Chuyển đến nội dung chính

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 57/b (Bảo vệ đường mòn HCM)

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Trừng trị bóng ma trên đỉnh Trường Sơn - Phần 2
Trong chiến tranh Việt Nam, AC-130U được trang bị khí tài trinh sát, hệ thống vũ khí hiện đại phục vụ mục đích duy nhất là bằng mọi giá ngăn chặn hoạt động vận chuyển đường Trường Sơn. AC 130 có vai trò hỗ trợ tấn công đường không tầm gần và đánh phá tuyến đường giao thông. AC-130 lắp đặt thiết bị nhìn đêm hồng ngoại, thiết bị khuếch đại ánh sáng mờ (độ khuếch đại tối đa tới 4.000 lần), thiết bị nhìn đêm tạo ảnh nhiệt và thiết bị phát hiện tia lửa điện khi ô tô hoạt động… 

Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh sức mạnh của chiến tranh nhân dân huyền thoại
5/6/2015 9:10' Gửi bài này In bài này
Trong kháng chiến chống mỹ cứu nước, Đảng ta đã xác định rõ: “miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn”, vì vậy miền Bắc phải chi viện sức người, sức của cho miền Nam chiến đấu. Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “dù phải hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, chúng ta cũng phải kiên quyết dành cho được độc lập”(1). Vấn đề đặt ra cho miền Bắc là phải tìm đủ mọi cách để chi viện cho chiến trường miền Nam. Vì vậy, ngày 19-5-1959, đường dây 559 - đường vận tải quân sự chiến lược ra đời, sau này gọi là “Đường Hồ Chí Minh”. Đây là tuyến vận tải chủ yếu cho chiến trường miền Nam, là cầu nối liền giữa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn, hậu phương trực tiếp của các chiến trường. Đồng thời, cũng là căn cứ tập kết và xuất phát tiến công của các binh đoàn cơ động chiến lược của ta trong các chiến dịch, trên các chiến trường ở miền Nam Việt Nam cho đến lúc chúng ta đánh cho “Mỹ cút, ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Nhận thức rõ: “Liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạnh vì nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó nó bảo đảm thắng lợi”(2), cho nên, việc xây dựng đường Trường Sơn được tiến hành tích cực và khẩn trương, nhất là trong những năm Mỹ dội hàng triệu tấn bom xuống làng mạc, rừng núi ở miền Nam Việt Nam. Bác đã nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “dù nó (Mỹ) ném hóa biển cũng phải giải phóng miền Nam cho kỳ được”(3).
Quán triệt tư tưởng và quyết tâm đó, suốt 16 năm anh dũng và bền bỉ chiến đấu, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, khó khăn, mọi tổn thất hy sinh(4), binh đoàn 559 đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, “vừa tổ chức đánh địch bảo vệ tiền tuyến, vừa từng bước cải biến 40.000km đường rừng núi, xây dựng thành tuyến vận tải chiến lược hoàn chỉnh từ khu vực tiếp giáp miền Bắc hậu phương đến chiến trường Đông Nam Bộ với tổng chiều dài 20.000km, bao gồm 5 hệ trục dọc, 21 hệ trục ngang đường cho xe cơ giới, trên 1.400km đường ống dẫn xăng dầu, hơn 10.000km đường dây thông tin. Đặc biệt mở được hệ thống đường kín dài 3.140km cho xe vận tải hoạt động ban ngày để đối phó thủ đoạn máy bay AC-130 săn lùng đánh phá quyết liệt(5).
Biết rõ đường Trường Sơn là con đường chiến lược nối liền Nam Bắc nên Mỹ quyết tâm đánh phá. Chúng đã ném xuống đường Trường Sơn gần 3 triệu tấn bom, đạn các loại, thực hiện các kiểu chiến tranh điện tử, chiến tranh khí tượng, chiến tranh hóa học làm trụi lá rừng. Đường Trường Sơn đã trở thành chiến trường thử nghiệm chiến lược: “chiến tranh ngăn chặn”, chiến tranh bóp nghẹt bằng các thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt với các loại thiết bị, vũ khí hiện đại của nền khoa học công nghệ cao.
Luôn luôn ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chịu khổ, quyết tâm vượt mọi khó khăn, quyết tâm chấp hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ, nghĩa là trong thái độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ một việc lớn hay nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được”(6). Binh đoàn 559 đã xây dựng Trường Sơn thành một căn cứ chiến lược, cả Đông và Tây Trường Sơn, vận dụng sáng tạo phương châm tác chiến: “kết hợp đánh địch với phòng tránh”, nghi binh lừa địch, tiêu hao và tiêu diệt địch, thể hiện đậm nét tư tưởng chiến lược tiến công trong nghệ thuật vận tải: “kết hợp vận chuyển và chiến đấu, chiến đấu và vận chuyển, lấy vận chuyển làm mục đích cao nhất”(7).
Đến đầu năm 1975, tuyến đường chiến lược Đông và Tây Trường Sơn được xây dựng và củng cố đã nối liền đến Lộc Ninh, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu được hoàn chỉnh qua Tây Nguyên, khu 5 vào tới Đông Nam Bộ, sẵn sàng phục vụ đánh “lớn”. “Từ tháng 01 đến tháng 4-1975, đoàn vận tải Trường Sơn chuyển vào Nam Bộ 115.000 quân và 90.000 tấn hàng. Riêng những ngày chuẩn bị nước rút từ ngày 05 đến ngày 26-4, kết hợp vừa khai thác vừa vận chuyển, ta đã đưa vào chiến trường 10.100 tấn đạn dược; 2.300 tấn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh; 2.600 tấn xăng, dầu. Nhiều trạm sửa chữa ô tô, sửa chữa pháo và tăng được bố trí dọc đường, phục vụ cơ động cho chiến dịch”(8).
Đường 559 - đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử Việt Nam với những kỳ tích anh hùng, như một biểu tượng cho sức mạnh huyền thoại. Cán bộ, chiến sĩ binh đoàn Trường Sơn đã viết nên trang sử hào hùng, để lại dấu ấn về lòng dũng cảm, sức mạnh, trí tuệ Việt Nam. Họ đã chiến đấu với sự quyết tâm và lòng dũng cảm theo tư tưởng Hồ Chí Minh vì độc lập, tự do của Tổ quốc; được soi sáng bằng một lý tưởng cách mạng chân chính và tất thắng “vì miền Nam ruột thịt”; bằng một quyết tâm gang thép “phải giải phóng cho kỳ được miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước”; bằng một ý chí thống nhất: “Dân tộc Việt Nam là một. Cả dân tộc Việt Nam kết thành một khối trong từng đồng bào cùng chung giống nòi Hồng Lạc, không thể cắt chia”(9).
Đây cũng là biểu hiện như C. Mác nói: “Con người thực hiện cái mục đích của chính mình mà mình đã có sẵn trong ý thức; mục đích đó như một định luật quyết định phương thức hành động của con người và bắt ý chí của con người phải lệ thuộc vào nó”(10). Ý nghĩa đó đã “phát huy đến mức cao nhất tinh thần quyết chiến, quyết thắng, không có gì quý hơn độc lập tự do, khơi dậy nghị lực sáng tạo và tài thao lược của mỗi người và của toàn dân tộc, phát triển đến đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam, quân và dân ta đã làm nên những chiến công hiển hách tưởng chừng như huyền thoại”. Sức mạnh của đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và bộ đội Trường Sơn xuất nguồn từ ý thức đó./.
-------------------------------------------------------------
(1), (2) Võ Nguyên Giáp - “Những chặng đường lịch sử”, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1977, Tr 203, Tr 88
(3) Báo Nhân dân 24-9-1970
(4) Ba vạn cán bộ, chiến sĩ đường Trường Sơn anh dũng hy sinh, ba vạn người bị thương (theo Thiếu tướng Vô Sở “Đường về quê mẹ”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000)
(5) Nguyễn Việt Phương, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Hà Nội, 4-1995
(6) Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, Tr 137
(7), (8), (9) Võ Nguyên Giáp - “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, Tr 174, 29, 360, 37
(10) C. Mác: Tư bản - quyển I, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, Tr 247

Thiếu tướng, PGS, TS. Cao Thượng LươngNguyên Tổng Biên tập Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam

Vượt Trường Sơn vào bảo vệ Trung ương Cục miền Nam

13:36 30/04/2016
Mùa xuân Bính Thân này, Đại tá Vũ Văn Đàm (nguyên Phó chánh Văn phòng Bộ Công an, người có 10 năm tham gia chiến đấu bảo vệ Trung ương Cục tại chiến trường miền Nam) đã bước sang tuổi 82 nhưng ông vẫn minh mẫn và những kí ức về một thời chiến trường luôn tươi mới trong ông... 


Năm 1953, ông tham gia kháng chiến, vào Thanh niên xung phong trong đơn vị Đoàn 38 do đồng chí Tạ Quang Chiến (người vinh dự được Bác Hồ đặt tên) phụ trách. Sau 2 năm, ông được bổ sung vào lực lượng Công an, công tác tại Phòng Tổng hợp - Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ). Đầu năm 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, lãnh đạo Bộ Công an chủ trương tuyển chọn một số cán bộ có năng lực, sức khỏe và các điều kiện cần thiết để bồi dưỡng tập luyện sẵn sàng chi viện lực lượng An ninh miền Nam.
Thực hiện quyết định của Bộ Công an, Cục Cảnh vệ đã tuyển chọn một số cán bộ ưu tú tham gia vào đoàn chi viện gồm các đồng chí Huỳnh Phước (bí danh Sáu Liên), Nguyễn Hồng Long (Nam Sơn), Nguyễn Văn Liên (Tư Lâm), Hồ Kiều (Tám Thành), Nguyễn Văn Nho (Ba Kỳ), Nguyễn Văn Hanh (Hai Nghệ), Tống Công Phê (Hai Công), Vũ Văn Đàm (Tiến Nam) và Đoàn Quý... Đại tá Vũ Văn Đàm kể lại: Cấp trên chỉ thị cho tôi lấy một bí danh nào đó. Tôi suy nghĩ đợt này mình vinh dự được đi tăng cường cho an ninh miền Nam, tức là được vào Nam, nên tôi lấy bí danh Tiến Nam. Sau này trở lại ra Bắc công tác, tôi lại được mọi người gọi lại tên mà các cụ đặt cho.
Chiến sĩ ANVT đoàn 180 bắn cháy xe tăng địch trên quốc lộ 22 - Tây Ninh, năm 1967.
Đầu tháng 4 - 1964, chúng tôi tập trung về Trường Công an Trung ương để học tập chính trị và huấn luyện chiến đấu. Ngày 16-7-1964, đoàn chi viện lên đường vào chiến trường B. Đoàn chúng tôi cán bộ Cảnh vệ được ghép vào đoàn Công an vũ trang có 33 đồng chí và hình thành một đoàn 42 người do đồng chí Huỳnh Bội (bí danh Tám Nam) làm Trưởng đoàn; bí danh của đoàn là K21.
Sau gần 4 tháng hành quân xuyên rừng vượt núi theo đường Trường Sơn, đến đầu tháng 11 - 1964 đoàn đến trạm giao liên cuối cùng (Trạm 40) của đường dây, rồi tập kết về “Ông Cụ” - Bí danh của căn cứ Trung ương Cục lúc đó. Khi vào tới Ban An ninh Trung ương Cục, ông Đàm được điều về phụ trách tổ bảo vệ Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.
Đại tá Vũ Văn Đàm nhớ lại: Kỷ niệm sâu sắc nhất là bảo vệ hội nghị do Ban An ninh Trung ương cục triệu tập vào cuối năm 1967. Lần ấy, tôi cùng các đồng chí Tư Hùng, Ba Nhưng được giao chỉ huy bảo vệ hội nghị tại B4 ở tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới Campuchia. Thành phần hội nghị có các đồng chí lãnh đạo, các ban, trưởng, phó các tiểu ban và các đồng chí lãnh đạo ban an ninh các tỉnh Nam bộ.
Hội nghị vừa khai mạc thì chúng tôi nhận được điện khẩn báo địch sẽ cho máy bay oanh tạc khu vực B4, dùng trực thăng đổ nhiều toán biệt kích nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta. Từng tốp máy bay địch thay nhau đến trút bom xuống khu vực B4. Tiếp sau những trận mưa bom là gần chục chiếc trực thăng lao tới. Chúng quần đảo trên bầu trời B4, nhả đạn xối xả vào bất cứ điểm nào nghi ngờ có lực lượng ta. Sau những đợt vãi đạn không tiếc, chúng bắt đầu thả từng toán biệt kích xuống nhiều địa điểm trong khu vực tạo thành một vòng vây.
Khi địch đổ quân vừa xong thì trời sập tối, nên chúng buộc phải co cụm lại. Mặc cho địch bắn vu vơ suốt buổi chiều, ta không nổ phát súng nào nên chúng càng hoang mang. Về phía lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ B4, tất cả đều náu mình dưới công sự, chờ lệnh của cấp trên.
Đến khoảng 20h, chúng tôi nhận được lệnh của Ban An ninh Trung ương Cục chỉ thị An ninh B4 di chuyển an toàn các đại biểu đến dự hội nghị ra khỏi khu vực. Nhưng tình huống lúc này rất nguy hiểm. Lực lượng của chúng đã tạo thành vòng vây khép chặt lấy B4. Tôi được giao trách nhiệm tổ chức bảo vệ cuộc dịch chuyển hội nghị đến một địa điểm an toàn khác… Tôi bàn với đồng chí Tư Hùng và đồng chí Ba Nhưng ngay trong đêm phải tìm bằng được một con đường bí mật, vuợt vòng vây đến một địa điểm an toàn. Cả ba chúng tôi đi theo đội hình chiến đấu, có chỗ sát địa điểm trú quân của biệt kích. Tìm được địa điểm mới, xác định đường đi, cả ba anh em tôi cụm lại xây dựng kế hoạch để báo cáo lãnh đạo B4...
Biệt kích xâm phạm vùng giải phóng sau Hiệp định Pari, bị chiến sĩ ANVT Đoàn 180 bắt giữ trên quốc lộ 22.
Khi được cấp trên đồng ý thì mọi công việc chuẩn bị di chuyển cũng làm xong. Các tổ bảo vệ B4 được bố trí thành từng tuyến phối hợp, vừa hành quân vừa cảnh giác đề phòng gặp địch. Các đại biểu được phân ra từng tổ do một tiểu đội an ninh vũ trang bảo vệ đi theo mỗi hướng như trong kế hoạch. Điều quan trọng nhất là thực hiện phương châm “Tránh địch hơn đánh địch”; nếu gặp địch, tổ bảo vệ phải chọn phương án an toàn, bí mật nhất để chuyển hướng hành quân. Trường hợp nếu địch phát hiện chặn đánh, thì tổ bảo vệ phải để lại 1/3 quân số đánh chặn địch còn lại tiếp tục bảo vệ các đoàn đại biểu hành quân về đích.
Những chiến sỹ An ninh được chọn cử ở lại đánh chặn phải là những đồng chí có kinh nghiệm, kiên cường và dũng cảm trong chiến đấu, biết cách làm tiêu hao sinh lực địch, nhưng đồng thời cũng phải biết tổ chức nghi binh để địch không nhận biết được quân ta nhiều hay ít hoặc đã rút thì rút lúc nào. Ngoài ra phải biết lợi dụng địa hình rừng núi, vừa đánh vừa rút, đánh lạc hướng kẻ địch rồi tìm cách về đích đã chọn. Kết quả đoàn cán bộ lãnh đạo cấp cao của Ban An ninh B4 và đại biểu về dự hội nghị đã rút khỏi mục tiêu địch tập kích an toàn.
Tờ mờ sáng hôm sau khi phát hiện một số công sự bỏ không trong khu vực B4, bọn biệt kích gọi tăng viện. Lực lượng ta được phân công ở lại đánh chặn địch đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Hàng chục vị trí ở phòng tuyến bảo vệ B4 chiến đấu rất quyết liệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch, trong khi lực lượng ta vẫn bảo đảm an toàn.
Nguyễn Đức Quý

Chuyện trên những cung đường bất tử

15:00 | 12/07/2015
|
“Những tháng năm ác liệt trên tuyến Đường Trường Sơn huyền thoại đã nuôi dưỡng ý chí chiến đấu kiên cường, tinh thần lao động sáng tạo của Bộ đội Trường Sơn”-Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Phó tư lệnh Bộ đội Trường Sơn (Đoàn 559) khẳng định như vậy khi nói về những chiến công của bộ đội ta trên tuyến đường trải dọc từ Bắc vào Nam.
Thiếu tướng Phan Khắc Hy kể lại những năm tháng chiến tranh ác liệt trên tuyến Đường Trường Sơn.  Ảnh: HÙNG KHOA.
Thiếu tướng Phan Khắc Hy kể lại những năm tháng chiến tranh ác liệt trên tuyến Đường Trường Sơn. Ảnh: HÙNG KHOA.
Sáng tạo của Bộ đội Trường Sơn
Trong căn nhà đơn sơ tại quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, chúng tôi được Thiếu tướng Phan Khắc Hy kể cho nghe nhiều kỷ niệm về những năm tháng chiến đấu trên tuyến Đường Trường Sơn năm xưa. Tuyến đường đã trở thành huyền thoại, góp phần vận chuyển bộ đội, cùng hàng triệu tấn hàng hóa, vũ khí, phương tiện kỹ thuật từ miền Bắc vào miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Dù đã ở tuổi 89, nhưng Thiếu tướng Phan Khắc Hy vẫn rất khỏe mạnh, minh mẫn. Ông kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện chiến đấu, rồi thỉnh thoảng cười sảng khoái khi nói về những sáng tạo của Bộ đội Trường Sơn để chống lại những thủ đoạn của địch và hoàn thành nhiệm vụ. Theo Thiếu tướng Phan Khắc Hy thì giai đoạn 1970-1971, quân đội Mỹ tìm mọi cách ngăn chặn hoạt động của ta trên tuyến đường huyền thoại này với việc đưa vào sử dụng nhiều loại phương tiện, khí tài rất hiện đại. Với quyết tâm bảo đảm cho nhiệm vụ vận chuyển vào chiến trường miền Nam, Đoàn 559 huy động các lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công sử dụng mọi phương tiện từ thô sơ đến cơ giới để mở mới và nâng cấp các trục đường dọc Tây Trường Sơn. Đặc biệt, Đoàn 559 đã sáng tạo ra tuyến “đường hành quân kín” để vô hiệu hóa hoạt động của máy bay AC-130 của địch. Thiếu tướng Phan Khắc Hy giải thích: “Đường hành quân kín tức là bộ đội ta tận dụng những cung đường mở trong rừng, xe chạy dưới tán lá cây. Chỗ nào cây cối thưa thì huy động lực lượng đan vòm cây, đưa dây leo, lá ngụy trang lên để tạo mái che tự nhiên. Nhờ vậy, các đoàn xe vận tải của ta chạy được cả ban ngày mà không sợ máy bay địch phát hiện. Chính nhờ những tuyến "đường hành quân kín" này mà các lực lượng của ta đã nâng cao đáng kể năng lực vận chuyển, kịp thời phục vụ chiến trường miền Nam”. Trên những đoạn đường có địa hình là sườn đồi, vách núi, công binh tiến hành làm hầm trú ẩn khá chắc chắn. Vì thế, khi có máy bay địch, xe cơ giới đều có chỗ ẩn nấp an toàn. Bộ đội công binh còn xây dựng hàng trăm trận địa, kho giả, xe giả trên các tuyến đường để nghi binh, lừa địch. Riêng các đoạn vượt suối thì mở nhiều bến, tổ chức cảnh giới chặt chẽ. Bộ đội Đoàn 559 còn tìm ra nhiều cách dùng củi khô, dầu thải, mìn khói và chất tạo khói để đánh lừa và thu hút máy bay địch.
Mở đường trên dãy Trường Sơn. Ảnh tư liệu.
Mở đường trên dãy Trường Sơn. Ảnh tư liệu.
Cùng với di chuyển trên nhiều tuyến đường mới, các đoàn xe cũng thường xuyên thay đổi quy luật xuất phát nhằm hạn chế khả năng các loại máy bay trinh sát của địch. Bởi, khi tắt nắng và khi hửng sáng, loại máy bay trinh sát ban ngày của địch không còn khả năng hoạt động; còn AC-130 chỉ xuất hiện và phát huy hiệu quả vào ban đêm. Khắc chế địch thành công, Bộ đội Trường Sơn hăng hái thi đua thực hiện nhiệm vụ với tinh thần “địch đánh một, ta làm mười”. Bốn sức mạnh trong mở đường và giữ đường của Đoàn 559 nhanh chóng được đúc kết và phát huy là: Thuốc nổ phá đá, một phần cơ giới, lao động thủ công và cải tiến thiết bị, công cụ lao động”. Nhiều công cụ cải tiến ra đời đã nâng cao năng suất, tiết kiệm thời gian, giảm bớt sức người trong việc mở đường, san lấp hố bom. Đó là xe cút-kít làm bằng cây, đan thùng xe bằng tre nứa, là gầu xúc đất đá theo kiểu gầu tát nước, bệ đỡ để đưa đất đá vào thùng xe tải…
Đánh “địch” mọi nơi
“Đánh, phòng tránh và nghi binh” là phương châm hoạt động xuyên suốt của Bộ đội Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Để bảo đảm an toàn cho toàn tuyến đường, từ năm 1965, Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn phát động thi đua “Ai cũng đánh, nơi nào cũng đánh, lúc nào cũng đánh, một người cũng đánh” và phát huy sức mạnh tổng hợp của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. Do vậy, dù địch cơ động nhanh, vũ khí trang bị hiện đại, nhưng lúc nào cũng bị đánh trả quyết liệt dọc theo tuyến đường vì ta có lực lượng tại chỗ.
Thiếu tướng Phan Khắc Hy khẳng định: “Tâm thế vừa lao động, vừa chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do trở thành nguồn sức mạnh tinh thần, động viên cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 hoàn thành nhiệm vụ. Trên con Đường Trường Sơn huyền thoại, người chỉ huy và cấp dưới yêu thương nhau như anh em một nhà, là con em của nhân dân, được nhân dân nước ta và nước bạn Lào chở che, đùm bọc. Có hy sinh, có gian khổ, nhưng bản lĩnh Bộ đội Trường Sơn luôn vững chí, không bao giờ lùi bước, đánh địch mọi nơi và không ngừng sáng tạo. Những tháng năm ác liệt trên tuyến Đường Trường Sơn đã nuôi dưỡng ý chí chiến đấu kiên cường, tinh thần lao động sáng tạo của Bộ đội Trường Sơn. Đất nước hòa bình, Bộ đội Trường Sơn lại lập nên những chiến công mới trên mặt trận chống đói nghèo, xây dựng kinh tế, đoàn kết yêu thương nhau, gương mẫu trong gia đình và ở địa phương. Dù tuổi cao, nhưng tôi luôn mong muốn có nhiều dịp quay trở lại Trường Sơn, không chỉ để thăm mà còn "truyền lửa" của Bộ đội Trường Sơn cho thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay”.
Theo QĐND

Huyền thoại sống trên đường Trường Sơn

03:16 PM - 11/02/2016

BP - Trong chuyến du xuân dọc tuyến đường Trường Sơn huyền thoại năm xưa (nay là đường Hồ Chí Minh), chúng tôi rất may mắn được gặp những huyền thoại sống, những anh hùng trong chiến trận và cũng là những nhân chứng đã chứng kiến bao đổi thay của đất nước sau 40 năm giải phóng. Họ đều là đồng bào dân tộc thiểu số, người được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND), người là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy hơn 15 năm... Đó là những tấm gương để giáo dục truyền thống hào hùng của dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay.

5 lần được gặp Bác Hồ
Đất A Lưới (Thừa - Thiên Huế) những ngày đầu xuân không khí se lạnh, chúng tôi phải mặc thêm áo ấm. Tôi tìm đến nhà Anh hùng LLVTND Hồ Đức Vai không khó vì chúng tôi được người dân chỉ đường rất tường tận. Căn nhà cấp 4 nằm nép mình trong vườn cây ăn trái, bên cạnh hồ cá càng làm không gian thêm tĩnh mịch giữa vùng núi non trùng điệp. Ông Hồ Vai (tên gọi thân mật) nói: Trước đây, đồng bào dân tộc Pa Cô không ăn tết Nguyên đán. Nhưng từ khi được mang họ Bác Hồ thì người dân Pa Cô cũng vui xuân đón tết như đồng bào Kinh.
Anh hùng Hồ Vai và tấm hình vinh dự được chụp với Bác Hồ năm 1965
Ông Hồ Vai (1940), người dân tộc Pa Cô ở A Lưới được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1965. Sau khi lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, anh hùng Hồ Vai được ra Bắc báo cáo thành tích. Ông Vai kể: “Tôi tên thật là Lê Vai, tham gia bộ đội địa phương năm 1958, 7 năm sau thì vào đơn vị chủ lực của Quân khu 5. Tôi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải đi xin ăn sống qua ngày. 14 tuổi, bộ đội về làng, tôi đi theo bộ đội đánh Mỹ. Những ngày đầu vừa đánh địch, tôi vừa giúp bộ đội đào hầm, vót chông, dẫn đường... Sau này tôi là đại đội trưởng bộ đội địa phương. Hồi đó, cái bụng đồng bào đói nhưng chiến đấu rất gan dạ. Trai tráng vào rừng chặt cây, vót chông, đặt bẫy bảo vệ làng. Phụ nữ, người già, trẻ con tham gia sản xuất, giã gạo nuôi quân. Gian khổ nhất là lúc đánh đồi ASo, đây là cứ điểm cuối cùng của địch trong thung lũng A Lưới. Ta đã hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh và pháo binh để đánh trận cuối cùng. Khi bộ binh vào bắt sống địch thì pháo binh từ biên giới Việt - Lào bắn sang làm cho quân địch thương vong không ít”.
Ông Hồ Vai không nhớ hết những chiến công của mình trong kháng chiến chống Mỹ. Chúng tôi gợi mở mãi, ông mới nhớ lại trận một mình ông đã đánh lui 2 tiểu đoàn địch vào năm 1963. Ông kể tiếp: “Hôm đó, bộ đội hành quân xa, địch huy động 2 tiểu đoàn vào làng càn quét. Tôi đang ngồi vót chông thì người làng báo có giặc. Tôi chạy về hướng tiếng súng thì đụng ngay đội hình địch. Tôi lia nguyên một băng đạn tiểu liên rồi lao xuống khe dụ địch vào rừng chông. Sau đó, tôi luồn rừng nhập vào quân địch chọn thời điểm nổ súng làm chết và bị thương một số tên. Tưởng bị bộ đội phục kích, địch hốt hoảng tháo chạy”.
Với chiến công này, anh hùng Hồ Vai được ra Bắc báo công với Bác Hồ vào năm 1965. Và liên tiếp những năm sau đó, ông Hồ Vai được gặp Bác 5 lần. Ông Vai nhớ lại: “Khi gặp Bác, chúng tôi ai cũng khóc và chạy đến ôm lấy Bác vì Người sống giản dị và gần gũi nhưng tấm lòng lại quá vĩ đại. Tôi nói đồng bào theo Đảng, Bác Hồ đánh Mỹ, Bác cho chúng con được mang họ của Người. Sau đó, về lại A Lưới, tôi nói chuyện gặp Bác với mọi người tại một buổi mít tinh và hỏi đồng bào có theo tôi mang họ của Bác để đánh thắng giặc Mỹ không, thì hàng ngàn cánh tay giơ lên đồng thanh đáp “có”. Thế là từ đó, đồng bào dân tộc Pa Cô ở A Lưới đều mang họ của Bác Hồ và tôi là Hồ Vai”.
Nồi cơm của Y Buông
Chúng tôi đến thăm Anh hùng LLVTND Y Buông, người dân tộc Xơ Đăng lúc cơn mưa xuân của núi rừng Tây Nguyên bất chợt ập đến. Đứa cháu ngoại vội đẩy chiếc xe lăn đưa bà Y Buông ra phòng khách. Trong căn nhà cấp 4 nằm sát bên đường Hồ Chí Minh ở trị trấn Đắk Tô, huyện Đắk Tô, tỉnh KonTum treo rất nhiều huân - huy chương, bằng khen, giấy khen của bà và con cháu.

Anh hùng LLVTND Y Buông và cháu gái
Bà Y Buông không nhớ mình sinh năm nào, chỉ nghe kể bà được sinh ra và lớn lên ở khu vực này. Thời thiếu nữ, Y Buông như bông hoa rừng buổi sớm, nhiều trai làng để mắt tới nhưng giặc về giày xéo quê hương nên Y Buông đi theo bộ đội đánh giặc. Cha bà bảo, ở lại làng cũng chết, vào rừng cũng chết, vậy nhà ta nên theo bộ đội đánh Mỹ may còn đường sống. Vậy là gia đình bà rời bản làng theo bộ đội, riêng bà vào huyện đội làm chị nuôi lúc mới mười tám đôi mươi. Do khó khăn về lương thực nên hằng ngày Y Buông vào rừng sâu, vượt núi cao để kiếm măng, rau rừng, bắt cua, cá, đào củ mài, sắn... về nuôi quân. Ban đêm, bà Y Buông được dạy cách bắn súng, học chữ, cách giấu tài liệu, bảo vệ tài sản... “Là chị nuôi nhưng tôi được phát một khẩu tiểu liên để đánh giặc. Tôi nhớ một lần bị giặc càn, bộ đội tản vào rừng. Nhớ tới dụng cụ nấu bếp nếu bị phá thì không nuôi quân được, tôi lén quay về giấu hết xoong nồi vào bìa rừng rồi ôm tài liệu của đơn vị chạy trốn. Đêm leo lên cây ngủ, ngày phải di chuyển đi nơi khác, 3 ngày sau tôi mới trở về đơn vị” - bà Y Buông kể.  Dù địch dội bom đạn, dày đến mấy, bếp của chị nuôi Y Buông vẫn đỏ nhưng không để lộ. Năm 1972, bà Y Buông được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên cùng năm, bà Y Buông giẫm phải mìn nên bị cụt một chân.
Sau ngày đất nước thống nhất, bà Y Buông lập gia đình và sinh được 2 người con. Con trai đầu đã mất vì sốt rét rừng, còn con gái đang làm ở Bệnh viện đa khoa huyện. Chồng bà đã ra đi hơn chục năm nay vì di chứng sau chiến tranh... Bà Y Buông giờ là “bóng cây kơnia đại thụ” bên tuyến đường Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ noi theo.
Người phụ nữ có thần kinh thép
Theo lời chỉ dẫn của bà Y Buông, chúng tôi đến thành phố Plâyku (Gia Lai) để tìm người phụ nữ Jrai có “thần kinh thép” của núi rừng Tây Nguyên trong những năm chống Mỹ cứu nước.
Bà Rơ Châm H’Yéo (1950) ngồi đó bình dị và thanh thản lạ thường, khác xa với những chiến công vang dội thời đánh Mỹ của bà. Bà H’Yéo sinh ra trên vùng đất Tây Nguyên thượng võ. 17 tuổi, bà tham gia bộ đội địa phương thuộc Huyện đội Chư Pảh. Những năm đi bộ đội, bà H’Yéo cùng đơn vị chiến đấu tại đồi Tròn bảo vệ đường 14. Tại đây, bà đã lập được nhiều chiến công xuất sắc, cùng đồng đội bắt sống hàng trăm tù binh, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép của địch. Sau ngày giải phóng, bà được đơn vị cử đi học quản lý nhà nước để tham gia xây dựng chính quyền cách mạng. Sau đó, bà H’Yéo giữ chức Chủ tịch Hội Phụ nữ tỉnh Gia Lai trong 15 năm. Năm 1996, bà là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai và giữ chức Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam tỉnh cho đến năm 2007 thì nghỉ hưu. Sau đó, bà được bầu làm Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh cho đến nay.
Bà H’Yéo
Dù rất bận rộn với công tác hội nhưng bà H’Yéo cũng dành cho chúng tôi nhiều thời gian để nói về Trường Sơn, về vùng đất, con người Tây Nguyên những năm đánh Mỹ cứu nước và những mùa xuân mới ở Gia Lai. Bà còn kể chuyện Trung đoàn 95 ngày Đại tướng Đoàn Khuê làm Trung đoàn trưởng cùng đơn vị bà đánh Mỹ ở đồi Tròn. Chuyện họp mặt của các cựu chiến binh sau ngày giải phóng. Chuyện tên ác ôn Chiu đóng giả làm dân thường thủ tiêu cán bộ bị trâu đồng bào húc lòi ruột. Chuyện máy bay Mỹ rải chất độc hóa học, chuyện 2 du kích dùng mưu đánh tiêu diệt 2 đơn vị dã chiến và bảo an của Mỹ - ngụy.
Trong thời kỳ Gia Lai xây dựng quê hương, những ý kiến đóng góp của bà H’Yéo được Ban Thường vụ Tỉnh ủy đánh giá rất cao, nhất là việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc... Ngày nay, trong phong trào xây dựng nông thôn mới, đời sống văn hóa khu dân cư, bà H’Yéo là ngọn cờ tiên phong ở Gia Lai trong việc vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc thiểu số đóng góp sức người, sức của xây dựng quê hương. Là một trong những cán bộ cốt cán của tỉnh Gia Lai, bà H’Yéo luôn nhận thấy quê hương, đất nước đang đổi thay từng ngày. Những lúc rảnh rỗi, bà và các đồng chí trong hội thường ôn lại truyền thống Bộ đội Cụ Hồ.
Xuân mới đang về trên khắp mọi nẻo đường đất nước. Huyền thoại sống như anh hùng Hồ Vai, bà Y Buông hay bà H’Yéo lại già thêm một tuổi nhưng quá khứ của họ luôn gắn liền với cuộc kháng chiến vẻ vang của dân tộc để cho đất nước mãi trọn niềm vui. Họ là những tượng đài sống trên dải Trường Sơn hùng vĩ để giáo dục truyền thống thế hệ trẻ của đất nước.
Tấn Phong - Nhất Sơn

Tên lửa SAM-2 vượt trường Sơn.

Tên lửa sang Tây Trường Sơn diệt AC-130 Mỹ: Các ông ở đâu đến mà chủ quan, liều mạng thế?


Chúng bay ở độ cao 3 – 4km, chủ yếu dùng pháo 40mm bắn xuống sát thương trên xe cộ. Các đội xe khi gặp máy bay AC-130, dù đã tắt đèn để chạy vẫn bị chúng phát hiện và bắn trúng.
Đưa tên lửa vượt sang Tây Trường Sơn
Mùa khô năm 1971, theo quyết định của Bộ Tổng tư lệnh, các lực lượng của Đoàn 559 liên tiếp mở các chiến dịch vận chuyển lớn chi viện cho chiến trường miền Nam chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên ba hướng chính: Trị – Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
Theo lệnh của Quân chủng PK-KQ, Tiểu đoàn tên lửa 67, Trung đoàn 275 đang bảo vệ cửa khẩu đường 12, cơ động gấp sang tây Trường Sơn đánh máy bay AC-130.

Máy bay AC-130 của Mỹ.
Máy bay AC-130 của Mỹ.
Ngày 19-12-1971, Tiểu đoàn 67 được Tiểu đoàn pháo cao xạ 119 bảo vệ vượt cửa khẩu đèo Mụ Giạ, qua trọng điểm 050, Siềng Phan – Pha-nốp xuống Lùm Bùm.
Dọc đường hành quân địch đánh phá ác liệt, Tiểu đoàn cao xạ 119 tích cực bảo vệ tên lửa đã bắn rơi 1 F4 ở Pắc-pha-năng.
Tại Lùm Bùm, đơn vị vừa nghiên cứu nắm quy luật hoạt động của địch chưa kịp triển khai chiến đấu, lại có lệnh hành quân ngay xuống đường 9, khu vực đường Máy Húc.
Đường hành quân không ai biết, thời gian lại gấp chúng tôi quyết định lấy một xe Gát-66 đi ngay ban ngày để trinh sát đường xá và tìm nơi trú quân.
Mới đi được một quãng đường đã bị ba-rie của binh trạm giữ lại và mắng cho một trận: “Các ông ở đâu đến mà chủ quan, liều mạng thế”.
Binh trạm chỉ cho đi đêm và lấn sáng, lấn chiều.
Cuối cùng đơn vi cũng khắc phục khó khăn, nguy hiểm vượt qua các trọng điểm và đèo Văng Mu đến được nơi trú quân ở đường Máy Húc.
Khu vực này có nhiều đồi cây lúp súp, nhiều vạt rừng xanh tốt, kín đáo có thể cất giấu khí tài, bố trí trận địa tên lửa phù hợp, đánh được AC-130 bay dọc theo tuyến vận chuyển từ bắc xuống nam đường 9.
Suốt chặng đường hành quân dọc theo Trường Sơn từ đèo Mụ Giạ xuống sát đường 9, chiều dài gần 200km, Tiểu đoàn 67 bị đánh 21 lần có 17 lần trúng đội hình, một số cán bộ chiến sĩ thương vong, xe cộ, khí tài bị đánh hỏng nhiều:
“Hỏng khối hoàn mã hệ phát lệnh xe tính toán, 1 cần cẩu, 3 bệ, 1 xe chở đạn TZM, cháy 1 xe téc chở xăng, mang đi 8 quả tên lửa thi bị cháy 2, hỏng 3. Chiếc xe Gát chở hàng Tết cho trung đoàn sang cho bộ đội bị AC-130 bắn cháy nên anh em Tiểu đoàn 67 và Tiểu đoàn cao xạ 119 năm đó không có Tết”.

Máy bay AC-130 của Mỹ. Ảnh minh họa.
Máy bay AC-130 của Mỹ. Ảnh minh họa.
Trong khi chờ đợi cán bộ kỹ thuật của trung đoàn đến sửa chữa khí tài và bổ sung thêm tên lửa, chúng tôi tổ chức đi bộ khảo sát địa hình, đường xá dọc theo đường 128 cắt đường 9, vùng Na-bo, Sê-pôn, Thà- khống, Bản Đông, dọc đường xuống Mường Noòng, trên đường la liệt chỗ nào cũng thấỵ xe cộ bị bắn cháy.
Tiếp xúc với một số cán bộ binh trạm khu vực đường 9, các đồng chí bức xúc nói: “Dạo này AC-130 hoạt động dữ quá, xe cộ bị bắn cháy nhiều, binh trạm nào không có đường “lấn” thì không thể hoàn thành kế hoạch. Cao xạ 37mm của binh trạm không bắn tới AC- 130. Chúng tôi vô kế khả thi. Mong Bộ nhanh chóng đưa tên lửa sang”.
Theo tư liệu của Đoàn 559: Máy bay AC-130 được trang bị pháo 40mm và 20mm, có máy quan sát hồng ngoại, khuyếch đại ánh sáng mờ nên phát hiện rõ mục tiêu di động trong đêm tối và điều khiển pháo bắn chính xác.
Thời gian hoạt động trong đêm của AC-130 khoảng 2-3 lần, mỗi lần kéo dài từ 2 – 3 giờ bay, túc trực trên không từ đầu tuyến đến cuối tuyến, đặc biệt ở Nam Bắc đường 9, không một đoàn xe nào đi trên đường trống trải mà không bị phát hiện và tấn công.
Chúng bay ở độ cao 3 – 4km, chủ yếu dùng pháo 40mm bắn xuống sát thương trên xe cộ. Các đội xe khi gặp máy bay AC-130, dù đã tắt đèn để chạy vẫn bị chúng phát hiện và bắn trúng. Trong số xe bị bắn hỏng có 60 đến 70% do AC-130 gây ra. Số lái xe thương vong từ 10 đến 20%.

Bộ đội vận tải hành quân trên đường Trường Sơn.
Bộ đội vận tải hành quân trên đường Trường Sơn.
Át chủ bài AC-130 Mỹ đền tội
Tiểu đoàn 67 từ khi bố trí ở trận địa Máy Húc đã đánh hai trận đúng đối tượng AC-130 được Bộ tư lệnh 559 công nhận bắn rơi một chiếc nhưng không rơi tại chỗ.
Đánh máy bay AC-130 không dễ. Ban ngày OV-10 lượn lờ nhòm ngó, ngụy trang sơ hở một chút là bị máy bay cường kích đến ném bom. Ban đêm nó được máy bay tiêm kích đi hộ tống, lùng sục tìm rađa tên lửa phát sóng để phóng sơ-rai (PV – Tên lửa cao tốc tự dẫn diệt radar Shrike).
Nhiều tiểu đoàn tên lửa trước đây đã sang Tây Trường Sơn và các tiểu đoàn tên lửa 68, 69 của Trung đoàn 275 cũng đã bị sơ-rai bắn hỏng khí tài, nên cán bộ và kíp chiến đấu Tiểu đoàn 67 cũng rất ngại sơ-rai, cả hai trận đánh AC-130 đều dùng phương pháp bắn đuổi.
Đồng chí Thân, trung đoàn trưởng Trung đoàn 275 rất trăn trở về hai trận bắn đuổi của Tiểu đoàn 67, đã cùng một số cán bộ xạ kích giỏi của Quân chủng, sư đoàn, nhà trường trực tiếp xuống đơn vị gặp cán bộ tiểu đoàn và kíp trắc thủ.
Tại đây, các đồng chí đã trao đổi, bàn bạc dân chủ, thống nhất cách đánh trong trận tiếp theo, hướng dẫn cho đơn vị sử dụng phương pháp điều khiển, chế độ ngòi nổ phù hợp với đặc điểm đánh đối tượng AC-130 có tốc độ chậm.
Đồng thời cũng nhắc anh em về truyền thống đánh nhanh, đánh có chuẩn bị của đơn vị, cảnh giác đề phòng địch phóng “sơ rai”, đưa mọi công tác chuẩn bị trực tiếp lên giai đoạn chuẩn bị trước, tận dụng các phần tử của đài radar nhìn vòng, rút ngắn thời gian phát sóng của đài điều khiển, phóng nhanh khi phát hiện được mục tiêu…

Tên lửa SAM-2 vượt trường Sơn.
Tên lửa SAM-2 vượt trường Sơn.
3 giờ sáng ngày 29-3-1972, Tiểu đoàn 67 chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu 4 bệ, 4 đạn, 3 rãnh, khí tài tốt.
Kíp chiến đấu số 1 do đồng chí Lành – Tiểu đoàn phó chỉ huy, đồng chí Bá – Sĩ quan điều khiển, các trắc thủ: Chàng – cự ly, Bằng – phương vị, Dương – góc tà, phát hiện một AC-130 từ phía Nam đường 9 bay lên.
Theo phương án đã chuẩn bị, tiểu đoàn phóng hai quả tên lửa, dùng phương pháp bắn đón, đạn có điều khiển tốt, nổ trùm lên mục tiêu. Máy bay AC-130 rơi tại chỗ, cách trận địa khoảng l0 km. Đồng chí Lành đến tận nơi kiểm tra thấy có 13 nhân viên phi hành đoàn đã bị chết.
Tư lệnh Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên gửi ngay điện xuống biểu dương, tặng thưởng Tiểu đoàn 67 một chiếc đài bán dẫn National, một xe quà lấy ở Binh trạm 41 và đề nghị lên trên tặng thưởng cho đơn vị Huân chương Quân công hạng Nhì.
Tư lệnh mặt trận Trị – Thiên Lê Trọng Tấn, Bộ Tư lệnh Quân chủng, Sư đoàn 377 và nhiều đơn vị khác đã gửi điện chúc mừng đến Trung đoàn 275.
Lần đầu tiên bộ đội tên lửa bắn rơi tại chỗ máy bay AC-130 ở Tây Trường Sơn, đối thủ nguy hiểm nhất của tuyến chi viện chiến lược.
Choáng váng trước sự uy hiếp của tên lửa, máy bay AC-130 phải ngừng hoạt động trên một khu vực rộng lớn của cửa khẩu vào đến Bạc trong 15 ngày, tạo điều kiện cho đội hình xe tiến công cả ngày và đêm trên cả đường “kín” và đường “hở”. Hiệu suất vận chuyển tăng từ 3 đến 4 lần so với trước.
Con “Át chủ bài” AC-130 bị đánh gục, bộ đội Trường Sơn đẩy cuộc “Tổng công kích” lên một cao trào mới. Hơn 40 tiểu đoàn xe tiến công dồn dập cả ngày và đêm. Nhiều đội hình được lệnh chạy thẳng từ đầu tuyến đến cuối tuyến.
Chiến công của Tiểu đoàn 67 bắn rơi tại chỗ máy bay AC-130 là rất xuất sắc. Đây cũng là chiến công chung của tất cả cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tên lửa 275 đã đổ máu, mồ hôi, công sức, vượt qua bao khó khăn nguy hiểm để kiểm tra, sửa chữa khí tài, tiếp tế đạn phục vụ cho tiểu đoàn đánh thắng. Nhiều anh em đã anh dũng hy sinh.
Chiến công của Tiểu đoàn 67 cũng góp phần quan trọng cùng các lực lượng vận chuyển của Đoàn 559 tăng cường, chi viện hiệu quả cho chiến trường miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, thắng lớn trên các hướng chiến dịch Trị Thiên – Bắc Tây Nguyên – Đông Nam Bộ.
(Trích hồi ức của Đại tá Nguyễn Tiến Thu, Nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không trong cuốn Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh, NXB QĐND, 2008)
theo Thời đại
 

Từ năm 1954, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương cho miền Nam đánh Mỹ. Giữ vững liên lạc giữa hai miền là việc quan trọng nhằm đảm bảo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng với phong trào cách mạng miền Nam thông suốt, kịp thời. Lúc đó cả nước mới có một tuyến liên lạc ngang qua miền Tây Quảng Trị do Liên khu V phụ trách, chỉ đạo, có nhiệm vụ bảo đảm giao thông liên lạc, vận chuyển giữa Trung ương và địa phương như đưa đón cán bộ ra, vào, vận chuyển phương tiện vật liệu, thư từ, công văn từ Trung ương vào Nam giới tuyến. Do phải đi dọc đường giáp ranh, quân địch đóng đồn bốt khá dày đặc nên một năm quân ta chỉ đi được một vài lần, mà chủ yếu là đưa cán bộ đi công tác. Mỗi lần đi phải bí mật, móc nối cơ sở rất công phu. Trên trục đường này ta không có căn cứ vững chắc, quá gần địch, vì vậy không thể đáp ứng yêu cầu vận tải người và vũ khí với số lượng lớn khi cách mạng miền Nam phát triển.

Năm 1959, cách mạng miền Nam đứng trước một bước ngoặt, đòi hỏi Đảng ta phải có quyết sách kịp thời. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (tháng 1 năm 1959) đã đề ra nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị chỉ rõ: “Con đường phát triển của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng về nhiệm vụ chi viện miền Nam, việc nhanh chóng mở đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến trường trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Thiếu tướng Võ Bẩm (1915- 2008), một trong những “kiến trúc sư” đầu tiên của đường Trường Sơn huyền thoại.
Đầu tháng 5 năm 1959, những cán bộ đầu tiên được Bộ Quốc phòng điều về chuẩn bị mở đường Trường Sơn làm việc tại các số nhà 63 và 83 phố Lý Nam Đế (Hà Nội). Đoàn mang tên “Đoàn công tác quân sự đặc biệt”. Đoàn trưởng là Thượng tá Võ Bẩm, đồng chí rất thông thuộc địa hình Trường Sơn.
Sau khi đã chuẩn bị về tổ chức, ổn định về công việc. Ngày 19 tháng 5 năm 1959, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh chính thức phổ biến nhiệm vụ của Đoàn công tác quân sự đặc biệt là mở đường Trường Sơn, tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam, thiết lập tuyến hành lang, nối thông liên lạc, vận chuyển gấp một số hàng quân sự thiết yếu theo yêu cầu của chiến trường, trước mắt là Liên khu V với khoảng: 7000 súng bộ binh và bảo đảm cho 500 cán bộ Trung và Sơ cấp hành quân qua tuyến vào tăng cường cho chiến trường miền Nam.
Ra đời tháng 5-1959, Đoàn Công tác quân sự đặc biệt được mang phiên hiệu là Đoàn 559. Lúc đầu Đoàn chỉ có Ban chỉ huy đoàn, Đoàn vận tải bộ 301 và các bộ phận xây dựng kho, bao gói, sửa chữa vũ khí, trang bị… Cả đơn vị và cơ quan gồm 500 cán bộ, chiến sĩ. Chỉ trong thời gian ngắn, Đoàn 559 đã ổn định về tổ chức, nhiệm vụ và phương thức hoạt động là tuyệt đối bí mật và an toàn.
Các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 trinh sát vạch tuyến mở đường Trường Sơn, năm 1960.
Cuối tháng 5 năm 1959, Đoàn đã tuyển được 440 cán bộ, chiến sĩ, tổ chức hoàn chỉnh Đoàn 301 (tương đương Tiểu đoàn), các chiến sĩ đều là quê miền Nam xây dựng gia đình ở miền Bắc và một số đã qua đào tạo ở các trường trong và ngoài quân đội. Sau khi ổn định tổ chức, toàn tiểu đoàn bước vào học tập tình hình nhiệm vụ cách mạng.
Đến tháng 6 năm 1959, bộ đội Trường Sơn bắt đầu vượt sông Bến Hải và phân bố các đơn vị vào các binh trạm. Đoàn 559 đã chọn Khe Hó, nằm giữa một thung lũng ở Tây Nam Vĩnh Linh là địa điểm xuất phát đầu tiên của tuyến đường lịch sử tiến vào Trường Sơn; khẩu hiệu có tính chất mệnh lệnh lúc này là “ở không nhà, đi không để dấu, nấu không để khói, nói không thành tiếng”. Các “đường dây” gùi hàng phải chủ động tránh địch, tránh cả dân để bảo toàn lực lượng, bảo đảm “tuyệt đối bí mật, an toàn” của tuyến đường.
Ngày 13/8/1959, chuyến hàng đầu tiên chính thức vượt Trường Sơn; sau 8 ngày đêm, hàng đã được bàn giao cho chiến trường Trị Thiên (20 khẩu tiểu liên, 20 khẩu súng trường, 10 thùng đạn).
Đoàn 559 vận chuyển bằng xe cơ giới trên tuyến đường Trường Sơn chi viện cho chiến trường miền Nam.
Cũng trong tháng 5 năm 1959, Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn B90 tăng cường cho Liên khu V soi đường nối hai chiến trường khu V và Nam Bộ, nối thông hành lang chiến lược Nam - Bắc. Đoàn B90 (gồm 25 cán bộ, chiến sĩ) ngày 20 tháng 6 năm 1959 vượt thượng nguồn sông Bến Hải theo đường giao liên hành quân qua miền Tây Trị Thiên vào Quảng Nam. Tiếp đó, Liên khu V quyết định sáp nhập Đoàn B90 với Đội vũ trang công tác tỉnh Đắk Lắk lấy phiên hiệu là B4 do Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk phụ trách.
Để đẩy mạnh việc chi viện cho miền Nam, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy chủ trương mở tuyến chi viện đường biển. Đoàn 559 được giao nhiệm vụ tổ chức tuyến vận tải này. Tháng 7 năm 1959, Tiểu đoàn 603 vận tải biển thuộc Đoàn 559 được thành lập, biên chế 107 cán bộ, chiến sĩ đóng tại Cảng cá Thanh Khê, lấy danh nghĩa là “Tập đoàn đánh cá miền Nam”. Như vậy, tới cuối năm 1959, tuyến hành lang giao liên vận tải quân sự Trường Sơn được thiết lập, thật sự trở thành cầu nối giữa căn cứ địa miền Bắc với chiến trường miền Nam.
Phát huy thắng lợi của chuyến đi đầu tiên, đồng thời tranh thủ yếu tố bí mật, bất ngờ, toàn Đoàn dốc sức chuyển hàng và dẫn quân qua tuyến. Đến hết tháng 8-1959, Đoàn 559 đã chuyển giao cho Liên khu V được 60 súng trung liên, 100 súng tiểu liên, súng trường và hàng nghìn viên đạn súng bộ binh. Cuối năm 1959, Đoàn đã chuyển vào Tà Riệt - Pa Lin 1.667 khẩu súng bộ binh, hàng trăm nghìn viên đạn, súng trường, tiểu liên, súng ngắn… ngoài ra, Đoàn còn đưa 542 cán bộ, chiến sĩ, phần lớn là cán bộ chỉ huy, cán bộ kỹ thuật quân khí vào làm nhiệm vụ ở miền Nam.
Từ tháng 5-1959 đến tháng 12-1959, tuy mới nửa năm thành lập, vừa tổ chức vừa xây dựng lực lượng, vừa soi lối mở đường nên việc vận chuyển vũ khí, trang bị chi viện cho miền Nam, đưa cán bộ chiến sĩ từ Bắc vào Nam chiến đấu còn ít ỏi. Song nó có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trực tiếp góp phần đưa cách mạng miền Nam phát triển lên một cao trào mới là phong trào “Đồng khởi”, đây là bước ngoặt lịch sử của cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Con đường chiến lược Trường Sơn 1959-1964.
Trải qua những ngày tháng gian khổ, Đoàn vận tải quân sự chiến lược 559 đã tiến được những bước mở đầu quan trọng trên con đường chiến lược Bắc - Nam. Từ những bước lặng lẽ soi đường mở lối đầu tiên, những người lính Trường Sơn đã làm nên con đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyền thoại với 5 trục đường dọc, 21 trục đường ngang ở Đông và Tây Trường Sơn với tổng chiều dài gần 20.000 km; 01 tuyến đường “kín” dài 3.140 km; hệ thống đường sông dài gần 500 km; 1.400 km đường ống xăng dầu; gần 17.000 km đường xe cơ giới; san lấp 78.000 hố bom; phá 12.600 quả bom từ trường, 8.000 quả bom nổ chậm, 85.100 quả mìn các loại. Đoàn đã tổ chức hành quân cho hơn 2 triệu lượt bộ đội, cán bộ ra vào qua chiến trường Trường Sơn, vận chuyển hàng chục triệu tấn vũ khí, trang thiết bị quân sự cho chiến trường miền Nam; đánh 2.500 trận bộ binh, loại khỏi vòng chiến đấu gần 20.000 tên địch, thu và phá hủy hơn 100 xe quân sự, hàng ngàn súng các loại; bắn rơi 2.450 máy bay địch.
Trong Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, bộ đội Trường Sơn đã bảo đảm giao thông toàn bộ tuyến đường Quốc lộ 1 và 7 tuyến đường khác, có tổng chiều dài 2.577 km, bắc 88 cây cầu, sử dụng trên 1.000 xe ô tô chở các quân đoàn chủ lực và chở bổ sung gần 20 vạn quân cho các chiến dịch để giải phóng miền Nam.
Trung đoàn 6 công binh anh hùng Bộ đội Trường Sơn trong nhiệm vụ mở đường lớn bằng phương tiện cơ giới chuẩn bị cho Chiến dịch Tổng công kích mùa Xuân 1975.
16 năm ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, Mỹ đã thực hiện 733.000 trận oanh kích bằng đủ các loại máy bay, trút xuống Trường Sơn 4 triệu tấn bom đạn các loại. Mười sáu năm chiến đấu anh dũng trên tuyến đường mang tên Bác, lực lượng cầu đường với 4 sư đoàn công binh và 1 vạn thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến kiên cường bám trụ, giành giật từng thước đường. “Máu có thể đổ, nhưng đường không thể tắc”, Bộ đội công binh Trường Sơn đã luôn giữ cho tuyến đường được thông suốt, việc chi viện cho chiến trường Nam Bộ vì thế không lúc nào bị gián đoạn.
Lực lượng vận tải với 2 sư đoàn ô tô cơ động xứng đáng với danh hiệu “gan vàng dạ ngọc”, “còn người còn xe, còn hàng”, đã vận chuyển hơn 1 triệu tấn vũ khí, đạn dược, lương thực chi viện cho các hướng chiến trường.
Lực lượng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống 17.740 tên địch, giải phóng một vùng rộng lớn Nam Lào, bảo vệ vững chắc hành lang tuyến chi viện.
Lực lượng phòng không gồm 1 Sư đoàn và 9 Trung đoàn và các đơn vị khác của Trường Sơn đã bắn rơi tại chỗ 2.455 máy bay các loại, bảo vệ thắng lợi lực lượng vận tải chi viện cho các hướng chiến trường.
Lực lượng giao liên xứng đáng với 10 chữ vàng “Tận tình với đồng chí, tận nghĩa với chiến trường” mở 3.000 km đường giao liên, tổ chức cho hơn 2 triệu lượt người vào ra chiến trường an toàn.
Các lực lượng thông tin với khẩu hiệu “Coi dây như ruột, coi cột như xương” xây dựng 1.350 km đường thông tin tải ba và hàng vạn km dây thông tin các loại, đảm bảo thông tin với các đơn vị, các hướng chiến trường.
Bộ đội xăng dầu đã mở 1.400 km đường ống xăng dầu, 600 km đường sông…
Đường Hồ Chí Minh trở thành một chiến trường có không gian rộng lớn trải dài trên 11 tỉnh của Việt Nam, 7 tỉnh Nam Lào và 4 tỉnh Đông Bắc Campuchia. Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh thực hiện nhiệm vụ chiến lược, tạo cơ sở vật chất, tạo điểm tự vững chắc và là sức mạnh to lớn cho cách mạng của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.
 Các khu căn cứ của Đoàn 559 trên lãnh thổ Lào.
Đoàn 559 từ một đơn vị vận tải giao liên, bước đầu hình thành một lực lượng bộ đội hợp thành gồm: vận tải, bộ binh, công binh, phòng không, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân giao thông, bảo đảm tuyến vận chuyển không ngừng phát triển từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn, từ hậu phương lớn miền Bắc vào các chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia, góp phần đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng lên thế tiến công đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đoàn 559 đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh hạng Nhất; 77 đơn vị và 44 cán bộ, chiến sĩ được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Xuân 1973 đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đến thăm Bộ đội Trường Sơn đã ghi vào sổ vàng truyền thống Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh: “Đường Trường Sơn là một chiến công chói lọi. Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, đường Trường Sơn là con đường của ý chí quyết thắng, của lòng dũng cảm, của khí phách anh hùng. Đó là con đường nối liền Nam - Bắc thống nhất nước nhà, là con đường của tương lai giàu có của Tổ quốc ta. Đó cũng là con đường đoàn kết của các dân tộc, của ba nước Đông Dương. Đường Trường Sơn nhất định sẽ kéo dài và mở rộng. Chúng ta nhất quyết đi tiếp con đường đó cho đến thắng lợi hoàn toàn. Quang vinh thay Bộ đội Trường Sơn Anh hùng đã chiến đấu và chiến thắng trên con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại. Mong rằng toàn thể cán bộ chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn hãy phát huy truyền thống oanh liệt của quân đội ta để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của con đường chiến lược vẻ vang này trong giai đoạn mới của cách mạng”.    
Phương Anh (tổng hợp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32