TRÀ DƯ TỬU HẬU 15/d

 
Làm Chủ Năng Lượng Nhiệt Hạch

Chuyện 16: NĂNG LƯỢNG

(tiếp theo)

Ông A lặng câm, tự tay rót đầy ly rượu, ngửa cổ uống cạn, châm điếu thuốc hút, nhìn khắp lượt bàn nhậu, rồi chậm rãi nói, có vẻ hơi buồn rầu:
"Thôi! Không nói nữa. Nhậu "sung" lên cho vui đi anh em!".
Tôi chưng hửng:
"Sao đang nói hay thế lại thôi, anh A?".
Ông B chép miệng:
"Nhậu mà không ai nói thì chán chết. Nếu không ai nói nữa thì chắc về quá...". 
Tôi phát hoảng:
"Nhậu đã "xỉn" đâu mà đòi về sớm thế? Anh B này ...lãng xẹt!".
Ông C đang dắt xe ra nghe thế, è hèm, lên tiếng:
"Chuyện anh A nói thường thôi. Lẫn lộn cả cũ và mới. Cũ thì... đã cũ mèm, còn mới thì như ...bịa đặt. Nhưng nghe cũng được, như miếng mồi không đến nỗi tệ để đưa cay, cũng vui!...".
Ông A nghiêng mắt nhìn ông C rất lâu, nhoẻn cười và cúi gằm mặt xuống, lẩm bẩm khó hiểu:
"Tôi biết như thế!...Khó mà khơi lên ngọn lửa từ đống tro tàn!...Có lẽ anh C nói đúng đấy! Thôi ở lại nhậu thêm tý nữa cho vui, về chi sớm!".
Ông B cũng nói: "Ở lại ngồi chơi tý nữa, rồi hai đứa cùng về một lúc cho vui.".
Có lẽ gãy đúng chỗ ngứa, ông C dựng xe, vội quay lại chỗ ngồi.
Tôi vội nói:
"Kệ! Nói tiếp đề tài dang dở đi, anh A!"
Ông A đắn đo:
"Có chán lắm không, anh em?".
Ông C, sau khi đã uống cạn ly rượu, vụt nói:
"Dang dở thì chẳng đạt đến cái gì, kể cả sự phi lý!".
Ông A nghe thế vội ngồi ngay ngắn lại:
"Nếu không chán thì tôi nói tiếp! Đến khi nào chán thì bảo nhé! Anh C nói đúng mà cũng sai. Diễn đạt đúng có lẽ phải thế này: đạt đến sự phi lý nhiều khi cũng là đạt đến chân lý!...
Giả sử có một vật đứng yên, có khối lượng M1. Muốn vật đó có khả năng làm biến đổi trạng thái tồn tại một vật đứng yên, có khối lượng M2 khác (tạo một giá trị vận tốc v21 cho nó), nghĩa là sinh công, thì phải tác động vào M1, tức là tạo một động năng M1v21 cho nó, sao cho khi tác động vào M2 sẽ tạo được M2v221 , lúc này, do ảnh hưởng của nguyên lý tác dụng tương hỗ mà lượng M1v21 coi như chỉ giảm xuống M1v212 (có giá trị lớn hơn M1v21!). Quá trình đó diễn ra cụ thể như sau:
M1C2 + M2C2 >> M01C2 + M1v21 + M2C2 >> M01C2 + M1v21 + M02C2 +M2v22 = M012C2 + M1v212 + M021C2 +M2v221 
Đến đây, có thể nói rằng, vật 1 đã chuyển hóa tồn tại của vật 2 từ trạng thái nghỉ sang trạng thái chuyển động thẳng đều với vận tốc v21. Nhưng vật 1 đã sinh công chưa? Theo biểu thức A = F . x thì là chưa vì x không xác định. Chỉ khi vật 2 chuyển động trong môi trường có ma sát, tức là có x xác định thì vật 1 mới sinh công.
Nhưng theo quan niệm của triết học duy tồn thì vật 1 đã sinh công vì đã "tốn lực" làm biến đổi trạng thái tồn tại của vật 2. Nghĩa là chỉ cần làm biến đổi trạng thái vận động của tồn tại là đã sinh công rồi. Còn nếu phải thỏa mãn biểu thức A = F . x mới gọi là sinh công thì trong thí dụ trên, không phải vật 1 trực tiếp sinh công mà là môi trường.
Tuy vậy, điều quan trọng rút ra từ thực nghiệm giả sử trên là năng lượng toàn phần của các vật tham gia tương tác làm biến đổi trạng thái tồn tại của nhau (hoặc sinh công) đều luôn bảo toàn, chỉ là sự chuyển hóa qua lại giữa nội năng và động năng. Vật chỉ mất hay có thêm năng lượng toàn phần khi nó bị cho bớt đi hoặc được thêm khối lượng. 
Suy rộng ra, khối lượng và năng lượng là hai đại lượng đặc trưng cơ bản, mang đặc tính không gian (tính ảo, không xác định, vô hình...), là hai yếu tố thể hiện tinh thần vận động của vật chất Vũ Trụ.  Ở đâu có vật chất, nghĩa là có vận động thì ở đó có khối lượng, năng lượng, và ngược lại, ở đâu có khối lượng, năng lượng, thì ở đó có vật chất, nghĩa là có vận động. Sự tồn tại của khối lượng và năng lượng là có tính vốn dĩ thế. Chúng có tính bảo toàn vì không tự nhiên sinh ra thêm mà cũng không tự nhiên mất bớt đi, chúng chỉ có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Có thể nói vận động là bản chất vốn dĩ của Tồn Tại, còn khối lượng và năng lượng là thể hiện cái tinh thần bất diệt của vận động... 
Ông A đang mê man huyên thuyên thì ông C cắt ngang:
"Anh A nói cứ như thánh ấy. Không biết anh B với thằng Thu nghĩ thế nào chứ tôi thì tôi không tin. Trong thực tế làm gì có hiện tượng nào sinh công mà không tốn năng lượng? Một ôtô trên một mặt phẳng rộng muốn chạy thì phải có nhiên liệu. Hết nhiên liệu thì ôtô đó có thể chạy được nữa không? Con người, hay cả thế giới sinh vật cũng vậy, không có ăn, có thể vận động (sinh công) được không?...".
Ông B thấy ông C nói chẹn ngang Ông A thì vội lên tiếng:
"Anh A đang nói hay...Cái ông C này! Rượu "tua" đến lượt thì uống đi. Cứ chực chờ phá bĩnh, rượu đâu có ế mà bắt cả bàn chờ mãi, khát quá đi!".
Ông A mặt đỏ gay nhưng không có vẻ gì là bực tức hay giận dữ, hết nhìn ông C lại nhìn ông B rồi ôn tồn nói:
"Điều anh C nói không hẳn là sai. Quan niệm xưa nay vẫn thế, đều cho rằng muốn sinh công thì phải tốn năng lượng. Nhưng điều tôi nói ở đây là về một quan niệm mới, quan niệm của triết học duy tồn, và tôi nghĩ nó đúng hơn. Suy nghĩ kỹ, chúng ta thấy tương tác là cách thức duy nhất làm biến đổi trạng thái tồn tại của vạn vật (tức sinh công) trong Vũ Trụ nếu xem xét một cách triệt để từ tầng nấc tột cùng vĩ mô đến tận cùng vi mô. Sự tương tác luôn tuân thủ tuyệt đối nguyên lý nhân - quả, tức là tương tác nào cũng phải chịu một "cú huých" từ bên ngoài và phải phục tùng qui luật tác dụng tương hỗ, không có ngoại lệ. Trên Trái Đất, khi thấy một chiếc xe đột ngột thay đổi trạng thái chuyển động thì dứt khoát nó đã chịu một "cú huých" từ bên ngoài, từ một vật khác hay từ một động cơ. Khi đó, do phải chịu  một cách bình đẳng ảnh hưởng của qui luật tương hỗ mà các vật tham gia tương tác đều sinh công. Theo quan niệm cũ thì những (!) sự sinh công ấy lấy năng lượng từ đâu? Rõ ràng không thể xác định được nếu không muốn đụng nghịch lý. Chỉ còn cách đi đến quan niệm mới rằng nguyên nhân sinh công là các thực thể tham gia tương tác làm chuyển hóa năng lượng của nhau, từ năng lượng toàn phần sang động năng hoặc ngược lại theo công thức tổng quát MC2 = M0C2 + Mv2. Thường thì làm biến đổi trạng thái vận động của vật chất trên Trái Đất không phải là kết quả của một tương tác đơn lẻ mà là kết quả của một quá trình nhiều tương tác. Giả sử có một chiếc xe trên mặt đất phẳng đang từ đứng yên chuyển sang trạng thái chuyển động. Nếu nguyên nhân của sự chuyển động đó không phải là do sự kéo, đẩy thông thường (người, ngựa, sức gió...), thì ắt hẳn phải có "cú huých" từ động cơ. Khởi đầu là sự kích động động cơ. Động cơ đạt đến tình trạng tự đốt cháy nhiên liệu gây áp lực tương tác lên bề mặt pít tông và thông qua hệ thống truyền động làm ô tô chuyển động. Ô tô đã sinh công! Thử hỏi lúc này ô tô có tổn hao năng lượng? Theo hóa học, tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng nổ luôn bằng tổng các chất thu được sau phản ứng ấy, cho nên nhiên liệu không tổn hao năng lượng (mà chỉ bị chuyển hóa) dẫn đến ô tô cũng không bị tổn hao năng lượng. Nói như thế các bạn có thể hỏi vặn tôi rằng: thế thì tại sao con người sau khi sinh công (lao động!) lại phải ăn? Phải chăng ăn là cách thức con người bồi đắp, phục hồi năng lượng (phục hồi sức khỏe) sau khi tốn công? Đúng là con người bị tổn hao năng lượng khi sinh công (khi lao động, làm việc...) nhưng không phải vì phải cấp năng lượng trực tiếp cho cuộc sinh công ấy mà vì những nguyên nhân khác. Có thể ví con người như chiếc ô tô đặc biệt. Trong nội tại nó ẩn chứa một động cơ. Động cơ luôn được phát động để tạo khả năng tương tác (sinh công) nên thường xuyên phải tiếp liệu (ăn) vì thường xuyên phải thải phế liệu (khối lượng các loại vật chất như phân, nước tiểu, mồ hôi..., nói chung là các chất không còn tác dụng sinh công sau khi đã tham gia vào công cuộc sinh công) ra môi trường. Tin chắc rằng tổng khối lượng chất thải và khối lượng cơ thể người sau khi sinh công luôn bằng khối lượng người đó trước khi sinh công nếu bỏ qua hiện tượng thu - phát bức xạ (nên nhớ: triết học duy tồn cho rằng mọi thực thể trong Vũ Trụ đều thu - phát bức xạ và bức xạ được ưu tiên lan truyền từ nơi mật độ năng lượng thấp đến nơi mật độ năng lượng cao!). Vì hiện tượng này mà mọi thực thể trong Vũ Trụ thường trong tình trạng giảm dần khối lượng! Trong thực tế, không hề có vật nào sau khi chịu tác động cơ học bị biến đổi vận tốc (sinh công) mà tăng khối lượng!
Đến đây có thể tạm kết luận: đặc tính cơ bản của Tự Nhiên Tồn Tại là Tồn Tại thường xuyên biến đổi và gắn liền với sự biến đổi đó là sự chuyển hóa năng lượng từ năng lượng nội tại sang động năng hoặc ngược lại. Triết học duy tồn suy đoán rằng, trong thực tại, năng lượng chỉ tồn tại dưới hai dạng năng lượng là năng lượng nội tại (năng lượng liên kết) và năng lượng hoạt động (động năng). Năng lượng liên kết làm nên nội tại (và gắn kết nội tại) của thực thể vật chất, trong khi đó động năng đóng vai trò chính yếu trong tương tác vật chất. Khi trong suốt quá trình vận động mà khối lượng của một thực thể không hao hụt hoặc tăng thêm, thì năng lượng toàn phần của thực thể ấy được bảo toàn, là tổng của hai thành phần năng lượng nội tại và động năng theo công thức:
                        MC2= M0C2 + Mv2 = constan
Nghĩa là chỉ có hiện tượng chuyển hóa năng lượng chứ không hề có hiện tượng trao đổi năng lượng!
Có thể phát biểu định luật bảo toàn năng lượng: Năng lượng tồn tại gắn liền với khối lượng, là một tồn tại vốn dĩ thế để đảm bảo cho vận động - một bản chất chính yếu của Tự Nhiên Tồn Tại; nó không được sinh ra thêm hay mất bớt đi và chỉ có thể chuyển hóa qua lại giữa nội năng và động năng.
Ở đây có một điều khó hiểu cần giải thích cho rõ, đó là vì sao trên đây tôi chỉ nói đến chuyển hóa qua lại giữa nội năng và động năng trong khi trong hiện thực chúng ta còn thấy có sự chuyển hóa qua lại của các dạng năng lượng khác nữa như cơ năng và điện năng, cơ năng và nhiệt năng, điện năng và nhiệt năng...? 
Thực ra trong thực tại khách quan chỉ có hai dạng năng lượng là năng lượng nội tại (năng lượng liên kết) và năng lượng hoạt động (động năng). Hai dạng năng lượng này hợp chung lại gọi là cơ năng. Chỉ ở tầng nấc qui mô Vũ Trụ của chúng ta (con người) mới cảm nhận được, qui ước được thêm các dạng năng lượng như điện năng, nhiệt năng, hóa năng, quang năng...Thực chất của các dạng năng lượng này là sự phản ánh của chuyển hóa năng lượng (cơ năng) ở tầng nấc Vũ Trụ vi mô lên thực tại của tầng nấc Vũ Trụ vĩ mô. Chẳng hạn chúng ta cảm giác được nóng - lạnh, điện giật nhưng ở vật vô tri sẽ tiếp thu và phản ứng lại những thông tin ấy một cách khác. Hoặc nếu chúng ta có thể "xuống" đến một khoảng nào đó ở tầng nấc Vũ Trụ vi mô, chúng ta sẽ không còn cảm giác về nhiệt độ nữa, do đó năng lượng dưới dạng nhiệt năng cũng không tồn tại. Nếu nhiệt là cảm giác của con người, được gây ra bởi sự hoạt động hỗn loạn của các phân tử tác động và thể hiện ở tầng nhận biết được của não người thì khi quan sát ở tầng qui mô phân tử, chúng ta sẽ không có khái niệm về nhiệt nữa!
Suy rộng ra, tất cả các cảm giác mà con người cảm nhận được trên cơ sở các giác quan của mình từ sự tác động môi trường như ớt cay, đường ngọt, cháy bỏng, thơm tho,..., truy cho đến cùng nguyên nhân, đều là những phản ánh của những tác động có bản chất cơ học trong thế giới Vũ Trụ vi mô phản ánh vào thế giới Vũ Trụ vĩ mô. Hơn nữa, nều nhìn ra thế giới của các vì sao và thiên hà bằng cái nhìn vĩ mô thì cũng chỉ thấy năng lượng hoạt động dưới dạng cơ học, tức là năng lượng liên kết và năng lượng hoạt động làm sinh thành, phân rã và di dời (làm chuyển động) các sao và thiên hà...". 
Nói đến đây ông A lại dừng lại, uống rượu và mồi thuốc hút. Trong khi đó, ông B ngồi trầm tư tay vuốt vuốt đầu con chó. Ông C chỉ lăm lăm chai rượu chờ đến lượt rót rượu "tua" cho mình. Còn tôi thì ngồi nhìn ông A đăm đăm, hóng, mà lòng hoang mang khôn xiết, không biết có phải khối lượng là sự cố gắng bảo toàn hiện tại, còn năng lượng là biểu thị sự cố gắng cho tồn tại tương lai của vật chất không(?). Nhai xong miếng thịt vịt, thấy cả bàn nhậu im lặng không ai nói gì, ông A nhoẻn cười có vẻ mãn nguyện với bài hùng biện của mình, rồi tiếp tục nói như..."đúng rồi" ấy:
"Hạt KG, khi chưa lan truyền,ẩn chứa trong nội tại nó một năng lượng toàn phần là e = m . C2. Khi lan truyền trong không gian, vì khối lượng động của nó bất định nên năng lượng đó được xác định bằng: e = h.v (với h là hằng số Planck; v là tần số giao động cực đại tuyệt đối của Vũ Trụ). Đó là "giọt" năng lượng đồng thời cũng là "tia" bức xạ nhỏ nhất tuyệt đối  của Vũ Trụ.
Khi nói một tia bức xạ truyền đi với vận tốc C, thì có nghĩa tia bức xạ đó lan truyền với vận tốc đều. Nếu định luật I niutơn có tính tổng quát của Vũ Trụ thì đó là một di dời cân bằng, nghĩa là bức xạ phải có khối lượng và "cú huých" tạo ra sự lan truyền đó phải cân bằng với lực quán tính của bức xạ. Cụ thể, lực tạo ra vận động di dời của "hạt" KG kích thích, theo ước đoán của triết học duy tồn là:
F = m.C/t = 0,1024.(10^-28) .3,0125.0,96.(10^-28)/10^-76 = 0,32.10^20 N. Thật là khổng lồ!
Đó là góc nhìn ở tầm vi mô. Nếu quan sát được ở tầm vĩ mô, với chú ý đơn vị diện tích là 1 và cũng là diện tích "mặt cắt ngang" của "hạt" KG kích thích, thì giá trị đó bằng:
F = 0,32.10^20.3,125.0,48^2.10^-56 = 0,2304.10^-36 N. Thật là nhỏ nhoi!
Chính vì vậy mà trong hiện thực của con người, chúng ta có cảm giác tác dụng lực của bức xạ bằng 0 (thực nghiệm đã chỉ ra, ánh sáng có áp lực!) nhưng thực chất có sức xuyên thấu ghê gớm! Mặt khác, chúng ta còn thấy sự giải phóng năng lượng của bom nguyên tử chẳng là "cái đinh" gì so với sự giải phóng năng lượng của, gỉa sử, 1g bức xạ KG!...".
Bài hùng biện của ông A đến đây kết thúc. Rượu và tác dụng của bài hùng biện đó đã đưa ông C vào giấc mộng. Ông B vả tôi chưa ngủ nhưng cũng đã ngất ngư. Bàn nhậu xác xơ như qua một trận không tặc. Đĩa thịt vịt quay đầy ú ụ lúc đầu, giờ đây đã hết sạch, chỉ còn cái đầu.
"Thôi, tan hàng!...Tớ nói nghe được không, Thu?". Ông A hỏi tôi.
Tôi mệt mỏi trả lời: "Cũng được. Em mê chuyện Vũ Trụ lắm!".
Ông A nhoẻn cười: "Về nghỉ đi! Lần sau nói tiếp!".
"Vũ Trụ thật kỳ diệu! Đã có biết bao nhiêu quan niệm, bao nhiêu cách giải thích. Nhưng tin chắc rằng chỉ có duy nhất một chân lý đích thực về Nó. Mà đã là chân lý thì không thể chứa nghịch lý. Một học thuyết không thể đích thực khi còn dung nạp nghịch lý! Không biết quan niệm của ông A đã tiệm cận chân lý chưa nữa!? Người vĩ cuồng hay tâm thần bay bổng gặp rượu vẫn thường nghĩ khác thường như vậy!". Tôi vừa nghĩ thầm hoài nghi, vừa đứng dậy ngật ngưỡng ra về.

                                                  ***

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32