CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 295

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
       Chuyên án chống gián điệp kinh điển đập tan âm mưu phá hoại Miền Bắc | Hồ sơ vụ án | ANTG

Hồ sơ KGB được giải mật nói gì về ‘chiến sĩ tình báo’ Putin?

0 Thanh Niên Online
Tài liệu được giải mật từ thời Ủy ban An ninh Quốc gia Nga (KGB) đã hé lộ phần nào hình ảnh của nhà lãnh đạo Điện Kremlin vào thời điểm ông mới bước chân vào cơ quan này.
Ông Putin và thẻ điệp viên từ thời làm việc ở CHDC Đức
Cơ quan tài liệu Stasi
“Đồng chí Putin... không ngừng nâng cao ý thức hệ, trình độ chính trị lẫn sự chuyên nghiệp”, theo AFP hôm 31.10 trích dẫn hồ sơ dài một trang cho thấy đánh giá của cấp trên ở KGB về nhân viên tình báo trẻ tuổi và đầy hứa hẹn.
Lúc đó, đương kim Tổng thống Nga Vladimir Putin vẫn còn trong độ tuổi 20 tuổi và mới thực hiện được giấc mơ đầu quân cho cơ quan an ninh của Liên Xô.
Ông cũng nhận được nhiều lời khen ngợi của các thượng cấp vì hoàn thành công việc một cách hiệu quả và thành công tốt đẹp, theo tài liệu được giải mật của KGB.
Sau đó, ông được chuyển đến làm việc ở Dresden, lúc đó là CHDC Đức từ năm 1985 đến năm 1990.
Hồ sơ được đề cập ở trên nằm trong số những tài liệu được trưng bày tại Kho lưu trữ các tài liệu chính trị và lịch sử trung ương, đang diễn ra tại thành phố Saint Petersburg.
Vào năm 2016, ông Putin tiết lộ mình vẫn còn giữ thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô để làm kỷ niệm.

Tìm thấy thẻ định danh của ông Putin trong cơ quan tình báo Đông Đức

0 Thanh Niên Online
Một thẻ định danh có tên Vladimir Putin đã được tìm thấy trong kho hồ sơ của Bộ An ninh nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức (Stasi) ở thành phố Dresden.
Chiếc thẻ do Bộ An ninh nhà nước Đông Đức cấp cho ông Vladimir Putin
BSTU
Stasi là cơ quan tình báo chính thức của Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) thành lập vào năm 1950. Sử gia người Mỹ Douglas Selvage gần đây tìm thấy trong kho hồ sơ của cơ quan này ở thành phố Dresden tấm thẻ định danh của nhân viên Vladimir Putin.
Tờ Bild của Đức ngày 11.12 đưa tin về phát hiện này và cho rằng đây là bằng chứng xác nhận Tổng thống Nga Vladimir Putin từng làm việc cho Stasi trong thời gian làm sĩ quan tình báo của KGB ở Dresden.

Chuyện ít biết về nữ điệp viên "nóng bỏng" nhất mọi thời đại

Dân trí Nữ điệp viên huyền thoại Mata Hari đã đi vào lịch sử thế giới không chỉ bởi vẻ đẹp quyến rũ, nóng bỏng, mà còn bởi bà bị nghi ngờ là điệp viên hai mang. Trong một thế kỷ kể từ khi Hari bị hành hình, nhiều câu chuyện về bà vẫn còn là một bí ẩn.
>>Hé lộ cuộc đời “lá mặt lá trái” của điệp viên bí ẩn trên đất Mỹ
>>Vụ trao đổi điệp viên lớn nhất giữa Nga và Mỹ sau Chiến tranh Lạnh
>>Siêu điệp viên thành công nhất nước Anh






Từ một vũ nữ, bà Mata Hari đã trở thành một điệp viên. (Ảnh: Style)
Nhấn để phóng to ảnh
Từ một vũ nữ, bà Mata Hari đã trở thành một điệp viên. (Ảnh: Style)
Vũ nữ trở thành điệp viên
Mata Hari là nghệ danh của vũ nữ Margaretha Geertruida Zelle Aka.Bà sinh năm 1876 tại Hà Lan trong một gia đình gồm 4 người con. Năm 18 tuổi, Mata Hari làm quen sau với một sĩ quan quân đội Hà Lan và quyết định đính hôn chỉ sau 6 ngày quen biết. Họ kết hôn vào năm 1895, nhưng cuộc hôn nhân này nhanh chóng đổ vỡ vào năm 1902.
Sau đổ vỡ hôn nhân, cuộc đời của Mata gắn liền với những chuyến đi nay đây mai đó.
Bà đến Paris hành nghề vũ nữ với nghệ danh Mata Hari và tự xưng là người gốc Ấn. Ngoài các điệu múa truyền thống phương Đông học được khi sống cùng chồng ở Indonesia, bà còn biểu diễn các màn múa thoát y. Tên tuổi của Mata cũng được nhiều người biết đến kể từ đó.
Cô không thiếu gì những người tình có quyền thế trong xã hội, các quý tộc, các sĩ quan quân đội, các chính khách cấp cao, những người giúp cô có được một cuộc sống xa hoa. Cùng với các mối quan hệ rộng rãi, việc lưu diễn ở nhiều nơi trên thế giới cũng giúp Mata sử dụng được nhiều ngôn ngữ khác nhau. Điều này nhanh chóng giúp Mata “lọt vào tầm ngắm” của giới tình báo.




Những màn múa thoát y của Mata được coi là vẫn mang đậm tính văn hóa thay vì dung tục. (Ảnh: Buzzfreed)
Nhấn để phóng to ảnh
Những màn múa thoát y của Mata được coi là vẫn mang đậm tính văn hóa thay vì dung tục. (Ảnh: Buzzfreed)
Số phận bi thảm của điệp viên hai mang
Năm 1914, khi Thế chiến I nổ ra, bà tới Berlin (Đức) để lưu diễn. Tại đây bà đã nhận lời làm gián điệp cho Cục tình báo Đức với mật hiệu H21 với nhiệm vụ thu thập tin tức hoạt động của quân đội Pháp.
Tuy nhiên chính Elsa Shragmuyller người phụ trách trực tiếp H21 cho rằng toàn bộ những tin tức mà H.21 cung cấp không bao giờ được sử dụng cả vì chúng không có ý nghĩa gì về mặt kinh tế, chính trị lẫn quân sự.
Một điều ngang trái là, vào tháng 8/1916, sau khi gặp gỡ Đại úy Ladou, sĩ quan của Cục Phản gián Pháp, bà lại nhận lời hợp tác với Cơ quan tình báo Pháp với nhiệm vụ đến Brussels để thu thập tin tức cho người Pháp.
Hành động hai mang của bà đã nhanh chóng bị phát hiện. Khi đang trên đường tới Bỉ làm nhiệm vụ, bà bị cảnh sát Anh bắt giữ và thẩm vấn. Sau khi thả Mata, cảnh sát Anh đã báo cho Pháp biết thân phận thực sự của bà.
Do đó, ngay khi trở về Paris, giới chức Pháp đã cho bắt giữ bà với cáo buộc điệp viên hai mang khiến khoảng 50.000 lính Pháp thiệt mạng.




Vẻ đẹp đài các của bà Mata (Ảnh: Kul News)
Nhấn để phóng to ảnh
Vẻ đẹp đài các của bà Mata (Ảnh: Kul News)
Vào sáng ngày 15/10/1917, trước khi bị tử hình, bà Mata từ chối bịt mắt, trói tay, thay vào đó vẫn mỉm cười vẫy chào những người chứng kiến. Bà bị xử bắn sau đó bởi 12 thành viên đội tử hình của Pháp.
Cái chết của bà Mata đến nay vẫn gây nhiều tranh cãi. Thậm chí 30 năm sau khi bà Mata bị tử hình, nhiều công tố viên thừa nhận rằng không có đủ bằng chứng để kết bà tội hai mang.
Câu chuyện về nữ vũ công trở thành một điệp viên đến nay vẫn thu hút sự tò mò. Nhiều người đặt ra câu hỏi rằng, tại sao bà Mata đồng ý làm điệp viên cùng lúc cho cả Đức và Pháp mặc dù biết rằng sớm hay muộn “kim trong bọc cũng lòi ra”. Một số người cho rằng, tuy đã là điệp viên của Đức, nhưng từ lâu bà Mata vẫn mang trong mình mong muốn làm điệp viên cho quân đội Pháp. 
Minh PhươngTổng hợp

Bí ẩn tổ chức tình báo huyền thoại hàng đầu thế giới

Tại Saint Petersburg (trước đây là Leningrad) hiện vẫn còn ngôi nhà từng là trụ sở của Uỷ ban Đặc biệt toàn Nga (CHEKA), tổ chức tiền thân của các cơ quan tình báo - an ninh Liên Xô và Nga.

CHEKA ra đời ngày 20/12/1917 nhằm đối phó với những hoạt động bạo loạn, gây rối, phá hoại và ám sát của các cựu sĩ quan Sa hoàng và giai cấp tư sản vừa bị mất chính quyền vào tay những người Bolshevik.
Bí ẩn tổ chức tình báo huyền thoại hàng đầu thế giới

Những chiến tích lớn đầu tiên của CHEKA là nhanh chóng khám phá ra thủ phạm mưu sát Lenin và phá vỡ âm mưu bạo loạn của nước ngoài phối hợp với phản động trong nước trong vụ Loccart - Savinkov. Từ đó, CHEKA nhanh chóng phát triển thành một tổ chức đặc vụ với các chức năng tình báo, phản gián, bảo vệ, bắt giữ, thẩm vấn xét xử, tống giam và thi hành án.
Căn cứ vào tình hình thay đổi cũng như nhu cầu của cuộc đấu tranh chống các thế lực thù địch đối với đất nước, tên gọi và cơ cấu bộ máy của CHEKA đã thay đổi nhiều lần. Tháng 2/1922, CHEKA được cải tổ thành Cục Chính trị quốc gia (GPU) nằm trong Bộ Nội vụ.
Tháng 7/1923, Cục Chính trị quốc gia chuyển thành Cục Chính trị quốc gia toàn liên bang (OGPU) với tư cách là một cơ quan ngang bộ. Tháng 7/1934, OGPU đổi thành Tổng cục An ninh quốc gia (GUGB) và tái sáp nhập nào Bộ Nội vụ (NKVD). Năm 1942, trong bối cảnh của cuộc chiến tranh khốc liệt, CHEKA lại tách ra độc lập và mở rộng thành Bộ An ninh quốc gia (MGB), đồng thời thành lập Cục Diệt gián điệp (Smersh) có chức năng phản gián rất lớn.
Để phù hợp với tình hình thời kì Chiến tranh Lạnh, ngày 13/3/1954, trên cơ sở MGB, Uỷ ban An ninh quốc gia (KGB) trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô chính thức được thành lập với các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là: Tiến hành hoạt động tình báo, gián điệp đối ngoại, gồm cả những hoạt động ám sát, lật đổ, phá hoại, tuyên truyền kích động; Thực hiện công tác phản gián trong nước, kể cả theo dõi, giám sát các cơ quan quan trọng của chính phủ và quân đội; Đấu tranh với các phần tử chống đối, li khai, các nhân vật theo chủ nghĩa dân tộc và hoạt động tôn giáo bất hợp pháp; Làm công tác bảo vệ an ninh cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các chính khách nước ngoài đến thăm hoặc tị nạn tại Liên Xô; Giám sát thông tin liên lạc, đảm bảo an ninh thông tin trong nước và kiểm soát theo dõi thông tin nước ngoài; Bảo vệ đường biên giới quốc gia…
Về cơ cấu, KGB có 5 tổng cục nghiệp vụ, gồm: Tổng cục I – Tổng cục Tình báo Đối ngoại; Tổng cục II – Tổng cục Phản gián; Tổng cục III – Tổng cục Biên phòng; Tổng cục IV – Tổng cục An ninh (Cảnh sát mật); Tổng cục V - Công tác với giới trí thức, thanh niên, tôn giáo, dân tộc, cấp tiến...
Bảy cục chức năng gồm Cục Quản lí quân đội (Cục 3); Cục Kĩ thuật (Cục 6); Cục Giám sát (Cục 7); Cục Quản lí thông tin (Cục 8); Cục Cảnh vệ (Cục 9); Cục Quản lí hành chính và Cục Tổ chức – Cán bộ. Năm phòng độc lập gồm Phòng Điều tra đặc biệt; Phòng Phân tích tổng hợp; Phòng Thông tin; Phòng Bảo vệ và Phòng Hồ sơ.
Ngoài ra, trực thuộc KGB còn có hệ thống khoảng 200 viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo - huấn luyện, trong đó đáng kể nhất là Học viện Tình báo Trung ương mang tên Yu. Andropov và 7 trường đào tạo điệp viên cho 7 khối hoạt động tương ứng với 7 khu vực lớn của thế giới như khối Anh - Mỹ, khối châu Á - Thái Bình Dương, khối Đông Âu, ...
KGB là một bộ máy đặc vụ có quy mô lớn nhất thế giới. Thời kì hưng thịnh (trong những năm 1970), KGB có nguồn kinh phí hàng năm lên đến 110 tỉ USD; tổng biên chế lên đến trên 50 vạn người, trong đó riêng ở các cơ quan của Uỷ ban là 1 vạn người, trong các tổng cục nghiệp vụ khoảng 20 vạn người. Có thể nói, không có nơi nào trên thế giới mà không có dấu chân của người cán bộ KGB.
Về danh nghĩa, KGB trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ), nhưng trên thực tế nó nằm dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và đặc biệt là cá nhân Tổng Bí thư Đảng.
Sau vụ chính biến ngày 19/8/1991, KGB bị thu hẹp hầu hết các chức năng vốn có, chỉ còn là cơ quan có nhiệm vụ phối hợp hoạt động an ninh của các nước cộng hoà. Sau khi thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (8/12/1991), mỗi nước thành lập cơ quan an ninh của riêng nó. Ngày 25/12/1991, Liên Xô giải thể và KGB cũng ngừng tồn tại.
Tuy nhiên, cái gì cần có thì vẫn phải có. Ngày 26/12/1991 Liên bang Nga - được xem là chủ thể thừa kế Liên Xô đã thành lập Cơ quan Tình báo Đối ngoại (SVR) trên cơ sở Tổng cục Tình báo Đối ngoại KGB. Tiếp đó, ngày 31/1/1992 thành lập Bộ An ninh quốc gia, sau này là Cơ quan An ninh Liên bang (FSB). Như vậy, dù không còn tồn tại như dưới thời Liên Xô, song KGB vẫn có người kế tục.
Hơn 70 năm đồng hành cùng đất nước Xô-viết, Ủy ban An ninh quốc gia đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “Thanh kiếm và lá chắn”, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN, nhận được sự tôn trọng của các đối thủ như CIA, SIS, MOSSAD.
Tổng thống Nga Vladimir Putin từng đánh giá: “Không phải ai cũng có thể từ bỏ cuộc sống, rời xa gia đình trong vòng nhiều năm, không phải ai cũng có thể hiến dâng cuộc đời để phụng sự quê hương đất nước như các cán bộ, chiến sĩ KGB qua các thời kỳ. Không phải ai cũng có khả năng làm được việc đó. Họ có phẩm chất, năng lực, tính cách và sự thuyết phục khác biệt so với những người bình thường. Họ là những người có một không hai”.
Nguyên Phong

Hé lộ điệp viên siêu hạng trong 'bộ tứ' khiến Mỹ-Âu chao đảo

Đó là Harold Adrian Russell Philby, thường được gọi là Kim Philby, một thành viên trong "Bộ tứ gián điệp thành Cambridge" nổi tiếng.

Những thông tin tình báo vô giá
Kim Philby chào đời đúng ngày đầu năm 1912, trong một gia đình công chức Anh cao cấp. Ông có cảm tình với đất nước Xô-viết và được tình báo viên Liên Xô Arnold Deutsch tuyển mộ khi còn ngồi trên giảng đường Trinity College thuộc Đại học Cambridge.
Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Philby chính là lập danh sách những người mà tình báo Liên Xô có thể tuyển mộ. Và ông đã hoàn thành xuất sắc màn “ra mắt” của mình khi chiêu mộ được Guy Burgess và Donald Maclean cùng một số nhân vật quan trọng khác.
Hé lộ điệp viên siêu hạng trong 'bộ tứ' khiến Mỹ-Âu chao đảo
Điệp viên Kim Philby. Ảnh: Telegraph
Khi nội chiến nổ ra ở Tây Ban Nha, Philby đến đây đưa tin cho tờ The Times. Và chính trong thời gian này, Philby được tình báo Anh tuyển mộ, trở thành điệp viên hai mang cùng lúc cung cấp thông tin cho cả người Nga và người Anh.
Sau khi nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, Philby trở về Anh và được cơ quan tình báo Anh MI-6 tiếp nhận vào làm việc. Chỉ trong vòng bốn năm sau đó, ông thăng tiến nhanh chóng, trở thành người phụ trách Bộ phận chống Liên Xô và phong trào Cộng sản quốc tế trong MI-6. Philby hoàn thành tốt công việc đến mức được ghi nhận là “chuyên gia chống cộng sừng sỏ”.
Trên thực tế, nhờ cương vị của mình, Philby nắm được tất cả những kế hoạch của tình báo Anh nhằm bắt giữ các điệp viên Liên Xô và sử dụng quyền lực của mình để chặn lại hoặc cảnh báo sớm cho phía Liên Xô.
Philby cũng nắm được danh tính những điệp viên người Anh và người Mỹ đang làm việc tại Liên Xô nên có thể giúp Moscow loại bỏ hoặc vô hiệu hóa những người này bằng cách cố tình chuyển cho họ những thông tin sai. Chính những hoạt động phá hoại của Philby đã khiến cho hai cơ quan tình báo tinh nhuệ của Anh là MI-5 và MI-6 gặp nhiều khó khăn.
Philby đã chuyển cho phía Liên Xô những thông tin tình báo giá trị, giúp Liên Xô phá vỡ âm mưu của nước Đức phát xít lập liên minh quân sự với Anh, Mỹ chống đất nước Xô-viết. Ông cũng cung cấp nhiều tin tức về các kế hoạch chiến tranh của Đức, Nhật Bản và phe Đồng minh, qua đó giúp Liên Xô có được các đối sách phù hợp và giảm được thương vong, tốn kém cho Hồng quân trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc.
Năm 1949, Philby được chỉ định làm Bí thư thứ nhất tại Đại sứ quán Anh ở Washington, phụ trách hoạt động trao đổi thông tin giữa các cơ quan tình báo Anh và Mỹ. Trên cương vị này, ông được tiếp cận và chuyển cho KGB những thông tin mật vô cùng nhạy cảm mà Anh - Mỹ trao đổi cho nhau. Giá trị của ông vì thế càng to lớn. Theo đánh giá của tình báo viên Liên Xô nổi tiếng Yuri MoZin, Philby là “điệp viên vĩ đại nhất trong thế kỷ 20” và việc tuyển mộ được ông từng được lãnh đạo KGB xem là một kỳ công.
Được đặt tên cho một quảng trường ở Moscow
Thời gian Philby ở Washington chính là lúc nguy cơ ông bị phát giác bắt đầu gia tăng. Bằng cách chặn các liên lạc của Liên Xô, giới chức Mỹ phát hiện ra rằng có kẻ phản bội trong hàng ngũ nhân viên ngoại giao ở đại sứ quán của họ ở nước ngoài và thông báo cho phía Anh.
Người bị nghi ngờ chính là Donald Maclean – một thành viên trong "Bộ tứ Cambridge", thời gian này làm việc tại Đại sứ quán Anh ở Washington rồi đại diện phía Anh trong Hội đồng Anh - Mỹ - Canada, nhờ đó mà có thể cung cấp cho Tình báo Liên Xô những thông tin bí mật hạt nhân.
Philby phải đối mặt với nhiệm vụ khó khăn là vừa phải tìm ra được kẻ chỉ điểm trong hàng ngũ KGB, vừa tìm cách bảo vệ Maclean, cũng là bảo vệ bản thân.
Giữa năm 1951, nhận thấy khả năng đường dây gián điệp Cambridge bị phát giác là rất cao nên Philby đã liên lạc với Burgess – một thành viên khác của “Bộ tứ” để nhờ người này dàn xếp cho Maclean bỏ trốn tới Nga. Tuy nhiên, Burgess vì quá sợ hãi nên cũng trốn luôn cùng với Maclean tới Moscow, khiến hai thành viên đầu tiên trong đường dây gián điệp nổi tiếng bị phanh phui.
Vì Philby từng ở cùng Burgess và Mclean nên mọi nghi ngờ của cơ quan phản gián Anh nhanh chóng đổ dồn về phía ông. Ông bị MI-6 thẩm vấn và buộc phải từ chức trước khi bị sa thải.
Sau khi rời khỏi lực lượng tình báo Anh, Philby quay trở lại nghề báo. Năm 1956, ông tới Lebanon với tư cách phóng viên thường trú ở Trung Đông của các tờ The Observer và The Economist. Đến năm 1960, Philby được MI-6 tuyển mộ lại.
Một năm sau đó, Thiếu tá Anatoliy Golitsyn của KGB đào tẩu sang Mỹ. Khi bị tình báo Anh thẩm vấn, ông ta xác nhận Philby chính là “Kẻ thứ 3” trong đường dây gián điệp Cambridge đã cùng với Burgess và Maclean cung cấp thông tin cho Liên Xô. Song, đầu năm 1963, Philby trốn thoát thành công tới Liên Xô.
Tháng 7/1963, phía Liên Xô thông báo cho phép Philby tị nạn chính trị và được mang quốc tịch Liên Xô. Những năm sau đó, Philby hỗ trợ đào tạo điệp viên cho nhiều nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa. Ông cũng giữ vai trò cố vấn cho KGB trong công tác nghiên cứu về các hoạt động tình báo của phương Tây.
Năm 1965, Philby vinh dự được nhận Huân chương Lenin, phần thưởng cao quý cho những đóng góp của ông cho Liên Xô. Ảnh của ông thậm chí được in lên tem của Liên Xô.
Điệp viên huyền thoại Kim Philby qua đời ở Moscow ngày 11/5/1988 vì bệnh tim mạch. Tang lễ của ông được tổ chức hết sức long trọng. Tháng 11/2018, tên ông được chính quyền thủ đô Moscow đặt cho một quảng trường lớn ở quận Yasenevo. 
Bộ tứ gián điệp thành Cambridge gồm: Harold Adrian Russell Philby (1912-1988); Anthony F. Blunt (1907-1983); Guy Francis de Moncy Burgess (1910-1936) và Donald Maclean (1915-1983). Họ đã thâm nhập vào các cơ quan tình báo đầu não của Anh, cung cấp thông tin quan trọng cho chính quyền Xô-viết.
Nguyên Phong

Điều ít biết về những chiến công của tình báo Liên Xô

GRU đã thu thập thông tin trong những điều kiện vô cùng phức tạp, dưới sự kiểm soát gắt gao của các cơ quan phản gián Đức và luôn chịu nhiều rủi ro tính mạng.

Các điệp viên thuộc Tổng cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu Hồng quân Liên Xô (GRU) đã cung cấp những bằng chứng về việc Đức chuẩn bị tấn công Liên Xô, cũng như thời điểm tấn công cụ thể, những nước tham gia cùng với Đức, số lượng các binh đoàn Đức tập trung dọc biên giới với Liên Xô…
Trong suốt Chiến tranh Vệ quốc, GRU tập trung chủ yếu vào việc thu thập tin tức chính xác về các kế hoạch của quân Đức, hoạt động và năng lực của nền công nghiệp quân sự Đức và các nước chư hầu, về việc liệu Nhật Bản và Thổ Nhĩ Kỳ có cùng với Đức tấn công Liên Xô hay không.
Các điệp viên của GRU Richard Sorge hoạt động ở Nhật Bản và Moriss ở Mỹ đều khẳng định Tokyo sẽ không tiến công Liên Xô từ phía Đông như đã hứa với Đức.
Ngày 16/9/1941, Hitler phê chuẩn kế hoạch tiến công Moscow mang tên Typhoon (Bão tố), sử dụng trên 1 triệu quân được 1.700 xe tăng và một lực lượng lớn không quân chi viện. Thế nhưng, Hitler không thể ngờ rằng hầu như bút phê của y còn chưa ráo mực, Bộ Tổng chỉ huy Hồng quân đã nắm được.
Thông qua việc giải mã một tài liệu, kết hợp hỏi cung một phi công tù binh bị bắn rơi trên bầu trời ngoại ô Moscow, GRU biết được rằng quân Đức mà nòng cốt là Cụm tập đoàn quân Trung Tâm dưới quyền chỉ huy của Thống chế Von Bock sẽ mở màn chiến dịch Typhoon vào ngày 2 hoặc 3/10/1941.
Tin từ các điệp viên GRU tại nhiều nơi như London (Anh), Paris (Pháp)... cũng có nội dung tương tự. Đặc biệt, mạng lưới do Thiếu tướng Vasily Tupikov - Tuỳ viên quân sự Liên Xô tại Berlin chỉ đạo, không chỉ khẳng định thông tin trên mà còn cung cấp danh sách các đơn vị không quân Đức tham gia chiến dịch.
Những tin tình báo quan trọng này đã giúp Bộ Tổng chỉ huy tiến hành các biện pháp cần thiết trong việc tổ chức, bố trí lực lượng phòng thủ Moscow.
Ngày 3/10/1941, khi quân Đức tiến công, nhiều cơ quan chính phủ đã kịp thời di tản về các thành phố khác. Cơ quan tiền phương của GRU ở lại Moscow, ngay cạnh Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu để theo dõi, nắm bắt tin tình báo, trực tiếp cùng Cục Tác chiến hoạch định kế hoạch và điều hành tác chiến.
Điều ít biết về những chiến công của tình báo Liên Xô
Binh sĩ Liên Xô trong Thế Chiến 2. Ảnh: ER
Cơ quan tiền phương GRU đã tiến hành một chiến dịch mật có tên Kế hoạch Z, tổ chức 5 nhóm tác chiến gồm gần 500 người, 71 đội hành động với gần 2.000 người tung vào hậu phương địch. Các nhóm tác chiến đã tích cực khai thác các thông tin về các đơn vị Đức cũng như kế hoạch tác chiến của quân Đức.
Bằng những cuộc tiến công đột kích bất ngờ, hiệu quả, các đội hành động đã gây thương vong cho đối phương; hạn chế tới mức tối thiểu khả năng vận chuyển lực lượng, phương tiện chiến tranh, vũ khí trang bị của quân Đức theo các tuyến đường quan trọng, đặc biệt là hướng Smolensk - Moscow.
Lực lượng Tình báo Vô tuyến điện (VTĐ) thuộc GRU cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trinh sát các đơn vị máy bay ném bom Đức, xác định chính xác chủng loại, số lượng, sân bay cất cánh, hướng bay oanh kích Moscow.
Tin tức của VTĐ đã góp phần để lưới lửa phòng không dày đặc của Hồng quân bảo vệ có hiệu quả thủ đô trước không quân Đức. Chính chiếc máy bay Yankers-88 với viên Đại uý Meshmid mang theo những thông tin tình báo quý giá bị bắn rơi trước trận đánh cũng có đóng góp to lớn của tình báo VTĐ.
Đồng thời, các tiểu đoàn đặc nhiệm VTĐ Hồng quân đã rất thành công trong việc tiến hành gây nhiễu và tung tin giả. Mỗi tiểu đoàn được trang bị 18-20 máy thu trộm sóng và 4 máy định vị. Các sĩ quan liên lạc Đức thừa nhận, tin do VTĐ cung cấp đã “đóng vai trò quyết định trong thắng lợi của người Nga”.
Sang năm 1942, GRU cảnh báo Bộ Tổng tham mưu Xô-viết về việc Đức chuẩn bị đợt tấn công mùa xuân theo hướng Kavkaz và Stalingrad, cùng các đòn tấn công hỗ trợ ở hướng bắc và các chiến dịch nghi binh ở hướng trung tâm nhằm vào Moscow. Thời hạn bắt đầu là trung tuần tháng 4 hoặc đầu tháng 5.
Trong các chiến dịch tiếp theo, GRU cung cấp các tin tức tình báo chính xác giúp Bộ Tổng tư lệnh Tối cao đưa ra các quyết định mang tính chiến lược.
Trong chiến dịch ở Vòng cung Kursk (1943), tình báo quân sự báo cáo Bộ Tổng tư lệnh Tối cao và Bộ Tư lệnh các phương diện quân thời điểm quân Đức chuyển sang tấn công từ ngày 3 đến 6/7. Tin tình báo chính xác cho phép Hồng quân đánh các đòn phủ đầu, giành chiến thắng và chủ động trên chiến trường.
GRU cũng có những đóng góp to lớn trong việc đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật Bản. Không phải ngẫu nhiên mà người thay mặt Liên Xô ký Hiệp ước đầu hàng của Nhật lại là Trung tướng Tình báo Kuzma Derevyanko. Đây là sự đánh giá rất cao của Nhà nước Xô-viết đối với Cơ quan Tình báo quân sự.
Nguyên Phong

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32