CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 56/d (Hai vĩ tuyến)

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Cô Lái Đò Bến Hạ

 
Hồ sơ DMZ - Phần 4

Vĩ tuyến 17 – Giới tuyến quân sự tạm thời.

Thứ ba - 12/04/2016 14:43
Vĩ tuyến 17 cũng như các vĩ tuyến khác, là đường tròn tưởng tượng trên bề mặt trái đất, có mặt phẳng song song với xích đạo. Nhưng tại sao lịch sử lại chọn vĩ tuyến 17 làm giới tuyến mà không chọn nơi khác? Câu hỏi được đặt ra và chỉ có câu trả lời sau những ngày đàm phán không khoan nhượng của cả hai bên Việt Nam và Thực dân Pháp.

Toàn cảnh Hiền Lương năm 1955 ( Ảnh tư liệu)
Toàn cảnh Hiền Lương năm 1955 ( Ảnh tư liệu)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, thế và lực của ta mạnh hẳn buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán và hội nghị Giơ – ne - vơ được mở ra.
Trong thời gian từ ngày 26/6/1954 đến ngày 20/7/1954 hai phái đoàn Việt Nam và Pháp bàn tới bàn lui nhiều vấn đề cụ thể. Song gay cấn nhất, phức tạp nhất vẫn là định ra giới tuyến quân sự tạm thời cho hai miền Nam – Bắc Việt Nam.
Ngày 26 tháng 6, trưởng đoàn đại diện quân sự Pháp trao cho trưởng đoàn Việt Nam ông Tạ Quang Bửu với đề nghị như sau:
1. Quân đội liên hiệp Pháp sẽ rút khỏi đồng bằng Bắc bộ, tập kết ở phía Nam vĩ tuyến chạy qua Cổng Trời (Đèo Ngang).
2. Quân đội Việt Minh tập kết ở phía Bắc vĩ tuyến chạy qua Cổng Trời.
Ngày 28 tháng 6, ông Tạ Quang Bửu trao cho phía Pháp phương án với đề nghị đường ranh giới quân sự tạm thời là giữa vĩ tuyến 13 và 14, từ Tuy Hòa đi Cheo Reo kéo dài lên phía Tây, giáp biên giới Việt Nam, Campuchia. Sở dĩ đề xuất như vậy, vì lúc đó ta có vùng tự do liên khu 5 rộng lớn nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 13 chạy dài gần đến vĩ tuyến 16.
Cuộc thương lượng diễn ra gay go, quyết liệt, chịu sự tác động từ nhiều phía. Cuối cùng vào hồi 17 giờ 12 phút giờ địa phương ngày 20/7/1954 hội nghị Giơnevơ quyết định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời chia cắt đất nước ta thành hai miền Nam – Bắc.  Từ đó, những địa danh sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, Cửa Tùng… bỗng dưng xuất hiện dồn dập, liên tục trên các tờ báo lớn, trên làn sóng của các đài phát thanh. Người ta cứ hỏi với nhau rằng “Sông Bến Hải ở đâu, cầu Hiền Lương thuộc tỉnh nào?”… Cũng có người mang bản đồ ra tìm kiếm nhưng không tìm được. Những cái tên đó nhanh chóng được truyền đi khắp nơi, chẳng bao lâu thì trở nên quen thuộc với sự chú ý đặc biệt của nhân dân trên toàn thế giới.
Tháng 7/1956, lẽ ra hai miền phải hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước nhưng Mỹ - Diệm đã chà đạp lên hiệp định, biến giới tuyến tạm thời thành nơi chia cắt lâu dài đất nước ta. Một lần nữa hai từ “giới tuyến” lại được tất cả người dân Việt Nam quan tâm. Khẩu hiệu của cả nước lúc này là “Tất cả vì tiền tuyến, tất cả cho giới tuyến”.
Đối mặt với kẻ thù xảo quyệt, người dân vùng giới tuyến đã tiến hành một cuộc đấu tranh gay go, bền bỉ để xây dựng, bảo vệ miền Bắc XHCN, đấu tranh đòi thống nhất nước nhà. Những địa danh như: Vĩnh Linh, Cồn Cỏ, Hiền Lương,… lại trở nên gần gũi, thân thương, cả nước tin yêu. Mọi con mắt hướng về Vĩnh Linh, hướng về vĩ tuyến 17 với một niềm tin chắc thắng.
Trên vĩ tuyến 17, suốt gần 20 năm biết bao biến cố, hàng trăm, hàng nghìn câu chuyện cảm động đã xảy ra. Những biến cố đó, những câu chuyện đó đã in vào trong từng thớ đất, trong từng khúc sông, trong trí nhớ của mỗi con người “nơi đầu sóng ngọn gió”. Vĩ tuyến 17 – đường giới tuyến quân sự tạm thời đã trở thành nỗi nhói đau trong tim mỗi người Việt Nam và những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Để xóa được đường giới tuyến quân sự tạm thời ấy, nhân dân Quảng Trị và cả dân tộc Việt Nam phải trải qua suốt cuộc trường chinh gần hai mươi năm với bao đau thương, mất mát, hy sinh nhưng cũng vô cùng oanh liệt trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống lại Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược.
Trong cuộc đối mặt nghiệt ngã ấy, quân và dân đôi bờ giới tuyến vẫn một lòng theo Đảng, sắt son với cách mạng, vượt qua không biết bao nhiêu gian khổ, hy sinh để viết nên bản hùng ca thần đồng Tổ quốc trên vĩ tuyến 17.
Ít có nơi nào mà cuộc chiến tranh diễn ra gay go, quyết liệt dưới nhiều hình thức như ở nơi này: một cuộc đấu tranh lúc bằng trí, lúc bằng lý, lúc bằng cả sự sống còn của con người dưới mưa bom bão đạn. Một cuộc đấu tranh kéo dài gần 20 năm ròng rã bằng đấu khẩu, đấu súng, bằng “chọi loa”, “đấu cờ”, “đấu màu sắc” trên cầu Hiền Lương… Bởi vậy nhà điện ảnh Hà Lan Giôrit iven khi được chứng kiến phải thốt lên rằng: “Vĩ tuyến 17 – nơi “trưng bày” sự man rợ đến tột cùng của đế quốc Mỹ và lòng dũng cảm đến mức thần thánh của nhân dân Việt Nam”.
Ngày nay mỗi lần đi qua vĩ tuyến 17, sông Bến Hải, cầu Hiền Lương nhìn vào những công trình được phục chế, phục dựng, nghe hướng dẫn viên giới thiệu ta như sống lại với những ngày tháng oanh liệt trên mãnh đất đầy huyền thoại của những chiến công.
Tác giả bài viết: Ngô Văn Minh

100 quả đạn tên lửa vượt vĩ tuyến 17: Mỹ choáng váng - B-52 trả giá rất đắt

PV - Tổng hợp từ hồi ký của Trung tướng Hoàng Văn Khánh |
100 quả đạn tên lửa vượt vĩ tuyến 17: Mỹ choáng váng - B-52 trả giá rất đắt
Tên lửa SAM-2 Việt Nam đã bắt hàng chục B-52 Mỹ phải đền tội.

Các đơn vị đều sẵn sàng trước khi B-52 vào từ 15-20 phút. Chỉ có một lần vào cuối đợt, chúng tôi đã bị chúng "lừa" bằng B-52 giả. Nhưng chính tên F giả B này đã phải đền tội.



LTS: Trong chiến dịch Linebacker-2 tháng 12/1972, Không quân Mỹ đã thực hiện cuộc ném bom bằng máy bay chiến lược B-52 tàn bạo nhất trong lịch sử vào Hà Nội và Hải Phòng. Nhưng không có tội ác nào mà không bị trừng phạt!
Các chiến sỹ QĐNDVN, trong đó chủ công là bộ đội PK-KQ quả cảm đã vượt muôn trùng gian khó và hy sinh để làm nên chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" lịch sử, chấn động địa cầu, buộc Không quân Mỹ hùng mạnh phải khuất phục.
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc loạt bài viết của nhiều tác giả nhằm ôn lại những kỷ niệm hào hùng trong 12 ngày đêm khốc liệt đó.
-----
100 QUẢ ĐẠN TÊN LỬA VƯỢT VĨ TUYẾN 17:
MỸ CHOÁNG VÁNG - BAO NHIÊU B-52 PHẢI ĐỀN TỘI?
Gặp lại đối thủ cũ
Tôi lại gặp lại đối thủ B-52 của mình trên chiến trường Quảng Trị. Tất nhiên, bây giờ tất cả đếu đã khác trước. Vĩnh Linh đã lập thêm biết bao chiến công và đã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng.
Năm 1967, chúng tôi chỉ có hai tiểu đoàn mà phải giấu kín, chỉ dám đưa một tiểu đoàn ra chiến đấu. Còn bây giờ, chúng tôi triển khai một lúc hai trung đoàn, gồm sáu tiểu đoàn vào loại giỏi, trong đó có trung đoàn 236 là trung đoàn nổi tiếng của Binh chủng Tên lửa. Nhiệm vụ chủ yếu được giao cho các đơn vị này là đánh B-52.
Đối với riêng tôi, cuộc "gặp gỡ B-52" lần này có thể coi là "hiệp" thứ tư. Hiệp một ở Vĩnh Linh năm 1967. Hiệp hai ở tuyến hành lang 1969-1970. Hiệp ba ở trên đỉnh Trường Sơn năm 1971. Hiệp này đã phải là hiệp cuối cùng chưa? Cả nước ra quân lần này với quyết tâm vô cùng lớn.
Điều rất thú vị là ở đây, tôi có dịp gặp lại những đồng chí đã cùng tôi đi suốt những chặng đường đánh B-52 vừa qua. Đó là các đồng chí Nguyễn Sinh Huy, Phạm Sơn và một số đồng chí khác.
Một hôm, tôi nói vui với đồng chí Nguyễn Xuân Mậu được cử giữ chức Chính ủy tiền phương Quân chủng:
- Kể ra công tác cán bộ của các "ông" cũng giỏi thật, đã đào tạo, sắp xếp được một đội ngũ đánh B-52 "chuyên trách".
- Công tác cán bộ phải thế chứ! Đánh B-52 mà không "chuyên trách" thì làm sao đánh được.
100 quả đạn tên lửa vượt vĩ tuyến 17: Mỹ choáng váng - B-52 trả giá rất đắt - Ảnh 1.
B-52 Mỹ ném bom rải thảm.
Quả thực, nếu đây là sự sắp xếp có chủ ý của công tác cán bộ thì cần nêu thành một bài học. Còn nếu chỉ là một sự tình cờ thì cũng thật quý. Với kiến thức vững chắc, với tác phong công tác nhanh nhẹn, xông xáo, thực sự các đồng chí cán bộ này đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác chỉ huy.
Ở cơ quan, các đồng chí là những "kiến trúc sư" chủ yếu của những bản phương án tác chiến, có thể gọi là kiểu mẫu, những tổng kết, sơ kết súc tích, những bức điện hướng dẫn kịp thời, có chất lượng.
Xuống đơn vị, các đồng chí là những cố vấn thực sự có ích cho các bộ tư lệnh sư đoàn, các ban chỉ huy trung đoàn, và nếu cần, trong trường hợp chiến đấu khẩn trương, các đồng chí có thể trở thành một tiểu đoàn trưởng, một trung đoàn trưởng giỏi. Đồng chí Chu Thái, trợ lý khoa học quân sự là một trong những đồng chí cán bộ như thế.
Nhờ lăn lộn với thực tế chiến trường, sau này đồng chí trở thành một trong những tác giả chủ yếu của tài liệu "Cách đánh B-52", góp phần quan trọng vào chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" sau này.
Quân đội ta đã đào luyện được một lớp cán bộ thật ưu tú. Người chỉ huy giỏi chính là người biết phát huy những điểm mạnh của cán bộ quanh mình.
Trong chiến dịch này, tôi được nhiều lần trực tiếp làm việc với đồng chí Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, đại diện Bộ Tổng tư lệnh bên cạnh Bộ chỉ huy chiến dịch. Mỗi lần tôi lên thông qua phương án tác chiến, đồng chí chăm chú theo dõi từng trận địa tên lửa trên bản đồ và luôn luôn dặn:
"Nhiệm vụ chủ yếu của tên lửa trong chiến dịch này là đánh B-52".
Đúng như dự đoàn của cấp trên, trong chiến dịch Trị - Thiên, B-52 đã trở thành lực lượng chủ yếu của không quân địch, với hoạt động bình quân hàng ngày từ 60 đến 70 lần chiếc. Có ngày lên tới 100 đến 110 lần chiếc.
Trong chiến dịch này, địch đã ném tất cả 290.082 lần bom các loại, riêng bom do B-52 ném đã lên đến 242.575 tấn (chiếm 83%). Cả về mật độ và cường độ, B-52 được sử dụng gấp hơn hai lần ở chiến dịch Khe Sanh và Đường 9 - Nam Lào. Về phía ta, lực lượng tham gia đánh B-52 cũng chưa bao giờ được tập trung như lần này.
Tên lửa chiếm lĩnh vị trí
Ngày 30 tháng 3 năm 1972, chiến dịch Trị - Thiên mở màn thì đến đêm 29 tháng 3, các tiểu đoàn 62, 64 thuộc trung đoàn 236, các tiểu đoàn 86, 87, 88, 89 thuộc trung đoàn 274 đã vào chiếm lĩnh ngay sát bờ bắc sông Bến Hải.
Tất cả các trận địa này đều được tính toán kỹ để có thể bắn được các đường bay B-52 khi chúng vào ném bom các vùng Tân Lâm, Quán Ngang, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Lăng Cô, bắc Đông Hà... là những vị trí bộ binh ta sẽ tiến công và tiêu diệt ngay từ đợt đầu của chiến dịch. Đêm 29 tháng 3 năm 1972 đối với tôi là một đêm thao thức khó ngủ.
Trong căn hầm của Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng ở Rào Đá, đường số 10, dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn bão, tôi tần ngần ngồi trước tấm bản đồ ké hoạch chiến dịch. Những vòng tròn đỏ ôm lấy các ký hiệu chỉ trận địa tên lửa như nhảy múa trước mắt tôi.
Cách đây năm năm, chúng ta chỉ mới có một trận địa, ba bệ phóng, trầy trật, vất vả, suốt hơn một năm trời mới phóng lên được vài ba quả đạn.
Bây giờ chúng ta đã có đến trên ba mươi bệ phóng, thành đội hình hoàn chỉnh, có tuyến trước, tuyến sau, bố trí sát nách kẻ thù, sẵn sàng phóng lên không chỉ một vài quả đạn mà là hàng chục quả đạn cùng một lúc vào đội hình B-52 của giặc.
Bên cạnh tôi bây giờ là đội ngũ dày dạn kinh nghiệm, nắm chắc về B-52 như Nguyễn Sinh Huy, Phạm Sơn, Ngô Kim, Chu Thái... những người đã và đang là tác giả của tập "hồ sơ" về "con ngoáo ộp" mà chúng tôi đang kiên trì và tích cực sưu tầm.
100 quả đạn tên lửa vượt vĩ tuyến 17: Mỹ choáng váng - B-52 trả giá rất đắt - Ảnh 2.
Tên lửa SAM-2 sẵn sàng chiến đấu. Ảnh minh họa.
Khoảng nửa đêm 29 tháng 3 năm 1972, trong tâm trạng hết sức phấn chấn và xúc động, tôi gọi điện cho đồng chí Nguyễn Văn Giáo, Tư lệnh sư đoàn 365 ở Tân Định:
- Ổn cả chứ?
Bên kia đầu dây, tôi cũng nghe rõ giọng xúc động của anh Giáo:
- Ổn cả anh ạ! Khí tài đều rất tốt. Đạn gần 100 quả. Chúng tôi đang chờ giờ "G".
- Việc chuẩn bị cho 236 phát triển tiếp sang bên kia Bến Hải các anh chuẩn bị đến đâu rồi?
- Báo cáo anh, đã chuẩn bị đầy đủ. Tiền trạm đã sang tận bên đó. Trận địa, đường sá, công binh đảm bảo hoàn toàn.
- Rất tốt! Chúc các anh thắng lợi!
Tôi bỏ máy xuống và cảm thấy hết sức yên tâm về đồng chí tư lệnh sư đoàn này. Năm 1946, anh là một trung đoàn trưởng bộ binh dũng cảm, chiến đấu từ Phan Rang, Buôn Ma Thuột đến Plây Cu. Là một trí thức trở thành người chỉ huy quân sự, anh cho rằng, sự đối đầu với B-52 thực chất là một cuộc đấu trí, đấu mưu căng thẳng và quyết liệt.
Phương án tác chiến của anh bao giờ cũng rõ ràng, chính xác đến từng chi tiết.
Theo phương án đã được Bộ chỉ huy chiến dịch thông qua, sau khi chiến dịch mở màn, bộ binh ta chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài, đẩy địch lùi sâu về phía trong thì lập tức tên lửa sẽ vượt sông Bến Hải, tiếp tục làm nhiệm vụ đánh B-52, chi viện cho lực lượng quân binh chủng hợp thành.
Vậy là lần đầu tiên, tên lửa SAM-2 sẽ vượt qua vĩ tuyến 17, đi sâu vào đất địch. Đây sẽ là nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp. Nhiệm vụ này được giao cho trung đoàn 236, trung đoàn tên lửa đầu tiên của bộ đội tên lửa Việt Nam.
Khoảng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 3 năm 1972, tôi gọi điện thẳng xuống sở chỉ huy trung đoàn 236 ở Lai Cách. Bên kia đầu dây là giọng nói xư Nghệ khỏe khoắn của trung đoàn trưởng Hoàng Bát:
- Báo cáo thủ trưởng! Chúng tôi đã sẵn sàng, đang chờ giờ "G".
- Chỗ Phạm Trương Uy (Tiểu đoàn trường tiểu đoàn 64, đơn vị được giao nhiệm vụ vượt Bến Hải đầu tiên) ra sao?
- Anh em khí thế lắm thủ trưởng ạ! Ai cũng bảo trong cuộc đời chiến đấu của mình, chưa bao giờ được ra trận vui và khí thế như lần này.
- Vui nhưng quan trọng là phải đánh thắng.
Tôi nhắc Hoàng Bát chú ý giáo dục đơn vị chấp hành nghiêm chính sách đối với vùng mới giải phóng, chú ý các bãi mìn còn sót lại xung quanh khu vực trận địa. Tôi cũng nhắc Hoàng Bát phải chuẩn bị tư tưởng đánh theo phương pháp T ngay từ đầu. Phải đăng ký tỉ mỉ phần tử các trận đánh.
Vừa nắm xong tình hình các đơn vị một lượt thì 7 giờ sáng ngày 30 tháng 3 năm 1972 có điện thoại của anh Văn Tiến Dũng:
- Sẵn sàng cả rồi chứ?
- Báo cáo! Tất cả đều được tiến hành đúng như kế hoạch.
- Tên lửa chỉ được đánh B-52. Chú ý đánh tập trung, đánh thắng trận đầu.
100 quả đạn tên lửa vượt vĩ tuyến 17: Mỹ choáng váng - B-52 trả giá rất đắt - Ảnh 3.
Tên lửa SAM-2 rời bệ phóng. Ảnh minh họa.
Hạ gục B-52 trên chiến trường nóng bỏng
11 giờ 30 phút sáng ngày 30 tháng 3 năm 1972, chiến dịch tiến công Trị - Thiên mở màn. Bộ binh và xe tăng ta xông lên ào ạt, thế như chẻ tre. Kẻ địch thực sự bị bất ngờ và choáng váng. Hai ngày đầu, không quân địch bị động không kịp phản ứng.
Ngày 2 tháng 4, B-52 bắt đầu đánh vào các vùng Tân Lâm, Đầu Mầu, bắc Cồn Tiên, tây miếu Bái Sơn, bắc Đông Hà, bắc Cửa Việt, nam Hiền Lương... hòng chặn thế tiến công của bộ binh ta. Lập tức, tên lửa phòng không của ta lên tiếng.
Chỉ riêng ngày 2 tháng 4, các tiểu đoàn 62, 64, 86 đánh liền năm trận, phóng liên tiếp 15 quả đạn vào đội hình B-52. Ngay trận đầu, các tiểu đoàn 62, 64, 86 đã đánh tập trung, bắn rơi 1 B-52 ở La Hạp, được Bộ chỉ huy chiến dịch nhiệt liệt biểu dương.
Tiếp đó, suốt đợt đầu của chiến dịch, từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 1972, các tiểu đoàn tên lửa thuộc hai trung đoàn 236, 274 sư đoàn 365 đã đánh tất cả 13 trận với tổng số 42 quả đạn, bắn rơi thêm 2 B-52.
Một chiếc rơi ở đông Cửa Việt, một chiếc buộc phải hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng. Điều đáng nói ở đây là có đến bảy trận đánh tập trung từ hai đến bốn tiểu đoàn. Những lần chuyển cấp đều kịp thời. Nói chung, các đơn vị đều sẵn sàng chiến đấu trước khi B-52 vào từ 15 đến 20 phút.
Chỉ có một lần vào cuối đợt, chúng tôi đã bị chúng "lừa" bằng B-52 giả. Nhưng chính tên F giả B này đã bị đền tội.
Video tạm dừng
Tầm nhìn chiến lược "Đi trước một bước" trong đánh B-52
Đây là những kinh nghiệm hết sức quý báu, làm phong phú thêm tập "hồ sơ B-52" mà Bộ tham mưu Quân chủng đang khẩn trương hoàn chỉnh, nhằm chuẩn bị cho hội nghị đánh B-52 của toàn Quân chủng được triệu tập sáu tháng sau đó.
Đây là hội nghị có tầm quan trọng quyết định trong chiến thắng 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội cuối năm 1972 mà sau này chúng tôi quen gọi là "Hội nghị tháng 10".

Vĩ tuyến 17 – dấu ấn lịch sử hào hùng của Việt nam

Capture
        Vĩ tuyến 17 được thành lập theo hiệp định Geneve về Đông Dương năm 1954, khu phi quân sự vĩ tuyến 17 đã trở thành biên giới chia cắt Việt Nam suốt thời gian chiến tranh chống Mỹ. Khu phi quân sự này được lập ra ban đầu với mục đích là giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt vùng tập kết giữa một bên là các lực lượng của Việt Nam dân chủ cộng hoà với quân đội Pháp và các lực lượng đồng minh và được dự kiến đường giới tuyến tạm thời này sẽ bị xoá bỏ sau cuộc tổng tuyển cử năm 1965. Tuy nhiên, sự phá hoại hiệp định của chính quyền Ngô Đình Diệm mà đứng đằng sau là Mỹ đã khiến cuộc Tổng tuyển cử không được thực hiện được. Từ đây Cầu Hiền Lương và sông Bến Hải đã trở thành một biểu tượng chia cắt hai miền Nam Bắc, chia cắt nhân dân Việt Nam.
        Nhìn lại lịch sử đấu tranh của nhân dân toàn thế giới nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng, chúng ta thấy rằng các sự kiện đó đều đứng đằng sau dưới âm mưu và sự dàn xếp của các thế lực thù địch mà ở đây là đế quốc Mỹ và Pháp, Anh… Ví dụ như tại Đức chia ra làm Đông Đức và Tây Đức, Tại bán đảo Hàn Quốc chia ra làm Hàn Quốc và Triều Tiên… Thử hỏi đã khi nào đế quốc Mỹ và Pháp thực hiện cam kết được ký là cho Tổng tuyển cử toàn quốc chưa… Tất cả thế hiện một bộ mặt lươn lẹo, thủ đoạn ghê tởm của các đế quốc nhằm chia rẽ dân tộc Việt Nam, chia rẽ đất nước Việt Nam. Nếu chúng ta vẫn chịu an bài, chúng ta chấp nhận thì có biết bao người thân trong gia đình phải chia rẽ, nếu những người con miền bắc chỉ xác lập tự do cho vùng miền mình thì có lẽ không có Việt Nam như bây giờ.
        Tuy nhiên, một số phần tử phản động, ăn bám tư sản đã lập nên một chính quyền tay sai thân Mỹ mang tên Việt Nam cộng hòa, nhận tiền, vật chất nước ngoài làm nhân dân Việt Nam đổ máu, làm người con Việt Nam phải chia rẽ. Một mặt chúng ra sức kêu gào, đưa ra luận điệu xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là phia nghĩa, sử dụng tình cảm gia đình làm ảnh hưởng tâm lý của quân dân, chiến sỹ chúng ta mặt khác chúng tích cực bóc lột nhân dân miền Nam. Nhân dân ta với một niềm tin, hy vọng giải phóng cho nhân dân miền Nam thống nhất đất nước mà không tiếc hy sinh xương máu dành được độc lập. sau hơn 20 năm sau tức năm 30/4/1975, cuộc kháng của quân và dân cả nước ở miền Nam mới chính thức kết thúc, non sông thu về một mối.
       Chúng ta đã giành được độc lập cho nhân dân cả nước, nhất là cho đồng bào miền Nam, những người bị ách áp bức bóc lột bởi chính những người Việt Nam làm tay sai cho Mỹ “dẫn rắn về cắn gà nhà”. Sau kháng chiến chúng ta với chủ trương hoà bình đã khoan hồng cho chúng làm lại cuộc đời vậy mà sau hơn 40 năm một số trong số chúng vẫn ngoan cố chống đối, đi lại với chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Vẫn cố gắng phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc. Chúng đại diện được cho nhân dân cái gì mà kêu gào, nói lên những lời lẽ phản động như vậy? hay chỉ vì lợi ích bản thân, lợi ích của chính kẻ đứng sau giật dây chúng. Chúng ta những người con Việt Nam được thừa hưởng hoà bình, tự do bằng xương máu của ông cha xin hãy nghĩ về những khó khăn, vất vả của ông cha mình mà suy nghĩ, đừng để chúng lợi dụng tác động mà đánh đổ đi công lao của những người đã sinh thành ra mình.
        Hiệp sĩ

Những câu chuyện xúc động phía sau phim “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”

“Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” của đạo diễn Hải Ninh sản xuất năm 1972 là một bộ phim tiêu biểu của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam.
Làm phim từ câu chuyện có thật bên bờ Hiền Lương
“Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” hấp dẫn không chỉ ở câu chuyện về những đối đầu và những lựa chọn khắc nghiệt của người dân hai bờ sông Bến Hải khi đất nước bị chia cắt mà còn ở cách thức dàn dựng bộ phim với những cảnh được quay ngay tại vùng giới tuyến đầy nguy hiểm, chính là nơi các nghệ sĩ ở gần nhất với các “nguyên mẫu” trong phim.
Trong phim, Dịu (nghệ sỹ Trà Giang) có chồng đi tập kết ra Bắc. Ở nhà, chị vừa phải lo chăm sóc gia đình chuẩn bị cho ngày sinh con, vừa đảm nhiệm công tác bí mật lãnh đạo nhân dân trong vùng chống sự đàn áp khủng bố dã man của địch. Những bắt bớ, giam cầm, tra tấn của địch cùng những dụ dỗ ngon ngọt của tên ác ôn Trần Sùng (nghệ sỹ Lâm Tới) không khiến Dịu và bà con lùi bước.
Nghệ sỹ Trà Giang và Lâm Tới trong một cảnh của phim "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm". Ảnh: TL.
Vì không chịu khuất phục trước quân giặc mà bác Thuận, Bí thư chi bộ bị địch giết hại. Chị Dịu thay bác làm Bí thư tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh.
Nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ từng kể rằng, năm 1960, ông cùng đạo diễn Hải Ninh lên đường đi thực tế ở “chảo lửa” Vĩnh Linh (Quảng Trị). Mục đích của chuyến đi này là thực hiện một bộ phim phản ánh được những đau thương mất mát của chiến tranh, vừa phải nói lên được sự tự hào của những người con mảnh đất này. Trong một đêm tối ở Cửa Tùng, hai người được công an giới tuyến giới thiệu với hai người phụ nữ ở bờ Nam sông Bến Hải mới sang.
Trong hai người, một người trắng trẻo, đẹp đẽ với vẻ no đủ... còn một người thì gầy đét, đen đúa. Đối diện với người phụ nữ này, hai nhà làm phim khá ngạc nhiên bởi người đó có dáng vóc khắc khổ nhưng lại ăn mặc áo cổ rộng, ngắn cũn cỡn, cứ rướn người lên là hở hết cả bụng. Chỉ đến khi được giải thích, người phụ nữ này là Diệu - cán bộ cốt cán của ta đang được cài ở bờ Nam để hoạt động nên phải ăn mặc theo "mốt Lệ Xuân" của chính quyền Ngô Đình Diệm để dễ bề hoạt động trong lòng địch, hai ông mới vỡ oà.
Các chị có chồng tập kết ra Bắc và bị chính quyền miền Nam bắt tập trung cùng những phụ nữ có chồng tập kết, ép làm giấy ly hôn và phải lấy người miền Nam. Khi họ phản đối đã bị nhốt vào “trại ly hôn” để “tuyên truyền, cải tạo”. Khi bị bắt vào tù, chị Diệu đang có thai. Chị đã bị bọn địch tìm mọi cách phá thai nhi hòng không cho "một thằng Việt cộng con ra đời" nhưng chị đã may mắn được các đồng chí của mình trong tù bảo vệ, bao bọc. Một tên cai ngục đã giúp chị đưa em bé chạy thoát.
Chị chỉ kịp chạy sang bờ bên kia, trao con cho chồng, chị Diệu lại vội vã trở về bên bờ Nam - huyện Gio Linh, nơi quê hương chị đang bị chìm trong đau thương để chiến đấu. Chị đã không thể sống một cuộc sống yên bình cùng chồng con bên này bởi chị đang gánh trên vai một nhiệm vụ lớn lao là Bí thư chi bộ Gio Linh, lãnh đạo các đồng chí của mình nhanh chóng giải phóng quê hương...
Từ câu chuyện cuộc đời của hai người phụ nữ này, nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ viết thành kịch bản lấy tên “Bão tuyến”. Về sau, đạo diễn Hải Ninh tham gia và đổi thành “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”. Trong kịch bản phim, có một phần sự thật về cuộc đời một trong hai người phụ nữ này mà hai nhà làm phim không dám đưa lên phim, đó là phần đời phía sau của chị buộc phải chung sống với một người đàn ông bị câm để khỏi phải lấy giặc làm chồng.
Chiến tranh kết thúc, nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ có quay lại tìm người phụ nữ đó trong ba tháng nhưng không thấy. Trước đó, trong lần gặp ở Cửa Tùng, ông đã không kịp biết tên người phụ nữ này bởi chị nói: "Khi nào đất nước thống nhất sẽ cho biết tên".
Những phận đời trùng hợp đến lạ kỳ
Nghệ sỹ Trà Giang nhiều lần chia sẻ rằng, để đóng thành công nhân vật Dịu trong phim, bà đã nhiều lần gặp người phụ nữ nguyên mẫu ở ngoài đời tên Hoàng Thị Thảo. Bà đã được chính chị Thảo lúc đó là Bí thư chi bộ kiêm Xã đội trưởng xã Gio Hà - Gio Linh kể cho nghe hoàn cảnh gia đình đầy xót xa của mình. Theo đó, cha chị mất, mẹ bị giặc bắn, anh trai bị tù đày… Tuy vậy, chị Thảo vẫn đứng lên cầm súng gia nhập đội du kích để hoạt động cách mạng. Câu chuyện về cuộc đời của chị Thảo trùng hợp đến kỳ lạ với nhân vật Dịu trong “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” khiến cho nghệ sỹ Trà Giang nhập vai rất đạt.
Nghệ sỹ Trà Giang kể, khi nghe chị Thảo kể câu chuyện về cuộc đời mình bà đã ôm chị khóc nức nở. Và những năm tháng sau này, hình ảnh người phụ nữ kiên cường của vùng đất Gio Linh - Quảng Trị luôn sống mãi trong ký ức của bà.
Bức ảnh kỷ niệm của nghệ sỹ Trà Giang với O Thảo - nguyên mẫu đã giúp bà có được chất liệu thực tế hoá thân vào vai Dịu trong phim. Ảnh: TL.
“Từ nhỏ, tôi cũng đã chịu cảnh gia đình ly tán. Cha đi hoạt động cách mạng, mẹ vì thế bị giặc bắt. Mười hai tuổi tôi xa gia đình tập kết ra Bắc. Thời ấy tôi đã chứng kiến, cảm nhận những đau thương mất mát do chiến tranh đem lại. Niềm xúc cảm thực sự là từ chị Thảo và cuộc sống đau thương của nhân dân thời chiến cứ ám ảnh trong lòng tôi. Mặc dù khi phim chưa đóng xong, chị đã anh dũng hy sinh tại làng Cát, chúng tôi cũng không hay biết, sau này tôi có được tin, nhưng lòng tôi vẫn không tin, lẽ nào tôi không được gặp lại chị trong niềm vui chiến thắng.
Năm 1999, tôi trở lại Quảng Trị tìm về làng Cát, chị đã đi xa. Tôi lần tìm về quê chị, thắp lên mộ chị một nén hương, lòng tôi quặn thắt. Quảng Trị như là quê hương của tôi, tôi như người con Quảng Trị mới về hôm qua.”, nghệ sỹ Trà Giang tâm sự.
Theo lời kể của nghệ sỹ Trà Giang, khi đoàn làm phim từ Hà Nội lên đường vào Quảng Trị làm phim, chiến trang đang rất khốc liệt. Phải mất 5 năm, cả đoàn làm phim “đội” bom đạn, không sợ sống chết, lao động hết mình mới hoàn thành.
Khi phim hoàn thành, đoàn phim rút về Hà Nội để làm hậu kỳ thì lại đúng thời điểm giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Ngày đó, cả Hãng phim truyện Việt Nam phải sơ tán, riêng đoàn làm phim “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” ở lại, đào hầm ven Hồ Tây, khi có báo động thì xuống trú ẩn. Giai đoạn cuối cùng, những ngày hòa âm, bộ phim vẫn phải thực hiện trên một chiếc ô tô hòa âm của Hãng phim truyện Việt Nam ở số 4 Thụy Khê .
Tại LHP Quốc tế Moskva năm 1973, bộ phim đã giành được giải của Hội đồng Hòa bình Thế giới và giải Nữ diễn viên xuất sắc cho NSND Trà Giang./.
Theo Hà Tùng Long/Dân Trí

Chuyện chưa kể về chuyến thăm vĩ tuyến 17 của lãnh tụ Fidel Castro


Đối với Việt Nam có lẽ lãnh tụ Fidel Castro là người bạn đặc biệt nhất vì ông là nguyên thủ đầu tiên thăm vĩ tuyến 17 khi nơi đây còn đặc mùi thuốc súng.
 Đài truyền hình nhà nước Cuba đưa tin, nhà cách mạng vĩ đại, lãnh tụ Fidel Castro đã qua đời vào ngày 25/11 (giờ địa phương), hưởng thọ 90 tuổi. Sinh thời, cựu Chủ tịch Cuba Fidel Castro luôn dành một tình cảm đặc biệt cho Việt Nam. Tình cảm ấy được thể hiện qua những hành động, lời nói cụ thể, thấm đượm chân tình. Trong đó, không thể không kể đến chuyên thăm lịch sử tới vĩ tuyến 17 của nhà cách mạng lỗi lạc này.
Quyết tâm của lãnh tụ Fidel
Trong thời gian nước ta kháng chiến chống Mỹ, Cuba là một trong những nước dành cho ta sự ủng hộ chân thành và chí tình. Lãnh tụ Fidel của Cuba nhiều lần bày tỏ mong muốn đến thăm Việt Nam nói chung và đặc biệt là miền Nam Việt Nam – nơi tuyến đầu kiên cường chống Mỹ. Tuy nhiên, niềm mong mỏi đó của Fidel phải tới năm 1973 mới thực hiện được.
Vào ngày 12/9/1973, sau khi Hiệp định Paris đã được ký kết, quân Mỹ đã rút gần hết ra khỏi miền Nam, phái đoàn Cuba do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Fidel Castro dẫn đầu đã sang thăm chính thức Việt Nam. Chuyến thăm này của Fidel không chỉ là để chúc mừng thắng lợi bước đầu của Việt Nam mà còn để thực hiện ước vọng từ lâu của ông.

Chuyen chua ke ve chuyen tham vi tuyen 17 cua lanh tu Fidel Castro hinh anh 1

 Lãnh tụ Fidel Castro thăm thị xã Đông Hà. Ảnh: TTXVN. 

Tuy nhiên, việc tổ chức cho lãnh tụ Fidel vào thăm miền Nam là một vấn đề không đơn giản. Để tránh cho ông gặp nguy hiểm, chúng ta đã quyết định bỏ chuyến thăm miền Nam ra khỏi chương trình làm việc của nhà cách mạng Fidel. Nhưng điều đó không nhận được sự đồng tình của ông.
Trong cuốn sách Tối mật những người Cuba trên đường Trường Sơn của Đại sứ Raul Valdes Vivo – người đã có 10 năm liền làm đại sứ Cuba từ Campuchia đến Việt Nam, đã cho biết quyết tâm của Fidel lúc đó: "Khi chỉ còn lại những người Cuba, tôi nói ngay cho Fidel biết điều đã xảy ra và tôi nói thêm: Ngoài cơn bão là một nguy cơ thật sự, không phải được bịa ra cũng không phải được tính trước, với ngập lụt ở miền Trung, bởi vì nước sông sẽ tràn qua rất nhiều con đê, một vấn đề nữa mà các đồng chí Việt Nam sợ là một cuộc tấn công của chế độ Sài Gòn vào đoàn đại biểu Cuba, có thể nguy hại tới tính mạng của Thủ lĩnh cách mạng Cuba.
Fidel lặng nghe tôi nói, rồi ông nói rằng cuộc đi thăm Việt Nam chỉ thực sự có ý nghĩa nếu như ông đi thăm được miền Nam mặc dù luôn luôn có nguy hiểm. Đối với Fidel không có gì quan trọng nếu như bị ngập lụt và tắc đường ở miền Trung và phải về chậm vài ngày. Fidel tin tưởng vào nhân dân Cuba và biết rằng nhân dân Cuba sẽ rất phấn khởi biết rằng đoàn đại biểu đã đến được miền Nam”.
Cuối cùng Fidel nói: “Trong mọi trường hợp, dù là phải đi bộ chúng ta vẫn đi”.
Trước quyết tâm của lãnh tụ Fidel, các nhà lãnh đạo của chúng ta không còn cách nào khác, đành cố gắng để chuyến đi an toàn, thành công. Đại sứ Raul viết: “ Đồng chí Phạm Văn Đồng nghiêm nghị trở lại, liền cầm lấy hai bàn tay tôi. Tôi cảm thấy ông đang suy nghĩ rất lung, rồi nói: Cả hai chúng ta sẽ cùng liều lĩnh, không chỉ với cái chức chúng ta mà cả cái đầu của chúng ta”.

Chuyen chua ke ve chuyen tham vi tuyen 17 cua lanh tu Fidel Castro hinh anh 2

 Nhà cách mạng Fidel tại căn cứ 241. Ảnh: TTXVN. 

Và Thủ tướng quyết định lãnh tụ Fidel sẽ đi thăm miền Nam ngay ngày mai để tránh cơn bão sắp đổ bộ vào. Trong khi đó, theo đúng chương trình thì hôm sau Fidel sẽ thăm Hải Phòng. Ở đó đã chuẩn bị xong xuôi mọi việc đón tiếp. Đó lại là một trở ngại nữa. Tuy nhiên ông đại sứ Raul đã thuyết phục được Thủ tướng rằng vì chuyến thăm miền Nam, nhà cách mạng Fidel cũng đã phải hủy bỏ chuyến thăm Lào dù rằng ở khu giải phóng bên Lào, nhiều hang đá cũng đã được trang hoàng để đón tiếp.
Sau một hồi suy nghĩ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng quyết định: “Hãy nói với Fidel biết rằng ngày mai chúng ta sẽ ra đi sớm đến thăm vùng núi Sierra của chúng tôi. Tôi sẽ đón Fidel vào khoảng 8 giờ.”
Chuyến đi đặc biệt đến vĩ tuyến 17
Khoảng 9h30 sáng hôm sau, tại sân bay Gia Lâm, phái đoàn Cuba cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng lên chiếc máy bay An – 24 để bay vào Đồng Hới. Để giữ bí mật, báo chí đưa tin rằng lãnh tụ Fidel tiếp tục hội đàm với các lãnh đạo Hà Nội nên không thể tổ chức một lễ tiễn đưa long trọng được. Tuy nhiên, khi máy bay sắp cất cánh, đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Trường Chinh đã đến chúc đoàn may mắn.
Sau hơn 1 giờ bay, đồng chí Fidel và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng đoàn Cuba đáp xuống sân bay Đồng Hới. Từ đây, đoàn đi bằng xe Zép tới Vĩnh Linh rồi đi thăm Đông Hà, Cam Lộ cùng các căn cứ quân sự Mỹ mới được ta giải phóng.
Đại sứ Raul đã có những nhận xét rất hay khi ông ngắm 3 cây cầu trên đường vào Đông Hà: “Trên đường đi vào thị trấn Đông Hà, ba chiếc cầu đã phản ánh đầy đủ lịch sử Việt Nam: 1 chiếc rất cũ kỹ do Pháp xây dựng, 1 chiếc khác rất hiện đại do Mỹ xây, cả hai chiếc đều bị đánh sập và 1 chiếc cầu mới, cầu phao của Chính phủ Cách mạng lâm thời, nơi mà xe cộ đang đi qua”.

Chuyen chua ke ve chuyen tham vi tuyen 17 cua lanh tu Fidel Castro hinh anh 3

  Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Fidel dự cuộc mít tinh tổ chức ngay tại căn cứ 241. Ảnh: TTXVN.

Sau Đông Hà, đoàn đến thăm căn cứ 241 hay còn gọi là căn cứ Tân Lâm. Ở đó, nhà cách mạng vĩ đại Fidel đã tiếp xúc với các sĩ quan và chiến sĩ Khu 5 và lắng nghe họ nói về diễn biến các trận đánh năm 1972. Cũng tại đó một cuộc mít tinh đã được tổ chức với sự tham gia của đông đảo các chiến sĩ bộ đội. Cuộc mít tinh được tiến hành trước một quang cảnh ít thấy trong một căn cứ cũ của Mỹ với các hố bom chằng chịt, xe tăng cháy dở, quần áo quân phục rách bươm, mũ sắt, dây thép gai…
Tướng Trần Nam Trung – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thông báo quyết định tặng Thủ tướng Cuba một chiếc xe tăng Mỹ khổng lồ M-48. Các chiến sĩ giải phóng cũng trao tặng lãnh tụ Fidel nhiều súng tự động Mỹ, món quà tặng của chiến tranh rất có giá trị khiến ông rất xúc động.
Sau khi đã thăm đất lửa Quảng Trị và gặp gỡ đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, phái đoàn quay trở về. Trên đường ra, lãnh tụ Fidel dừng chân tại Đông Hà. Ngay lập tức hàng trăm người đã vây quanh và hô vang khẩu hiệu. Đại sứ Raul viết: “Giữa một bên là hiệu kem và một bên là ngôi nhà cũ của một sĩ quan cao cấp chế độ Sài Gòn, mọi người đã nói chuyện với Fidel về những trận đánh và về những công trình đang được thực hiện để xây dựng lại thành phố này.
Gạch và gỗ được vận chuyển đến liên tục. Bộ đội cùng với nhân dân xây dựng lại nhà cửa, sửa chữa mái nhà và khôi phục lại giao thông. Đó là quang cảnh ở Đông Hà”.
Trước khi rời miền Nam, đồng chí Fidel đã cùng các sĩ quan quân đội ta đi thăm một điểm tiền tiêu để ông có thể quan sát được rất gần các bốt gác của địch. Đây có lẽ là một việc nguy hiểm nhất trong hành trình vốn dĩ đã rất nguy hiểm của phái đoàn Cuba. Điều gì sẽ xảy ra nếu như các bốt gác đó thấy có điều nghi ngờ? Nhưng may mắn, chuyến thăm miền Nam của lãnh tụ Fidel đã an toàn và thành công tốt đẹp.
Với những cảm xúc và tình cảm sau chuyến đi vào trong vĩ tuyến 17, trong tiệc chiêu đãi của Nhà nước ta ở Hà Nội, lãnh tụ Fidel nói: “Chúng tôi đã thấy và đã gặp các chiến sĩ quân đội cách mạng. Thật đúng là một quân đội cách mạng! Thật đúng là những chiến sĩ có hàng chục, hàng chục những anh hùng tuyệt diệu! Chúng tôi đã có dịp chuyện trò nhiều với họ và chúng tôi nhận thấy rằng những con người như thế không bao giờ có thể bị đánh bại… Chính tinh thần đó, khí phách đó của những chiến sĩ cách mạng khiến chúng tôi tin tưởng tuyệt đối hoàn toàn và chắc chắn rằng sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa vì quyền lợi thiêng liêng của nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi”.
Những cảm xúc đó, 40 năm sau, Fidel vẫn giữ vẹn nguyên trong lòng. Nhân kỷ niệm 40 năm chuyến thăm đặc biệt của mình tới miền Nam Việt Nam, ông đã có bài viết ôn lại kỷ niệm. Dẫn lại theo báo chí Cuba, báo Lao Động điện tử đăng bài Lãnh tụ Fidel Castro ôn lại chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam. Trong đó, lãnh tụ Fidel viết: “Chúng tôi đã gặp các người lính trẻ Việt Nam đầy vinh quang trong cuộc tấn công Quảng Trị. Điềm tĩnh, kiên quyết, rám nắng mặt trời và chiến tranh, một cái nheo nhẹ trên mi mắt của một tiểu đoàn trưởng, không thể hiểu được tại sao họ có thể chịu đựng được nhiều bom đạn đến thế. Họ xứng đáng được ngưỡng mộ”.
Nguồn: Vũ Tiến Đức (Kiến Thức)
Ngọn cờ giới tuyến: Ký ức bên vĩ tuyến 17
18/07/2016 20:37
Lá quốc kỳ được xem như một phần hồn không thể thiếu của bất kỳ quốc gia nào. Hơn nửa thế kỷ trước, để nhân dân miền Nam được nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bầu trời không hề là điều dễ dàng.

Ngọn cờ giới tuyến phân chia hai miền Nam - Bắc trong chiến tranh (Ảnh: Internet)
 
Đối với ông Trương Nam Sơn, một người con của miền Nam, những năm tháng sau khi Pháp buộc phải đặt bút ký vào Hiệp định Genève là những năm tháng không thể nào quên. Chính ông đã cùng đồng đội băng rừng, vượt suối, bất chấp mưa bom trên đầu để cùng đồng bào dựng lên các cột cờ bên giới tuyến 17 - cột mốc chia cắt tạm thời hai miền Việt Nam theo Hiệp định đình chiến năm 1954. Dưới sự cai trị của chính quyền Sài Gòn với sự hậu thuẫn của Mỹ, cả miền Nam trở thành trại tập trung khổng lồ, việc đàn áp, tra tấn, bỏ tù, bắt bớ diễn ra khắp nơi. ​
​ ​ ​ ​ ​​​ ​ ​​ ​ ​ ​
Ông Trương Nam Sơn, người chỉ huy xây dựng cột cờ giới tuyến (Ảnh: TFS)
​​ ​​​​​​​​
Đối với người dân Việt Nam, lá cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của quốc gia, dân tộc, của lòng yêu nước và quyết tâm thống nhất non sông. Cột cờ Hiền Lương - cột cờ giới tuyến đã được các chiến sĩ ta dựng lên trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Lá cờ đỏ thắm trên đầu cầu Hiền Lương gánh sứ mệnh thiêng liêng hơn thảy: mang hình ảnh của Bác, của Đảng đến với đồng bào miền Nam. Trong chiến tranh, mỗi lá cờ được treo ở cột cờ này nặng trung bình trên dưới hai mươi cân. Hằng ngày, hàng trăm khẩu đạn pháo, máy bay ném bom, pháo hạm của địch cứ nhằm vào lá cờ đỏ ấy để bắn phá. Cứ hễ cột cờ hay lá cờ bị địch phá hủy, ngay lập tức cột cờ lại được đồng bào, chiến sĩ dựng lên và thay cờ mới, không để bờ Nam một giây phút nào vắng bóng quốc kỳ.
Ngày nay, đi trên cầu Hiền Lương, những người lính năm xưa không khỏi xúc động khi soi bóng mình dưới nước, bồi hồi nhớ đến những đồng đội, những người anh, người chị, người mẹ năm nào đã ngã xuống vì màu cờ ấy. 
Bằng ký ức của những con người đã chiến đấu để quốc kỳ luôn tung bay rực rỡ, đạo diễn Việt Bình đã vẽ nên bức chân dung những người lính anh hùng thời đất nước còn nỗi đau chia cắt qua 2 tập phim tài liệu "Ngọn cờ giới tuyến", được phát sóng vào lúc 14g ngày 19 20/7. Đón xem trên kênh HTV9.
Hồng Tâm
  
Đất Nước - Trọng Tấn

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32