độ bay 90-100 m/s, thời gian bay
trên không từ 2 đến 4 giờ liền, cơ động cả hướng và độ cao kết hợp với
gây nhiễu tích cực và tiêu cực.
Vào ban đêm AC-130 có thể phát hiện chính xác rồi sử dụng pháo và súng
máy đánh trúng từng xe vận tải và các mục tiêu giao thông của ta, gây
tổn thất lớn và làm ách tắc nghiêm trọng trên các cửa khẩu và tuyến
đường 559. Tóm lại, trên tuyến đường 559 thì AC-130 là đối thủ vô cùng
nguy hiểm và không dễ bắn hạ.
Màn thị uy của AC-130
Như vậy, địch quyết dùng mọi thủ đoạn và vũ khí tối tân nhất để chặn các
dòng hàn, còn ta cũng quyết dùng mọi biện pháp cho xe vượt qua để chi
viện cho miền Nam. Cuộc quyết đấu này chỉ có thể giải quyết xong nếu ta
trị được hung thần AC-130 (ngoài loại này còn có 1 số AC-119 cải tiến từ
vận tải cơ C-119).
AC-130 có kích thước lớn, tốc độ chậm, khả năng cơ động kém, hoạt động
thường theo quy luật cả về đường bay, thời gian và khu vực đánh phá nên
ta có thể chủ động đề phòng và tìm cách đối phó. Ta từng dùng pháo cao
xạ bắn cháy AC-130 và AC-119, tuy nhiên, đây là loại máy bay lớn (C-130
nặng toàn bộ gần 80 tấn…) nên bị trúng đạn thường không rơi tại chỗ.
Đồng thời, chúng luôn bay cao hơn 3.000 m nên từ năm 1970, nhiệm vụ hạ
AC-130 và B-52 ở Trường Sơn được giao cho bộ đội tên lửa.
Vượt muôn trùng khó khăn lập chiến công
Do đặc điểm chiến trường rừng núi trùng điệp, đèo dốc hiểm trở, đường
xá nhỏ hẹp lại bị bom đạn cày phá liên tục nên rất khó triển khai các
loại vũ khí phòng không cỡ trung trở lên, với tên lửa SAM-2 nặng nề lại
càng khó khăn.
Không chỉ vậy, bay kèm AC-130 luôn có các loại máy bay tiêm kích, cường
kích mang Sơrai chống radar, bom laser, tên lửa có điều khiển các loại,
rocket… sẵn sàng yểm trợ và đánh phá lực lượng phòng không của ta muốn
bắn hạ AC-130. Ngoài ra, các máy bay trinh sát vũ trang O-2, OV-10 quần
thảo suốt ngày đêm cùng biệt kích, thám báo lùng sục khắp nơi hòng phát
hiện tên lửa ta…
Tên lửa SAM-2 được giao trọng trách đối phó với AC-130 và B-52.
Việc đưa SAM-2 vào chiến trường 559 vô cùng khó khăn: đưa 1 bộ khí tài
vào trận địa phải mất hàng tháng trời với nhiều tổn thất, ví dụ chỉ
riêng tiểu đoàn 67 hành quân chiếm lĩnh trận địa trên đoạn đường 100 km
phải mất 2 tháng, bị không quân địch chặn đánh 21 lần và 1 lần B-52 rải
thảm làm hỏng 1 xe khí tài, hệ thống dẫn sóng, 4 xe chở tên lửa, 1 xe
chở dầu, 1 số xe kéo và không ít chiến sĩ ta bị thương vong.
Đến trận địa, do mặt bằng hẹp và góc che khuất lớn nên tiểu đoàn chỉ
triển khai được 2 bệ, 2 tên lửa với góc bắn hẹp chỉ khoảng 50 độ (theo
quy tắc bắn phải đủ 6 bệ, 6 đạn). Có tiểu đoàn khác chưa hành quân đến
trận địa đã bị địch đánh hỏng phần lớn khí tài, phải dừng lại chờ bổ
sung từ miền Bắc vào trong… nhiều tháng. Dù vậy, vượt qua mọi hy sinh
gian khổ và muôn trùng khó khăn, bộ đội tên lửa Việt Nam đã hoàn thành
nhiệm vụ quét đuổi “bóng ma” này ra khỏi dãy Trường Sơn.
Ngày 4/3/1971, tiểu đoàn tên lửa 83 đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc AC-130
gần trận địa Côn Cùng sát biên giới Việt-Lào… Ngày 27/2/1972 từ trận địa
Máy Húc, tiểu đoàn tên lửa 67 bắn trúng 1 AC-130 nhưng máy bay không
rơi tại chỗ nên chúng ngừng một thời gian rồi lại tiếp tục hoạt động.
Ngày 29/3/1972, lúc 3 giờ sáng tiểu đoàn 67 đã đánh 1 trận xuất sắc, bắn
rơi tại chỗ chiếc AC-130 ở khu vực Lùm Bùm- Huổi Chang, trong lúc không
quân địch đang lồng lộn bắn phá ngăn chặn giao thông của ta. Lĩnh trọn 2
quả tên lửa ở độ cao hơn 3.000 m, chiếc AC-130 bốc cháy rừng rực giữa
trời đêm Trường Sơn, rồi cùng toàn bộ kíp bay 13 người đâm đầu xuống
rừng rậm bản Nabo (gần ngã ba Đường 9), cách trận địa ta chỉ 6 km.
Chứng kiến cảnh tượng đó, các loại máy bay khác của địch đang hoạt động
quanh đấy đều hốt hoảng tháo chạy khỏi vùng hỏa lực tên lửa và sau đó
phải ngừng đánh phá khu vực này, tạo thuận lợi cho các đoàn xe vận tải
của ta vượt cửa khẩu, kịp thời chuyển vũ khí, đạn dược cho chiến trường.
Ngấm đòn, từ đấy AC-130 không dám tác oai, tác quái quanh đó nữa mà phải lùi sâu về phía nam Đường 9, hoạt động cầm chừng…
Người anh hùng lái xe đường Trường Sơn năm ấy
Thứ Ba, 08/09/2015, 09:19:03
Trong
bộ tổng tập Chân dung Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh do Hội đồng Thi đua
- Khen thưởng Trung ương và Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương biên
soạn, ấn hành năm 2000, tôi “gặp” một người khá điển trai, không phải
trong bộ áo giáp mũ sắt của bộ đội lái xe Trường Sơn mà trong bộ quân
phục sĩ quan với quân hàm quân hiệu tề chỉnh. Một gương mặt cương nghị,
sáng tươi: Anh hùng lái xe Nguyễn Quang Hạnh.
Trong
tiết trời thu mát mẻ, nắng trải dài trên những cánh đồng lúa mùa đang
vào độ mẩy, sau hơn một giờ rong ruổi xe máy, chúng tôi về huyện Hải
Hậu, xã Hải Đường, hỏi về xóm 25. Mấy bác người làng vui vẻ chỉ lối cho
khách xa. Chúng tôi lại được ông Phạm Ngọc Ruyến - một bác sĩ cựu chiến
binh Trường Sơn, bạn học của Nguyễn Quang Hạnh từ thời còn để chỏm đi
trước dẫn đường. Khuôn viên nhà ông Hạnh cạnh đường trục vào xóm, gần
ngôi nhà thờ xứ đạo Nam Đường. Bà Nguyễn Thị Lụa, phu nhân người anh
hùng vui vẻ chào hỏi. Biết khách hẹn đã về, ông Hạnh hồ hởi bước ra.
Cánh cổng mở rộng, nếp nhà mái bằng, hiên có giàn hoa leo kề gian nhà
mái ngói cao ráo. Trước nhà, một khoảng sân gạch, thửa vườn thấp cao các
cây thế, chậu cảnh la đà vui mắt. Chủ khách phân ngôi trên bộ sa lông
gỗ sẫm mầu. Cái bắt tay của một người ở tuổi bảy mươi vẫn còn phong độ,
vẫn cử chỉ, cốt cách một người lính, một cán bộ chỉ huy ngày nào. Tôi
ngước lên bàn thờ gia tiên. Ảnh cụ cố nội, ảnh hai cụ thân sinh lồng
trong khung kính trên tường. Tôi ngước lên ban thờ kính Chúa trên cao,
biết rằng chủ nhân là người trọng lễ nghĩa, một gia đình đạo gốc nền nếp
ở vùng quê văn hóa Hải Hậu. Chủ nhân ngôi nhà được vinh danh tên thánh:
Phêrô Nguyễn Quang Hạnh.
Chưa học hết trung học, Nguyễn Quang Hạnh đã tham gia công tác thuế vụ
của xã. Tuổi trẻ nhiệt thành và năng động, chàng thanh niên xứ đạo đã
được cấp ủy và ban quản trị hợp tác xã tin cậy giao việc để anh sớm được
thử thách, rèn luyện. Nguyễn Quang Hạnh trở thành trưởng xóm rồi đội
trưởng đội sản xuất hợp tác xã nông nghiệp quê nhà, đối tượng cảm tình
Đảng trước ngày nhập ngũ.
Tháng 5 năm 1965 có một ngày còn nhớ mãi trong đời người cựu chiến binh
Nguyễn Quang Hạnh. Ngày ấy, đứa con trai đầu lòng mới ba tháng tuổi, oặt
oẹo, thương lắm. Đêm thời chiến nhà chong đèn, anh em chòm xóm ra vào,
chuyện trò rôm rả. Cha mẹ thức thâu đêm, các cụ cân nhắc đắn đo nghĩ gần
nghĩ xa trăn trở nhiều điều. Nhà có mấy người thân, ông cậu, bà dì đã
di cư vào nam từ năm 1954. Họ ở phía bên kia rồi. Nay người con cả của
gia đình nhận lệnh nhập ngũ, có thể một ngày, người một nhà chĩa súng
vào nhau thì sao? Hạnh nhà này lại do ban quản trị hợp tác “cử” đi bộ
đội hẳn hoi, tính sao đây...
Sáng hôm sau, ông chào cha mẹ để kịp lên đường. Ngày con trai nhập ngũ,
các cụ không tiễn. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Lụa bế cả đứa bé đỏ hỏn lên
huyện tiễn chồng trong dòng người kéo về ngày lễ giao quân của huyện.
Nhập ngũ, Nguyễn Quang Hạnh được chọn đi học lớp lái xe sáu tháng. Ông
được xếp thứ 3/150 học viên. Tốt nghiệp, Nguyễn Quang Hạnh được biên chế
về đội lái xe Sư đoàn 312. Có năm người được chọn lái xe chỉ huy, Phòng
kỹ thuật Sư đoàn chọn rất kỹ. Ông “trượt” không phải vì điểm kỹ thuật
mà có thể còn cần thêm những tiêu chuẩn nào đó. Từ đây con đường Trường
Sơn gian khổ phía trước đã “chọn” Nguyễn Quang Hạnh làm người cầm lái
tin cậy trong đội hình “Quả đấm thép” của bộ đội lái xe Trường Sơn.
Tháng 7-1967, Nguyễn Quang Hạnh về Đoàn 559, vào Binh trạm 35, trên con
đường chiến lược ngã ba nam sông Bạc, hạ Lào. Thử thách đầu tiên với ông
là khai thông chuyến xe xuyên đêm vượt dốc Pô Phiên vô cùng hiểm trở.
Con dốc sừng sững thách thức các đồng chí lái xe đã từng vận chuyển hàng
hóa trên cung đường này. Được giao nhiệm vụ, Nguyễn Quang Hạnh bước lên
buồng lái chiếc Mônô hai cầu, nổ máy. Bình tĩnh, quả cảm, ông xử lý các
tình huống mau lẹ, chính xác, đưa chiếc xe dã chiến đi đầu vượt dốc Pô
Phiên thành công. Ông tâm sự: “Người lái xe mặt trận không chỉ bình tĩnh
vững vàng trong buồng lái, mà cần cả mưu lược, linh hoạt trong việc xử
lý các tình huống trên thực địa, có khi còn phải biết làm “tham mưu” đề
xuất với chỉ huy cấp trên các phương án khai thông khi tắc đường, phải
biết hợp đồng tác chiến với công binh, với bộ đội phòng không, phải hiểu
rõ thủ đoạn và quy luật hoạt động của kẻ địch trên trời dưới đất để đưa
hàng tới đích”.
Không thể nhớ hết bao nhiêu tình huống trên đường vận chuyển. Những
chuyến xe lấy đêm làm ngày vượt qua những bãi bom phá, bom từ trường,
bom bi trong vòng lượn của lũ OV10, AC130 suốt ngày đêm lồng lộn xoi
mói, oanh kích bắn phá các trọng điểm dọc đường Trường Sơn. Những quả
đồi đất thành bột, vách đá thành vôi, những sông bùn, những vực thẳm
chồng chất xác xe cháy đổ. Lính xế có câu cửa miệng “gò méo, kéo đổ”, để
chỉ công việc của người lái xe, phải tác chiến mau lẹ, thành thạo cả
việc sửa chữa khi xe gặp sự cố. Nguyễn Quang Hạnh kể chuyện có lần mình
dùng chiếc xe hai cầu 2,5 tấn, có đầu tời và bộ pa-lăng xích, kéo một
đại xa bốn tấn vượt dốc chênh vênh, khiến cánh lính xế trầm trồ bảo
Nguyễn Quang Hạnh biểu diễn trò “chuột tha mèo”. Ông cười bảo đấy là
kiến thức vật lý phổ thông, “lợi về lực thì thiệt về đường đi”, mặt
phẳng nghiêng mà! Để bảo đảm đủ đầu xe, bù vào những chiếc xe bị bắn
cháy, Nguyễn Quang Hạnh lập cả “tổ lính xế phụ trợ công binh” kích kéo
những chiếc xe đổ đèo, đến chỗ những xe “nằm bãi”, tháo gỡ máy móc, phụ
tùng còn dùng tốt để thay thế dọc đường khi cần, đưa về cứ để dự phòng
trong những “mùa mưa bảo dưỡng”. Vậy nên đơn vị ông luôn có đủ số xe lên
mặt đường với các tay lái thiện chiến sẵng sàng nhận lệnh xuất phát.
Khi ở cương vị chỉ huy, ông vẫn tự mình xông pha đi đầu, giúp đỡ, động
viên, chia sẻ mọi khó khăn với từng chiến hữu. Nguyễn Quang Hạnh được
đồng đội, cấp trên tin tưởng, một người sáu năm liền lái xe xung trận
trên cung đường 120 km tây Trường Sơn chồng chất hiểm nguy thách thức.
- Bom đạn Mỹ rình rập đánh phá như thế, bao nhiêu lần thay xe, ông có
lần nào bị thương? - Tôi dè dặt hỏi. Lập tức ông bác sĩ cựu chiến binh
Phạm Ngọc Ruyến, ngồi kề chủ nhân, lên tiếng:
- Có, nhiều chứ! Lần thoát hiểm cây đổ đè chẹt buồng lái, lần bom hất cả
người lẫn xe văng vào vách ta-luy, những phen ù tai choáng óc do sức ép
bom, rồi bom bi vướng nổ, rồi xe cháy... Ông Hạnh là thương binh 4/4
đấy!
Tôi nhìn ông, thầm cảm phục một bậc nam nhi thời chiến. Đọc bảng vàng
thành tích được ghi trong cuốn sách vinh danh hơn một nghìn anh hùng lực
lượng vũ trang trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc, chống Pháp và chống
Mỹ, tôi được biết đầy đủ hơn về người anh hùng này:
“Anh hùng Nguyễn Quang Hạnh sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải
Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng
chí là đảng viên, thiếu úy, đại đội trưởng đại đội I ô-tô vận tải,
thuộc tiểu đoàn 59, trung đoàn 35, Đoàn 471, Bộ Tư lệnh Đoàn 559.
Nguyễn Quang Hạnh làm nhiệm vụ vận chuyển trên tuyến đường phía nam sông
Bạc từ năm 1967 đến năm 1972. Trong hai năm 1968, 1970, anh thường vượt
định mức 25% trở lên. Ngày 2-11-1967, trên đường vận chuyển, một xe kéo
pháo bị máy bay địch bắn cháy, Nguyễn Quang Hạnh nhanh chóng lao vào
dập lửa và cõng hai thương binh đưa về nơi an toàn. Mùa khô năm 1968 -
1969, trên cung đường vận chuyển dài 120 km, anh là người đầu tiên đạt
kỷ lục cao nhất của trung đoàn 35. Mùa khô sau đó, trong 60 ngày đêm
tổng công kích của chiến dịch vận chuyển, anh chạy xe liên tục, không
nghỉ đêm nào. Ngày 17-3-1969, đoàn xe đơn vị đang chạy thì chiếc đi đầu
bị trúng bom, lái xe bị thương. Nguyễn Quang Hạnh xung phong lái chiếc
xe đó để thông đường. Khi xe chạy, sáu quả bom nổ chung quanh, anh vẫn
chắc tay lái, cả đoàn xe 19 chiếc vượt qua bãi bom an toàn. Ngày
25-11-1972, một chiếc xe chở xăng bốc cháy. Nguyễn Quang Hạnh không quản
nguy hiểm, lái chiếc xe này tiến lên trước, đi vào đường tránh, thu hút
hỏa lực địch rồi chạy bộ trở lại chỉ huy đoàn xe chở người vượt qua
trọng điểm.
Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì, bốn Huân
chương Chiến công hạng ba, ba lần là chiến sĩ quyết thắng, năm lần là
chiến sĩ thi đua, 18 bằng khen. Ngày 31-12-1973, Nguyễn Quang Hạnh được
Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (trang 60-
tập II, sách đã dẫn).
Trong cuộc “hội quân” những điển hình xuất sắc ở Hiền Ninh, Quảng Bình,
tháng 10-1973, đứng ở hàng đầu, Nguyễn Quang Hạnh được Đại tướng, Tổng
Tư lệnh bắt tay. Ông coi đây là một vinh dự lớn trong đời.
Chúng tôi nối mạch câu chuyện “huyền thoại Trường Sơn” sau một tuần trà
tại nơi sinh trưởng người trai xứ đạo anh hùng. Ông Hạnh bùi ngùi nhớ
lại chặng đường qua với những kỷ niệm chưa phai mờ. Đó là trường hợp hy
sinh của đồng chí Nguyễn Minh Châu, chính trị viên phó Tiểu đoàn 59, quê
ở Nam Trực: “Ngày ấy, đầu mùa khô năm 1968, sau một đêm vận chuyển,
trên đường đi ra, trời sáng, đơn vị phải giấu xe che mắt địch. Chiều,
bọn thám báo đã “đánh hơi”, gọi máy bay ném bom. Dứt đợt oanh kích của
địch, ba đồng chí công binh gọi anh Châu, cán bộ chỉ huy cùng đi kiểm
tra hiện trường. Tôi ngăn anh, để tôi đi trước, nhưng anh không chịu.
Đến nơi giấu xe, anh Châu đụng bom bi vướng nổ. Lúc hy sinh, anh chết
đứng, tựa vào cây rừng. Chúng tôi đỡ anh, đặt vào võng, đưa anh về giao
cho bệnh xá Trạm 120, cạnh sân bay Chà Vằn, thuộc Binh trạm 35, Đoàn
559. Ảnh, giấy báo tử, cơ quan chính sách đã gửi về gia đình anh. Nay
chỗ chôn không còn nhớ, mộ mất, gia đình anh mấy lần cất công đi tìm vẫn
chưa thấy… Cũng năm 1969, sau ngày kết nạp Đảng, tôi được tin đứa con
đầu đã bỏ chúng tôi mà đi. Năm 1970, mẹ tôi mất khi tôi đang ở chiến
trường. Sinh thời, mẹ tôi thương quý con cháu biết chừng nào. Hai cụ
sinh hạ bảy anh em, ba trai bốn gái, tôi là trai trưởng, có một em gái
là vợ liệt sĩ”.
Tôi lựa lời hỏi thêm về ông cụ thân sinh. Ông Hạnh tiếp lời: “Ngày tôi
được phong anh hùng, cán bộ xã đến nhà báo tin vui. Ông cụ mừng nhưng
vẫn cứ bình thản như thường. Hôm tôi về, khi cha con bên nhau, cụ bảo
“Anh được bề trên che chở, được quân đội rèn luyện nên người, thế là
được”. Cha tôi còn ở với con cháu đến tuổi chín mươi. Tôi ơn cha mẹ đã
dạy dỗ cho các con tính tình ngay thẳng, độ lượng”. Ông Hạnh còn nhắc cả
chuyện tao ngộ giữa Sài Gòn sau ngày giải phóng với bà dì, ông cậu,
những người “đi B 54”, họ đều làm ăn lương thiện. Gặp họ, ông phải trả
lời nhiều câu hỏi rất thật thà. Khi biết cháu mình là anh hùng lái xe
quân đội, các vị ấy “ngộ” ra nhiều điều thật vui.
Tháng 5-1975, Nguyễn Quang Hạnh được cử đi học văn hóa ở Lạng Sơn. Sau
hai năm học tập, được thăng hàm Trung tá, Nguyễn Quang Hạnh về làm Tham
mưu phó, rồi Tham mưu trưởng Trung đoàn 17, Binh đoàn 12 - đơn vị nhận
lệnh vận chuyển vật tư kỹ thuật xây dựng tuyến đường 279 trên phòng
tuyến biên giới phía bắc, hoàn thành vượt mức khối lượng được giao.
Nguyễn Quang Hạnh được đề bạt làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 17, chỉ
huy đơn vị triển khai đồng thời hai nhiệm vụ: củng cố quốc phòng và phát
triển kinh tế. Rồi ông được cử làm Giám đốc Xí nghiệp cung ứng vật tư
vận tải thuộc Tổng công ty xây dựng Trường Sơn. Lại có thời gian làm chỉ
huy đơn vị bộ đội thi công san lấp mặt bằng xây dựng ở Thủ đô. Quản lý
người, vật tư kỹ thuật với hàng trăm phương tiện vận tải, máy móc chuyên
dụng, Nguyễn Quang Hạnh thể hiện một năng lực điều hành vững vàng, một
phẩm chất liêm chính của người cán bộ quân đội thời mở cửa. Không thu
vén lợi lộc cho cá nhân, gia đình mình, không nhận những thứ không phải
của mình. Ông là người chỉ huy biết chăm lo đến đời sống cán bộ, chiến
sĩ, quan tâm giúp đỡ những gia đình đồng đội gặp khó khăn.
Bà Nguyễn Thị Lụa, vợ ông là một trong những người phụ nữ chuyên cần,
đảm đang ở xứ đạo Nam Đường. Hơn ba mươi năm ông tại ngũ, ở nhà, bà chăm
lo nuôi nấng các con nên người. Ông bà có hai con trai nối nghiệp cha,
người anh sau 17 năm quân ngũ, nay đang cùng vợ con sống ở Hà Nội. Người
em là sĩ quan, đang công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Nam Định. Cô
gái cả cũng có một gia đình yên ấm thuận hòa ở gần nhà bố mẹ. Nhớ lại
những tháng năm Trường Sơn, những đêm thao thức trên cánh võng bên bờ
sông Bạc, lắng nghe tin quê nhà qua sóng phát thanh. Hải Hậu ngày ấy là
“đất đầu sóng” trên phòng tuyến biển tỉnh Nam Định đương đầu với cuộc
chiến tranh phá hoại của máy bay Mỹ. Người người “tay lưới tay súng” ra
khơi vào lộng, “tay cày vai súng” trên đồng ruộng thâm canh. Ông thương
người vợ hiền vất vả tối ngày lại còn lo cả cho người đang ở chiến
trường xa.
Rời quân ngũ ở tuổi 55, Đại tá Nguyễn Quang Hạnh về sinh hoạt ở chi bộ,
nơi ông mang theo giấy giới thiệu cảm tình Đảng thẳng tới chiến trường,
thực hiện lời hứa thiêng liêng một cách trọn vẹn trong ngày trở về. Là
thành viên chi hội Cựu chiến binh, Hội truyền thống Trường Sơn của địa
phương, ông chu đáo mọi việc được tham gia, gương mẫu góp công vào việc
xây dựng nông thôn mới ở quê nhà. Lối sống khiêm nhường, tác phong sinh
hoạt giản dị, chân thành, ông được mọi người ở quê hương quý trọng.
Trong các buổi sinh hoạt của đội Ca đoàn xứ đạo Nam Đường, ông Trùm xứ
đạo thường hay mời Đại tá Nguyễn Quang Hạnh lên giáo đường kể chuyện rèn
luyện phấn đấu, những thử thách ở chiến trường Trường Sơn, phía nam
sông Bạc. Đấy là niềm vinh dự của chiến công với những gian khổ hy sinh,
hun đúc nên phẩm chất “Anh Bộ đội Cụ Hồ” trong tình đồng đội đồng chí
bền chặt, trong mối cảm tình đặc biệt của nhân dân các bộ tộc Lào anh
em. Năm 2015, Đại tá Nguyễn Quang Hạnh được bầu là Chủ tịch Chi hội
Truyền thống Trường Sơn huyện Hải Hậu, một chi hội mạnh trên miền quê
biển anh hùng.
Bút ký của PHẠM TRỌNG THANH
Bộ đội Trường Sơn chế ngự vũ khí thông minh
(PL)- Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn,
cho biết bom từ trường là nỗi ám ảnh của đội hình xe. Loại bom này có
tính năng hoạt động rất khó lường.
Ban đầu, xe đi qua
thấy bom nằm trơ trơ cứ ngỡ là bom nổ chậm nên tranh thủ nhấn ga. Ngay
lập tức, hệ thống bắt từ được kích hoạt và bom phát nổ.
Phá bom từ trường và bom bi
Thiếu tướng Hy kể trong một lần đi kiểm tra trọng
điểm bị đánh phá ác liệt, ông gặp một trái bom nằm ngay trên đường. Xe
phóng từ chạy qua kể kích hoạt nhưng bom vẫn không nổ. Tưởng là bom nổ
chậm, lái xe tranh thủ nhấn ga lao qua vừa vào vị trí bom thì bất ngờ
bom phát nổ. Ông đập đầu vào kính chắn gió bị bất tỉnh. Sau này mới biết
đó là bom từ trường.
Để hóa giải loại vũ khí này, bộ đội công binh không
mang bất cứ dụng cụ kim loại nào trên người, chỉ dùng sức lăn bom xuống
các khe vực, sau đó tháo ngòi nổ.
Thiếu tướng Hy mô tả: “Bom nổ chậm tương đối dễ phá.
Tuy nhiên, ban đầu bộ đội ta lầm tưởng bom từ trường với bom nổ chậm,
chủ quan cho xe chạy qua nên dễ xảy ra thương vong. Bom từ trường phát
từ liên tục đến bắt được hơi kim loại thì tự động mở ngòi nổ. Phải mất
một thời gian, bộ đội Trường Sơn phát hiện ra cách phá bom từ trường một
cách dễ dáng và an toàn”.
Cây nhiệt đới
Một cách phổ biến để phá bom bi là dùng tranh, tre,
nứa, lá làm áo tơi, gọi là áo giáp phá bom bi. Các chiến sĩ đầu đội mũ
rơm, dùng gậy thọc vào các gốc cây, cành cây có bom bi để gây nổ. “Bi có
văng thì găm luôn vào áo, nguời chẳng hề hấn gì. Nói tóm lại, có nhiều
cách khác nhau để phá bom đạn thông minh. Máy bay trên trời thì kệ, mình
dưới đất thì mình làm chủ mặt đất thôi” - Thiếu tướng Hy phân tích.
Trị máy bay AC-130 và cây nhiệt đới
Bộ đội Trường Sơn còn nghiên cứu cách trị máy bay
AC-130 bằng pháo 57 ly và tên lửa vác vai có tầm xạ kích cao trên 3.000
m. Để hạ được AC-130, lực lượng phòng không Trường Sơn chọn các địa hình
đồi núi cao, tập trung kéo pháo lên. Năm 1972, chiến trường Trị Thiên
được trang bị tên lửa phòng không vác vai A-72 cho bộ binh có tầm bắn
khoảng 3.000 m.
Loại tên lửa này phát hiện mục tiêu bằng nhiệt. Nếu
máy bay bay thấp và đón đúng, ta có thể bắn hạ được. Phát hiện ta có vũ
khí đối phó, máy bay địch nâng tầm bay lên cao hơn. Vì vậy, mặt trận Trị
Thiên có sáng kiến đưa pháo lên núi A Sầu có độ cao trên 800 m. Lợi
dụng tuần trăng mờ, bộ binh dùng tên lửa vác vai bắn hạ tại chỗ một
chiếc AC-130 trên Trường Sơn. Tương tự, tại hành lang Lào, Bộ đội Trường
Sơn dùng pháo 57 ly cũng hạ được máy bay AC-130.
Hàng rào điện tử MacNamara từ cảng Cửa Việt lên đến
đường 9 Nam Lào được xem là minh chứng cho kế hoạch chiến tranh điện tử.
Hàng rào được dựng lên bởi những dụng cụ điện tử thu phát tín hiệu. Họ
gọi đó là cây nhiệt đới.
Cách khống chế cây nhiệt đới
Cây nhiệt đới thực chất là thiết bị trinh sát điện
tử, gồm bộ cảm ứng thu các chấn động. Cây nhiệt đới được chế tạo thành
nhiều loại, cho biệt kích đem đi thả hoặc cho máy bay thả bằng dù. Tuổi
thọå của cây nhiệt đới kéo dài khoảng 70 ngày, bên trong gồm bán dẫn,
tụ, kháng được bao bọc bằng lớp nhựa rất cứng và dày; bên ngoài có bốn
cái râu (ăng ten).
Cây nhiệt đới có khả năng phát hiện hơi người và
tiếng động rồi truyền tín hiệu về máy bay. Từ đây, thông tin chuyển trực
tiếp về trung tâm quân sự ở Utapao (Thái Lan) phân tích dữ liệu. Sau
đó, địch điều máy bay tự động xạ kích các mục tiêu đã lập trình.
Để triệt hạ thiết bị này, bộ đội ta áp dụng kinh
nghiệm khá đơn giản là dùng dây cột râu ăng ten thành một chùm để làm
cây nhiệt đới mất tác dụng. Ta còn dùng ngay chính cây nhiệt đới để nghi
binh bằng cách giả vờ cho quân di chuyển, gây tiếng động, chạy máy
nổ...
Chỉ chờ có vậy, máy bay được điều đến để oanh kích.
Bao nhiêu bom đạn của địch cứ nhằm vào vị trí nghi binh, có khi là đèo
dốc mà công binh ta chưa kịp khai phá để tận dụng mở đường.
Đánh địch mà đi
Toàn tuyến 559 hình thành ba lực lượng bảo vệ đường
bao gồm quân chủ lực, quân địa phương và dân quân du kích. “Đánh, phòng
tránh và nghi binh” là phương châm chủ đạo được vận dụng linh hoạt trên
tuyến đường. Trước năm 1965, ta chủ yếu tránh nên tổn thất cũng khá cao,
kéo theo vận chuyển gặp bế tắc.
Để bảo đảm an toàn cho tuyến đường, từ năm 1965, ta
chủ trương đánh địch ở mặt đất để mở rộng địa bàn. Từ đó, Bộ Tư lệnh Bộ
đội Trường Sơn phát động: “Ai cũng đánh, nơi nào cũng đánh, lúc nào cũng
đánh, một người cũng đánh”.
Trên đường ra trận
Việc huy động mọi lực lượng toàn tuyến đánh địch
khắc phục được tình trạng một bộ phận chuyên nghiệp đánh địch. Do vậy,
địch dù cơ động nhanh, vũ khí tối tân nhưng đến đâu cũng bị đánh vì ta
có lực lượng tại chỗ. Chiến thuật này đã hạn chế được máy bay trinh sát
tầm thấp để thực hiện thủ đoạn bốc và đổ quân bằng trực thăng.
Trong chiến đấu chống ngăn chặn trên tuyến đường
Trường Sơn, ta còn tổ chức hai hình thức nghi binh. Theo Đại tá Nguyễn
Linh Anh, nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn,
hai hình thức nghi binh gồm: Một là đánh lừa máy bay địch đến trận địa
phòng không nơi ta đã chuẩn bị sẵn để tiêu diệt. Hai là thu hút địch vào
chỗ không người, không xe, không có cơ sở kho tàng... bằng cách làm
trận giả, cầu giả, xe giả.
Nhờ nghi binh, ta làm hao tổn vũ khí và phân tán lực
lượng địch, buông lỏng các trọng điểm chính, tạo thời cơ cho công binh
nhanh chóng khôi phục cầu đường tranh thủ vượt trọng điểm, thông xe.
Các binh trạm đều có một đại đội, trung đội bộ binh
bảo vệ. Công binh có nhiệm vụ mở đường, đồng thời trực tiếp cầm súng
chiến đấu, báo động khi có máy bay.
Đại tá Linh nhấn mạnh: “Công binh bám trụ, bám trọng
điểm ngày đêm nên họ hiểu rất rõ quy luật đánh phá bằng không quân. Do
vậy, cấp đại đội được trang bị súng 12,7 ly để đánh trả máy bay ở tầm
thấp. Mọi lực lượng có mặt trên đường Trường Sơn đều được trang bị vũ
khí để đánh bộ binh, tiêu diệt biệt kích địch xâm nhập trong mọi tình
huống”.
Trường Sơn - con đường huyền thoại của dân tộc, đến
nay đã tròn 50 năm, khắc họa nên một bức tranh hào sảng, tự tin một thời
kháng chiến.
PHONG ĐIỀN
(Nguyệt san Pháp Luật TP.HCM tháng 12-2009)
Giải mã bí quyết khắc chế 'bóng ma trên dãy Trường Sơn'
Đối phó với AC-130, được ví là "bóng ma trên dãy Trường Sơn", bộ đội
Việt Nam đã áp dùng nhiều biện pháp, từ ngụy trang tới cải tiến vũ khí
khí tài .
Giải mã bí quyết khắc chế 'bóng ma trên dãy Trường Sơn'
Đối phó với AC-130, được ví là
"bóng ma trên dãy Trường Sơn", bộ đội Việt Nam đã áp dùng nhiều biện
pháp, từ ngụy trang tới cải tiến vũ khí khí tài .
Đường Trường Sơn là một mạng lưới
giao thông quân sự chiến lược chạy từ Bắc vào Nam, góp phần chuyển hàng
trăm nghìn bộ đội, hàng triệu tấn hàng hóa, vũ khí, phương tiện kỹ thuật
vào miền Nam chiến đấu chống Mỹ.
Nhận ra tầm quan trọng đường
Trường Sơn đối với cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam, trong những năm
tháng chiến tranh, Đế quốc Mỹ tìm mọi cách ngăn chặn “dòng chảy hàng
hóa, vũ khí” đi qua đó.
Một trong những phương án quân Mỹ
gây cho ta nhiều thiệt hại trong thời gian ngắn, đó là, Không quân Mỹ sử
dụng máy bay AC-130 – biến thể vũ trang của vận tải cơ C-130.
“Bóng ma trên dãy Trường Sơn”
AC-130 là biến thể cường kích hạng
nặng của vận tải cơ C-130 thiết kế để đảm nhiệm vai trò hỗ trợ tấn công
đường không tầm gần (hỗ trợ bộ binh mặt đất, hộ tống) và đánh phá tuyến
đường giao thông.
AC-130 trang bị 4 động cơ tuốc bin cánh
quạt Allison T56-A-15 cho phép đạt tốc độ bay 480km/h, tầm bay hơn
4.000km, trần bay 9.100m. Biến thể AC-130 sau này còn trang bị thêm pháo
105mm.
Về hỏa lực, AC-130 trang bị 2 súng
máy 6 nòng cỡ 7,62mm GAU-2/A (tốc độ bắn 6.000 phát/phút, tầm bắn
1.000m), 2 pháo 6 nòng cỡ 20mm M61 Vulcan (tốc độ bắn 6.000 phát/phút và
2 pháo 40mm L/60. Đây đều là các loại vũ khí có tốc độ bắn rất cao, sức
phá hoại lớn – nhất là đối với xe vận tải không bọc thép.
Với hỏa lực mạnh, lại được màn đêm
bảo vệ, những chiếc AC-130 như “bóng ma” lởn vởn trên dãy Trường Sơn.
Phát hiện xe vận tải của, chúng ngay lập tức trút mưa đạn đủ kích cỡ vào
mục tiêu.
“Rừng che bộ đội”
Với quyết tâm bảo đảm cho nhu cầu
ngày càng lớn chiến trường, trong hai năm 1970-1971, Đoàn 559 huy động
toàn bộ các lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công sử dụng
mọi phương tiện cơ giới, thô sơ để mở mới và nâng cấp 6 đường trục dọc
Tây Trường Sơn cùng hàng trăm kilomet đường ngang, hàng nghìn kilomet
đường vòng tránh qua các trọng điểm bị đánh phá.
Bên cạnh việc thực hiện ngụy
trang, nghi binh, Bộ Quốc phòng chỉ đạo Viện Kỹ thuật Quân sự, Quân
chủng Phòng không – Không quân phối hợp với Đoàn 559 cải tiến vũ khí
đánh trả AC-130.
Đuổi "bóng ma" khỏi Trường Sơn
Để hỗ trợ đơn vị cáo xạ đánh đêm,
Viện Kỹ thuật Quân sự nghiên cứu sản xuất thành công pháo sáng TC-70 chỉ
thị mục tiêu cho pháo cao xạ.
Ngoài ra, Quân chủng còn đưa thêm
pháo cao xạ 37mm bố trí trên các chốt ngay cạnh tuyến đường bảo vệ đoàn
xe. Sau này, lực lượng phòng không ở Trường Sơn bổ sung thêm tên lửa
phòng không SA-2.
Cùng với việc tăng cường hỏa lực
phòng không, Quân chủng đề xuất với Bộ Quốc phòng nghiên cứu trang bị
cho máy bay huấn luyện – chiến đấu L-29 máy ngắm hồng ngoại và tên lửa
đối không K-13 “săn lùng” AC-130.
Với nhiều biện pháp kết hợp ngụy
trang, cải tiến vũ khí, bố trí thêm hỏa lực phòng không tầm thấp tầm
trung, bộ đội ta bắn hạ một số máy bay AC-130. Tháng 12-1971, đơn vị
pháo 37mm bắn hạ một chiếc AC-130; Tháng 6-1972 lần đầu tiên bộ đội ta
sử dụng tên lửa vác vai SA-7 bắn rơi một chiếc AC-130; ngày 29-10-1972,
“rồng lửa Thăng Long” SA-2 bắn rơi tại chỗ AC-130.
Sau những trận đánh này, nỗ lực
dùng AC-130 của Mỹ để đánh phá bị vô hiệu hóa hoàn toàn, “bóng ma” lui
dần hoạt động về phía Nam đường 9. Các đoàn xe vận tải tiếp tục chạy bon
bon cả ngày và đêm, nhanh chóng cung cấp hàng hóa vũ khí đạn dược cho
chiến trường miền Nam.
Theo Đất Việt
Chống các loại hình chiến tranh của Mỹ trên Đường Mòn Hồ Chí Minh
Để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh xâm lăng Việt Nam, Hoa Kỳ
đã sử dụng hầu như tất cả các loại vũ khí hiện đại nhất, tối tân nhất,
với mọi loại hình chiến tranh nhằm cắt đứt tuyến vận tải quân sự chiến
lược 559. Cuộc chiến đấu của bộ đội, thanh niên xung phong và các lực
lượng trên tuyến đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh vì vậy diễn ra hết sức
ác liệt, nhưng cũng rất đỗi hào hùng. Những chiến công kì diệu đó đã
góp phần làm nên huyền thoại của con đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Bài viết đề cập vài nét về sự hình thành đường Trường Sơn – Hồ Chí
Minh huyền thoại, những loại hình chiến tranh Mỹ tiến hành trên tuyến
đường này và những chiến công hào hùng của bộ đội Trường Sơn. 1. Vài nét về sự hình thành và phát triển của đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh
Đường Trường Sơn hay đường 559 ra đời vào đúng ngày sinh nhật Bác
(19/05/1959) là một phức hợp mạng lưới mạng lưới giao thông chiến lược
gồm các trục đường Trường Sơn Đông chạy từ Khe Hó (Quảng Bình) vào tới
Bù Gia Mập (Bình Phước – Đông Nam Bộ); Trường Sơn Tây từ Làng Ho (Vĩnh
Linh) qua Bản Đông xuống Hạ Lào, chạy tới Kratiê vùng Đông Bắc
Campuchia; đường thủy dọc trên sông Kông, MêKông, XêBăngHiên dài 500 km;
đường ống xăng dầu dài 1400 km hình thành từ tháng 06/1968 chạy từ
Quảng Trị đến Lộc Ninh. Đường Hồ Chí Minh trên biển của những con tàu
không số chạy từ miền Bắc qua hải phận quốc tế tới Phú Yên – Bà Rịa –
Vũng Tàu, Bến Tre, Cà Mau sang tận cảng Xihanuoukville. Đường Trường Sơn
hay đường Hồ Chí Minh hay mang phiên hiệu đường 559 chỉ là một. Đó là
con đường cung cấp hậu cần, binh lực, lương thực và vũ khí khí tài để
chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam , con đường giải phóng miền Nam của
cả dân tộc. Người ta gọi là đường Hồ Chí Minh huyền thoại vì nó gắn
với những chiến công kì diệu đã đi vào trái tim và khối óc của người
Việt Nam và bạn bè thế giới. Trong 16 năm tồn tại (1959 – 1975) đường
Trường Sơn – Hồ Chí Minh huyền thoại (dài gần 20.000 km) đã hoàn thành
vẻ vang sứ mệnh lịch sử của mình góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ
đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu quốc và nay đang đóng vai trò to
lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước – theo định hướng
phát triển của Việt Nam đến năm 2020. 2. Những loại hình chiến tranh Mỹ tiến hành nhằm cắt đứt đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh
Ngăn chặn sự chi viện quân sự từ miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam
qua ngả đường mòn Hồ Chí Minh là mục tiêu chiến lược của Mỹ và ngụy
quân Sài Gòn và họ đã đẩy những nỗ lực chiến tranh lên cao nhất để được
mục tiêu trên. Mỹ đã tiến hành nhiều loại chiến tranh khác nhau như
chiến tranh điện tử, chiến tranh hóa học và chiến tranh khí tượng trên
toàn tuyến đường. Lần đầu tiên, Mỹ đã sử dụng nhiều vũ khí tối tân
nhất, tập trung khối lượng lớn bom, mìn thả xuống dọc dãy núi Trường
Sơn. Các loại hình chiến chiến tranh điện tử, chiến tranh hóa học và
chiến tranh khí tượng của giặc đã gây khó khăn và thiệt hại rất lớn cho
Binh đoàn Trường Sơn. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam
thần kỳ với mọi lực lượng và phương tiện đánh giặc mọi nơi, mọi lúc của
bộ đội và nhân dân trên tuyến đường này đã hóa giải, khai thác những
khuyết điểm của vũ khí giặc, hạn chế thấp nhất những thiệt hại của ta,
và làm thất bại hoàn toàn âm mưu ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh của
Mỹ. a. Chiến tranh điện tử
Từ năm 1966, để ngăn chặn các tuyến vận tải quân sự trên Đường mòn
Hồ Chí Minh, Mỹ thiết lập Hàng rào điện tử McNamara, bắt đầu từ Cửa
Việt, Đông Hà (Quảng Trị), dọc Đường 9 đến Sê Pôn (Nam Lào), kết hợp
với chiến thuật dùng máy bay đánh phá đường, cầu, các trọng điểm giao
thông…
Hàng rào điện tử McNamara là tên gọi cho hệ thống các phương tiện
điện tử phát hiện thâm nhập được quân đội Mỹ sử dụng dọc theo khu phi
quân sự ở vĩ tuyến 17 và đường mòn Hồ Chí Minh như một biện pháp trinh
sát mặt đất tự động nhằm phát hiện các hoạt động vận chuyển của quân
đội giải phóng lưu thông qua khu vực này trong thời kỳ chiến tranh Việt
Nam.
Hàng rào điện tử McNamara được quyết định xây dựng từ tháng 6 năm
1966 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert
McNamara, bao gồm hệ thống 17 căn cứ quân sự, kết hợp với hệ thống vật
cản (hàng rào dây thép gai, bãi mìn…), các thiết bị trinh sát điện tử
mặt đất và trên không (ra đa, máy cảm ứng âm thanh, cảm ứng địa chấn…),
được bố trí liên hoàn trong khu vực có chiều rộng 10–20 km, dài khoảng
100 km từ cảng Cửa Việt lên đường 9, tới biên giới Việt Nam – Lào,
sang Mường Phìn (Lào). Trước khi khởi động chương trình này Mc Namara
ước tính sẽ tiêu tốn khoảng 1 tỷ đô – la nhưng thực tế là cần 2 tỷ
đollar để triển khai cho cuộc “chiến tranh điện tử” 3
Loại máy được gọi là “Cây nhiệt đới” (ADSID hay Air Delivered
Seismic Intrusion Detector) thả từ trên máy bay để đầu nhọn có cảm biến
địa chấn cắm vào trong đất. Chỉ cần một tiếng động nhỏ, lập tức máy
thu phát cây nhiệt đới báo tin về đài chỉ huy, để rồi pháo từ hạm đội
7, máy bay trực thăng oanh tặc, thả bom tiêu diệt đối tượng từ địa điểm
vừa phát ra tiếng động. Tuy nhiên, Mỹ mới thực hiện được một đoạn hàng
rào dài chừng 25 km (từ Gio Hải đến xã Hải Thái bây giờ) thì âm mưu
này đã bị thất bại.
Để đối phó và vô hiệu hóa hàng rào điện tử McNamara ta đã sử dụng
rất nhiều biện pháp khác nhau như: nghi binh đánh lừa máy bay Mỹ hoặc
sử dụng các dụng cụ thám báo Arthur Dommen, như phóng viên báo Los
Angeles Times nhận xét: “Bắc Việt dùng mồi giả, đồng thời họ đặt ở đó
tên lửa phòng không dày đặc, thế là hàng loạt máy bay sa vào bẫy”.
Gậy ông đập lưng ông: với những phương tiện đơn giản lạ đạt nhiều
kết quả như kể trên, các chiến sĩ Đoàn 559 còn đi xa hơn nữa: dùng
thiết bị Mỹ để đánh Mỹ. Cũng theo phương pháp trên, những chiếc
cassette được đặt bí mật vào sát các khu căn cứ của Mỹ. Và thật bất
ngờ, Không quân Mỹ giội bom vào căn cứ Mỹ. Việc này làm cho Bộ Chỉ huy
Mỹ kinh hoàng, bối rối. Nhiều giả thiết được đặt ra. Mà theo logic rất
Mỹ thì cái giả thiết được lưu ý nhất là: Tình báo Bắc Việt Nam đã có
cách gì đó lọt được vào hệ thống mạng chỉ huy tối mật của quân đội Mỹ
chăng?
Cuốn Lịch sử Cơ quan Tình báo tín hiệu Mỹ SIGINT (American Signals
Intelligence) trong chiến tranh Việt Nam viết: “Cơ quan An ninh Quốc
gia vừa mới công bố những tài liệu cho thấy rằng trong thời kỳ chiến
tranh Việt Nam, có một số lần những đơn vị tình báo của Bắc Việt Nam đã
thành công trong việc thâm nhập các hệ thống thông tin của Liên quân,
và từ phía bên trong hệ thống này họ đã kiểm soát được kênh chuyển tin.
Nhưng đôi khi họ còn làm được nhiều hơn thế.
Tình báo Mỹ hồ nghi rằng “đã có một vài lần những người cộng sản,
bằng cách thông tin qua các mạng lưới sóng radio của quân Mỹ, đã có thể
kêu gọi pháo binh và không quân của Liên quân tấn công vào những đơn
vị của Hoa Kỳ.” Chuyện này vẫn đang làm cho dư luận Mỹ sửng sốt. Steven
Aftergood, Giám đốc Cơ quan Khoa học Liên bang Mỹ FAS (Federation of
American Scientists), nói với hãng tin AFP rằng:“Đó là điều mà tôi chưa
bao giờ được nghe tới từ trước đến nay.” b. Chiến tranh hóa học
Máy bay Mỹ đang rải chất độc diệt rừng xuống Việt Nam trong Chiến
dịch Ranch Hand. Chiến dịch Ranch Hand là mật danh chỉ hoạt động phun
hoá chất khai quang của không quân Mỹ xuống Việt Nam từ năm 1962 đến
1971. Hợp chất có chứa độc tố kinh khủng nhất mà con người biết đến là
dioxin này đã gây ra những hậu quả dai dẳng đối với con người và môi
trường ở Việt Nam .
Ngày 30/11/1961, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã thông qua trên
nguyên tắc việc sử dụng chất diệt rừng tại chiến trường Việt Nam . Biệt
đội thực hiện Chiến dịch Ranch Hand được thành lập với 6 máy bay. Giai
đoạn đỉnh cao của chiến dịch này vào năm 1969, biệt đội có tới 25 máy
bay đặc chủng các loại. Cơ cấu tổ chức của biệt đội thay đổi theo thời
gian. Trong giai đoạn cao điểm nhất của hoạt động rải chất diệt rừng và
phá hoại môi sinh từ 1966-1970 nó được biết đến với tên gọi Phi Đội
Biệt Kích đường không số 12 (12th Air Commando Squadron) hay Phi đội
chiến dịch đặc biệt số 12 (12th Special Operations Squadron). Về mặt
nhân sự và phương tiện, Ranch Hand là một phần trong toàn bộ các chiến
dịch của không quân Mỹ ở vùng Đông Nam Á.
Mục tiêu của Mỹ là khai quang làm băng hoại những cánh rừng già dọc
dãy Trường Sơn dùng bom dạn và hỏa lực chặn đứng tiếp vận và hành quân
tiếp viện của bộ đội ta trên đường mòn Hồ Chí Minh. Lớp áo khoác ngụy
trang của tự nhiên đã bị Mỹ rải chất độc tiêu diệt đã gây ra không ít
khó khăn cho những cuộc vận chuyển vũ khí quân ta. Tạo điều kiện cho
máy bay địch oanh tạc, không kích. Bộ đội ta đã phải chuyển sự vận tải
từ ngày sang đêm, đồng thời kết hợp mưu trí đánh lừa không quân địch.
không quân Mỹ biết rất rõ có những đoàn xe lớn chỉ di chuyển vào ban
đêm nên tập trung lực lượng đánh phá vào ban đêm. Ban ngày phi công
ngủ. Tương kế tựu kế, Đoàn 559 chọn những khu rừng chưa bị trụi lá kết
các cành lá lại thành những tuyến đường “ngầm”, không phải ngầm trong
lòng đất mà ngầm dưới tán lá rừng (bí danh là Đường K).
Cho đến mùa khô 1971-1972, độ dài của những con đường ngầm này ở
phía Tây Trường Sơn lên tới 778 km. Trên những tuyến đường này, lợi
dụng lúc các phi công Mỹ ngủ ngày, xe có thể chạy suốt ban ngày và lại
nghỉ ban đêm… Trong suốt mùa khô 1971-1972, có tới 71% số xe tải phục
vụ cho cuộc tiến công lớn 1972 là đi theo hệ thống Đường K này 11. Đó
hẳn là điều mà có lẽ Bộ Tư lệnh Không quân của Mỹ không ngờ tới. c. Chiến tranh khí tượng
Vẫn chưa hài lòng với 2 loại hình chiến tranh “điện tử và hóa học”,
Mỹ còn tiến hành thêm một loại hình chiến tranh mới gọi là “chiến tranh
khí tượng”. Đây là một loại hình chiến tranh mà Mỹ đã sử dụng những
công nghệ tiên tiến nhất cùng những thiết bị hiện đại nhất với mục đích
làm đảo lộn, phá hủy môi trường gây lụt lội, tắc ách ở trên toàn tuyến
đường. Loại chiến tranh khí tượng của Mỹ được che đậy dưới từ ngữ
huyễn hoặc, thơ mộng “người đồng bào trung gian” (Intermediary
compatriot), chương trình mở mắt (pop eye), công trình sông Nill xanh (
Blue Nile )…
Mùa mưa hàng năm làm ảnh hưởng tới các hoạt động vận tải của đường
Trường Sơn và cũng gây khó khăn cho các chiến dịch ném bom. Ngoài ra,
sương mù buổi sớm và khói do tập tục đốt rẫy của dân cư thiểu số cũng
làm sai lạc việc ném bom của không quân Mỹ. Trong năm 1968, Không quân
Mỹ thực hiện hai thí nghiệm với hy vọng làm trầm trọng hơn nữa kiểu
thời tiết xấu của mùa mưa. Dự án Popeye là một cố gắng nhằm kéo dài vô
hạn mùa mưa trên đường Trường Sơn bằng cách tạo mây. Dự án bắt đầu thử
nghiệm vào tháng 9 trên vùng lưu vực sông Kong – con sông chảy qua địa
bàn của các chiến dịch Steel Tiger và Tiger Hound. Mây được tạo trong
không trung bằng các đám khói bạc iodide và sau đó được kích hoạt bằng
một mồi nổ bắn ra từ súng bắn pháo sáng. Dự án thử nghiệm thành công và
chương trình đã được thực hiện cho đến tháng 7 năm 1972 6. Dự án được
bắt đầu thử nghiệm vào tháng 5. Các nhà khoa học ở công ty Dow Chemical
đã chế tạo một dung dịch hóa học mà khi trộn với nước mưa sẽ phá hủy
tính ổn định của các thành phần của đất và tạo ra bùn. Các nhà quân sự
Mỹ rất kỳ vọng vào chương trình Commando Lava7 nhưng thực ra nó đã thất
bại ngay khi thử nghiệm và sau đó bị xếp xó.
Trong những năm chiến tranh (1965-1973), các lực lượng Đoàn 559
không hề biết Mỹ đã tăng sức phá hủy của lũ lụt ở Trường Sơn. Mãi đến
1974, khi được những thông tin kỹ thuật nói rõ, tờ Navy Times
(5/6/1974), tiết lộ từ năm 1967 đến 1972, Không quân Hoa Kỳ đã tiến
hành 2.062 phi vụ làm mưa nhân tạo trên đường mòn Trường Sơn, tiêu tốn
21,6 triệu USD… Tuy gây được sức cản nặng nề cho kế hoạch tiếp tế của
Hà Nội, song vẫn không có tín hiệu ngăn chặn được họ (!).Ở những đoạn
đi men những vách núi hiểm trở mà bị bom đánh phá đứt đường, không có
mìn để phá núi làm đường thì công binh và thanh niên xung phong đã dùng
gỗ, dùng cây để bắc tạm những chiếc cầu nhỏ, chỉ có một hàng ván cho
một bên bánh xe. Còn bánh xe bên kia thì tì vào vách núi mà đi! Những
chiếc cầu “khỉ” vắt vẻo trên vách đá như thế là cực kỳ nguy hiểm. Để
giảm trọng tải của xe, nhiều khi phải bốc dỡ hàng xuống, cho những xe
lần lượt đi qua rồi lại bốc hàng lên.
Vượt qua những cầu khỉ vào ban đêm, ngoài sự nguy hiểm về sức chịu
đựng của ván gỗ và cọc gỗ, còn có vấn đề: Không có cọc tiêu dẫn đường.
Chỉ trệch một vài centimet là xe có thể lao xuống vực. Máy bay lượn
trên đầu, không được có một chút ánh sáng nào. Cọc tiêu thì không có,
vì đường còn chưa làm nổi thì lấy đâu ra cọc tiêu để cắm! Những chiến
sĩ thanh niên xung phong trên tuyến đường 559 đã khoác nylon trắng
(lấy từ đèn dù do C130 thả) đứng ven những tấm ván để làm cọc tiêu. Ban
đêm, nhìn thấy những vệt trắng lờ mờ thì lái xe biết rằng đó là giới
hạn giữa cái sống và cái chết, giữa thoát hiểm và lao xuống vực. Từ đó
đã xuất hiện một danh từ chưa từng có trong lịch sử giao thông thế giới
là “cọc tiêu sống”.
Điều kiện khí hậu khắc nghiệt cộng với sự phá hoại điên cuồng của Mỹ
đã làm đường mòn Hồ Chí Minh càng trở nên hiểm trở. Chính vì thế ở đây
đã cho ra đời một luật lệ giao thông “độc nhất vô nhị” trên thế giới.
Riêng xe tải trên đường Trường Sơn có luật riêng, xe lúc thì đi bên
trái, lúc thì đi bên phải, tránh nhau rất lạ. Vì trên những dốc của
Trường Sơn, đường vừa hẹp, vừa dễ sụt lở nên “luật” là ưu tiên cho xe
đi vào, vì xe đi vào chở nặng, xe đi ra chở nhẹ. Theo luật này bất cứ
xe nào từ Bắc vào đều được ưu tiên đi sát bên vách núi. Những xe đi ra
phải tránh ra phía mép đường, bất kể là bên trái hay bên phải.
Người ta không thể nào kể hết những biện pháp đầy mưu trí và sáng
tạo của quân và dân trên đường Trường Sơn, rõ ràng đây không chỉ là sự
đọ sức, đọ kỹ thuật, đọ tiền bạc, mà còn là sự đấu trí. Trong cuộc đọ
sức đó, cuối cùng Việt Nam đã chiến thắng sức mạnh quân sự bạo tàn của
Mỹ, một ký giả Mỹ đã viết: “Người
Việt Nam đã cho thế giới thấy có một khoảng cách ghê gớm giữa khoa học
kỹ thuật với sức mạnh thuần túy của con người. Hãy tưởng tượng xem,
nếu người Việt Nam bị đánh bại thì thế giới sẽ ra sao? Chúng ta sẽ
chẳng còn biết làm gì nữa ngoài việc quỳ gối trước những thần tượng của
kỹ thuật”. 3. Kết luận
Từ 1964 bộ chỉ huy Mỹ đã đặt vấn đề cắt đứt liên lạc Bắc Nam thành
mục tiêu chiến lược hàng đầu. Nhưng rồi Taylor, tổng tham mưu trưởng
đành kết luận: “Chúng ta đánh
giá thấp quyết tâm hy sinh của người Việt Nam. Tất cả cố gắng của chúng
ta nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh đều vô ích”.
Đối mặt với nhiều loại chiến tranh, vũ khí kỹ thuật Mỹ cùng nhiều
khó khăn gian khổ, nhưng đường Trường Sơn vẫn đứng vững nhờ vào ý chí
tuyệt vời của Đoàn 559 của nhân dân và những chiến sĩ vận tải anh hùng.
Bằng sự sáng tạo, “bền tâm vững chí” mà trên hết là tình yêu nước, các
lớp cha anh đã chiến đấu hi sinh duy trì con đường huyết mạch này trực
tiếp mang lại chiến thắng quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước, và chính thức kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ. “Gặp em trên cao lộng gió, rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ. Em đứng, đứng ở bên đường, như quê hương vai áo bạc, quàng súng trường. Đoàn
quân vẫn đi vội vã bởi Trường Sơn nhoà trong thời lửa. Chào em, em gái
tiền phương, ơi em gái tiền phương, hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn. Chào em,
em gái tiền phương, ơi em gái tiền phương, hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.”
Lê Dũng
Việt Nam khiến Mỹ phá sản chiến tranh thời tiết và hóa học
VietTimes -- Đã có một cuộc chiến bắt đầu ngay sau Hiệp định Geneva năm 1954 với việc chia Việt Nam
thành hai miền đất nước. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết tâm thống nhất đất nước bằng phong trào
đấu tranh vũ trang và chiến tranh giải phóng ở miền Nam Việt Nam.
Trịnh Thái Bằng - /
Máy bay vận tải đa nhiệm C-130 của Không quân Mỹ trên đường Trường Sơn
Để chi viện cho cuộc chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước ở Miền Nam Việt Nam, quân và dân miền Bắc Việt Nam
tổ chức và xây dựng một mạng lưới khổng lồ các tuyến đường xâm nhập vào
Miền Nam Việt Nam từ đất liền và trên biển. Hệ thống đường tiếp vận này
có tên là Đường mòn Hồ Chí Minh.
Các tuyến đường bộ mang tên Hồ Chí Minh, mở rộng và kéo dài đến hàng
trăm dặm, xuyên qua rừng Trường Sơn, tiến sâu vào các khu rừng bạt ngàn
của các nước láng giềng Lào và Campuchia. Ở một số vùng, các tuyến đường
mòn đã được xây dựng trở thành những con đường mà các xe vận tải của
Liên Xô và Trung Quốc có thể cơ động được dưới những tán lá rừng.
Tuyến đường mòn Hồ Chí Minh vào Tây Nguyên
Mỗi ngày trên suốt tuyến đường vận tải chiến
lược này, hàng trăm tấn trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ chiến
tranh được vận chuyển về phía nam. Đối với Lầu Năm Góc, ngăn chặn dòng
chảy cung cấp cơ sở vật chất, binh lực cho chiến trường Miền Nam Việt
Nam trở thành mục tiêu chiến lược, để có thể đánh bại phong trào đấu
tranh và cuộc chiến tranh du kích chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Trên cơ sở Lào đóng vai trò quốc gia trung lập, Mỹ dốc toàn lực vào
các cuộc không kích trên các tuyến đường vận tải mà lực lượng do thám
phát hiện được. Nhưng phát hiện được các xe vận tải dưới tán cây rừng
nhiệt đới thực sự rất khó, còn về đêm thì hoàn toàn không thể.
Sau các cuộc bắn phá mò mẫm thường được coi là bằng chứng để suy
đoán là ít nhất đã đánh trúng một cái gì đó, người Mỹ nhận ra thực tế là
các cuộc không kích nhắm mục tiêu chống lại các xe đạp thồ hoặc người
mang vác trong cùng điều kiện rừng già nhiệt đới về cơ bản là không hề
có hiệu quả đáng kể.
Các loại chướng ngại vật khác nhau, cây nhiệt đới với cảm biến âm
thanh, địa chấn, mìn vướng đè nổ thu nhỏ, mìn lá tự hủy diệt là một phần
trong vô số những ý tưởng được thử nghiệm để ngăn chặn các tuyến đường
vận tài. Nhiều ý tưởng kỳ lạ khác cũng đươc đề xuất, nhưng không vượt
qua được giai đoạn phát triển.
Nhưng ý tưởng chướng ngại vật tự nhiên như: bùn nhão, bùn lỏng lại là một một sự lựa chọn được Lầu Năm Góc quan tâm đặc biệt. Quân đội Mỹ
hoàn toàn không còn xa lạ với những ảnh hưởng và khó khăn mà mưa có thể
gây ra cho công tác hậu cần. Bùn là một trong những vấn đề khó khăn mà
hệ thống vận tải nổi tiếng của lực lượng đồng minh Red ball Express đã
phải tranh đấu, nhằm làm cho các xe đoàn xe vận tải tăng tốc độ vận
chuyển trên khắp châu Âu trong Đại chiến Thế giới thứ II.
Trong bộ phim đầy kịch tính năm 1952 về chủ đề này mang tên “The Red
ball Express”, người kể chuyện đã mô tả bùn sau tám ngày mưa là bao gồm
"hai phần keo và một phần hỏng hóc."
Chính vấn đề sự hư hỏng trở thành cơ sở căn bản để Lầu Năm Góc bắt
đầu triển khai dự án Popeye năm 1966 - một chiến dịch đặc biệt nhằm kéo
dài mùa mưa trên vùng rừng núi khu vực Đông Nam Á.
Trong giai đoạn giữa năm 1966 và 1972, máy bay tác chiến thời tiết
WC-130 (Tác chiến thời tiết đường không - Air Weather Service) bay xung
quanh không phận nước Lào, rắc rải băng khô (CO2 ở dạng rắn) đã bị
nghiền thành bột với hy vọng tạo ra lượng mưa lớn, kéo dài gây nên lụt
lội, mưa nặng hạt dài ngày dọc theo các tuyến đường mòn vận tải. Và gây
hiện tượng ngập bùn và sạt lở, lũ lụt cả trên các vùng nông nghiệp ở
Miền Bắc Việt Nam.
Máy bay vận tải đa năng C-130 trên bầu trời Trường Sơn
Máy bay AC-130 Gunship hoạt động đánh phá trên đường Trường Sơn
Nhưng ngay từ bước đầu tiên chương trình Dự án Popeye đã không có kết
quả đáng kể. Không có bằng chứng thuyết phục để chứng minh rằng, triển
khai chương trình Dự án Popeye đã làm thay đổi đáng kể lượng mưa hàng
năm hoặc làm gia tăng thời gian mùa mưa. Chương trình ngốn nhiều triệu
đô la, khi cộng đồng biết được nội dung của dự án bí mật này, dự án đã
trở thành mục tiêu chỉ trích của Quốc hội và công chúng Mỹ.
Ngoài ra để dự án Popeye, Không quân Mỹ khởi động chiến dịch Commando
Lava – Biệt kích Dung nham năm 1967- một hoạt động đặc biệt dưới mật
danh đầy màu sắc để hình thanh bùn lầy nhân tạo dọc theo các tuyến đường
mòn.
Thay vì thay đổi thời tiết, chiến dich Commando Lava tiến hành các
hoạt động phát tán đường không một hợp chất hóa học bao gồm các chất
trisodium axit và natri nitrilotriacetic triphosphate , hợp chất này
được gọi một cách đơn giản và không chính xác là "xà phòng" hay "chất
tẩy" Mặc dù các thành phần chính của hỗn hợp này thường được tìm thấy
trong chất tẩy rửa và làm sạch sản phẩm, chức năng chính của hợp chất là
làm mềm nước cứng.
Tập đoàn hóa chất Dow Chemical Corporation đã sản xuất ra hợp chất
này theo đơn đặt hàng của Lầu Năm Góc, bằng cách rắc, phun liên tục
nhiều lần hỗn hợp này từ trên không, các chiến lược gia quân sự Mỹ hy
vọng hợp chất này sẽ thấm vào địa hình, trong thời gian nhất định nào đó
sẽ biến các tuyến đường đất thành một sông bùn không thể vượt qua. Đi
kèm theo chiến dịch này là một khẩu hiệu không chính thức: "Hãy rải bùn,
không chiến tranh".
Chương trình được thực hiện trong điều kiện bí mật tuyệt đối. Các tài
liệu giải mật để nghiên cứu tham khảo chiến dịch như một cuộc "diễn
tập" đặc biệt cảnh báo cấm không đề cập đến hợp chất gây mất ổn định địa
chất này như một chất hóa học.
Các quan chức Bộ quốc phòng lo ngại sự mất an ninh và bảo mật, công
chúng hoặc truyền thông sẽ tố cáo chiến dịch như một cuộc chiến tranh
hóa học, nhân viên được hướng dẫn để mô tả hỗn hợp như một "hợp chất
thông thường, một giải pháp, hoặc một loại vật chất."
Tháng 5.1967, một chiếc vận tải C-130 và đội bay từ Không đoàn vận
tải quân sự số 374 Troop Carrier Wing của Không quân Mỹ tiến hành thả
các hợp chất đầu tiên trên vùng rừng nhiệt đới Lào. Hoạt động đặc biệt
này bao gồm chất lên khoang chở hàng máy bay nhưng tấm kê hàng chất đầy
các bao giấy đựng hợp chất, khi máy bay bay đến khu vực mục tiêu, các
tấm kê hàng sẽ được đẩy về phía cửa sau của máy bay và hắt các bao giấy
xuống từ trên không. Các bao giấy được tính toán để sẽ bục ra vào mùa
thu hoặc vỡ tung khi chạm đất.
Kết quả chính xác thu được sau lần thử nghiệm rải chất gây bùn lầy
này hoàn toàn không rõ ràng, nhưng lực lượng Không quân Mỹ vẫn tiếp tục
thực hiện dự án.
Tháng 7.1967, Chiến dịch Commando Lava II được tiến hành trên các khu
vực mục tiêu ở Lào và Miền Nam Việt Nam. Kết quả của những lần rắc rải
hợp chất gây bùn cũng tương tự như vậy, không thể kết luận chính xác
hiệu quả của hợp chất tạo bùn.
Từ các bức không ảnh và video quay chụp được trên địa hình rất khó
xác định hiệu quả của chương trình tương tự như việc đánh giá hiệu quả
vụ ném bom bằng cách tiến hành trinh sát đường không sau một cuộc không
kích.
Mặt đường mòn trên các bức không ảnh cho thấy rất mềm và lầy lội,
nhưng không có dấu hiệu cho thấy sự suy giảm mật độ giao thông trên các
tuyến đường. Có một số ý kiến cho rằng lực lượng công binh và thanh niên
xung phong Miền Bắc Việt Nam đã sử dụng sỏi hay đá hộc hoặc những vật
liệu khác rải vào những khu vực bùn lầy làm cứng mặt đất, hoặc mưa nhiều
dọc theo đồi núi có thể đã rửa sạch các hợp chất hóa học.
Xe ô tô vận tải vượt ngầm
Đẩy xe khi bị xa lầy
Một đơn vị nữ thanh niên xung phong đoàn 515 chống lầy
Chuẩn bị sửa chữa đường lầy lội
Trên thực tế, chiến dịch gây mưa lớn và kéo dài trên diện rộng cũng
như gây bùn lầy trên những tuyến đường mòn Hồ Chí Minh khiến các hoạt
động vận tải gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng lực lượng công binh đoàn 559
cùng các đơn vị thanh niên xung phong đã sớm quen với những điều kiện
khắc nghiệt của núi rừng Trường Sơn và những âm mưu, thủ đoạn đánh phá
của không quân Mỹ.
Mưa dài ngày, sạt lở, lầy lội, lũ lụt từ thượng nguồn chỉ là một phần
nhỏ trong muôn ngàn gian lao mà lực lượng công binh mở đường Trường Sơn
gặp phải. Bằng trí thông minh và lòng dũng cảm, những tuyến đường
Trường Sơn vẫn đảm bảo thông suốt và những chuyến hàng vẫn dồn dập chạy
về chiến trường Miền Nam.
Những nhận định không chắc chắn về kết quả đạt được song hành với sự
không chắc chắn về độ tin cậy vào hiệu quả của chương trình. Không quân
hoàn toàn không có một con số thống kê cụ thể nào để đánh giá hiệu quả
của chiến dịch. Từ cấp trên, mệnh lệnh đưa đưa xuống yêu cầu quan sát kỹ
lưỡng và đánh giá kết quả của chiến dịch Commando Lava II, từ đó có một
bản báo cáo chi tiết để quyết định số phận của chương trình.
Tháng 12 1967, một đại diện của Không lực 7 đã viết báo báo cáo cho
tư lệnh trưởng lực lượng không quân Thái Bình Dương Mỹ: "Commando Lava
đã bị chôn vùi" nội dung thông điệp khẳng định. Nhưng trong thông điệp
cũng nhấn mạnh "Chúng tôi (Không lực 7) không thể xác định cấp độ của
khái niệm một vấn đề đã được chôn vùi". Điều được hỏi này có nghĩa là:
chương trình đã bị đóng lại hay chương trình đã bị chôn vùi hoàn toàn –
tiêu hủy hoàn toàn không dấu vết.
Dự án chiến dịch Commando Lava cuối cùng đã bị chôn vùi vĩnh viễn.
Đến ngày nay, những thông tin chi tiết về hoạt động này còn ít hơn cả
một chú thích trong toàn bộ lịch sử những hoạt động của không quân Mỹ
trong cuộc chiến tranh đường không chống lại các hoạt động tiếp vận từ miền Bắc Việt Nam vào chiến trường Miền Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng.
Rất khó để tưởng tượng một chương trình “thiếu suy nghĩ” như vậy sẽ
được thực hiện một lần nữa. Nhưng ở bất cứ nơi nào, khi con người tiến
hành một cuộc chiến tranh, cuộc chiến đó sẽ là bùn lầy và bẩn thỉu. TTB
Hé lộ bí quyết đầy tế nhị của bộ đội Trường Sơn dùng để đánh lừa máy bay Mỹ
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ,
đường mòn Hồ Chí Minh "xuyên dãy Trường Sơn" là mục tiêu hàng đầu bị
máy bay Mỹ ném bom nhằm cắt đứt khả năng chi viện cho miền Nam. Để đánh
lừa những thiết bị cảm biến hiện đại hàng đầu thế giới được Mỹ sử dụng
trong chiến tranh, bộ đội Việt Nam đã sử dụng nhiều phương thức rất độc
đáo.
Thứ Năm, 27/10/2016 - 11:25
Bộ đội công binh mở đường Trường Sơn năm 1973. (Ảnh: Báo Đắk Lắk).
Những "bí kíp" bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh của bộ đội Việt Nam, theo lời kể từ một nhà báo Mỹ
Don Luce là một trong số ít những nhà báo Mỹ được Việt Nam mời ra miền
Bắc khi đó. Nhờ vậy, ông có cơ hội được chứng kiến tận mắt cảnh giao
liên, vận tải trên đường mòn Hồ Chí Minh. Ở chuyến đi này, ông đã vào
sâu đến địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Nhớ về chuyến đi dọc đường mòn Hồ Chí Minh, Don Luce chia sẻ nó mang lại
cho ông một cảm giác "rất thú vị". Một trong những điều khiến ông bất
ngờ đầu tiên, là khi xe Jeep chở đoàn khách băng qua một con sông.
"Con sông cắt ngang đường đi, và không có chiếc cầu nào ở đó. Nhưng
chiếc xe thì không cho thấy nó sẽ dừng lại, mà cứ đi thẳng, tiến tới
phía dòng sông. Tôi phải bảo người lái xe là anh phải dừng lại đi chứ,
phía trước có sông kìa.
Nhưng chiếc xe sau đó vẫn cứ tiếp tục đi, đi xuyên trên mặt sông. Thì ra
khi đó người ta đã xây một cây cầu ngầm, giấu đầu cầu ở hai bên bờ.
Bằng cách đó, khi máy bay bay trên trời tìm mục tiêu ném bom, nó sẽ
không thể tìm ra cây cầu.
Bởi cây cầu khi đó nằm dưới mặt nước. Ánh sáng chiếu từ trên trời xuống
sẽ bị mặt nước phản chiếu lại, qua đó che giấu được cây cầu. Và thế là
chúng tôi cứ thế đi trên mặt sông", Don kể.
Ở một đoạn đường khác, khi đi qua, Don quan sát thấy bộ đội Việt Nam làm
một con đường xuyên giữa hai hàng cây đã nhiều năm. Họ lấy dây túm lại 2
bên hàng cây rồi buộc lại thật chặt với nhau.
Số cây này trở thành "lá chắn tự nhiên" cho con đường. Nếu máy bay Mỹ có
ném bom xuống, bom sẽ rơi vào cây và trượt sang 2 bên rồi mới phát nổ.
Nhờ đó, phần đường bị phá hủy do bom nổ sẽ được bảo vệ, hạn chế tối đa
thiệt hại.
"Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".
Tuy nhiên, điều làm Don Luce ấn tượng nhất chính là bí quyết được bộ đội
Việt Nam sử dụng để đánh lừa những thiết bị cảm biến hiện đại của quân
đội Mỹ. Trong chiến tranh, Mỹ rải xuống rất nhiều thiết bị cảm biến điện
tử dùng để dò ra "hơi người", nhằm xác định mục tiêu ném bom.
Cơ chế hoạt động của thiết bị điện tử "dò tìm hơi người" là nhận biết
khí amoniac (nitơ hyđrat - NH3, có trong nước tiểu của người và động
vật). Một khi phát hiện ra có khí amoniac, thiết bị này sẽ gửi tín hiệu
về trung tâm để máy bay định vị được mục tiêu cần ném bom.
Theo logic thông thường, để vô hiệu hóa thiết bị này thì cần phải phá
hủy nó. Nhưng bộ đội và người dân Việt Nam khi ấy còn nghĩ ra được một
cách độc đáo, "tế nhị" hơn để đánh lừa các thiết bị của Mỹ.
"Khi tôi kể về thiết bị cảm biến ấy, bộ đội và người dân cười lớn. Họ
nói họ chỉ cần tiểu tiện lên thiết bị đó, sau đó chạy một mạch về hang
trú ẩn, ngồi trong hang quan sát máy bay ném bom trúng khu vực họ vừa
tiểu tiện", Don Luce kể.
Luôn xác định là sẽ hy sinh
Cựu chiến binh Nguyễn Viết Hồng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân,
là một trong những người từng tham gia phá bom mìn trên đường mòn Hồ Chí
Minh. Ông kể lại về cách phá bom từ trường, một loại bom hiện đại được
Mỹ ném xuống khi đó:
"Thời đó chưa có thiết bị chuyên dụng để phá bom từ trường, nên chúng
tôi chỉ có thể mang thân mình vào trực tiếp phá bom thôi. Phá trực tiếp
rất nguy hiểm, chỉ cần sơ suất một chút là mất mạng. Vì bom từ trường sẽ
phát nổ ngay khi người lại gần có mang bất kỳ một mảnh sắt nào.
Nếu vào phá một quả bom từ trường hay bom nổ chậm, bên ngoài còn rất
nhiều loại bom mìn khác. Chúng tôi phải chọn cách phá từ ngoài vào dần
bên trong. Sau này chúng tôi nghĩ ra sáng kiến đội mũ, mặc áo làm bằng
rơm bọc đồng. Giống như mũ và áo giáp vậy, cách đó giúp hạn chế thương
tổn khi bị mảnh bom văng ra chạm phải.
Thời đó chiến tranh ác liệt, gian khổ, hy sinh không thể kể hết. Nhưng
chúng tôi vẫn nghĩ là thời đó bộ đội công binh, lái xe, pháo binh, bộ
binh,... đều giữ ý chí, quyết tâm rất cao".
Đại tá Lê Kim Thơ thì hồi tưởng lại: "Tôi luôn xác định khi ở chiến
trường, ở các trọng điểm như thế thì mình sẽ chết, sẽ hy sinh. Từng
ngày, từng giờ, từng phút bom đạn nổ liên tục. Không có giờ phút nào
vắng tiếng bom đạn. Đủ các loại máy bay tập trung tấn công".
"Lúc đó tôi luôn xác định mình sẽ hy sinh, dù sớm hay muộn thôi. Nhưng
may là tôi còn sống. Đồng đội, chiến sĩ bên cạnh tôi hy sinh rất nhiều.
Bom đạn hy sinh như vậy nhưng anh em vẫn ra ngoài khắc phục mặt đường.
Dù có bom đạn vẫn cứ làm", ông chia sẻ.
Những người lính Việt Nam khi đó bất chấp gian khổ, mạng sống, theo lời
Đại tá Lê Kim Thơ, tất cả nhằm quyết tâm giải phóng miền Nam ruột thịt.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét