CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 275

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Tình báo Mỹ CIA và những điệp vụ thất bại trước KGB "những thằng ngu nhất thế giới"

Hệ thống cơ quan tình báo dày đặc của Mỹ

Cục Điều tra Liên bang (FBI), Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) chỉ là vài cái tên phổ biến trong hệ thống tình báo dày đặc của Mỹ.

Trong thực tế, Mỹ có tới 17 cơ quan tình báo và ngành tình báo đã trải qua lịch sử lâu đời.
Quỹ Mật vụ
Chú thích ảnh
Tổng thống Mỹ đầu tiên George Washington. Ảnh: Wikipedia
Tháng 1/1790, trong Thông điệp Liên bang đầu tiên của nước Mỹ, Tổng thống đầu tiên George Washington đã đề nghị Quốc hội cấp ngân sách để thu thập thông tin tình báo nước ngoài. Ông muốn loại bỏ mối đe dọa từ nước ngoài nhằm vào Mỹ bằng cách biết thông tin về mối đe dọa trước khi nó có thể xảy ra. 
Quốc hội đã chấp nhận đề nghị của Tổng thống Washington và thành lập Quỹ Giao dịch Nước ngoài Dự phòng hay còn gọi là Quỹ Mật vụ. Số tiền được rót cho quỹ này hàng năm là 40.000 USD, trong đó Tổng thống có thể dùng theo ý mình mà hầu như không bị giám sát. 
Chỉ trong vòng 3 năm, số tiền quỹ nhận được hàng năm đã lên tới 1 triệu USD. Hiện nay, ngân sách cho các hoạt động tình báo Mỹ khoảng 70 tỷ USD/năm.
Trong 70 năm đầu hoạt động, Quỹ Mật vụ là mô hình giống “cơ quan tình báo nhất” mà Mỹ có, mặc dù đó chỉ là một quỹ, không phải là một cơ quan. Quỹ nhanh chóng được sử dụng cho cả những mục đích khác ngoài thu thập thông tin tình báo.
Năm 1801, Tổng thống Thomas Jefferson đã sử dụng quỹ này để lần đầu tiên thực hiện âm mưu lật đổ lãnh đạo của một chính phủ nước ngoài: ông Yusuf Karamanli, Tổng trấn Tripoli - một bang của Nam Phi khi đó. Chiến dịch này do Hải quân Mỹ, lính đánh thuê Hy Lạp và Arab thực hiện nhằm thay thế Tổng trưởng Karamanli bằng một người thân thiện với Mỹ hơn. Tuy nhiên, chiến dịch thất bại.
Từ năm 1810-1812, Tổng thống James Madison đã dùng quỹ này để hỗ trợ các chiến dịch tuyên truyền và bán quân sự nhằm chiếm khu vực Florida do Tây Ban Nha kiểm soát. Các chiến dịch này cũng thất bại. Sau này, vào năm 1819, Mỹ cũng có được Florida.
Đầu những năm 1840, Tổng thống John Tyler và Ngoại trưởng Daniel Webster đã dùng tiền của Quỹ Mật vụ để ủng hộ nỗ lực tuyên truyền mà họ hy vọng sẽ giúp giải quyết tranh chấp biên giới Mỹ-Canada. Họ hối lộ tổng biên tập và phóng viên các báo để đăng bài viết có lợi cho quan điểm Mỹ. Lần này, Mỹ đã thành công.
Cơ quan tình báo chính thức đầu tiên
Chú thích ảnh
Ông George H. Sharpe. Ảnh: US Army
Mỹ thành lập cơ quan tình báo chính thức đầu tiên vào năm 1863, khoảng 2 năm khi xảy ra nội chiến. Khi đó, quân đội Liên bang miền Bắc đã thành lập Cục Thông tin Quân sự (BMI). Cả hai bên tham chiến đều tham gia hoạt động tình báo, đặc biệt là sử dụng trinh sát và gián điệp ngay từ đầu cuộc chiến để thu thập thông tin về động thái của kẻ thù. Tuy nhiên, những nỗ lực này có kết quả mâu thuẫn và tổ chức kém.
BMI đã thay đổi dưới thời lãnh đạo đầu tiên là ông George H. Sharpe, một luật sư, nhà ngôn ngữ, nhà ngoại giao và đại tá quân đội tình nguyện ở New York. BMI đã trở thành một đơn vị thu thập thông tin tình báo thực sự và hiện đại hơn. Cơ quan này có gần 70 trinh sát dân sự và quân sự làm việc toàn thời gian, điều hành các đường dây gián điệp, chặn thư từ và liên lạc, xây dựng chiến dịch bẻ mật mã và viết mật mã, thực hiện các chương trình thẩm vấn. Ông Sharpe đã thành lập các đơn vị để tổ chức thông tin thu thập được thành các báo cáo và được chuyển ngay tới các chỉ huy quân đội liên quan.
Nhờ những việc đó, BMI đã có công trong tăng cường chiến dịch tình báo của quân đội Liên bang miền Bắc và đóng vai trò quan trọng trong một số chiến thắng lớn của cuộc nội chiến. Tuy nhiên, đơn vị này vẫn là một chương trình tạm thời trong thời chiến và bị giải tán khi nội chiến kết thúc năm 1865.
Sau nội chiến, người Mỹ quan tâm tới tái thiết đất nước và không quan tâm tới quân đội. Kết quả là quy mô cả lục quân và hải quân giảm đáng kể. Đầu những năm 1880, người dân Mỹ bắt đầu để ý tới một xu hướng đáng lo. Khi quy mô quân đội Mỹ giảm thì các nước khác như Anh, Pháp, Nga và Nhật Bản lại xây dựng, hiện đại hóa và tăng cường quân đội, đặt ra mối quy hiểm tiềm tàng cho Mỹ. Điều tệ hơn là Chính phủ Mỹ không thể theo dõi những tiến triển của quân đội các nước vì công tác thu thập thông tin tình báo bị phi tập trung hóa và không có tổ chức.
Các cơ quan tình báo thời chiến
Chú thích ảnh
Sảnh Tổng hành dinh CIA ở Langley, Virginia, Mỹ. Ảnh: AFP
Tuy nhiên, mọi chuyện sắp sửa thay đổi. Năm 1881, Tổng thống James Garfield bổ nhiệm ông William H. Hunt làm Bộ trưởng Hải quân và từ đó, tình trạng của Hải quân Mỹ cũng như hoạt động tình báo thay đổi hoàn toàn. Ông Hunt ra lệnh thành lập Văn phòng Tình báo Hải quân (ONI) – cơ quan tình báo chính thức và thường trực đầu tiên trong lịch sử Mỹ. ONI khác xa so với các cơ quan tình báo sau này. Trong 10 năm đầu tiên, ONI chỉ có trung bình 10 nhân viên. Năm 1885, Lục quân Mỹ học tập Hải quân và thành lập đơn vị tình báo riêng mang tên Sư đoàn Thông tin Quân sự (MID). 
Trong vài năm sau, hai đơn vị tình báo này phát triển hệ thống tùy viên, trong đó tùy viên lục quân và hải quân làm việc trong các đại sứ quán Mỹ ở nước ngoài, trở thành đại diện của quân đội Mỹ. Nhưng trong thực tế, họ là sĩ quân thuộc ONI và MID, chuyên thu thập thông tin tình báo về quân đội của quốc gia họ đang hoạt động. Cả ONI và MID đều phát triển chậm trong vài năm sau đó. Khi sắp bước sang thế kỷ mới, mọi thứ lại thay đổi lần nữa do chiến tranh.
Khi tham gia vào ngày càng nhiều cuộc chiến và có nhiều kẻ thù mới, nhu cầu thu thập thông tin tình báo gia tăng. Khi các chiến dịch quân sự của Mỹ mở rộng, quy mô và phạm vi hoạt động của các cơ quan tình báo Mỹ cũng mở rộng theo. Bước vào thế kỷ 20, các cơ quan tình báo hiện đại hình thành nhưng nhiệm vụ vẫn bao gồm thu thập, phân tích thông tin tình báo; phản gián; hoạt động ngầm; gián điệp.
Đầu thế kỷ 20, hoạt động tình báo của Mỹ phát triển mạnh. Cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai, Chính phủ Mỹ đã tuyển hàng chục nghìn người làm tình báo trong nhiều tổ chức.
Năm 1908, Cục Điều tra – tiền thân của Cục Điều tra Liên bang (FBI) - được thành lập và trực thuộc Bộ Tư pháp. Ban đầu là đơn vị điều tra hình sự liên bang, Cục Điều tra nhanh chóng trở thành cơ quan tình báo nội địa có nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo và do thám người dân tại Mỹ.
Năm 1919, Bộ Ngoại giao Mỹ và quân đội Mỹ cùng thành lập Phòng Đen (Black Chamber), một đơn vị phá mật mã. Black Chamber phá mật mã dùng trong điện tín ngoại giao của nước ngoài. Đây là cơ quan tình báo phi quân đội và thành lập trong thời bình đầu tiên của Mỹ. Cơ quan này đóng cửa năm 1929 nhưng được coi là tiền thân của Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) ngày nay.
Năm 1942, Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS) được thành lập, là cơ quan tình báo thống nhất cho mọi binh chủng quân đội Mỹ thời Chiến tranh Thế giới thứ hai. Khi kết thúc chiến tranh, OSS có hơn 24.000 nhân viên.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, các cơ quan tình báo Mỹ không thu hẹp mà còn mở rộng hơn khi Mỹ bước vào Chiến tranh Lạnh với Liên Xô. Khi đó, OSS tách thành hai: Một là Cục Tình báo và Nghiên cứu phục vụ Bộ Ngoại giao và vẫn hoạt động tới ngày nay. Hai là Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA).
Kỷ nguyên bê bối
Chú thích ảnh
Ủy ban Tình báo Hạ viện điều tra rủi ro của các chiến dịch tình báo Mỹ. Ảnh: AP
Đầu những năm 1970, các cơ quan tình báo dính hàng loạt bê bối. Nhiều thông tin tiết lộ cho thấy họ lạm dụng quyền lực. FBI thực hiện chiến dịch thâm nhập và do thám bất hợp pháp trên diện rộng nhằm vào các tổ chức chính trị trong nước từ những năm 1950. NSA do thám các lãnh đạo dân quyền như Martin Luther King. CIA bí mật mở và đọc thư của người Mỹ trên quy mô lớn và thường xuyên từ những năm 1950. CIA cũng tham gia lật đổ chính phủ nước ngoài và ám sát hay có âm mưu ám sát lãnh đạo nước ngoài.
Sau đó, Quốc hội Mỹ thực hiện hàng loạt cuộc điều tra và thông qua nhiều luật hạn chế hoạt động của cơ quan tình báo. Giữa những năm 1970, cả Hạ viện và Thượng viện Mỹ thành lập các ủy ban thường trực để giám sát hoạt động tình báo. Đây là lần đầu tiên Quốc hội đặt chân vào thế giới tình báo Mỹ.
Theo trang todayifoundout, dù căng thẳng với Quốc hội nhưng các cơ quan tình báo tiếp tục mở rộng cả quy mô và số lượng. Ngày nay, có 17 cơ quan tình báo riêng biệt ở Mỹ do Giám đốc Tình báo Quốc gia giám sát và người này có trách nhiệm báo cáo trực tiếp tổng thống Mỹ. 
Theo baotintuc.vn

CIA và các dự án “tẩy não” điệp viên

Hải Yến |

CIA và các dự án “tẩy não” điệp viên

Sau khi Chiến tranh Thế giới II kết thúc, Mỹ đã tích cực tham gia vào việc tiến hành các thí nghiệm, mục tiêu là tạo ra một loại “huyết thanh sự thật”.

Dự án kiểm soát tâm trí MK-Untra: Chiến dịch “tẩy não” bí mật CIA tài trợ chương trình tẩy não ở Canada Thủ phạm vụ tấn công ở Nice đã bị “tẩy não”
Trong khuôn khổ của “nghiên cứu y tế”, các chuyên gia của Mỹ đã tiêm nhiều loại thuốc khác nhau cho sinh viên các trường đại học Mỹ, sau đó theo dõi phản ứng của đối tượng thông qua những hệ thống theo dõi đặc biệt.
Theo thời gian, các thí nghiệm trở nên phức tạp hơn, bản thân mục tiêu cũng thay đổi về hình thức: cơ quan tình báo hy vọng sẽ đạt được sự biến đổi cơ bản về tính cách con người.
Với sự điều khiển của nhà chiến thuật CIA Edward Hunter, chiến thuật này được gọi là “tẩy não”, tạo ra những điệp viên bị kiểm soát tâm trí. Các dự án bí mật “Artisok”, “Chim xanh” và “Kẹp giấy” được đặt ra và thử nghiệm nhằm phục vụ cho lợi ích của ngành tình báo Mỹ.
Các dự án bí mật từng được thử nghiệm
Những cựu tù binh chiến tranh Xôviết vì lý do nào đó đã không từ nước Đức trở về Liên Xô được chọn làm đối tượng thử nghiệm cho chương trình “Artisok”.
“Những người bị tình nghi là điệp viên Nga” sau khi cho sử dụng pentothal natri, benzingrine đã chìm vào trạng thái bất tỉnh, sau đó được tiêm benzingrine. Khi đối tượng thử nghiệm khi thức dậy phải quên đi những thao tác vừa được thực hiện với mình.
CIA và các dự án “tẩy não” điệp viên - Ảnh 1.
Một ca thử nghiệm trên người.
Dự án “Chim xanh” được tổ chức trong nội bộ CIA từ năm 1951 đến 1953 với hai mục tiêu: có được một sỹ quan tình báo lý tưởng mà tâm trí sẽ chịu sự kiểm soát hoàn toàn của các cơ quan tình báo đã gửi anh ta đi, đồng thời đó cũng là một tù binh lý tưởng sẽ đưa ra tất cả thông tin mà anh ta có được.
Đại tá Seffield Edward, người đứng đầu dự án mong muốn đạt được mức độ kiểm soát tâm trí người thử nghiệm khi người đó chống lại ý chí của mình và thậm chí bất chấp bản năng tự bảo vệ, sẽ tuân theo các mệnh lệnh được đưa vào ý thức của anh ta, và khi ở trạng thái bình thường đã quên đi thông tin mà mình không nên nhớ.
Edward đã có một đội ngũ các kỹ thuật viên, dược sỹ, nhà thôi miên, nhà tâm thần học và có cả các chuyên gia về máy phát hiện nói dối.
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, theo phân công của CIA, Edward đã nghiên cứu các tài liệu của vụ án Nuremberg, trong đó có thông tin về những thí nghiệm của các bác sỹ Đức Quốc xã trên cơ thể người, cũng như bắt tay vào việc tìm kiếm và tuyển dụng các chuyên gia Đức, chủ yếu là bác sỹ tâm thần trong lĩnh vực thao túng tâm trí con người.
Năm 1946, tổng thống Mỹ Harry Truman đã phê duyệt dự án “Kẹp giấy”, theo đó các hoạt động của các nhà khoa học Đức được đưa tới Mỹ và Canada được giữ bí mật một cách nghiêm ngặt nhất.
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến 1955, theo chương trình “Kẹp giấy” đã có 765 nhà khoa học, kỹ sư và kỹ thuật viên được đưa ra khỏi nước Đức. Trừ những trường hợp ngoại lệ hiếm hoi thì tên của các chuyên gia không được ai biết đến.
Nhà tâm thần học người Canada Colin A.Ross tin rằng các thí nghiệm kiểm soát tâm trí trong khuôn khổ dự án là có hệ thống, có tổ chức và có sự tham gia của nhiều bác sĩ tâm thần hàng đầu. Các nhiệm vụ phức tạp nhất được đặt ra cho các nhà khoa học, chẳng hạn, gây ra sự rối loạn giả tạo về nhận dạng danh tính.
Các nhà thử nghiệm hy vọng sẽ tạo ra một tính cách mới hoặc đa tính cách, trong đó có sử dụng cả những công nghệ mới nhất.
Đối tượng lý tưởng là một “người máy” dễ bảo có thể thay đổi chức năng bởi các máy phát từ xa. Trên thực tế đã sử dụng các phương pháp có tính truyền thống hơn để tác động đến tâm lý của đối tượng: sốc điện, giấc ngủ nhân tạo, lặp lại các cụm từ và âm thanh khiến người đó phát cuồng.
Đã cộng tác với CIA trong khuôn khổ “Chim xanh”, giáo sư bệnh viện tâm thần Canada tại Monreal là Even Cameron đã sử dụng phương pháp làm mất đi cảm giác. Ông để người thử nghiệm ở trong một căn phòng tối chật hẹp suốt vài ngày đêm, họ bị cách biệt hoàn toàn với những kích thích bên ngoài, sau đó đã xảy ra sự rối loạn tâm lý không thể tránh khỏi.
Không phải tất cả các công cụ trong tay những nhà thử nghiệm đã hoạt động có hiệu quả như nhau.
Vì vậy, cơ quan tình báo Mỹ cho rằng, máy phát hiện nói dối với kỹ năng phù hợp có thể sẽ dễ dàng đánh lừa đối tượng. Một thí dụ kinh điển là Oldrich Ames, một sĩ quan CIA làm điệp viên cho Liên Xô. Ông đã nhiều lần trải qua thử nghiệm với loại máy này mà không tạo ra bất cứ sự nghi ngờ nào.
Sau Seffield Edwards, người đứng đầu dự án “Chim xanh” là Morse Allan bắt tay tạo ra một cơ chế mới về cơ bản có khả năng phát hiện ra người nói dối. Bản chất của nó là đối tượng thử nghiệm ngồi trên ghế không được nghi ngờ rằng mình đang bị kết nối tự động với máy. Dưới sự chỉ đạo của Allan, một thiết bị khác đã được phát triển với tên gọi là “máy ngủ Electros”.
Người được thử nghiệm bị tác động sốc điện một cách có hệ thống với một lượng nhỏ, dần dần sẽ đi vào trạng thái thay đổi ý thức. CIA đã phê duyệt loại máy mới này, nhưng cấm sử dụng nó với các nhân viên của mình vì có nguy cơ làm cho con người bị mất trí nhớ hoàn toàn.
Trong những thử nghiệm của mình, cơ quan tình báo Mỹ còn tích cực sử dụng siêu âm, nhiều loại khí, các rung động tần số khác nhau, giảm áp suất và nhiệt độ đột ngột trong các thí nghiệm, mà theo các nhà khoa học, “có thể đưa đối tượng đến trạng thái của động vật”.
Thất bại và phủ nhận
Tất cả những thử nghiệm về thiết lập quyền kiểm soát tâm trí con người đã bị ngừng lại vào năm 1963. Lý do chính thức là không thu được những kết quả như mong muốn.
Một thời gian dài không có một thông tin nào về dự án “Chim xanh” cho đến năm 1974 khi các nhà báo của tờ “New York Times” đã thu thập được những thông tin liên quan. Một vụ bê bối lớn đã nổ ra làm tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh của ngành tâm thần học Mỹ.
Tuy nhiên, Hiệp hội tâm thần Mỹ vẫn không thừa nhận các thành viên của mình đã tham gia vào chương trình. Không may là nhiều tài liệu đã có thể làm sáng tỏ những chương trình bí mật của CIA hoặc đã bị chỉnh sửa rất nhiều, hoặc đã bị giấu diếm không được công khai.
Ngay cả nhiều nhân viên cũ của CIA cũng không biết những người thử nghiệm đang làm gì với “các bệnh nhân” của họ, vì chỉ có một số ít được biết về các chi tiết của “Chim xanh”. Tất nhiên là không có thông tin gì về số người là nạn nhân của các thí nghiệm đáng ngờ đã được tiến hành trong các phòng thí nghiệm nội bộ của cơ quan tình báo Mỹ.
theo An Ninh Thế giới

Heinz Felfe – Người “xỏ mũi” Cơ quan Tình báo Tây Đức

Hồng Sơn |

Heinz Felfe – Người “xỏ mũi” Cơ quan Tình báo Tây Đức

Tên tuổi Heinz Felfe xứng đáng được xếp trong hàng ngũ của những điệp viên xuất sắc nhất thế giới. Là người hoạt động tình báo từ rất lâu và hiệu quả cho Liên Xô, Felfe được đánh giá là nhân vật trong suốt 10 năm đã thâm nhập sâu vào bộ máy và gần như vô hiệu hóa hoạt động của Cơ quan tình báo Tây Đức (BND) …

Heinz Felfe sinh ra tại Dresden trong gia đình một nhân viên cảnh sát Đức. Thời niên thiếu của ông gắn liền với năm tháng bất ổn sau sự sụp đổ của chính quyền Cộng hòa Weimar, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1929 và sự lên ngôi của nhà nước phát xít do Hitler đứng đầu.
Cũng như phần lớn những thanh thiếu niên Đức vào thời bấy giờ, Felfe đều tin rằng chế độ phát xít sẽ giúp khôi phục sự hùng mạnh của nước Đức và đem lại sự phồn vinh cho người dân, cho đến khi sự thật diễn ra.
Ngày 1-9-1939, Đức phát xít khơi mào Đại chiến thế giới thứ hai bằng việc tấn công Ba Lan. Felfe nhanh chóng được gọi nhập ngũ. Nhưng chỉ hai tuần từ khi bắt đầu chiến sự, Felfe đã phải nhập viện do bị viêm phổi.
Heinz Felfe – Người “xỏ mũi” Cơ quan Tình báo Tây Đức - Ảnh 1.
Heinz Felfe.
Tình trạng sức khỏe sau đó đã không cho phép Felfe quay trở lại quân ngũ. Sau khi tranh thủ hoàn thiện chương trình học phổ thông, Felfe đã vượt qua kỳ thi tuyển chọn để gia nhập lực lượng cảnh sát bảo vệ thuộc Tổng cục an ninh đế chế (RSHA), tiếp tục được cử đi học luật tại Trường đại học tổng hợp Berlin.
Ngoài chuyên môn chính, Felfe còn tham gia vào khóa đào tạo thanh tra cảnh sát hình sự. Tốt nghiệp đại học, ban đầu ông được điều về cơ quan cảnh sát hình sự tại thành phố quê hương Dresden, sau đó là thị trấn biên giới Gliwice.
Tháng 8-1943, Felfe được điều chuyển về Cục VI của RSHA, một cơ quan chuyên trách về tình báo đối ngoại. Một thời gian sau, ông trở thành chỉ huy ban phụ trách về Thụy Sĩ. Giai đoạn cuối chiến tranh, Felfe được cử tới Hà Lan với nhiệm vụ điều hành việc tung các nhóm biệt kích phá hoại vào khu vực hậu phương quân Anh-Mỹ.
Tuy nhiên, ông đã ngay lập tức bị người Anh bắt làm tù binh khi vừa chân ướt chân ráo tới đây.
Chiến tranh kết thúc, Felfe tiếp tục học tập tại Trường đại học tổng hợp Bonn. Ông bắt đầu đi lại khắp nơi tại Đức với tư cách phóng viên tự do của Đài phát thanh Berlin, trong đó tới cả những khu vực do Liên Xô kiểm soát. Cho đến lúc này, thế giới quan của Felfe bắt đầu có những thay đổi căn bản. Sự sùng bái đối với quốc trưởng Hitler từ thời trẻ đã thay thế bằng nỗi thất vọng hoàn toàn.
Ông cũng rất phẫn nộ trước những đợt ném bom vô tội vạ của không quân Mỹ xuống các thành phố của Đức, đặc biệt là quê hương Dresden. Sau khi nghiên cứu kỹ chính sách đối ngoại của Liên Xô đối với nước Đức, Felfe đi đến kết luận, hành động của Liên Xô chỉ nhằm phá bỏ tận gốc rễ chủ nghĩa quốc xã, xây dựng một nước Đức hòa bình, thống nhất.
Trong khi chính sách của Mỹ và đồng minh lại tập trung vào dự định chia cắt nước Đức thành nhiều quốc gia nhỏ, âm mưu khởi xướng một cuộc chiến tranh mới chống lại phe XHCN.
Một trong những chiến hữu cũ của Felfe trong cơ quan an ninh tại Dresden là Hans Clemens đã được tình báo Xôviết tuyển mộ và được giao nhiệm vụ thuyết phục ông hợp tác với Moscow. Sau một cuộc nói chuyện cởi mở giữa hai người bạn vào đầu năm 1951, Felfe đồng ý bí mật hợp tác với tình báo Xôviết.
Người phơi bày “gan ruột” của BND
Để có thể tiếp cận với nguồn thông tin mật, “Gerhard” (mật danh đầu tiên của Felfe) được đề xuất cần phải tìm cách vào làm việc trong “Gehlen Organization”, cơ quan tình báo đầu tiên được thành lập tại Tây Đức từ năm 1946 dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của Mỹ.
Heinz Felfe – Người “xỏ mũi” Cơ quan Tình báo Tây Đức - Ảnh 2.
Vitali Korotkov từng đảm nhiệm vai trò liên lạc viên của Felfe.
Mục tiêu hàng đầu của tổ chức này chính là hoạt động chống lại lực lượng Hồng quân đang đóng tại Đức và Áo, cũng như hoạt động phá hoại chống lại nhà nước CHDC Đức.
Felfe đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ đầu tiên này – đến mùa thu năm 1951, ông đã có mặt trong cơ quan đại diện của “Gehlen Organization” tại Karlsruhe, khi đó đang hoạt động dưới vỏ bọc một công ty thương mại dưới sự chỉ huy của cựu sĩ quan tình báo phát xít Bencinger.
Công việc ban đầu của ông là nghiên cứu hồ sơ lưu trữ để tìm kiếm các ứng cử viên có thể cho công tác tuyển mộ. Theo như Felfe báo cáo về, “Gehlen Organization” trong giai đoạn 1951-1952 đã rất tích cực xây dựng mạng lưới gián điệp tại những lĩnh vực kinh tế và chính trị chủ chốt của cả Đông và Tây Đức.
Từ thời điểm đó, trong mỗi lần gặp mặt với điệp viên Xôviết, cả Felfe và Clemens (lúc này cũng đã vào làm việc tại Gehlen Organization) đều mang theo rất nhiều cuộn phim và băng ghi âm các tài liệu quan trọng.
Một năm sau với sự cho phép của Moscow, Felfe còn sử dụng một đồng nghiệp nữa của mình là Erwin Tiebel để làm liên lạc viên. Dần dần, ông đã gây dựng và điều hành cả một mạng lưới điệp viên quan trọng.
Ngay từ những ngày đầu tiên hợp tác, những thông tin mà tình báo Xôviết nhận được từ Felfe đều được đánh giá là chính xác và kịp thời. Cũng nhờ có ông, Liên Xô đã kịp thời phản ứng để dập tắt cuộc bạo loạn do phương Tây âm mưu tổ chức tại Berlin vào năm 1953.
Chẳng bao lâu, Moscow giao cho Felfe nhiệm vụ tiếp theo – đó là phải xâm nhập vào được trụ sở chính của Gehlen Organization tại thị trấn nhỏ Pullach gần Munich.
Từ tháng 7-1955, Thủ tướng Adenauer đã đưa ra quyết định phải cải tổ lại Gehlen Organization, cụ thể là phải xây dựng một cơ quan tình báo độc lập không còn bị phụ thuộc vào Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA).
Theo đó, từ ngày 1-4-1956, Cơ quan tình báo Tây Đức (BND) chính thức ra đời và đi vào hoạt động. Chủ tịch BND sẽ hoạt động trực tiếp dưới sự điều hành của Thủ tướng. Felfe may mắn được nhận hàm cố vấn cao cấp của chính phủ, đồng thời được bổ nhiệm làm chỉ huy bộ phận phản gián chống lại Liên Xô và các cơ quan đại diện của Xôviết trên lãnh thổ Tây Đức.
Về thực chất, Felfe chính là lãnh đạo ban Xôviết của BND. Qua tay ông là hàng loạt những tài liệu quan trọng nhất được tình báo Tây Đức chuẩn bị trước khi báo cáo Adenauer; trong đó có liên quan đến những vấn đề như tái trang bị cho quân đội, chính sách đối ngoại của Tây Đức với tư cách là thành viên trong khối NATO.
Nhờ có Felfe, cơ quan an ninh Xôviết đã giáng nhiều đòn chí tử vào các âm mưu của mật vụ Mỹ và Tây Đức.
Điển hình như việc CIA và BND đã phối hợp tổ chức một chiến dịch khá tốn kém nhằm cài cắm các thiết bị nghe trộm tại tòa nhà mới của Cơ quan đại diện thương mại Xô viết ở Cologne. Nhờ sự cảnh báo của Felfe, các chuyên gia kỹ thuật từ Moscow đã vô hiệu hóa hoàn toàn các thiết bị trên.
Heinz Felfe – Người “xỏ mũi” Cơ quan Tình báo Tây Đức - Ảnh 3.
Trụ sở của BND tại Pullach.
Từ mùa hè năm 1956, đảm nhiệm cương vị liên lạc với Felfe là nhân viên tình báo trẻ Vitali Korotkov.
“Qua tay của Felfe là những báo cáo tổng hợp hàng tuần để trình lên Thủ tướng Adenauer. Nhưng tất cả chúng đều báo cáo sớm cho điện Kremli, trước khi có mặt trên bàn của Thủ tướng Tây Đức – Korotkov, sau này đại tá tình báo về hưu nhớ lại - Thông tin của Felfe đã giúp giới lãnh đạo Xôviết chuẩn bị kỹ càng và nắm thế chủ động trong các vấn đề và đề xuất cần bàn bạc trước chuyến viếng thăm chính thức của Adenauer tới Moscow vào năm 1955”.
Sau năm 1955, BND đã đẩy mạnh việc phối hợp không chỉ với CIA, mà còn với nhiều cơ quan mật vụ của các nước NATO trong việc chống phá hoạt động của các cơ quan đại diện Liên Xô. Nhờ đó, Felfe đã nắm bắt từ trước rất nhiều chiến dịch của mật vụ phương Tây trên mặt trận này để báo cáo kịp thời.
Tuy nhiên, Felfe cũng đặt ra một điều kiện tiên quyết cho việc hợp tác của mình với KGB: đó là không được bắt giữ bất cứ một điệp viên BND hay đối tượng nào có liên quan trực tiếp đến thông tin do ông cung cấp để có thể đảm bảo an toàn.
Yêu cầu trên đã được Moscow tuân thủ nghiêm ngặt. Chính vì tầm quan trọng từ các thông tin của Felfe, toàn bộ mọi hoạt động liên quan đến ông đều được áp dụng những nguyên tắc bí mật cao nhất.
Bị lộ
Cho dù cả hai bên đều hết sức cẩn trọng, nhưng Felfe cuối cùng vẫn bị phát hiện và bắt giữ. Nguyên nhân là BND không thể không phân tích có hệ thống tất cả những chiến dịch thất bại của mình để khoanh vùng và lần ra những đối tượng nghi vấn có thể tiếp xúc nguồn thông tin trên.
Tháng 10-1961, Felfe xin nghỉ phép, về ngôi nhà nhỏ của mình ở vùng ngoại ô sát với nước Áo. Nhưng chỉ vài ngày sau, ông nhận được chỉ thị phải quay trở lại Pullach, báo cáo tướng Langkau về một chiến dịch của BND.
Ngay sau khi báo cáo xong, các nhân viên mật vụ đã xuất hiện tại văn phòng, tuyên bố bắt giữ Felfe. Cùng lúc đó, các thành viên khác trong nhóm của ông cũng bị bắt giữ.
Vụ bắt giữ những nguồn tin giá trị của Moscow từng làm việc lâu năm tại BND đã gây ra một cơn chấn động thực sự tại Tây Đức. Trong quá trình khám xét nhà ở và văn phòng của Felfe, các nhân viên phản gián đã phát hiện hàng chục cuộn phim chụp tài liệu mật, một chiếc cặp tài liệu hai đáy cùng thiết bị chuyên dụng để chụp ảnh.
Heinz Felfe – Người “xỏ mũi” Cơ quan Tình báo Tây Đức - Ảnh 4.
Cuốn hồi ký của Heinz Felfe.
Một bài báo trên tạp chí Stern đánh giá: “Nhờ có Felfe, Liên Xô đã biết tất cả những gì đang diễn ra tại BND. Với hai chiếc máy ảnh Minox, ông ta đã chụp lại tất cả những tài liệu qua tay mình: các báo cáo tuyệt mật của BND, những thông báo của cơ quan tình báo quân đội, biên bản các cuộc họp kín cùng nhiều dữ liệu bí mật khác v.v…
Tính ra, Felfe đã trao cho Liên Xô hơn 15 ngàn bản sao tài liệu mật. Trung tâm tình báo tại Pullach đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa”.
Trong suốt quá trình điều tra và xét xử, Felfe luôn duy trì được sự bình tĩnh và kiên định của mình, dù đồng nghiệp Hans Clemens đã khai báo khá nhiều, làm cơ sở để kết tội ông. Kết quả là Felfe phải nhận bản án ở mức cao nhất là 14 năm tù, còn Clemens là 8 năm.
Tình báo Xôviết trong một thời gian dài đã tìm mọi cách hỗ trợ Felfe cả về vật chất lẫn tinh thần, cũng như áp dụng mọi biện pháp có thể để trả tự do cho ông.
Ngày 17-2-1969, một mình Heinz Felfe được trao đổi với 21 điệp viên phương Tây tại điểm kiểm soát Herleshausen nằm trên biên giới giữa hai nước Đức. Felfe tới định cư tại Berlin, trở thành công dân của CHDC Đức. Ông tham gia giảng dạy về hình pháp học tại Trường đại học Humboldt và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại đây.
Vì những đóng góp xuất sắc của mình, Felfe đã được Đoàn chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô trao tặng huân chương Cờ đỏ và Sao đỏ, KGB trao tặng huy hiệu “Nhân viên danh dự của Cơ quan an ninh quốc gia”.
Ông cũng bắt tay vào viết cuốn hồi ký về cuộc đời hoạt động tình báo của mình, trong đó có đoạn viết: “Những năm tháng khó khăn trong hoạt động tình báo phục vụ Liên Xô cũng là những năm tháng tuyệt vời nhất trong đời tôi”.
Sau khi nước Đức thống nhất, đại diện các cơ quan mật vụ của Mỹ và CHLB Đức đã không ít lần tìm đến Felfe, đề nghị ông viết hồi ký theo ý định có lợi cho họ, kèm theo những khoản nhuận bút hậu hĩnh. Nhưng Felfe với sự kiên định về quan điểm của mình đã kiên quyết bác bỏ tất cả. Điệp viên huyền thoại của tình báo Xôviết qua đời ngày 8-5-2008 tại Berlin.
theo Công an Nhân dân

Chiến dịch RYAN và điệp viên ngăn chặn chiến tranh hạt nhân

Diên San |

Chiến dịch RYAN và điệp viên ngăn chặn chiến tranh hạt nhân

Trong suốt phần lớn thời Chiến tranh Lạnh, Cơ quan Mật vụ Anh MI-6 đã có được thông tin vô giá từ Oleg Gordievsky, một sĩ quan KGB có vị trí cao trở thành một điệp viên hai mang hoàn hảo.

Kế hoạch Citadel và bí mật điệp viên Wether Người biến điệp viên Liên Xô thành công dân Mỹ Aston Martin trình làng mẫu xe vinh danh điệp viên 007
Mặc dù người Anh không bao giờ tiết lộ về điệp viên hai mang của họ với Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA), nhưng cuối cùng danh tính của Oleg Gordievsky cũng bị lộ.
Vào tháng 5-1981, Yuri Andropov, Chủ tịch Cơ quan tình báo Xôviết KGB, tập hợp các sĩ quan cao cấp trong một cuộc họp bí mật để đưa ra một thông báo gây sửng sốt: Mỹ đang lên kế hoạch tiến hành một cuộc tấn công hạt nhân đầu tiên và xóa sổ Liên Xô.
Sự hoang tưởng dẫn đến Chiến dịch RYAN
Trong hơn 20 năm, một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa Đông và Tây được ngăn chặn bởi mối đe dọa hủy diệt lẫn nhau. Nhưng vào cuối những năm 1970, phương Tây đã bắt đầu cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân dẫn đến một cuộc đối đầu tâm lý, trong đó Kremlin sợ rằng Moscow có thể bị phá hủy và đánh bại bởi một cuộc tấn công hạt nhân phủ đầu.
Chiến dịch RYAN và điệp viên ngăn chặn chiến tranh hạt nhân - Ảnh 1.
Oleg Gordievsky ở London, năm 1997.
Đầu năm 1981, KGB tiến hành phân tích tình hình địa chính trị, sử dụng một chương trình máy tính mới được phát triển và kết luận rằng mối tương quan của các thế lực thế giới đã chuyển sang ủng hộ phương Tây.
Sự can thiệp của Liên Xô vào Afghanistan đã được chứng minh là tốn kém, Cuba đã làm cạn kiệt các quỹ của Liên Xô, CIA đang phát động một loạt chiến dịch bí mật chống lại Liên Xô và Mỹ đang tăng cường quân đội. Liên Xô dường như đang thua cuộc Chiến tranh Lạnh, và, giống như một võ sĩ kiệt sức vì những năm dài chiến đấu, Kremlin sợ rằng một cú đấm duy nhất và tàn bạo có thể kết thúc cuộc đối đầu.
Tuy nhiên, các quan chức cao cấp KGB tin chắc rằng Liên Xô dễ bị tấn công hạt nhân bất ngờ có lẽ liên quan nhiều đến kinh nghiệm cá nhân của Andropov hơn là phân tích địa chính trị hợp lý.
Quan điểm tự tin và lạc quan của tổng thống Ronald Reagan mới nhậm chức dường như nhấn mạnh mối đe dọa sắp xảy ra. Và vì vậy, giống như một sự hoang tưởng, Andropov bắt đầu tìm ra bằng chứng để xác nhận nỗi sợ hãi của mình.
Chiến dịch RYAN (từ tiếng Nga có nghĩa là “cuộc tấn công bằng tên lửa hạt nhân”) là hoạt động tình báo thời bình lớn nhất của Liên Xô từng được triển khai.
Trước sự sững sờ của giới lãnh đạo Liên Xô, Andropov tuyên bố Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đang tích cực chuẩn bị cho chiến tranh hạt nhân.
Nhiệm vụ của KGB là tìm ra dấu hiệu cho thấy cuộc tấn công này có thể sắp xảy ra để cung cấp cảnh báo sớm giúp Liên Xô không bị bất ngờ. Điều đó có nghĩa là nếu có thể tìm thấy bằng chứng về một cuộc tấn công sắp xảy ra, thì Liên Xô có thể tự mình tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu.
Andropov cho rằng Liên Xô phòng thủ tốt hơn là tấn công do lo sợ một cuộc tấn công đầu tiên đe dọa sẽ kích động một cuộc tấn công khác.
Chiến dịch RYAN sinh ra do sự tưởng tượng của Andropov. Nó tăng trưởng đều đặn, di căn thành nỗi ám ảnh về tình báo trong KGB và GRU (tình báo quân đội Liên Xô), tiêu tốn hàng ngàn giờ làm việc và đẩy mức căng thẳng giữa hai siêu cường đến mức kinh hoàng.
Tháng 11-1981, các chỉ thị đầu tiên của RYAN đã được gửi đến các trạm KGB ở Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản và các nước thuộc Thế giới thứ ba. Đầu năm 1982, tất cả các điệp viên Liên Xô đều được hướng dẫn làm cho RYAN trở thành ưu tiên hàng đầu.
Vào thời điểm Oleg Gordievsky đến London, chiến dịch RYAN đã hoạt động đến cực điểm. Nhưng nó dựa trên một sự hiểu lầm sâu sắc.
Nước Mỹ thực sự không hề chuẩn bị một cuộc tấn công hạt nhân đầu tiên. KGB tích cực săn tìm mọi bằng chứng về cuộc tấn công đã được lên kế hoạch, nhưng theo tài liệu lịch sử của tình báo Anh MI-5, thì không có kế hoạch nào như thế tồn tại.
Tháng 11-1982, Andropov kế nhiệm Leonid Brezhnev làm lãnh đạo Liên Xô, trở thành người đứng đầu KGB đầu tiên được bầu làm tổng bí thư của Đảng Cộng sản.
Ngay sau đó, các điệp viên Liên Xô hoạt động ở nước ngoài (được gọi theo tiếng Nga là các “rezidentura”) được thông báo RYAN hiện nay “có tầm quan trọng đặc biệt nghiêm trọng” và “đạt đến một mức độ khẩn cấp đặc biệt”.
Điệp viên hai mang giúp ngăn chặn chiến tranh hạt nhân
Khi nội dung Chiến dịch RYAN của KGB được Oleg Gordievsky tiết lộ cho MI-6, các chuyên gia về Liên Xô của tình báo Anh lúc đầu có vẻ hoài nghi. Tuy nhiên, chiến dịch RYAN là bằng chứng cho thấy nỗi sợ hãi của Liên Xô về một cuộc tấn công hạt nhân đầu tiên là có thực.
Chiến dịch RYAN và điệp viên ngăn chặn chiến tranh hạt nhân - Ảnh 2.
Điệp viên hai mang Oleg Gordievsky (bên phải) gặp Tổng thống Mỹ Ronald Reagan năm 1987.
Giới lãnh đạo KGB ra mật lệnh cho đội ngũ “rezidentura” cố gắng khám phá bất kỳ kế hoạch nào được chuẩn bị bởi nước Mỹ, và tổ chức theo dõi liên tục các quyết định được đưa ra sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Liên Xô.
Trong khi đó, Oleg Gordievsky và các đồng nghiệp ngay từ đầu đã coi Chiến dịch RYAN là sự thiếu hiểu biết của tình báo Xôviết.
Các sĩ quan KGB nhạy bén và giàu kinh nghiệm hơn biết rằng thực ra không hề có sự “khao khát” chiến tranh hạt nhân ở phương Tây, chứ đừng nói đến một cuộc tấn công bất ngờ do NATO và Mỹ phát động.
Tuy nhiên, sự vâng lời mạnh mẽ là lẽ thường trong thế giới tình báo Liên Xô, và các “rezidentura” của KGB trên khắp thế giới bắt đầu… tìm kiếm “bằng chứng” về các kế hoạch thù địch. Và, dĩ nhiên chắc chắn sẽ tìm thấy chúng!.
Hầu như bất kỳ hành vi nào của con người, nếu được xem xét kỹ lưỡng, có thể bắt đầu có vẻ đáng ngờ: một ánh sáng còn sót lại trong Bộ Ngoại giao, sự thiếu hụt bãi đậu xe tại Bộ Quốc phòng.
Khi các bằng chứng về kế hoạch (không tồn tại) tấn công Liên Xô đã tích lũy đầy đủ, nó dường như xác nhận những gì Kremlin đã lo sợ và càng làm tăng sự hoang tưởng trong nội bộ KGB, đồng thời thúc đẩy các yêu cầu mới về… “bằng chứng”.
Oleg Gordievsky gọi đó là một vòng xoáy thu thập và đánh giá tình báo luẩn quẩn, với các “rezidentura” ở nước ngoài cảm thấy bắt buộc phải báo cáo thông tin đáng báo động ngay cả khi họ không tin điều đó.
Trong những tháng tiếp theo, Chiến dịch RYAN đã trở thành mối bận tâm chi phối duy nhất của KGB. Trong khi đó, những lời lẽ khoa trương của chính quyền Reagan đã củng cố niềm tin của Kremlin, rằng nước Mỹ đang trên con đường xâm lược để tiến hành… chiến tranh hạt nhân.
Chiến dịch RYAN và điệp viên ngăn chặn chiến tranh hạt nhân - Ảnh 3.
Cuộc diễu hành ngày 1-5-1970 ở Moscow. Đó là năm Gordievsky được MI-6 lựa chọn làm điệp viên hai mang.
Thêm vào đó, sự chuẩn bị triển khai các tên lửa đạn đạo tầm trung Pers Breath II ở Tây Đức làm tăng thêm nỗi sợ của Liên Xô. Những vũ khí này có khả năng tấn công hạt nhân chớp nhoáng và bất ngờ nhắm vào các mục tiêu nhạy cảm của Liên Xô - bao gồm hầm chứa tên lửa - mà không cần cảnh báo, chỉ trong vòng 4 phút.
Trong khi đó, thời gian bay đến Moscow ước tính là khoảng 6 phút. Nếu KGB đưa ra cảnh báo đầy đủ về một cuộc tấn công, điều này sẽ cho phép Moscow có một khoảng thời gian dự đoán cần thiết... thực hiện các biện pháp trả đũa. Hay nói cách khác là… tấn công trước.
Vào tháng 3-1983, Ronald Reagan đã phát đi một thông báo công khai đe dọa sẽ vô hiệu hóa bất kỳ cuộc tấn công phủ đầu nào như vậy.
Sáng kiến phòng thủ chiến lược của Mỹ, ngay lập tức được gọi là “Chiến tranh giữa các vì sao” – tức là sử dụng vệ tinh và vũ khí trên không gian để tạo ra một lá chắn có thể bắn hạ tên lửa hạt nhân nào của Liên Xô bay đến. Lá chắn tên lửa Mỹ có thể giúp phương Tây trở nên bất khả xâm phạm, và cho phép Mỹ tiến hành một cuộc tấn công mà không sợ bị trả đũa.
Andropov giận dữ chỉ trích dữ dội rằng các hành động của Washington đang khiến cả thế giới lâm nguy. Chiến dịch RYAN ngay lập tức được mở rộng thêm: đối với Andropov và KGB thì đây là vấn đề sống còn của Liên Xô. Lúc đầu, MI-6 giải thích RYAN là bằng chứng về sự bất tài của KGB.
Nhưng khi thời gian trôi qua, và những lời lẽ khoa trương pha lẫn giận dữ leo thang ở cả hai phía, rõ ràng là nỗi sợ hãi của Kremlin không thể chỉ coi là sự tưởng tượng lãng phí thời gian. Nói cách khác, mối lo xung đột hạt nhân ngày càng có khả năng xảy ra nếu hai phía không có sự kiềm chế cần thiết.
Điều đó cho thấy rõ Chiến dịch RYAN của KGB đã chứng minh cuộc đối đầu trong Chiến tranh Lạnh đã trở nên bất ổn như thế nào. Lập trường diều hâu của Washington càng khiến cho Liên Xô lo sợ đất nước bị diệt vong bằng chiến tranh hạt nhân.
Tuy nhiên, các nhà phân tích chính sách đối ngoại của Mỹ có xu hướng bác bỏ ý kiến cho rằng các biểu hiện báo động của Liên Xô là sự phóng đại có chủ ý vì mục đích tuyên truyền.
Bởi vì, Andropov tỏ ra hết sức nghiêm túc khi khẳng định Mỹ đang lên kế hoạch phát động chiến tranh hạt nhân - và nhờ có điệp viên hai mang Oleg Gordievsky mà người Anh biết điều đó. Từ đó, chính quyền Mỹ được người Anh cảnh báo rằng nỗi sợ hãi của Kremlin - mặc dù được thành lập dựa trên sự thiếu hiểu biết và hoang tưởng - là có thực.
Mối quan hệ giữa các cơ quan tình báo Anh và Mỹ giống như mối quan hệ giữa hai anh em chênh lệch tuổi tác: gần gũi nhưng cạnh tranh, thân thiện nhưng ghen tuông, hỗ trợ lẫn nhau nhưng dễ… ẩu đả nhau bất cứ lúc nào.
Cả Anh và Mỹ đều chịu đựng sự xâm nhập cấp cao của các điệp viên Liên Xô trong quá khứ cho nên cả hai đều luôn ngấm ngầm nghi ngờ rằng đối tác của mình có thể không đáng tin cậy.
Chiến dịch RYAN và điệp viên ngăn chặn chiến tranh hạt nhân - Ảnh 5.
Đại sứ quán Anh ở Moscow, năm 1980.
Theo các thỏa thuận được thiết lập, thông tin tình báo tín hiệu của Anh và Mỹ được gộp chung lại, nhưng thông tin thu thập được từ các nguồn con người được chia sẻ ít hơn.
Nói cách khác, Mỹ có những gián điệp mà người Anh không hề biết và ngược lại. Những tiết lộ của Gordievsky về Chiến dịch RYAN được chuyển đến CIA nhưng MI-6 không tiết lộ tài liệu mật đến từ đâu, hoặc ai đã cung cấp nó.
MI-6 đã không nói với CIA rằng nguồn thông tin tình báo đến từ bên trong KGB. Người Mỹ không biết rằng trong số các điệp viên KGB được cử sang phương Tây để thực hiện chiến dịch RYAN có một số người đã quay sang làm điệp viên hai mang cho phía đối phương, trong đó có Oleg Gordievsky.
Gordievsky là điệp viên KGB đóng tại Copenhagen, Đan Mạch, từ năm 1963 và trở thành điệp viên hai mang của MI-6 từ năm 1968.
Dần dần, một cách cẩn thận pha lẫn niềm kiêu hãnh thầm lặng và sự phô trương, MI-6 bắt đầu cung cấp cho nước Mỹ những bí mật có được từ điệp viên hai mang Oleg Gordievsky.
theo An ninh Thế giới

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32