CÂU CHUYỆN KHOA HỌC 136

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Cơn thịnh nộ của Chúa Trời và những lí giải khoa học

Những nhà khoa học nữ giành Nobel Y sinh

Gerty Theresa Cori là người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử đoạt giải Nobel Y sinh nhờ khám phá quá trình biến đổi glycogen dưới tác dụng chất xúc tác.


Những nhà khoa học nữ giành Nobel Y sinh
Gerty Theresa Cori (1896-1957) cùng chồng, Carl Cori bắt đầu nghiên cứu về quá trình chuyển hóa carbohydrate từ khi còn là sinh viên y khoa tại Đại học Prague. Khi Gerty còn nhỏ, bố của bà mắc bệnh tiểu đường, ông mong con gái sẽ tìm ra cách chữa căn bệnh này. Gerty không làm bố thất vọng. Năm 1947, sau 30 năm dày công nghiên cứu, bà cùng chồng chia nhau giải thưởng Nobel Y sinh danh giá cho công trình khám phá về quá trình biến đổi glycogen dưới tác dụng của chất xúc tác. Hình ảnh bà cũng vinh dự xuất hiện trên tem thư của Mỹ.
Những nhà khoa học nữ giành Nobel Y sinh
Barbara McClintock (1902-1992) là một trong những nhà khoa học xuất sắc nhất thế giới trong lĩnh vực di truyền học tế bào, người đi tiên phong cho kỹ thuật phân tích nhiễm sắc thể ngô, từ đó chứng minh sự thay đổi nhiễm sắc thể ở ngô trong quá trình sinh sản. Bà cũng là người đầu tiên tạo ra bản đồ di truyền của ngô, liên kết các nhiễm sắc thể với đặc điểm vật lý; người đầu tiên chứng minh vai trò quan trọng của telomere và centromere trong bảo vệ thông tin di truyền.
Năm 1983, giải Nobel Y sinh được trao cho Barbara McClintock với công trình nghiên cứu về yếu tố di truyền và quy luật di truyền. Trong 12 người phụ nữ chiến thắng giải Nobel Y sinh, bà Barbara là người duy nhất được trao giải độc lập cho công trình nghiên cứu của mình.
Những nhà khoa học nữ giành Nobel Y sinh
Rita Levi-Montalcini (1909-2012) được mệnh danh là "Quý bà của những tế bào". Trong thời kỳ chủ nghĩa phát xít nắm quyền tại Italy và Đức, chính quyền thực hiện chính sách bài Do Thái, bà bất chấp những rủi ro tính mạng bí mật thực hiện nghiên cứu dưới hầm tại Bỉ và Italy, cuối thập niên 30 và đầu thập niên 40. Phát hiện về nhân tố di truyền thần kinh giúp bà và nhà sinh học người Mỹ Stanley Cohen giành giải Nobel Y sinh năm 1986, mở ra những hiểu biết mới cho giới khoa học về nhiều khía cạnh tế bào, đặc biệt sự phát triển của tế bào ung thư.
Bà nhận giải Nobel Y sinh năm 77 tuổi, là người đầu tiên đạt giải sống tới 100 tuổi. Tháng 12/2012, bà qua đời ở tuổi 103.
Những nhà khoa học nữ giành Nobel Y sinh
Françoise Barré-Sinoussi (1947) lấy bằng tiến sĩ tại Viện Pasteur, Paris và bắt đầu nghiên cứu về retrovirus năm 1975. Tám năm sau, Françoir phát hiện ra virus HIV. Đến năm 1988, bà có phòng thí nghiệm nghiên cứu của riêng mình trong trường đại học, dành toàn bộ thời gian học và nghiên cứu về virus. Ngoài việc phát hiện ra virus HIV, nghiên cứu của Barré-Sinouss còn cho thấy con đường lây truyền viurs HIV và mối liên hệ với AIDS. Bà được trao giải Nobel Y học năm 2008 cùng Luc Montagnier và Harald zur Hausen nhờ tìm ra virus gây ''căn bệnh thế kỷ".
Francoir đã xuất bản hơn 200 ấn phẩm khoa học về cơ chế cụ thể trong hệ thống miễn dịch của con người và virus HIV.
Những nhà khoa học nữ giành Nobel Y sinh
Tu Youyou (sinh 1930) là nhà nghiên cứu y học và y hóa nổi tiếng tại Trung Quốc. Kế thừa những giá trị sẵn có của thanh hao hoa vàng, loài thực vật được coi là báu vật của y học cổ truyền Trung Quốc từ hơn 1.700 năm trước, bà chuyên tâm nghiên cứu sâu hơn, chiết xuất thành công thanh hao tố phục vụ trong điều trị sốt rét. Nhờ công trình này, bà cùng chia giải Nobel Y học 2015 với hai nhà khoa học Satoshi Omura và William Campbel.
Thành quả nghiên cứu của bà mang tính đột phá, giúp nâng cao chất lượng sức khỏe cho hàng triệu người ở các quốc gia đang phát triển tại Nam Á, châu Phi và Nam Mỹ. 
Lê Hằng (Theo Mental Floss

Hóa ra con người cũng có khả năng tái sinh cơ thể, nhưng bây giờ các nhà khoa học mới phát hiện ra

12/10/2019 02:00 PM | Khoa học

Đây sẽ là nghiên cứu đặt nền tảng cho một tương lai, ở đó chúng ta có thể tiêm thuốc để mọc lại chân hoặc tay đã mất.

Hóa ra con người cũng có khả năng tái sinh cơ thể, nhưng bây giờ các nhà khoa học mới phát hiện ra
Những con kỳ giông nổi tiếng với khả năng tái sinh cơ thể cực kỳ hiệu quả. Chúng có thể mọc lại chân, đuôi, các cơ quan trong cơ thể thậm chí là một phần não bộ. Con người đáng tiếc không có khả năng làm điều đó.
Nhưng một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Science Advances có thể thay đổi toàn bộ tư duy của chúng ta về vấn đề này. Cơ thể con người hóa ra vẫn nắm giữ một cơ chế tái sinh của loài kỳ giông cách chúng ta 400 triệu năm tiến hóa, chẳng qua chúng ta chưa từng biết về nó mà thôi.
Nghiên cứu bây giờ cho thấy sụn trong khớp của con người cũng có thể tái sinh hệt như loài kỳ giông mỗi khi bị thương hoặc phải làm việc quá sức. Các nhà khoa học cho biết phát hiện này sẽ mở ra những cơ hội mới trong lĩnh vực điều trị bệnh xương khớp - và thậm chí có thể đem lại khả năng tái tạo toàn bộ chân tay cho chúng ta, vào một ngày nào đó.
Một số loài động vật như kỳ giông và cá ngựa vằn sở hữu khả năng tái sinh là nhờ microRNA, những phân tử kiểm soát tập hợp lớn các gen tham gia vào quá trình tái tạo mô. Tin vui mà các nhà khoa học cho biết, con người cũng sở hữu những microRNA này, có điều nó không hoạt động mạnh ở tất cả các bộ phận trong cơ thể.
Qua quá trình tiến hóa, con người vẫn giữ lại được các microRNA giúp tái sinh sụn, và nó biểu hiện cực kỳ hiệu quả ở sụn mắt cá chân, sau đó là sụn đầu gối và hông.
Điều này liên quan đến một khái niệm mà các nhà khoa học gọi là tuổi sụn, nhưng không phải tính bằng năm mà bằng quá trình biến tính protein hoặc chuyển hóa axit amin. Sụn mắt cá chân là loại trẻ nhất, sau đó là đến sụn gối và sụn hông là già nhất theo cách xác định này.
Điều này hoàn toàn phù hợp với những quan sát của chúng ta trên các loài động vật có khả năng tái sinh. Theo đó, chúng cũng mọc lại đuôi nhanh nhất, sau đó mới tới chân sau và chân trước. Nghĩa là càng xa cơ thể, tuổi của các cơ quan có vẻ càng trẻ và chúng tái sinh càng tốt.
Trên người, mức độ hoạt động của microRNA và tuổi của sụn cũng giải thích tại sao chấn thương mắt cá chân lành nhanh hơn chấn thương đầu gối và hông. Ngoài ra, chúng ta cũng ít bị viêm khớp mắt cá chân hơn so với ở hai khu vực còn lại.
"Chúng tôi rất vui mừng khi biết rằng các yếu tố điều khiển sự tái sinh ở chi kỳ giông dường như cũng là yếu tố điều khiển quá trình phục hồi mô sụn khớp ở chi của con người", giáo sư Ming-Feng Hsueh đến từ Đại học Duke cho biết. "Chúng tôi gọi đó là năng lực 'kỳ giông bên trong" mỗi chúng ta".
Trong nhiều nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học từng ghi nhận khả năng tái tạo của cơ thể người trong một số trường hợp. Chẳng hạn như khi những đứa trẻ bị đứt cụt đầu ngón tay, chúng vẫn có thể mọc lại khi được điều trị đúng cách.
Nhưng càng lớn khả năng tái tạo này càng biến mất. Nhiều nhà khoa học kết luận rằng con người "không thể chống lại những thiệt hại tích lũy" đối với khớp của họ. Nhưng nghiên cứu mới này đã chứng minh điều ngược lại.
Nó có ý nghĩa rất lớn trong việc điều trị chấn thương cho các vận động viên, người già hoặc bất kể một ai gặp vấn đề về khớp hoặc sụn. Chẳng hạn, các nhà khoa học gợi ý microRNA có thể được tiêm vào khớp để thúc đẩy quá trình tái sinh sụn hoặc phát triển thành các loại thuốc phòng ngừa và đẩy lùi viêm khớp.
Trong tương lai xa hơn, nó thậm chí có thể "thiết lập một cơ sở cho sự tái sinh chân tay của con người", báo cáo nghiên cứu viết.
Hóa ra con người cũng có khả năng tái sinh cơ thể, nhưng bây giờ các nhà khoa học mới phát hiện ra - Ảnh 1.
Sụn mắt cá chân là loại trẻ nhất, sau đó là đến sụn gối và sụn hông là già nhất theo cách xác định theo protein
Nhưng trước khi đạt được khả năng đó, các nhà khoa học sẽ phải tiến từng bước một. Đầu tiên, họ phải tìm ra đâu là những yếu tố tham gia vào quá trình tái sinh, loài kỳ giông có nhưng con người không có, giáo sư Byers Kraus, một đồng tác giả nghiên cứu cũng đến từ Đại học Duke cho biết.
"Sau đó, chúng ta sẽ xem liệu có thể bổ sung thêm các thành phần bị thiếu trở lại hay không", bà nói. Một khi các yếu tố bị khuyết thiếu được xác định, chúng có thể kết hợp với microRNA để tạo ra một hỗn hợp phân tử có khả năng tái tạo toàn bộ các chi.
"Chúng tôi tin rằng tìm hiểu về khả năng tái tạo "giống với kỳ giông" ở người, và các yếu tố khiếm khuyết trong cơ chế này có thể đặt một nền tảng cho các phương pháp mới giúp sửa chữa các mô khớp và thậm chí là toàn bộ chân tay của con người", giáo sư Kraus kết luận.
Theo ZKnight
Trí Thức Trẻ

Khoa học lý giải nguy hiểm của việc quan hệ cận huyết như thế nào?

Nếu kết hôn với anh em họ, nguy cơ mắc một bệnh di truyền sẽ khoảng 4-7%. Thế nhưng, có hàng nghìn căn bệnh di truyền như vậy khiến kết hôn cận huyết trở nên nguy hiểm hơn.
Liệu có phải những đứa trẻ được sinh ra bởi hai anh/chị em họ thực sự có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh cao? Các nguyên tắc di truyền cơ bản sau đây sẽ giúp chúng ta trả lời được câu hỏi này.
Nữ hoàng Victoria, Charles Darwin và Albert Einstein có điểm gì chung? Họ đều kết hôn với anh em họ ở thế hệ thứ nhất.
Khoa hoc ly giai nguy hiem cua viec quan he can huyet nhu the nao? hinh anh 1
Quan hệ cận huyết tăng nguy cơ mắc các bệnh di truyền.
Hiện nay, kết hôn với anh em họ là bất hợp pháp tại nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, suốt một thời gian dài của lịch sử phương Tây, mọi người đều phải kết hôn với bất cứ ai sống trong khu vực của họ. Điều đó có nghĩa họ phải kết hôn với người trong dòng tộc.
Trong khoảng thời gian từ năm 1650-1850, những cặp vợ chồng thường là anh em họ ở thế hệ thứ tư. Vì vậy, họ có cùng chung ông bà cố.
Về mặt di truyền, điều này có nghĩa họ có chung 0,20% DNA. Không quá nhiều khi so sánh với thế hệ thứ ba (0.78%), thứ hai (3.13%) và đặc biệt là thế hệ thứ nhất (12.5%). Thực tế, càng chia sẻ nhiều % DNA, con của họ càng có nguy cơ mắc bệnh di truyền như u xơ hoặc bệnh thiếu máu hồng cầu lưỡi liềm.
Nhưng điều quan trọng ở đây là con của họ vẫn có thể mắc bệnh di truyền dù cho cha mẹ không hề mắc phải.
Lấy bệnh u xơ nang làm ví dụ. Nó được gây ra bởi một khiếm khuyết trong gen CFTR. Nhưng cần đến hai bản sao của gen này để chủ thể mắc bệnh. Vì vậy, nếu chỉ có một bản sao của gen, chủ thể vẫn sẽ "bình yên vô sự".
Bây giờ, gặp trường hợp một "người vận chuyển" (có nghĩa là mang một bản sao của gen) giao phối với một người bình thường, đứa bé sinh ra vẫn sẽ không mắc bệnh. Tuy nhiên, khi cả bố và mẹ đều mang một bản sao khiếm khuyết của CFTR, đứa trẻ sẽ mang 25% khả năng thừa hưởng hai bản sao của gen và mắc bệnh.
Vì vậy, để đánh giá việc kết hôn với người anh em họ ở thế hệ đầu tiên nguy hiểm như thế nào, chúng ta cần phải tính toán khả năng cả hai đều mang một bản sao của cùng một bệnh di truyền.
Các nhà khoa học đã tìm ra được con số trung bình. Cụ thể, nguy cơ anh em họ sinh ra một đứa trẻ mắc bệnh di truyền là 4-7%. Tỷ lệ này là 3-4% với người bình thường.
Như vậy, mọi thứ có vẻ không quá kinh khủng như tưởng tượng. Thế nhưng, đó chỉ là tỷ lệ cược cho một bệnh di truyền. Hiện nay có hàng nghìn loại bệnh di truyền khác có thể đang lẩn trốn trong cây phả hệ của gia đình.
Thêm vào đó, nếu những đứa bé được sinh ra cũng kết hôn với những anh em họ ở thế hệ đầu tiên thì đó là một thảm họa. Bởi thay vì đưa vào các gen mới, có khả năng hữu ích vào nhóm gen của gia đình, thì họ lại đang liên tục sử dụng lại những gen cũ, đầy nguy hiểm.
Giang Vu/VnReview

Các nhà khoa học "hack" vào não bộ chim sẻ, dạy chúng hót những giai điệu chưa từng nghe thấy từ bố mẹ

zknight , Theo Trí Thức Trẻ 13 giờ trước

Họ sử dụng optogenetic, một kỹ thuật dùng ánh sáng kích thích tế bào thần kinh trong não.

Người thầy đầu tiên của tất cả chúng ta là cha mẹ. Chúng ta học nói ngôn ngữ của loài người, bắt đầu bằng cách nhại lại những gì cha mẹ chúng ta từng nói. Nhưng thử tưởng tượng một ngày nào đó, các nhà khoa học có thể "hack" vào quá trình đó.
Họ có thể đội cho đứa trẻ một chiếc mũ laser rồi nạp vào đầu nó cả bộ từ điển. Đứa trẻ sau đó sẽ nói được mọi ngôn ngữ trên thế giới chỉ sau một cú click chuột.
Nghe có vẻ là chuyện chỉ xuất hiện trong phim khoa học viễn tưởng, nhưng ngày càng có nhiều nghiên cứu đang kéo tương lai đó lại gần với chúng ta. Mới đây nhất, một nhóm nghiên cứu đến từ Đại học Tây Nam Texas đã cấy thành công những ký ức giả vào não chim sẻ vằn, để dạy chúng hót những giai điệu chưa từng nghe từ bố mẹ.
Các nhà khoa học hack vào não bộ chim sẻ, dạy chúng hót những giai điệu chưa từng nghe thấy từ bố mẹ - Ảnh 1.
Những con sẻ vằn hót cho con mình nghe từ khi chúng còn nhỏ. Và thế là những con sẻ vằn con sẽ bắt chước lại. Theo thời gian, chúng lớn lên với những giai điệu đã học được, và lại truyền cho con cháu hết đời này qua đời khác.
Trên một khía cạnh nào đó, quá trình học hót của sẻ vằn là một phiên bản giản thể hơn của cách con người chúng ta phát triển tiếng nói.
Nhưng trong một nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã "hack" vào quá trình học hót của chim sẻ vằn, qua đó trực tiếp thao túng bộ não của chúng, dạy cho những con sẻ con hót các giai điệu mà chúng chưa từng nghe thấy từ bố mẹ.
Để làm được điều này các nhà khoa học đã sử dụng optogenetic, một kỹ thuật dùng ánh sáng kích thích tế bào thần kinh trong não. Họ đã chọn "hack" vào vùng kết nối giữa bộ phận não xử lý những gì con vật nghe thấy và phần điều khiển giọng hót.
Optogenetic đã thành công trong việc cấy những ký ức thính giác nhân tạo vào bên trong não bộ sẻ vằn, con chim sau đó đã cố gắng hót theo những giai điệu mà các nhà khoa học muốn.
Chẳng hạn, họ đã sử dụng mã Morse để dạy những con sẻ biết trường độ của những âm tiết mà nó nên hót. Xung ánh sáng tác động càng dài, lũ sẻ sẽ càng kéo dài âm tiết và ngược lại. Bản nhạc cuối cùng mà những con sẻ vằn tạo ra, chắc chắn là một ký ức âm thanh được cấy vào đầu chúng, là một giai điệu mà chúng chưa từng được dạy bởi một con sẻ vằn trưởng thành nào.
Mặc dù vậy, cũng phải lưu ý rằng giai điệu mà các nhà khoa học cấy được vào não bộ sẻ vằn lúc này còn rất đơn giản. Nó không phức tạp như những giai điệu mà lũ chim học được một cách tự nhiên từ bố mẹ.
Trường độ của âm tiết chỉ là một trong số nhiều yếu tố cấu thành lên một giai điệu. Các nhà khoa học hiện chưa thể tìm ra bộ phận nào trong não sẻ vằn điều khiến các yếu tố khác như cạo độ và thứ tự của âm tiết để "hack" vào đó.
Các nhà khoa học hack vào não bộ chim sẻ, dạy chúng hót những giai điệu chưa từng nghe thấy từ bố mẹ - Ảnh 2.
Giáo sư Todd Roberts tác giả chính của nghiên cứu đến từ Đại học Tây Nam Texas.
"Chúng tôi chưa thể dạy lũ chim tất cả mọi thứ chúng cần biết [để hót thành một giai điệu hay] – mà mới chỉ dạy được chúng khoảng thời gian phát ra các âm tiết trong điệu hót của nó mà thôi", giáo sư Todd Roberts, tác giả chính của nghiên cứu cho biết.
"Hai vùng não chúng tôi đã thử nghiệm trong nghiên cứu này chỉ là một phần câu đố. Nhưng nếu chúng ta tìm ra được những con đường khác, chúng ta sẽ có thể dạy một con chim hót mọi giai điệu mà không cần bất kỳ tương tác nào với chim bố. Nhưng có lẽ rất lâu nữa chúng tôi mới có thể làm được điều đó".
Mặc dù vậy, nghiên cứu của giáo sư Roberts cũng đánh dấu một bước đột phá, lần đầu tiên chúng ta có thể cấy ký ức một cách hiệu quả vào bộ não của động vật. Năm ngoái, một nhóm nghiên cứu khác cũng đã thử cấy ký ức giả vào những con ốc, để chúng học được cách phản ứng với một kích thích chưa từng gặp phải.
Lặp lại những thành công này trên chim là một bước tiến nhảy vọt, trước khi chúng ta làm được điều tương tự trên người. Giáo sư Robert và nhóm của ông nói rằng công việc mình có thể mở ra nhiều hướng nghiên cứu, bao gồm việc tìm cách điều trị một số chứng rối loạn ngôn ngữ cho con người.
Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science.
Tham khảo Newatlas

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32