Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 57/b (Bảo vệ đường mòn HCM)
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Trừng trị bóng ma trên đỉnh Trường Sơn - Phần 2
Trong chiến tranh Việt Nam, AC-130U được trang bị khí tài trinh sát, hệ
thống vũ khí hiện đại phục vụ mục đích duy nhất là bằng mọi giá ngăn
chặn hoạt động vận chuyển đường Trường Sơn.
AC 130 có vai trò hỗ trợ tấn công đường không tầm gần và đánh phá tuyến
đường giao thông.
AC-130 lắp đặt thiết bị nhìn đêm hồng ngoại, thiết bị khuếch đại ánh
sáng mờ (độ khuếch đại tối đa tới 4.000 lần), thiết bị nhìn đêm tạo ảnh
nhiệt và thiết bị phát hiện tia lửa điện khi ô tô hoạt động…
Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh sức mạnh của chiến tranh nhân dân huyền thoại
TCCSĐT -
Trong nhiều giai đoạn lịch sử, Trường Sơn luôn là chỗ dựa và căn cứ để
kháng chiến chống xâm lược, là nơi hội tụ và dấy binh của nghĩa quân
chống ách thống trị.
Trong
kháng chiến chống mỹ cứu nước, Đảng ta đã xác định rõ: “miền Nam là tiền
tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn”, vì vậy miền Bắc phải chi viện
sức người, sức của cho miền Nam chiến đấu. Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “dù phải hy sinh đến
đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, chúng ta cũng phải kiên quyết
dành cho được độc lập”(1). Vấn đề đặt ra cho miền Bắc là phải tìm đủ mọi
cách để chi viện cho chiến trường miền Nam. Vì vậy, ngày 19-5-1959,
đường dây 559 - đường vận tải quân sự chiến lược ra đời, sau này gọi là
“Đường Hồ Chí Minh”. Đây là tuyến vận tải chủ yếu cho chiến trường miền
Nam, là cầu nối liền giữa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn, hậu phương
trực tiếp của các chiến trường. Đồng thời, cũng là căn cứ tập kết và
xuất phát tiến công của các binh đoàn cơ động chiến lược của ta trong
các chiến dịch, trên các chiến trường ở miền Nam Việt Nam cho đến lúc
chúng ta đánh cho “Mỹ cút, ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước.
Nhận
thức rõ: “Liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách
mạnh vì nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và
do đó nó bảo đảm thắng lợi”(2), cho nên, việc xây dựng đường Trường Sơn
được tiến hành tích cực và khẩn trương, nhất là trong những năm Mỹ dội
hàng triệu tấn bom xuống làng mạc, rừng núi ở miền Nam Việt Nam. Bác đã
nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “dù nó (Mỹ) ném hóa biển cũng phải giải
phóng miền Nam cho kỳ được”(3).
Quán
triệt tư tưởng và quyết tâm đó, suốt 16 năm anh dũng và bền bỉ chiến
đấu, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, khó khăn, mọi tổn thất hy sinh(4),
binh đoàn 559 đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, “vừa tổ chức đánh địch
bảo vệ tiền tuyến, vừa từng bước cải biến 40.000km đường rừng núi, xây
dựng thành tuyến vận tải chiến lược hoàn chỉnh từ khu vực tiếp giáp miền
Bắc hậu phương đến chiến trường Đông Nam Bộ với tổng chiều dài
20.000km, bao gồm 5 hệ trục dọc, 21 hệ trục ngang đường cho xe cơ giới,
trên 1.400km đường ống dẫn xăng dầu, hơn 10.000km đường dây thông tin.
Đặc biệt mở được hệ thống đường kín dài 3.140km cho xe vận tải hoạt động
ban ngày để đối phó thủ đoạn máy bay AC-130 săn lùng đánh phá quyết
liệt(5).
Biết
rõ đường Trường Sơn là con đường chiến lược nối liền Nam Bắc nên Mỹ
quyết tâm đánh phá. Chúng đã ném xuống đường Trường Sơn gần 3 triệu tấn
bom, đạn các loại, thực hiện các kiểu chiến tranh điện tử, chiến tranh
khí tượng, chiến tranh hóa học làm trụi lá rừng. Đường Trường Sơn đã trở
thành chiến trường thử nghiệm chiến lược: “chiến tranh ngăn chặn”,
chiến tranh bóp nghẹt bằng các thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt với các loại
thiết bị, vũ khí hiện đại của nền khoa học công nghệ cao.
Luôn
luôn ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải quyết tâm chiến
đấu, quyết tâm chịu khổ, quyết tâm vượt mọi khó khăn, quyết tâm chấp
hành chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ, nghĩa là trong thái
độ, trong tư tưởng, trong hành động, trong chiến đấu, bất kỳ một việc
lớn hay nhỏ đều phải có quyết tâm làm cho bằng được”(6). Binh đoàn 559
đã xây dựng Trường Sơn thành một căn cứ chiến lược, cả Đông và Tây
Trường Sơn, vận dụng sáng tạo phương châm tác chiến: “kết hợp đánh địch
với phòng tránh”, nghi binh lừa địch, tiêu hao và tiêu diệt địch, thể
hiện đậm nét tư tưởng chiến lược tiến công trong nghệ thuật vận tải:
“kết hợp vận chuyển và chiến đấu, chiến đấu và vận chuyển, lấy vận
chuyển làm mục đích cao nhất”(7).
Đến
đầu năm 1975, tuyến đường chiến lược Đông và Tây Trường Sơn được xây
dựng và củng cố đã nối liền đến Lộc Ninh, hệ thống đường ống dẫn xăng
dầu được hoàn chỉnh qua Tây Nguyên, khu 5 vào tới Đông Nam Bộ, sẵn sàng
phục vụ đánh “lớn”. “Từ tháng 01 đến tháng 4-1975, đoàn vận tải Trường
Sơn chuyển vào Nam Bộ 115.000 quân và 90.000 tấn hàng. Riêng những ngày
chuẩn bị nước rút từ ngày 05 đến ngày 26-4, kết hợp vừa khai thác vừa
vận chuyển, ta đã đưa vào chiến trường 10.100 tấn đạn dược; 2.300 tấn
lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh; 2.600 tấn xăng, dầu. Nhiều trạm
sửa chữa ô tô, sửa chữa pháo và tăng được bố trí dọc đường, phục vụ cơ
động cho chiến dịch”(8).
Đường
559 - đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử Việt Nam
với những kỳ tích anh hùng, như một biểu tượng cho sức mạnh huyền thoại.
Cán bộ, chiến sĩ binh đoàn Trường Sơn đã viết nên trang sử hào hùng, để
lại dấu ấn về lòng dũng cảm, sức mạnh, trí tuệ Việt Nam. Họ đã chiến
đấu với sự quyết tâm và lòng dũng cảm theo tư tưởng Hồ Chí Minh vì độc
lập, tự do của Tổ quốc; được soi sáng bằng một lý tưởng cách mạng chân
chính và tất thắng “vì miền Nam ruột thịt”; bằng một quyết tâm gang thép
“phải giải phóng cho kỳ được miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước”;
bằng một ý chí thống nhất: “Dân tộc Việt Nam là một. Cả dân tộc Việt Nam
kết thành một khối trong từng đồng bào cùng chung giống nòi Hồng Lạc,
không thể cắt chia”(9).
Đây
cũng là biểu hiện như C. Mác nói: “Con người thực hiện cái mục đích của
chính mình mà mình đã có sẵn trong ý thức; mục đích đó như một định
luật quyết định phương thức hành động của con người và bắt ý chí của con
người phải lệ thuộc vào nó”(10). Ý nghĩa đó đã “phát huy đến mức cao
nhất tinh thần quyết chiến, quyết thắng, không có gì quý hơn độc lập tự
do, khơi dậy nghị lực sáng tạo và tài thao lược của mỗi người và của
toàn dân tộc, phát triển đến đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam, quân và dân
ta đã làm nên những chiến công hiển hách tưởng chừng như huyền thoại”.
Sức mạnh của đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và bộ đội Trường Sơn
xuất nguồn từ ý thức đó./. -------------------------------------------------------------
(1), (2) Võ Nguyên Giáp - “Những chặng đường lịch sử”, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1977, Tr 203, Tr 88
(3) Báo Nhân dân 24-9-1970
(4)
Ba vạn cán bộ, chiến sĩ đường Trường Sơn anh dũng hy sinh, ba vạn người
bị thương (theo Thiếu tướng Vô Sở “Đường về quê mẹ”, Nxb Quân đội nhân
dân, Hà Nội, 2000)
(5) Nguyễn Việt Phương, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Hà Nội, 4-1995
(6) Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, Tr 137
(7),
(8), (9) Võ Nguyên Giáp - “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”,
Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, Tr 174, 29, 360, 37
(10) C. Mác: Tư bản - quyển I, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, Tr 247
Thiếu tướng, PGS, TS. Cao Thượng LươngNguyên Tổng Biên tập Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam
Vượt Trường Sơn vào bảo vệ Trung ương Cục miền Nam
13:36 30/04/2016
Mùa xuân Bính Thân này, Đại tá Vũ Văn Đàm (nguyên Phó chánh
Văn phòng Bộ Công an, người có 10 năm tham gia chiến đấu bảo vệ Trung
ương Cục tại chiến trường miền Nam) đã bước sang tuổi 82 nhưng ông vẫn
minh mẫn và những kí ức về một thời chiến trường luôn tươi mới trong
ông...
Năm 1953, ông tham gia kháng chiến, vào Thanh niên xung phong trong
đơn vị Đoàn 38 do đồng chí Tạ Quang Chiến (người vinh dự được Bác Hồ đặt
tên) phụ trách. Sau 2 năm, ông được bổ sung vào lực lượng Công an, công
tác tại Phòng Tổng hợp - Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ). Đầu
năm 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác
liệt, lãnh đạo Bộ Công an chủ trương tuyển chọn một số cán bộ có năng
lực, sức khỏe và các điều kiện cần thiết để bồi dưỡng tập luyện sẵn sàng
chi viện lực lượng An ninh miền Nam.
Thực hiện quyết định của Bộ Công an, Cục Cảnh vệ đã tuyển chọn một số
cán bộ ưu tú tham gia vào đoàn chi viện gồm các đồng chí Huỳnh Phước
(bí danh Sáu Liên), Nguyễn Hồng Long (Nam Sơn), Nguyễn Văn Liên (Tư
Lâm), Hồ Kiều (Tám Thành), Nguyễn Văn Nho (Ba Kỳ), Nguyễn Văn Hanh (Hai
Nghệ), Tống Công Phê (Hai Công), Vũ Văn Đàm (Tiến Nam) và Đoàn Quý...
Đại tá Vũ Văn Đàm kể lại: Cấp trên chỉ thị cho tôi lấy một bí danh nào
đó. Tôi suy nghĩ đợt này mình vinh dự được đi tăng cường cho an ninh
miền Nam, tức là được vào Nam, nên tôi lấy bí danh Tiến Nam. Sau này trở
lại ra Bắc công tác, tôi lại được mọi người gọi lại tên mà các cụ đặt
cho.
Chiến sĩ ANVT đoàn 180 bắn cháy xe tăng địch trên quốc lộ 22 - Tây Ninh, năm 1967.
Đầu tháng 4 - 1964, chúng tôi tập trung về Trường Công an Trung ương
để học tập chính trị và huấn luyện chiến đấu. Ngày 16-7-1964, đoàn chi
viện lên đường vào chiến trường B. Đoàn chúng tôi cán bộ Cảnh vệ được
ghép vào đoàn Công an vũ trang có 33 đồng chí và hình thành một đoàn 42
người do đồng chí Huỳnh Bội (bí danh Tám Nam) làm Trưởng đoàn; bí danh
của đoàn là K21.
Sau gần 4 tháng hành quân xuyên rừng vượt núi theo đường Trường Sơn,
đến đầu tháng 11 - 1964 đoàn đến trạm giao liên cuối cùng (Trạm 40) của
đường dây, rồi tập kết về “Ông Cụ” - Bí danh của căn cứ Trung ương Cục
lúc đó. Khi vào tới Ban An ninh Trung ương Cục, ông Đàm được điều về phụ
trách tổ bảo vệ Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.
Đại tá Vũ Văn Đàm nhớ lại: Kỷ niệm sâu sắc nhất là bảo vệ hội nghị do
Ban An ninh Trung ương cục triệu tập vào cuối năm 1967. Lần ấy, tôi
cùng các đồng chí Tư Hùng, Ba Nhưng được giao chỉ huy bảo vệ hội nghị
tại B4 ở tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới Campuchia. Thành phần hội nghị có
các đồng chí lãnh đạo, các ban, trưởng, phó các tiểu ban và các đồng
chí lãnh đạo ban an ninh các tỉnh Nam bộ.
Hội nghị vừa khai mạc thì chúng tôi nhận được điện khẩn báo địch sẽ
cho máy bay oanh tạc khu vực B4, dùng trực thăng đổ nhiều toán biệt kích
nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta. Từng tốp máy bay địch thay nhau
đến trút bom xuống khu vực B4. Tiếp sau những trận mưa bom là gần chục
chiếc trực thăng lao tới. Chúng quần đảo trên bầu trời B4, nhả đạn xối
xả vào bất cứ điểm nào nghi ngờ có lực lượng ta. Sau những đợt vãi đạn
không tiếc, chúng bắt đầu thả từng toán biệt kích xuống nhiều địa điểm
trong khu vực tạo thành một vòng vây.
Khi địch đổ quân vừa xong thì trời sập tối, nên chúng buộc phải co
cụm lại. Mặc cho địch bắn vu vơ suốt buổi chiều, ta không nổ phát súng
nào nên chúng càng hoang mang. Về phía lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ
B4, tất cả đều náu mình dưới công sự, chờ lệnh của cấp trên.
Đến khoảng 20h, chúng tôi nhận được lệnh của Ban An ninh Trung ương
Cục chỉ thị An ninh B4 di chuyển an toàn các đại biểu đến dự hội nghị ra
khỏi khu vực. Nhưng tình huống lúc này rất nguy hiểm. Lực lượng của
chúng đã tạo thành vòng vây khép chặt lấy B4. Tôi được giao trách nhiệm
tổ chức bảo vệ cuộc dịch chuyển hội nghị đến một địa điểm an toàn khác…
Tôi bàn với đồng chí Tư Hùng và đồng chí Ba Nhưng ngay trong đêm phải
tìm bằng được một con đường bí mật, vuợt vòng vây đến một địa điểm an
toàn. Cả ba chúng tôi đi theo đội hình chiến đấu, có chỗ sát địa điểm
trú quân của biệt kích. Tìm được địa điểm mới, xác định đường đi, cả ba
anh em tôi cụm lại xây dựng kế hoạch để báo cáo lãnh đạo B4...
Biệt kích xâm phạm vùng giải phóng sau Hiệp định Pari, bị chiến sĩ ANVT Đoàn 180 bắt giữ trên quốc lộ 22.
Khi được cấp trên đồng ý thì mọi công việc chuẩn bị di chuyển cũng
làm xong. Các tổ bảo vệ B4 được bố trí thành từng tuyến phối hợp, vừa
hành quân vừa cảnh giác đề phòng gặp địch. Các đại biểu được phân ra
từng tổ do một tiểu đội an ninh vũ trang bảo vệ đi theo mỗi hướng như
trong kế hoạch. Điều quan trọng nhất là thực hiện phương châm “Tránh
địch hơn đánh địch”; nếu gặp địch, tổ bảo vệ phải chọn phương án an
toàn, bí mật nhất để chuyển hướng hành quân. Trường hợp nếu địch phát
hiện chặn đánh, thì tổ bảo vệ phải để lại 1/3 quân số đánh chặn địch còn
lại tiếp tục bảo vệ các đoàn đại biểu hành quân về đích.
Những chiến sỹ An ninh được chọn cử ở lại đánh chặn phải là những
đồng chí có kinh nghiệm, kiên cường và dũng cảm trong chiến đấu, biết
cách làm tiêu hao sinh lực địch, nhưng đồng thời cũng phải biết tổ chức
nghi binh để địch không nhận biết được quân ta nhiều hay ít hoặc đã rút
thì rút lúc nào. Ngoài ra phải biết lợi dụng địa hình rừng núi, vừa đánh
vừa rút, đánh lạc hướng kẻ địch rồi tìm cách về đích đã chọn. Kết quả
đoàn cán bộ lãnh đạo cấp cao của Ban An ninh B4 và đại biểu về dự hội
nghị đã rút khỏi mục tiêu địch tập kích an toàn.
Tờ mờ sáng hôm sau khi phát hiện một số công sự bỏ không trong khu
vực B4, bọn biệt kích gọi tăng viện. Lực lượng ta được phân công ở lại
đánh chặn địch đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Hàng chục vị trí ở phòng
tuyến bảo vệ B4 chiến đấu rất quyết liệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch,
trong khi lực lượng ta vẫn bảo đảm an toàn.
Nguyễn Đức Quý
Chuyện trên những cung đường bất tử
15:00 | 12/07/2015
|
“Những
tháng năm ác liệt trên tuyến Đường Trường Sơn huyền thoại đã nuôi dưỡng
ý chí chiến đấu kiên cường, tinh thần lao động sáng tạo của Bộ đội
Trường Sơn”-Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Phó tư lệnh Bộ đội Trường
Sơn (Đoàn 559) khẳng định như vậy khi nói về những chiến công của bộ đội
ta trên tuyến đường trải dọc từ Bắc vào Nam.
Thiếu tướng Phan Khắc Hy kể lại những năm tháng chiến tranh ác liệt trên tuyến Đường Trường Sơn. Ảnh: HÙNG KHOA.
Sáng tạo của Bộ đội Trường Sơn
Trong căn nhà đơn sơ tại quận Tân Bình,
TP Hồ Chí Minh, chúng tôi được Thiếu tướng Phan Khắc Hy kể cho nghe
nhiều kỷ niệm về những năm tháng chiến đấu trên tuyến Đường Trường Sơn
năm xưa. Tuyến đường đã trở thành huyền thoại, góp phần vận chuyển bộ
đội, cùng hàng triệu tấn hàng hóa, vũ khí, phương tiện kỹ thuật từ miền
Bắc vào miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Dù đã ở
tuổi 89, nhưng Thiếu tướng Phan Khắc Hy vẫn rất khỏe mạnh, minh mẫn. Ông
kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện chiến đấu, rồi thỉnh thoảng cười
sảng khoái khi nói về những sáng tạo của Bộ đội Trường Sơn để chống lại
những thủ đoạn của địch và hoàn thành nhiệm vụ. Theo Thiếu tướng Phan
Khắc Hy thì giai đoạn 1970-1971, quân đội Mỹ tìm mọi cách ngăn chặn hoạt
động của ta trên tuyến đường huyền thoại này với việc đưa vào sử dụng
nhiều loại phương tiện, khí tài rất hiện đại. Với quyết tâm bảo đảm cho
nhiệm vụ vận chuyển vào chiến trường miền Nam, Đoàn 559 huy động các lực
lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công sử dụng mọi phương
tiện từ thô sơ đến cơ giới để mở mới và nâng cấp các trục đường dọc Tây
Trường Sơn. Đặc biệt, Đoàn 559 đã sáng tạo ra tuyến “đường hành quân
kín” để vô hiệu hóa hoạt động của máy bay AC-130 của địch. Thiếu tướng
Phan Khắc Hy giải thích: “Đường hành quân kín tức là bộ đội ta tận dụng
những cung đường mở trong rừng, xe chạy dưới tán lá cây. Chỗ nào cây cối
thưa thì huy động lực lượng đan vòm cây, đưa dây leo, lá ngụy trang lên
để tạo mái che tự nhiên. Nhờ vậy, các đoàn xe vận tải của ta chạy được
cả ban ngày mà không sợ máy bay địch phát hiện. Chính nhờ những tuyến
"đường hành quân kín" này mà các lực lượng của ta đã nâng cao đáng kể
năng lực vận chuyển, kịp thời phục vụ chiến trường miền Nam”. Trên những
đoạn đường có địa hình là sườn đồi, vách núi, công binh tiến hành làm
hầm trú ẩn khá chắc chắn. Vì thế, khi có máy bay địch, xe cơ giới đều có
chỗ ẩn nấp an toàn. Bộ đội công binh còn xây dựng hàng trăm trận địa,
kho giả, xe giả trên các tuyến đường để nghi binh, lừa địch. Riêng các
đoạn vượt suối thì mở nhiều bến, tổ chức cảnh giới chặt chẽ. Bộ đội Đoàn
559 còn tìm ra nhiều cách dùng củi khô, dầu thải, mìn khói và chất tạo
khói để đánh lừa và thu hút máy bay địch.
Mở đường trên dãy Trường Sơn. Ảnh tư liệu.
Cùng với di chuyển trên nhiều tuyến
đường mới, các đoàn xe cũng thường xuyên thay đổi quy luật xuất phát
nhằm hạn chế khả năng các loại máy bay trinh sát của địch. Bởi, khi tắt
nắng và khi hửng sáng, loại máy bay trinh sát ban ngày của địch không
còn khả năng hoạt động; còn AC-130 chỉ xuất hiện và phát huy hiệu quả
vào ban đêm. Khắc chế địch thành công, Bộ đội Trường Sơn hăng hái thi
đua thực hiện nhiệm vụ với tinh thần “địch đánh một, ta làm mười”. Bốn
sức mạnh trong mở đường và giữ đường của Đoàn 559 nhanh chóng được đúc
kết và phát huy là: Thuốc nổ phá đá, một phần cơ giới, lao động thủ công
và cải tiến thiết bị, công cụ lao động”. Nhiều công cụ cải tiến ra đời
đã nâng cao năng suất, tiết kiệm thời gian, giảm bớt sức người trong
việc mở đường, san lấp hố bom. Đó là xe cút-kít làm bằng cây, đan thùng
xe bằng tre nứa, là gầu xúc đất đá theo kiểu gầu tát nước, bệ đỡ để đưa
đất đá vào thùng xe tải…
Đánh “địch” mọi nơi
“Đánh, phòng tránh và nghi binh” là
phương châm hoạt động xuyên suốt của Bộ đội Trường Sơn trong những năm
kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Để bảo đảm an toàn cho toàn tuyến đường,
từ năm 1965, Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn phát động thi đua “Ai cũng
đánh, nơi nào cũng đánh, lúc nào cũng đánh, một người cũng đánh” và phát
huy sức mạnh tổng hợp của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân
du kích. Do vậy, dù địch cơ động nhanh, vũ khí trang bị hiện đại, nhưng
lúc nào cũng bị đánh trả quyết liệt dọc theo tuyến đường vì ta có lực
lượng tại chỗ.
Thiếu tướng Phan Khắc Hy khẳng định:
“Tâm thế vừa lao động, vừa chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do
trở thành nguồn sức mạnh tinh thần, động viên cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559
hoàn thành nhiệm vụ. Trên con Đường Trường Sơn huyền thoại, người chỉ
huy và cấp dưới yêu thương nhau như anh em một nhà, là con em của nhân
dân, được nhân dân nước ta và nước bạn Lào chở che, đùm bọc. Có hy sinh,
có gian khổ, nhưng bản lĩnh Bộ đội Trường Sơn luôn vững chí, không bao
giờ lùi bước, đánh địch mọi nơi và không ngừng sáng tạo. Những tháng năm
ác liệt trên tuyến Đường Trường Sơn đã nuôi dưỡng ý chí chiến đấu kiên
cường, tinh thần lao động sáng tạo của Bộ đội Trường Sơn. Đất nước hòa
bình, Bộ đội Trường Sơn lại lập nên những chiến công mới trên mặt trận
chống đói nghèo, xây dựng kinh tế, đoàn kết yêu thương nhau, gương mẫu
trong gia đình và ở địa phương. Dù tuổi cao, nhưng tôi luôn mong muốn có
nhiều dịp quay trở lại Trường Sơn, không chỉ để thăm mà còn "truyền
lửa" của Bộ đội Trường Sơn cho thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc hiện nay”.
Theo QĐND
Huyền thoại sống trên đường Trường Sơn
03:16 PM - 11/02/2016
BP - Trong chuyến du xuân dọc tuyến đường Trường Sơn
huyền thoại năm xưa (nay là đường Hồ Chí Minh), chúng tôi rất may mắn
được gặp những huyền thoại sống, những anh hùng trong chiến trận và cũng
là những nhân chứng đã chứng kiến bao đổi thay của đất nước sau 40 năm
giải phóng. Họ đều là đồng bào dân tộc thiểu số, người được tặng danh
hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND), người là Ủy viên Ban
Thường vụ Tỉnh ủy hơn 15 năm... Đó là những tấm gương để giáo dục
truyền thống hào hùng của dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay.
5 lần được gặp Bác Hồ
Đất A Lưới (Thừa - Thiên Huế) những ngày đầu xuân không khí se lạnh,
chúng tôi phải mặc thêm áo ấm. Tôi tìm đến nhà Anh hùng LLVTND Hồ Đức
Vai không khó vì chúng tôi được người dân chỉ đường rất tường tận. Căn
nhà cấp 4 nằm nép mình trong vườn cây ăn trái, bên cạnh hồ cá càng làm
không gian thêm tĩnh mịch giữa vùng núi non trùng điệp. Ông Hồ Vai (tên
gọi thân mật) nói: Trước đây, đồng bào dân tộc Pa Cô không ăn tết Nguyên
đán. Nhưng từ khi được mang họ Bác Hồ thì người dân Pa Cô cũng vui xuân
đón tết như đồng bào Kinh.
Anh hùng Hồ Vai và tấm hình vinh dự được chụp với Bác Hồ năm 1965
Ông Hồ Vai (1940), người dân tộc Pa Cô ở A Lưới được phong tặng danh
hiệu Anh hùng LLVTND năm 1965. Sau khi lập nhiều chiến công trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, anh hùng Hồ Vai được ra Bắc báo cáo thành tích.
Ông Vai kể: “Tôi tên thật là Lê Vai, tham gia bộ đội địa phương năm
1958, 7 năm sau thì vào đơn vị chủ lực của Quân khu 5. Tôi mồ côi cha mẹ
từ nhỏ, phải đi xin ăn sống qua ngày. 14 tuổi, bộ đội về làng, tôi đi
theo bộ đội đánh Mỹ. Những ngày đầu vừa đánh địch, tôi vừa giúp bộ đội
đào hầm, vót chông, dẫn đường... Sau này tôi là đại đội trưởng bộ đội
địa phương. Hồi đó, cái bụng đồng bào đói nhưng chiến đấu rất gan dạ.
Trai tráng vào rừng chặt cây, vót chông, đặt bẫy bảo vệ làng. Phụ nữ,
người già, trẻ con tham gia sản xuất, giã gạo nuôi quân. Gian khổ nhất
là lúc đánh đồi ASo, đây là cứ điểm cuối cùng của địch trong thung lũng A
Lưới. Ta đã hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh và pháo binh để đánh trận
cuối cùng. Khi bộ binh vào bắt sống địch thì pháo binh từ biên giới Việt
- Lào bắn sang làm cho quân địch thương vong không ít”.
Ông Hồ Vai không nhớ hết những chiến công của mình trong kháng chiến
chống Mỹ. Chúng tôi gợi mở mãi, ông mới nhớ lại trận một mình ông đã
đánh lui 2 tiểu đoàn địch vào năm 1963. Ông kể tiếp: “Hôm đó, bộ đội
hành quân xa, địch huy động 2 tiểu đoàn vào làng càn quét. Tôi đang ngồi
vót chông thì người làng báo có giặc. Tôi chạy về hướng tiếng súng thì
đụng ngay đội hình địch. Tôi lia nguyên một băng đạn tiểu liên rồi lao
xuống khe dụ địch vào rừng chông. Sau đó, tôi luồn rừng nhập vào quân
địch chọn thời điểm nổ súng làm chết và bị thương một số tên. Tưởng bị
bộ đội phục kích, địch hốt hoảng tháo chạy”.
Với chiến công này, anh hùng Hồ Vai được ra Bắc báo công với Bác Hồ
vào năm 1965. Và liên tiếp những năm sau đó, ông Hồ Vai được gặp Bác 5
lần. Ông Vai nhớ lại: “Khi gặp Bác, chúng tôi ai cũng khóc và chạy đến
ôm lấy Bác vì Người sống giản dị và gần gũi nhưng tấm lòng lại quá vĩ
đại. Tôi nói đồng bào theo Đảng, Bác Hồ đánh Mỹ, Bác cho chúng con được
mang họ của Người. Sau đó, về lại A Lưới, tôi nói chuyện gặp Bác với mọi
người tại một buổi mít tinh và hỏi đồng bào có theo tôi mang họ của Bác
để đánh thắng giặc Mỹ không, thì hàng ngàn cánh tay giơ lên đồng thanh
đáp “có”. Thế là từ đó, đồng bào dân tộc Pa Cô ở A Lưới đều mang họ của
Bác Hồ và tôi là Hồ Vai”.
Nồi cơm của Y Buông
Chúng tôi đến thăm Anh hùng LLVTND Y Buông, người dân tộc Xơ Đăng lúc
cơn mưa xuân của núi rừng Tây Nguyên bất chợt ập đến. Đứa cháu ngoại
vội đẩy chiếc xe lăn đưa bà Y Buông ra phòng khách. Trong căn nhà cấp 4
nằm sát bên đường Hồ Chí Minh ở trị trấn Đắk Tô, huyện Đắk Tô, tỉnh
KonTum treo rất nhiều huân - huy chương, bằng khen, giấy khen của bà và
con cháu.
Anh hùng LLVTND Y Buông và cháu gái
Bà Y Buông không nhớ mình sinh năm nào, chỉ nghe kể bà được sinh ra
và lớn lên ở khu vực này. Thời thiếu nữ, Y Buông như bông hoa rừng buổi
sớm, nhiều trai làng để mắt tới nhưng giặc về giày xéo quê hương nên Y
Buông đi theo bộ đội đánh giặc. Cha bà bảo, ở lại làng cũng chết, vào
rừng cũng chết, vậy nhà ta nên theo bộ đội đánh Mỹ may còn đường sống.
Vậy là gia đình bà rời bản làng theo bộ đội, riêng bà vào huyện đội làm
chị nuôi lúc mới mười tám đôi mươi. Do khó khăn về lương thực nên hằng
ngày Y Buông vào rừng sâu, vượt núi cao để kiếm măng, rau rừng, bắt cua,
cá, đào củ mài, sắn... về nuôi quân. Ban đêm, bà Y Buông được dạy cách
bắn súng, học chữ, cách giấu tài liệu, bảo vệ tài sản... “Là chị nuôi
nhưng tôi được phát một khẩu tiểu liên để đánh giặc. Tôi nhớ một lần bị
giặc càn, bộ đội tản vào rừng. Nhớ tới dụng cụ nấu bếp nếu bị phá thì
không nuôi quân được, tôi lén quay về giấu hết xoong nồi vào bìa rừng
rồi ôm tài liệu của đơn vị chạy trốn. Đêm leo lên cây ngủ, ngày phải di
chuyển đi nơi khác, 3 ngày sau tôi mới trở về đơn vị” - bà Y Buông kể.
Dù địch dội bom đạn, dày đến mấy, bếp của chị nuôi Y Buông vẫn đỏ nhưng
không để lộ. Năm 1972, bà Y Buông được phong tặng danh hiệu Anh hùng
LLVTND. Trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên cùng năm, bà Y Buông giẫm phải
mìn nên bị cụt một chân.
Sau ngày đất nước thống nhất, bà Y Buông lập gia đình và sinh được 2
người con. Con trai đầu đã mất vì sốt rét rừng, còn con gái đang làm ở
Bệnh viện đa khoa huyện. Chồng bà đã ra đi hơn chục năm nay vì di chứng
sau chiến tranh... Bà Y Buông giờ là “bóng cây kơnia đại thụ” bên tuyến
đường Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ noi theo.
Người phụ nữ có thần kinh thép
Theo lời chỉ dẫn của bà Y Buông, chúng tôi đến thành phố Plâyku (Gia
Lai) để tìm người phụ nữ Jrai có “thần kinh thép” của núi rừng Tây
Nguyên trong những năm chống Mỹ cứu nước.
Bà Rơ Châm H’Yéo (1950) ngồi đó bình dị và thanh thản lạ thường, khác
xa với những chiến công vang dội thời đánh Mỹ của bà. Bà H’Yéo sinh ra
trên vùng đất Tây Nguyên thượng võ. 17 tuổi, bà tham gia bộ đội địa
phương thuộc Huyện đội Chư Pảh. Những năm đi bộ đội, bà H’Yéo cùng đơn
vị chiến đấu tại đồi Tròn bảo vệ đường 14. Tại đây, bà đã lập được nhiều
chiến công xuất sắc, cùng đồng đội bắt sống hàng trăm tù binh, bắn cháy
nhiều xe tăng, xe bọc thép của địch. Sau ngày giải phóng, bà được đơn
vị cử đi học quản lý nhà nước để tham gia xây dựng chính quyền cách
mạng. Sau đó, bà H’Yéo giữ chức Chủ tịch Hội Phụ nữ tỉnh Gia Lai trong
15 năm. Năm 1996, bà là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai và giữ chức
Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam tỉnh cho đến năm 2007 thì nghỉ hưu. Sau đó, bà
được bầu làm Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh cho đến nay.
Bà H’Yéo
Dù rất bận rộn với công tác hội nhưng bà H’Yéo cũng dành cho chúng
tôi nhiều thời gian để nói về Trường Sơn, về vùng đất, con người Tây
Nguyên những năm đánh Mỹ cứu nước và những mùa xuân mới ở Gia Lai. Bà
còn kể chuyện Trung đoàn 95 ngày Đại tướng Đoàn Khuê làm Trung đoàn
trưởng cùng đơn vị bà đánh Mỹ ở đồi Tròn. Chuyện họp mặt của các cựu
chiến binh sau ngày giải phóng. Chuyện tên ác ôn Chiu đóng giả làm dân
thường thủ tiêu cán bộ bị trâu đồng bào húc lòi ruột. Chuyện máy bay Mỹ
rải chất độc hóa học, chuyện 2 du kích dùng mưu đánh tiêu diệt 2 đơn vị
dã chiến và bảo an của Mỹ - ngụy.
Trong thời kỳ Gia Lai xây dựng quê hương, những ý kiến đóng góp của
bà H’Yéo được Ban Thường vụ Tỉnh ủy đánh giá rất cao, nhất là việc xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc... Ngày nay, trong phong trào xây dựng
nông thôn mới, đời sống văn hóa khu dân cư, bà H’Yéo là ngọn cờ tiên
phong ở Gia Lai trong việc vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc
thiểu số đóng góp sức người, sức của xây dựng quê hương. Là một trong
những cán bộ cốt cán của tỉnh Gia Lai, bà H’Yéo luôn nhận thấy quê
hương, đất nước đang đổi thay từng ngày. Những lúc rảnh rỗi, bà và các
đồng chí trong hội thường ôn lại truyền thống Bộ đội Cụ Hồ.
Xuân mới đang về trên khắp mọi nẻo đường đất nước. Huyền thoại sống
như anh hùng Hồ Vai, bà Y Buông hay bà H’Yéo lại già thêm một tuổi nhưng
quá khứ của họ luôn gắn liền với cuộc kháng chiến vẻ vang của dân tộc
để cho đất nước mãi trọn niềm vui. Họ là những tượng đài sống trên dải
Trường Sơn hùng vĩ để giáo dục truyền thống thế hệ trẻ của đất nước.
Tên lửa sang Tây Trường Sơn diệt AC-130 Mỹ: Các ông ở đâu đến mà chủ quan, liều mạng thế?
Chúng bay ở độ cao 3 – 4km, chủ yếu dùng pháo 40mm bắn xuống sát
thương trên xe cộ. Các đội xe khi gặp máy bay AC-130, dù đã tắt đèn để
chạy vẫn bị chúng phát hiện và bắn trúng. Đưa tên lửa vượt sang Tây Trường Sơn
Mùa khô năm 1971, theo quyết định của Bộ Tổng tư lệnh, các lực lượng
của Đoàn 559 liên tiếp mở các chiến dịch vận chuyển lớn chi viện cho
chiến trường miền Nam chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972
trên ba hướng chính: Trị – Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
Theo lệnh của Quân chủng PK-KQ, Tiểu đoàn tên lửa 67, Trung đoàn 275
đang bảo vệ cửa khẩu đường 12, cơ động gấp sang tây Trường Sơn đánh máy
bay AC-130.
Máy bay AC-130 của Mỹ.
Ngày 19-12-1971, Tiểu đoàn 67 được Tiểu đoàn pháo cao xạ 119 bảo vệ
vượt cửa khẩu đèo Mụ Giạ, qua trọng điểm 050, Siềng Phan – Pha-nốp xuống
Lùm Bùm.
Dọc đường hành quân địch đánh phá ác liệt, Tiểu đoàn cao xạ 119 tích cực bảo vệ tên lửa đã bắn rơi 1 F4 ở Pắc-pha-năng.
Tại Lùm Bùm, đơn vị vừa nghiên cứu nắm quy luật hoạt động của địch
chưa kịp triển khai chiến đấu, lại có lệnh hành quân ngay xuống đường 9,
khu vực đường Máy Húc.
Đường hành quân không ai biết, thời gian lại gấp chúng tôi quyết định
lấy một xe Gát-66 đi ngay ban ngày để trinh sát đường xá và tìm nơi trú
quân.
Mới đi được một quãng đường đã bị ba-rie của binh trạm giữ lại và mắng cho một trận: “Các ông ở đâu đến mà chủ quan, liều mạng thế”.
Binh trạm chỉ cho đi đêm và lấn sáng, lấn chiều.
Cuối cùng đơn vi cũng khắc phục khó khăn, nguy hiểm vượt qua các
trọng điểm và đèo Văng Mu đến được nơi trú quân ở đường Máy Húc.
Khu vực này có nhiều đồi cây lúp súp, nhiều vạt rừng xanh tốt, kín
đáo có thể cất giấu khí tài, bố trí trận địa tên lửa phù hợp, đánh được
AC-130 bay dọc theo tuyến vận chuyển từ bắc xuống nam đường 9.
Suốt chặng đường hành quân dọc theo Trường Sơn từ đèo Mụ Giạ xuống
sát đường 9, chiều dài gần 200km, Tiểu đoàn 67 bị đánh 21 lần có 17 lần
trúng đội hình, một số cán bộ chiến sĩ thương vong, xe cộ, khí tài bị
đánh hỏng nhiều: “Hỏng khối hoàn mã hệ phát lệnh xe tính toán, 1 cần cẩu, 3 bệ, 1
xe chở đạn TZM, cháy 1 xe téc chở xăng, mang đi 8 quả tên lửa thi bị
cháy 2, hỏng 3. Chiếc xe Gát chở hàng Tết cho trung đoàn sang cho bộ đội
bị AC-130 bắn cháy nên anh em Tiểu đoàn 67 và Tiểu đoàn cao xạ 119 năm
đó không có Tết”.
Máy bay AC-130 của Mỹ. Ảnh minh họa.
Trong khi chờ đợi cán bộ kỹ thuật của trung đoàn đến sửa chữa khí tài
và bổ sung thêm tên lửa, chúng tôi tổ chức đi bộ khảo sát địa hình,
đường xá dọc theo đường 128 cắt đường 9, vùng Na-bo, Sê-pôn, Thà- khống,
Bản Đông, dọc đường xuống Mường Noòng, trên đường la liệt chỗ nào cũng
thấỵ xe cộ bị bắn cháy.
Tiếp xúc với một số cán bộ binh trạm khu vực đường 9, các đồng chí bức xúc nói: “Dạo
này AC-130 hoạt động dữ quá, xe cộ bị bắn cháy nhiều, binh trạm nào
không có đường “lấn” thì không thể hoàn thành kế hoạch. Cao xạ 37mm của
binh trạm không bắn tới AC- 130. Chúng tôi vô kế khả thi. Mong Bộ nhanh
chóng đưa tên lửa sang”.
Theo tư liệu của Đoàn 559: Máy bay AC-130 được trang bị pháo 40mm và
20mm, có máy quan sát hồng ngoại, khuyếch đại ánh sáng mờ nên phát hiện
rõ mục tiêu di động trong đêm tối và điều khiển pháo bắn chính xác.
Thời gian hoạt động trong đêm của AC-130 khoảng 2-3 lần, mỗi lần kéo
dài từ 2 – 3 giờ bay, túc trực trên không từ đầu tuyến đến cuối tuyến,
đặc biệt ở Nam Bắc đường 9, không một đoàn xe nào đi trên đường trống
trải mà không bị phát hiện và tấn công.
Chúng bay ở độ cao 3 – 4km, chủ yếu dùng pháo 40mm bắn xuống sát
thương trên xe cộ. Các đội xe khi gặp máy bay AC-130, dù đã tắt đèn để
chạy vẫn bị chúng phát hiện và bắn trúng. Trong số xe bị bắn hỏng có 60
đến 70% do AC-130 gây ra. Số lái xe thương vong từ 10 đến 20%.
Bộ đội vận tải hành quân trên đường Trường Sơn.Át chủ bài AC-130 Mỹ đền tội
Tiểu đoàn 67 từ khi bố trí ở trận địa Máy Húc đã đánh hai trận đúng
đối tượng AC-130 được Bộ tư lệnh 559 công nhận bắn rơi một chiếc nhưng
không rơi tại chỗ.
Đánh máy bay AC-130 không dễ. Ban ngày OV-10 lượn lờ nhòm ngó, ngụy
trang sơ hở một chút là bị máy bay cường kích đến ném bom. Ban đêm nó
được máy bay tiêm kích đi hộ tống, lùng sục tìm rađa tên lửa phát sóng
để phóng sơ-rai (PV – Tên lửa cao tốc tự dẫn diệt radar Shrike).
Nhiều tiểu đoàn tên lửa trước đây đã sang Tây Trường Sơn và các tiểu
đoàn tên lửa 68, 69 của Trung đoàn 275 cũng đã bị sơ-rai bắn hỏng khí
tài, nên cán bộ và kíp chiến đấu Tiểu đoàn 67 cũng rất ngại sơ-rai, cả
hai trận đánh AC-130 đều dùng phương pháp bắn đuổi.
Đồng chí Thân, trung đoàn trưởng Trung đoàn 275 rất trăn trở về hai
trận bắn đuổi của Tiểu đoàn 67, đã cùng một số cán bộ xạ kích giỏi của
Quân chủng, sư đoàn, nhà trường trực tiếp xuống đơn vị gặp cán bộ tiểu
đoàn và kíp trắc thủ.
Tại đây, các đồng chí đã trao đổi, bàn bạc dân chủ, thống nhất cách
đánh trong trận tiếp theo, hướng dẫn cho đơn vị sử dụng phương pháp điều
khiển, chế độ ngòi nổ phù hợp với đặc điểm đánh đối tượng AC-130 có tốc
độ chậm.
Đồng thời cũng nhắc anh em về truyền thống đánh nhanh, đánh có chuẩn
bị của đơn vị, cảnh giác đề phòng địch phóng “sơ rai”, đưa mọi công tác
chuẩn bị trực tiếp lên giai đoạn chuẩn bị trước, tận dụng các phần tử
của đài radar nhìn vòng, rút ngắn thời gian phát sóng của đài điều
khiển, phóng nhanh khi phát hiện được mục tiêu…
Tên lửa SAM-2 vượt trường Sơn.
3 giờ sáng ngày 29-3-1972, Tiểu đoàn 67 chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu 4 bệ, 4 đạn, 3 rãnh, khí tài tốt.
Kíp chiến đấu số 1 do đồng chí Lành – Tiểu đoàn phó chỉ huy, đồng chí
Bá – Sĩ quan điều khiển, các trắc thủ: Chàng – cự ly, Bằng – phương vị,
Dương – góc tà, phát hiện một AC-130 từ phía Nam đường 9 bay lên.
Theo phương án đã chuẩn bị, tiểu đoàn phóng hai quả tên lửa, dùng
phương pháp bắn đón, đạn có điều khiển tốt, nổ trùm lên mục tiêu. Máy
bay AC-130 rơi tại chỗ, cách trận địa khoảng l0 km. Đồng chí Lành đến
tận nơi kiểm tra thấy có 13 nhân viên phi hành đoàn đã bị chết.
Tư lệnh Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên gửi ngay điện xuống biểu dương, tặng
thưởng Tiểu đoàn 67 một chiếc đài bán dẫn National, một xe quà lấy ở
Binh trạm 41 và đề nghị lên trên tặng thưởng cho đơn vị Huân chương Quân
công hạng Nhì.
Tư lệnh mặt trận Trị – Thiên Lê Trọng Tấn, Bộ Tư lệnh Quân chủng, Sư
đoàn 377 và nhiều đơn vị khác đã gửi điện chúc mừng đến Trung đoàn 275.
Lần đầu tiên bộ đội tên lửa bắn rơi tại chỗ máy bay AC-130 ở Tây
Trường Sơn, đối thủ nguy hiểm nhất của tuyến chi viện chiến lược.
Choáng váng trước sự uy hiếp của tên lửa, máy bay AC-130 phải ngừng
hoạt động trên một khu vực rộng lớn của cửa khẩu vào đến Bạc trong 15
ngày, tạo điều kiện cho đội hình xe tiến công cả ngày và đêm trên cả
đường “kín” và đường “hở”. Hiệu suất vận chuyển tăng từ 3 đến 4 lần so
với trước.
Con “Át chủ bài” AC-130 bị đánh gục, bộ đội Trường Sơn đẩy cuộc “Tổng
công kích” lên một cao trào mới. Hơn 40 tiểu đoàn xe tiến công dồn dập
cả ngày và đêm. Nhiều đội hình được lệnh chạy thẳng từ đầu tuyến đến
cuối tuyến.
Chiến công của Tiểu đoàn 67 bắn rơi tại chỗ máy bay AC-130 là rất
xuất sắc. Đây cũng là chiến công chung của tất cả cán bộ, chiến sĩ Trung
đoàn tên lửa 275 đã đổ máu, mồ hôi, công sức, vượt qua bao khó khăn
nguy hiểm để kiểm tra, sửa chữa khí tài, tiếp tế đạn phục vụ cho tiểu
đoàn đánh thắng. Nhiều anh em đã anh dũng hy sinh.
Chiến công của Tiểu đoàn 67 cũng góp phần quan trọng cùng các lực
lượng vận chuyển của Đoàn 559 tăng cường, chi viện hiệu quả cho chiến
trường miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, thắng lớn trên
các hướng chiến dịch Trị Thiên – Bắc Tây Nguyên – Đông Nam Bộ. (Trích hồi ức của Đại tá Nguyễn Tiến Thu, Nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không trong cuốn Bộ tham mưu PK-KQ trong chiến tranh, NXB QĐND, 2008)
theo Thời đại
Từ năm 1954, nhân dân
Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Miền Bắc
xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương cho miền Nam đánh Mỹ. Giữ vững
liên lạc giữa hai miền là việc quan trọng nhằm đảm bảo sự chỉ đạo của
Trung ương Đảng với phong trào cách mạng miền Nam thông suốt, kịp thời.
Lúc đó cả nước mới có một tuyến liên lạc ngang qua miền Tây Quảng Trị do
Liên khu V phụ trách, chỉ đạo, có nhiệm vụ bảo đảm giao thông liên lạc,
vận chuyển giữa Trung ương và địa phương như đưa đón cán bộ ra, vào,
vận chuyển phương tiện vật liệu, thư từ, công văn từ Trung ương vào Nam
giới tuyến. Do phải đi dọc đường giáp ranh, quân địch đóng đồn bốt khá
dày đặc nên một năm quân ta chỉ đi được một vài lần, mà chủ yếu là đưa
cán bộ đi công tác. Mỗi lần đi phải bí mật, móc nối cơ sở rất công phu.
Trên trục đường này ta không có căn cứ vững chắc, quá gần địch, vì vậy
không thể đáp ứng yêu cầu vận tải người và vũ khí với số lượng lớn khi
cách mạng miền Nam phát triển.
Năm 1959, cách mạng miền Nam đứng trước một bước ngoặt, đòi hỏi Đảng ta phải có quyết sách kịp thời. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (tháng 1 năm 1959) đã đề ra nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị chỉ rõ: “Con đường phát triển của cách mạng miền Nam
là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Thực hiện Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng về nhiệm vụ chi viện miền Nam,
việc nhanh chóng mở đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến
trường trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp bách của toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Thiếu tướng Võ Bẩm (1915- 2008), một trong những “kiến trúc sư” đầu tiên của đường Trường Sơn huyền thoại.
Đầu
tháng 5 năm 1959, những cán bộ đầu tiên được Bộ Quốc phòng điều về
chuẩn bị mở đường Trường Sơn làm việc tại các số nhà 63 và 83 phố Lý Nam
Đế (Hà Nội). Đoàn mang tên “Đoàn công tác quân sự đặc biệt”. Đoàn
trưởng là Thượng tá Võ Bẩm, đồng chí rất thông thuộc địa hình Trường
Sơn.
Sau
khi đã chuẩn bị về tổ chức, ổn định về công việc. Ngày 19 tháng 5 năm
1959, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh chính thức phổ biến nhiệm vụ của Đoàn
công tác quân sự đặc biệt là mở đường Trường Sơn, tổ chức chi viện cho
chiến trường miền Nam, thiết lập tuyến hành lang, nối thông liên lạc,
vận chuyển gấp một số hàng quân sự thiết yếu theo yêu cầu của chiến
trường, trước mắt là Liên khu V với khoảng: 7000 súng bộ binh và bảo đảm
cho 500 cán bộ Trung và Sơ cấp hành quân qua tuyến vào tăng cường cho
chiến trường miền Nam.
Ra đời tháng 5-1959, Đoàn Công tác quân sự đặc biệt được mang phiên hiệu là
Đoàn 559. Lúc đầu Đoàn chỉ có Ban chỉ huy đoàn, Đoàn vận tải bộ 301 và
các bộ phận xây dựng kho, bao gói, sửa chữa vũ khí, trang bị… Cả đơn vị
và cơ quan gồm 500 cán bộ, chiến sĩ. Chỉ trong thời gian ngắn, Đoàn 559
đã ổn định về tổ chức, nhiệm vụ và phương thức hoạt động là tuyệt đối bí
mật và an toàn.
Các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 trinh sát vạch tuyến mở đường Trường Sơn, năm 1960.
Cuối
tháng 5 năm 1959, Đoàn đã tuyển được 440 cán bộ, chiến sĩ, tổ chức hoàn
chỉnh Đoàn 301 (tương đương Tiểu đoàn), các chiến sĩ đều là quê miền
Nam xây dựng gia đình ở miền Bắc và một số đã qua đào tạo ở các trường
trong và ngoài quân đội. Sau khi ổn định tổ chức, toàn tiểu đoàn bước
vào học tập tình hình nhiệm vụ cách mạng.
Đến
tháng 6 năm 1959, bộ đội Trường Sơn bắt đầu vượt sông Bến Hải và phân
bố các đơn vị vào các binh trạm. Đoàn 559 đã chọn Khe Hó, nằm giữa một
thung lũng ở Tây Nam Vĩnh Linh là địa điểm xuất phát đầu tiên của tuyến
đường lịch sử tiến vào Trường Sơn; khẩu hiệu có tính chất mệnh lệnh lúc
này là “ở không nhà, đi không để dấu, nấu không để khói, nói không thành
tiếng”. Các “đường dây” gùi hàng phải chủ động tránh địch, tránh cả dân
để bảo toàn lực lượng, bảo đảm “tuyệt đối bí mật, an toàn” của tuyến
đường.
Ngày13/8/1959, chuyến hàng đầu tiên chính thức vượt Trường Sơn; sau 8 ngày đêm, hàng đã được bàn giao cho chiến trường Trị Thiên (20 khẩu tiểu liên, 20 khẩu súng trường, 10 thùng đạn).
Đoàn 559 vận chuyển bằng xe cơ giới trên tuyến đường Trường Sơn chi viện cho chiến trường miền Nam.
Cũng
trong tháng 5 năm 1959, Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng quyết định thành
lập Đoàn B90 tăng cường cho Liên khu V soi đường nối hai chiến trường
khu V và Nam Bộ, nối thông hành lang chiến lược Nam - Bắc. Đoàn B90 (gồm
25 cán bộ, chiến sĩ) ngày 20 tháng 6 năm 1959 vượt thượng nguồn sông
Bến Hải theo đường giao liên hành quân qua miền Tây Trị Thiên vào Quảng
Nam. Tiếp đó, Liên khu V quyết định sáp nhập Đoàn B90 với Đội vũ trang
công tác tỉnh Đắk Lắk lấy phiên hiệu là B4 do Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk phụ
trách.
Để
đẩy mạnh việc chi viện cho miền Nam, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy chủ
trương mở tuyến chi viện đường biển. Đoàn 559 được giao nhiệm vụ tổ chức
tuyến vận tải này. Tháng 7 năm 1959, Tiểu đoàn 603 vận tải biển thuộc
Đoàn 559 được thành lập, biên chế 107 cán bộ, chiến sĩ đóng tại Cảng cá
Thanh Khê, lấy danh nghĩa là “Tập đoàn đánh cá miền Nam”. Như vậy, tới
cuối năm 1959, tuyến hành lang giao liên vận tải quân sự Trường Sơn được
thiết lập, thật sự trở thành cầu nối giữa căn cứ địa miền Bắc với chiến
trường miền Nam.
Phát
huy thắng lợi của chuyến đi đầu tiên, đồng thời tranh thủ yếu tố bí
mật, bất ngờ, toàn Đoàn dốc sức chuyển hàng và dẫn quân qua tuyến. Đến
hết tháng 8-1959, Đoàn 559 đã chuyển giao cho Liên khu V được 60 súng
trung liên, 100 súng tiểu liên, súng trường và hàng nghìn viên đạn súng
bộ binh. Cuối năm 1959, Đoàn đã chuyển vào Tà Riệt - Pa Lin 1.667 khẩu
súng bộ binh, hàng trăm nghìn viên đạn, súng trường, tiểu liên, súng
ngắn… ngoài ra, Đoàn còn đưa 542 cán bộ, chiến sĩ, phần lớn là cán bộ
chỉ huy, cán bộ kỹ thuật quân khí vào làm nhiệm vụ ở miền Nam.
Từ tháng 5-1959 đến tháng 12-1959, tuy mới nửa năm thành lập, vừa tổ chức vừa xây dựng lực lượng,
vừa soi lối mở đường nên việc vận chuyển vũ khí, trang bị chi viện cho
miền Nam, đưa cán bộ chiến sĩ từ Bắc vào Nam chiến đấu còn ít ỏi. Song
nó có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong việc xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân, trực tiếp góp phần đưa cách mạng miền Nam phát triển lên một
cao trào mới là phong trào “Đồng khởi”, đây là bước ngoặt lịch sử của
cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Con đường chiến lược Trường Sơn 1959-1964.
Trải
qua những ngày tháng gian khổ, Đoàn vận tải quân sự chiến lược 559 đã
tiến được những bước mở đầu quan trọng trên con đường chiến lược Bắc - Nam.
Từ những bước lặng lẽ soi đường mở lối đầu tiên, những người lính
Trường Sơn đã làm nên con đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyền
thoại với 5 trục đường dọc, 21 trục đường ngang ở Đông và Tây Trường Sơn
với tổng chiều dài gần 20.000 km; 01 tuyến đường “kín” dài 3.140 km; hệ
thống đường sông dài gần 500 km; 1.400 km đường ống xăng dầu; gần
17.000 km đường xe cơ giới; san lấp 78.000 hố bom; phá 12.600 quả bom từ
trường, 8.000 quả bom nổ chậm, 85.100 quả mìn các loại. Đoàn đã tổ chức
hành quân cho hơn 2 triệu lượt bộ đội, cán bộ ra vào qua chiến trường
Trường Sơn, vận chuyển hàng chục triệu tấn vũ khí, trang thiết bị quân
sự cho chiến trường miền Nam; đánh 2.500 trận bộ binh, loại khỏi vòng
chiến đấu gần 20.000 tên địch, thu và phá hủy hơn 100 xe quân sự, hàng
ngàn súng các loại; bắn rơi 2.450 máy bay địch.
Trong
Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, bộ đội Trường
Sơn đã bảo đảm giao thông toàn bộ tuyến đường Quốc lộ 1 và 7 tuyến đường
khác, có tổng chiều dài 2.577 km, bắc 88 cây cầu, sử dụng trên 1.000 xe
ô tô chở các quân đoàn chủ lực và chở bổ sung gần 20 vạn quân cho các
chiến dịch để giải phóng miền Nam.
Trung
đoàn 6 công binh anh hùng Bộ đội Trường Sơn trong nhiệm vụ mở đường lớn
bằng phương tiện cơ giới chuẩn bị cho Chiến dịch Tổng công kích mùa
Xuân 1975.
16
năm ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, Mỹ đã thực hiện
733.000 trận oanh kích bằng đủ các loại máy bay, trút xuống Trường Sơn 4
triệu tấn bom đạn các loại. Mười sáu năm chiến đấu anh dũng trên tuyến
đường mang tên Bác, lực lượng cầu đường với 4 sư đoàn công binh và 1 vạn
thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến kiên cường bám trụ, giành
giật từng thước đường. “Máu có thể đổ, nhưng đường không thể tắc”, Bộ
đội công binh Trường Sơn đã luôn giữ cho tuyến đường được thông suốt,
việc chi viện cho chiến trường Nam Bộ vì thế không lúc nào bị gián đoạn.
Lực
lượng vận tải với 2 sư đoàn ô tô cơ động xứng đáng với danh hiệu “gan
vàng dạ ngọc”, “còn người còn xe, còn hàng”, đã vận chuyển hơn 1 triệu
tấn vũ khí, đạn dược, lương thực chi viện cho các hướng chiến trường.
Lực
lượng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống 17.740 tên địch, giải phóng một
vùng rộng lớn Nam Lào, bảo vệ vững chắc hành lang tuyến chi viện.
Lực
lượng phòng không gồm 1 Sư đoàn và 9 Trung đoàn và các đơn vị khác của
Trường Sơn đã bắn rơi tại chỗ 2.455 máy bay các loại, bảo vệ thắng lợi
lực lượng vận tải chi viện cho các hướng chiến trường.
Lực
lượng giao liên xứng đáng với 10 chữ vàng “Tận tình với đồng chí, tận
nghĩa với chiến trường” mở 3.000 km đường giao liên, tổ chức cho hơn 2
triệu lượt người vào ra chiến trường an toàn.
Các
lực lượng thông tin với khẩu hiệu “Coi dây như ruột, coi cột như xương”
xây dựng 1.350 km đường thông tin tải ba và hàng vạn km dây thông tin
các loại, đảm bảo thông tin với các đơn vị, các hướng chiến trường.
Bộ đội xăng dầu đã mở 1.400 km đường ống xăng dầu, 600 km đường sông…
Đường
Hồ Chí Minh trở thành một chiến trường có không gian rộng lớn trải dài
trên 11 tỉnh của Việt Nam, 7 tỉnh Nam Lào và 4 tỉnh Đông Bắc Campuchia.
Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh thực hiện nhiệm vụ chiến lược, tạo
cơ sở vật chất, tạo điểm tự vững chắc và là sức mạnh to lớn cho cách
mạng của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.
Các khu căn cứ của Đoàn 559 trên lãnh thổ Lào.
Đoàn 559
từ một đơn vị vận tải giao liên, bước đầu hình thành một lực lượng bộ
đội hợp thành gồm: vận tải, bộ binh, công binh, phòng không, thanh niên
xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân giao thông, bảo đảm tuyến vận
chuyển không ngừng phát triển từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn, từ
hậu phương lớn miền Bắc vào các chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia,
góp phần đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng lên thế tiến
công đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất
Tổ quốc.
Đoàn 559 đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực
lượng vũ trang nhân dân, tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương
Hồ Chí Minh hạng Nhất; 77 đơn vị và 44 cán bộ, chiến sĩ được trao tặng
danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Xuân
1973 đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam đến thăm Bộ đội Trường Sơn đã ghi vào sổ vàng truyền
thống Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh: “Đường Trường Sơn là một
chiến công chói lọi. Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân
tộc ta, đường Trường Sơn là con đường của ý chí quyết thắng, của lòng
dũng cảm, của khí phách anh hùng. Đó là con đường nối liền Nam - Bắc
thống nhất nước nhà, là con đường của tương lai giàu có của Tổ quốc ta.
Đó cũng là con đường đoàn kết của các dân tộc, của ba nước Đông Dương.
Đường Trường Sơn nhất định sẽ kéo dài và mở rộng. Chúng ta nhất quyết đi
tiếp con đường đó cho đến thắng lợi hoàn toàn. Quang vinh thay Bộ đội
Trường Sơn Anh hùng đã chiến đấu và chiến thắng trên con đường mang tên
Bác Hồ vĩ đại. Mong rằng toàn thể cán bộ chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn hãy
phát huy truyền thống oanh liệt của quân đội ta để hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ của con đường chiến lược vẻ vang này trong giai đoạn mới của
cách mạng”.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét