BÍ ẨN LỊCH SỬ 100/k
8 Chúa Nguyễn Với Cuộc Di Dân Lịch Sử Mở Rộng Đại Việt - Chiêm Thành Quy Thuận, Cao Miên Dâng Đất
Các chúa Nguyễn khởi đầu từ khi Nguyễn Hoàng đến trấn thủ vùng Thuận
Hóa, Quảng Nam. Phần lãnh địa của chúa Nguyễn khi đó chỉ kéo dài đến
Quảng Nam. Thế nhưng các chúa Nguyễn thông qua khai khẩn đất đai tiến
về phía Nam, đã khiến lãnh thổ Đại Việt dần dần mở rộng.
Xứ An Nam qua con mắt của Henri Gourdon
- Quang Minh
- •
- • 31.4k lượt xem
Nghệ
thuật xứ An Nam giúp độc giả hình dung rõ hơn về bối cảnh chung của xã
hội An Nam vào đầu thế kỷ 20, cũng như nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc,
hội họa và các ngành thủ công mỹ nghệ ở nước ta thời kỳ đó được minh họa
bằng 16 bức ảnh tư liệu quan trọng.

ADVERTISEMENT
Đầu
thế kỷ 20, trong bối cảnh những nghiên cứu nghệ thuật tại các
nước thuộc địa của Pháp mới chỉ được thực hiện một cách
rời rạc dưới dạng ghi chép kỹ thuật hoặc sổ tay du lịch,
Albert Maybon, một chuyên gia Pháp có hiểu biết sâu sắc về châu
Á, đã đứng ra thành lập tủ sách Nghệ thuật xứ thuộc địa,
nhằm nghiên cứu một cách hệ thống và bao quát về nghệ thuật
của cư dân sinh sống tại các vùng đất này, từ Đông Dương đến
Madagascar, Bắc Phi, Syria.
Cuốn Nghệ thuật xứ An Nam
nằm trong tủ sách nói trên, được Nhà xuất bản Boccard phát hành năm
1933. Tác giả cuốn sách là Henri Gourdon, Giáo viên trường Thuộc địa,
Tổng Giám đốc đầu tiên của Tổng Nha Học chính Đông Dương. Trên cơ sở
nghiên cứu các ghi chép liên quan và thực tế trải nghiệm của
bản thân, Henri Gourdon đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh về nguồn
gốc và xu hướng phát triển của nghệ thuật tại xứ An Nam, kèm
theo 16 bức ảnh tư liệu quan trọng, minh họa sống động cho các
thành tựu mà nghệ thuật xứ An Nam đã đạt được tính đến thời
điểm những năm 1930.

Nghệ thuật xứ An Nam
có thể được coi là một công trình nghiên cứu khách quan và thú
vị, mang lại cho độc giả những hiểu biết chung về các khía
cạnh đa dạng trong đời sống nghệ thuật nơi đây.

Tối 21/2 vừa qua, tại Trung tâm văn hoá Pháp, Hà Nội, dịch giả Trương Quốc Toàn đã chính thức giới thiệu tới bạn đọc cuốn sách Nghệ thuật xứ An Nam.
Cuốn sách được chia làm năm phần: phần mở đầu mô tả khái quát các đặc
điểm xã hội, dân tộc, lịch sử chung của đất nước An Nam, ba phần tiếp
theo mô tả các ngành nghệ thuật: kiến trúc, điêu khắc và hội họa, thủ
công mỹ nghệ, và cuối cùng là xu hướng vận động của các lĩnh vực này
trong bối cảnh An Nam là thuộc địa của Pháp.
Đôi nét về Henri Gourdon
Henri
Gourdon sinh ngày 25/4/1876, mất ngày 3/5/1943 tại Paris, Pháp. Ông tốt
nghiệp ngành Giáo dục học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Saint Cloud,
ngành sử học và địa lý tại Trường Văn khoa Paris. Ông bắt đầu sự nghiệp
làm thanh tra học chính tại Trường Cao đẳng Sư phạm Saint-Cloud vào năm
1900.
Sau hai chuyến công du đến Philippin và Trung Quốc vào năm 1909, ông được cử sang Nhật Bản vào năm 1912.
Từ
năm 1918, ông tiếp tục sự nghiệp với vai trò Giám đốc đầu tiên của Nha
học chính Đông Dương, đồng thời giảng dạy tại Trường Thuộc địa và Đại
học Bordeaux. Ngoài ra, ông còn đảm nhiệm chức vụ Giám đốc kỹ thuật của
Ban Đông Dương tại Triển lãm thuộc địa tổ chức tại Marseille vào năm
1922 và tại Paris vào năm 1931.
Sau
khi về hưu vào năm 1925, ông vẫn tiếp tục dạy môn kinh tế thuộc địa tại
Đại học Khoa học Chính trị đến năm 1926, và làm hiệu trưởng Trường
Thuộc địa từ năm 1933 đến năm 1937.
Henri
Gourdon đã có đóng góp to lớn vào việc xúc tiến chương trình cải cách
giáo dục của chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương, đồng thời có
hiểu biết sâu sắc về xứ sở này. Ông cũng là tác giả của cuốn Đông Dương (L’Indochine) xuất bản tại NXB Larousse vào năm 1931, được biết đến với rất nhiều bức ảnh chụp Việt Nam vào thời gian này.

Theo
dịch giả Trương Quốc Toàn, cuốn sách mang nhiều điểm thú vị, thể hiện
những quan điểm của Henri Gourdon về xứ An Nam có thể trở thành chủ đề
tranh luận sôi nổi, từ giáo dục, nghề thủ công cho đến cả cuộc sống của
người phụ nữ.
Trích đoạn
Xuất
phát từ những hình thái vay mượn trong nghệ thuật của “Thiên Triều”,
nghệ thuật xứ An Nam đã biết tạo ra một dấu ấn riêng hết sức duyên dáng,
quyến rũ, thậm chí rất thanh lịch và thường xuyên cạnh tranh với chính
các tiền bối nhờ sự hoàn hảo và khéo léo trong kỹ thuật chế tác.
Khả
năng cảm nhận hình khối và truyền sức sống vào sản phẩm toát lên khi
người nghệ sĩ thoát khỏi những khuôn mẫu truyền thống chứng tỏ nền nghệ
thuật này chứa đựng trong mình những mầm mống của một nghệ thuật thực sự
độc đáo.
Sở dĩ nền nghệ thuật này
không tạo ra những công trình đồ sộ có thể so sánh với các quốc gia láng
giềng, sở dĩ trong nghệ thuật trang trí không có những tác phẩm xứng
đáng để cạnh tranh với Trung Quốc và Nhật Bản, là bởi đây là nghệ thuật
của một nước nghèo.
Sáng tạo nghệ
thuật chỉ nở rộ trong một xã hội hưng thịnh, trong một giai đoạn phồn
vinh, dưới sự cai trị của những ông hoàng có lối sống xa hoa và nhờ vào
một chế độ bảo trợ sáng suốt. Tất cả những điều đó đều thiếu vắng trên
mảnh đất An Nam, cũng giống như thiếu vắng những thú vui của cuộc sống
thái bình.
Quang Minh tổng hợp
Người Việt đầu thế kỉ 20 trong hồi ký của một vị Toàn quyền Đông Dương
- Xứ Đông Dương
- •
- • 94.7k lượt xem
Nhằm
cung cấp thêm một tài liệu về người Việt trong giai đoạn thế kỉ 19, đầu
thế kỉ 20, dưới đây là một vài trích đoạn trong quyển “Xứ Đông Dương”
để bạn đọc có thể tham khảo thêm góc nhìn khác từ một viên chức cao cấp
của Pháp.
Những
cuốn sách viết về lịch sử Việt Nam của người Trung Quốc, người Pháp,
người Mỹ… xưa nay không ít. Lẽ dĩ nhiên, là sách của người nước ngoài
nên cách nhìn bao giờ cũng có chỗ khác biệt. Chính vì thế đó là một
nguồn tài liệu đáng quý, giúp ta nhìn nhận sự việc được khách quan hơn.
Đôi nét về Paul Doumer

ADVERTISEMENT
Paul
Doumer là một chính khách người Pháp, sinh năm 1857. Ông làm Toàn quyền
Đông Dương từ 1897-1902. Cuốn hồi ký “Xứ Đông Dương” là một tài liệu
quý viết riêng về hành trình, nhận định và trải nghiệm của ông trong
giai đoạn 5 năm ở Đông Dương, mà phần lớn là ở Việt Nam (thời đó gọi là
An Nam).
Về
con người của Paul Doumer, ông là người có kiến thức nhiều lĩnh vực, là
Bộ trưởng tài chính Pháp trước khi sang Đông Dương nhận chức Toàn
quyền. Sau này ông còn làm Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Quyển “Xứ Đông
Dương” ghi lại nhiều nhận định của ông về nhiều mặt: địa lý, kinh tế,
hành chính, con người, văn hóa… ở những nơi ông đi qua.
Để
phục vụ nước Pháp hết mình, Doumer đã ra sức chấn chỉnh bộ máy quản lý ở
các xứ thuộc địa, đồng thời xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng tại Việt Nam,
đáng chú ý như: cầu Doumer (sau đổi tên thành cầu Long Biên) – được coi
là một kỳ quan của Đông Dương thời ấy, cầu Thành Thái (tức cầu Tràng
Tiền) bắc qua sông Hương ở Huế và cầu Bình Lợi bắc qua sông Sài Gòn.
Ông
cũng chính là người đã ủng hộ và hậu thuẫn công việc nghiên cứu của
Yersin, đồng ý xây dựng thành phố Đà Lạt và đưa cây cao su vào trồng.
Dưới thời cai trị của Paul Doumer, Hà Nội là thành phố châu Á đầu tiên
có điện.
Paul
Doumer hành động hoàn toàn vì lợi ích của nước Pháp. Nhưng ông là một
nhà kinh tế có tài và có tầm nhìn. Chính do vậy, người Pháp có lợi nhưng
xứ thuộc địa cũng được hiện đại hóa, Tây phương hóa.
Một số trích đoạn trong “Xứ Đông Dương”
Nói về người Việt:
Người
An Nam chắc chắn là tộc người ưu trội so với các dân tộc xung quanh.
Người Cao Miên, Ai Lao và Xiêm La đều không thể chống lại được họ. Không
một dân tộc nào trong Đế quốc các xứ Ấn Độ có những phẩm chất như họ.
Phải tới tận Nhật Bản mới có tộc người có phẩm chất của người An Nam và
giống như người An Nam. Người An Nam và người Nhật Bản chắc chắn có mối
quan hệ thân tộc từ xa xưa. Cả hai đều thông minh, cần cù và dũng cảm.
Người lính An Nam là một người lính giỏi, có kỷ luật và dũng cảm. Họ
cũng là những người lao động mẫu mực, những nông phu giỏi việc đồng áng,
những người thợ lành nghề, những nghệ nhân khéo léo và thông minh. So
với các dân tộc khác ở châu Á, trên tư cách người thợ và người lính,
người An Nam vẫn xếp cao hơn một bậc. Vả chăng, đó là một quy luật chung
mà tôi đã kiểm chứng trên khoảng 20 chủng tộc của nhân loại, và tôi
cũng thấy rất đúng ở châu Âu: những người dũng cảm trong lao động cũng
là những người dũng cảm trong chiến tranh; nói khác đi, can đảm là một
tính cách thống nhất. Nếu người nào can đảm trước sự mệt mỏi, người đó
sẽ can đảm trước nguy hiểm và trước cái chết.

Về thiên nhiên Nam Kỳ:
Lớp
đất trẻ, tương đối nông của Nam Kỳ đặc biệt thuận lợi cho việc trồng
cấy. Rất dễ canh tác trên đất đó, và đất đặc biệt phì nhiêu. Thời vụ
diễn ra rất đều đặn. Thu hoạch hằng năm, chủ yếu là lúa, có biến đổi ít
nhiều do những nguyên nhân không đáng kể; sản lượng năm này có thể cao
hơn hoặc thấp hơn năm khác về số lượng hoặc về chất lượng nhưng ít nhất
cũng luôn luôn được đảm bảo. Sản lượng thu hoạch đó dao động quanh một
mức trung bình cao và không bao giờ xuống thấp hơn mức tối thiểu, vẫn
còn cao hơn nhiều mức tiêu thụ của dân Nam Kỳ. Gạo bán ra nước ngoài,
tức xuất khẩu, trong những năm tệ nhất không bao giờ dưới 700.000 tấn.
Gạo xuất khẩu có thể đạt đến một triệu tấn, tính ra thành tiền từ khoảng
80 đến 100 triệu phờ-răng. Hồ tiêu xuất khẩu cũng là một nguồn tài
nguyên giá trị.
Gạo
là nguồn tài nguyên to lớn có thể thu được không mấy khó khăn; mỗi năm
nông dân ở đây chỉ làm một vụ, và công việc đồng áng chỉ tập trung trong
ba hoặc bốn tháng. Cả đến vận tải cũng được thực hiện trong những điều
kiện dễ dàng và cực rẻ.
Đất
Nam Kỳ chằng chịt hàng nghìn con sông lớn nhỏ, kênh, rạch chạy theo mọi
hướng. Nam Kỳ là nơi bằng phẳng nên thủy triều ảnh hưởng như nhau tới
tất cả các tuyến đường thủy. Như thế mỗi ngày hoạt động của triều lên và
triều xuống làm cho các dòng chảy cứ sáu tiếng chảy theo chiều này và
sáu tiếng chảy theo chiều ngược lại. Người An Nam lợi dụng điều đó để
vận tải hàng hóa mà không mất công mất sức gì nhiều. Ghe xuồng của họ
xuôi dòng với sự trợ lực của buồm hoặc mái chèo vừa đủ để có thể lái
được chúng. Khi thủy triều đổi hướng mà chưa tới được điểm đến thì họ bỏ
neo hoặc buộc những chiếc tam bản vào bờ, bình tĩnh chờ thủy triều đưa
dòng nước thuận đến, và cứ như thế cho cả chuyến đi lẫn chuyến về. Vận
động thủy triều cung cấp lực miễn phí cho ngành giao thông đường thủy.
Có lẽ không có quốc gia nào trên thế giới mà cư dân lại được thiên nhiên
ưu đãi như Nam Kỳ.
Về thành phố Sài Gòn:

Ở
Sài Gòn cũng có người Hoa, và nhiều là đằng khác, buôn bán to nhỏ đủ
loại. Bên cạnh các cửa hiệu Pháp giống như các cửa hiệu ở tỉnh lẻ bên
Pháp, tôi thấy các cửa hiệu Trung Hoa khiêm tốn hơn nhưng năng động hơn.
Tất cả mọi thứ có trong cửa hiệu của thương nhân châu Âu và cả những
thứ khác nữa đều có bán tại cửa hiệu của người Hoa; nơi này sản xuất thứ
gì thì nơi khác cũng sản xuất thứ đó. Đây là một cuộc cạnh tranh có lợi
cho người tiêu dùng. Đối với các mặt hàng rẻ tiền, đối với các công
việc đơn giản, sự cạnh tranh không còn nữa vì chỉ còn lại người Hoa. Khi
ta muốn có những bộ quần áo lịch sự, một chiếc đầm đi dạo hoặc ăn tối,
một bộ smoking mà không cần đặt từ Pháp sang thì thay vì tìm cô thợ may
người Pháp, ta cứ đặt người Hoa ở đây may những chiếc váy nhẹ, những bộ
quần áo bằng vải lanh. Các dịch vụ giặt, là, mạng vá cũng là nghề của
họ. Họ là những thợ khéo léo và quý hóa không từ chối một yêu cầu nào.
Họ chịu làm mọi việc. Người An Nam ở Nam Kỳ không tranh việc với họ. Nam
Kỳ quá giàu có, cuộc sống quá dễ dàng nên chỉ gắng sức tí chút là người
ta đã tìm được việc. Người ta thấy chỉ có sự gia tăng dân số của người
An Nam có thể dẫn tới việc dòng người đổ vào thành phố và đẩy lùi người
Hoa. Nhưng cho đến nay, sự gia tăng đất canh tác thậm chí còn nhanh hơn
sự gia tăng dân số nên hiện tượng trên không thể xảy ra.
Sài
Gòn là một thành phố nhiệt đới xinh đẹp, thành phố duyên dáng nhất vùng
Viễn Đông. Một số công trình nghệ thuật ở Sài Gòn rất đẹp; tất cả đều
có kích thước lớn; nhà cửa nói chung khá xinh xắn, đường phố rợp bóng
cây, tất cả như bị ngập trong một đại dương xanh. Nhìn từ trên cao
xuống, từ chòi quan sát trên nóc một con tàu hoặc từ các tháp của nhà
thờ, Sài Gòn hiện ra như một công viên rộng lớn, trong đó một vài tòa
nhà quá đồ sộ hoặc quá cao vượt lên khỏi những tán cây. Này là Dinh Toàn
quyền, các trại lính, bệnh viện, Sở Bưu điện, Dinh Thống đốc, Sở Thuế
quan…; các công thự đó không chịu thua những tán cây muốn chiếm lĩnh
trời xanh, luôn luôn vươn lên và trải rộng nhờ nhựa sống của thiên nhiên
hào phóng.
Về người Bắc Kỳ:
Người
An Nam ở Bắc Kỳ cần cù chịu khó, còn hơn cả người Nam Kỳ. Họ vạm vỡ
hơn, cường kiện hơn. Khí hậu thì khá khắc nghiệt; họ không được thiên
nhiên ban tặng những điều kiện thuận tiện cho sản xuất và vận tải. Bị bó
buộc trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi họ sống chen chúc,
dân An Nam buộc một vùng đất chật hẹp phải sản sinh ra rất nhiều sản
phẩm. Công việc đồng áng làm họ mất hầu hết thời gian trong năm. Những
việc vận chuyển giao thông, hộ đê, tạp dịch và những việc vặt thường
nhật lấy gần hết toàn bộ thời gian còn lại. Họ làm việc tích cực không
ngừng nghỉ.
Về các thợ thủ công:
Các
thợ thủ công Bắc Kỳ làm việc chăm chỉ và thuần thục. Họ thành công một
cách đáng ngưỡng mộ trong các công việc đòi hỏi tỉ mỉ và tinh xảo. Họ có
khiếu thẩm mỹ, và một số người trong bọn họ là những nghệ nhân thực sự.
Những thợ đúc đồng, thợ kim hoàn, thợ khảm men huyền, thợ thêu, thợ
điêu khắc, thợ khảm đã tạo được một tiếng tăm xứng đáng. Họ không phải
là những người thợ bắt chước một nền nghệ thuật ngoại quốc. Dẫu vẻ bề
ngoài của những sản vật lộ rõ mối quan hệ với những đồ vật Nhật Bản và
Trung Hoa, thì chúng vẫn không phải được lấy cảm hứng từ đó; những người
thợ đã tạo ra một nghệ thuật An Nam, với các hình mẫu và cách trang trí
của chính họ.
[…]
Các
thợ thêu trên lụa làm việc với một kỹ thuật không thể sánh được. Về mặt
chăm chút và hoàn thiện công việc, đồ thêu ở Bắc Kỳ được làm tinh hơn
đồ của Nhật Bản và Trung Hoa. Nhưng vào năm 1897, các bức thêu mang giá
trị trang trí còn rất thấp. Đó là những bức thêu cảnh sinh hoạt của
người An Nam hoặc các trận chiến huyền thoại, với một đám đông những
nhân vật nhỏ xíu, con giống, đồ vật mà ta có thể ngưỡng mộ các chi tiết,
nhưng về toàn cảnh chẳng có gì đẹp lẫn dễ coi. Kể từ đó trở đi, các thợ
thêu An Nam đã lấy từ hệ thực vật phong phú của mình những nhân tố để
tạo thành tác phẩm của họ. Họ đã thành công trong việc đem lại cho những
tấm lụa thêu một hiệu ứng trang trí ngang tầm với người Nhật Bản, và họ
đã không đánh mất sự ưu trội về tay nghề của họ.
Đồ
gỗ gia dụng An Nam do những thợ chạm gõ chế tạo, và chủ yếu gồm ghế
tựa, bàn và tủ chè, có đường nét và hoa văn rất đẹp. Các bộ trường kỷ,
món đồ trang trí trong những ngôi nhà truyền thống và trong đền chùa,
hầu hết đều mang những nét đối xứng hài hòa; các hình chạm khắc trang
trí trên đó thì đơn giản và thường rất đẹp. Nhưng sự thành công rực rỡ
của người An Nam là nghệ thuật khảm trai trên gỗ. Họ đã khiến cho những
bộ tủ chè và những thứ đồ gỗ nhỏ khảm trai như vậy của vùng này trở nên
thực sự đáng chú ý và họ đã nổi danh ở vùng Viễn Đông. Những thợ khảm
trai Trung Hoa, những người hình như đã truyền nghề của mình cho dân An
Nam thì còn lâu mới sánh ngang hàng được với học trò của mình.
Về giáo dục:
Trong
các trường làng, người ta dạy các chữ cơ bản. Những quyển sách tập đọc
mà họ trao vào tay lũ trẻ thì đúng là những tiểu kiệt tác thực sự, trong
đó thể hiện tinh thần đạo đức của Khổng Tử với một ngôn ngữ đơn giản và
đẹp, khắc ghi vào trí óc trẻ thơ. Ta chuyển từ quyển thứ nhất, hết sức
đơn giản, hết sức cơ bản, dạy cho ta những phép tắc lễ nghĩa đầu tiên,
lên đến quyển thứ hai là những vấn đề rộng hơn, sau đó lên quyển ba và
cứ tiếp tục như thế. Đa phần các trường làng thấy rằng dạy chừng từ bốn
đến năm quyển là đủ. Bọn trẻ học ở đó, cùng với một lượng chữ đủ để viết
và trao đổi trong những tình huống đơn giản mà họ gặp nhau, những
nguyên tắc đạo đức và những quy định ứng xử sẽ theo họ trong suốt cuộc
đời. Đây hiển nhiên là một nền giáo dục chưa hoàn chỉnh; tuy nhiên nó đủ
để làm cho một dân tộc cần cù, gắn bó với nhiệm vụ gia đình, hạnh phúc
về mọi mặt khi những vấn đề bên ngoài không khiến họ lo lắng ưu phiền.
Về tre Việt Nam:
Người
dân Đông Dương dựng nhà bằng tre; mặt khác, kể cả khi một căn nhà được
xây bằng gạch thì nó vẫn được bao bọc bởi một lũy tre lớn mà bản thân nó
cũng đã chính là một công trình. Bờ rào, những chòi canh để trông coi
hoặc để nghỉ chân khi đi săn, những cọc cừ bằng tre để ngăn sông xói mòn
đất, những chiếc tời, vó và cần câu, tất cả các loại đồ dùng và dụng cụ
đều được làm bằng tre. Khi đi đường, nếu cần dựng tạm lều trại, người
An Nam cũng dễ dàng làm được khi có những cây tre ở ngay gần.

Tôi
vẫn còn nhớ một ngày nọ ngài Đô đốc Pottier đã vô cùng sửng sốt thán
phục khi được cây tre cứu khỏi tình huống khó khăn trên mạn thượng lưu
sông Hồng. Tôi và vị Đô đốc tài giỏi này đã gặp nhau tại Lào Cai nơi
chúng tôi cùng khánh thành cây cầu mà tôi đã cho xây dựng tại Nậm Thi để
phục vụ cho tuyến đường sắt và đường bộ nối với Vân Nam. Lúc đó khoảng
tháng Một năm 1902. Được tháp tùng bởi hai sĩ quan phụ tá và một đội
lính khố đỏ hộ tống, ngài Đô đốc lúc đi xe kéo, lúc đi kiệu trên con
đường bộ bên sông hoặc tuyến đường sắt đang được xây dựng. Không phải cả
200 hay 250 cầu đường sắt đều đã thi công xong, nên việc đi lại vẫn khó
khăn và chậm chạp.
Lịch
trình đã được sắp xếp sao cho đoàn có thể ăn trưa, hoặc ít nhất là ăn
tối và nghỉ ngơi tại một ngôi làng, hoặc trong một đồn bốt. Buổi chiều
hôm ấy, ngài Đô đốc đã thấm mệt và chỉ có thể tiếp tục hành trình khi đã
khá muộn và không theo đúng lịch trình đã lập. Màn đêm dần buông trong
khi cả đoàn vẫn còn cách khá xa bốt nghỉ, nơi đã chuẩn bị sẵn đồ ăn và
chăn. Họ buộc phải tạm nghỉ, nơi dừng chân là vùng đất nguy hiểm có hổ
rình rập nên họ không đi tiếp được khi mặt trời đã lặn. Làm sao có thể
ăn uống và nghỉ ngơi ở một nơi hoang dã như thế? Đoàn hộ tống có một ít
gạo dự trữ của lính khố đỏ và vài hộp thức ăn Âu, nhưng chẳng có đồ dùng
nào khả dĩ để nấu ăn, và cũng không có gì để che chắn hay để tự vệ đề
phòng sự tấn công của dã thú. Thật may là có những rặng tre mọc hai bên
bờ sông Hồng, và những người lính khố đỏ thì không rời tay khỏi những
thanh mã tấu, một loại kiếm nhỏ hay dao dài bản địa. Với những thứ đó,
ngài Đô đốc có thể yên tâm: ông sẽ có một chỗ nghỉ ngơi và ăn uống.
Không
để mất thời gian, những người lính bắt tay ngay vào công việc. Chỉ
trong vài phút, một hàng rào bằng tre dài và chắc chắn đã được dựng lên
tạo thành một khu trại đủ rộng. Họ đã giải quyết được vấn đề dã thú. Sau
đó ba chiếc lều được dựng, một cho ngài Đô đốc, một cho những sĩ quan,
cái còn lại cho binh lính hộ tống. Ngài Đô đốc và những viên sĩ quan
trong hoàn cảnh này đã có thể nghỉ ngơi thoải mái với những chiếc chõng
tre, cao khoảng 40 đến 60 xăng-ti-mét và đàn hồi như một tấm nệm lò xo
cùng những chiếc gối tiện dụng. Một ống tre lớn còn nguyên cả mắt, vốn
chứa nước rất tốt, được khéo léo cắt từng khúc thành một cái gáo, cũng
có thể coi là bát, xô hay chậu. Nhờ đó, trong khi những căn lều lán được
dựng lên và hoàn tất, những người lính đi kiếm và lấy nước vào những
gáo tre, nhóm lửa và chuẩn bị bữa tối. Gạo và đồ hộp được nấu trong
những chiếc nồi kỳ lạ làm từ những cây tre. Vậy là chẳng khó gì để có
được một bữa ăn, nhưng khi Đô đốc Pottier nhìn những thanh mã tấu trong
tay của những người lính đẽo gọt ra những chiếc đĩa, thìa và cả những
chiếc dĩa bằng tre cũng có ba răng y như dĩa thật, ông thấy đó quả là
một sự khéo léo phi thường! Rất lâu sau khi trở về Pháp, ngài Đô đốc vẫn
kể lại câu chuyện và rất vui vẻ khoe một chiếc chăn kỳ diệu, vốn được
làm ra cấp thời cũng như căn lều và bữa tối của ông trong một thung lũng
ở thượng lưu sông Hồng. Ông ghi nhớ những kỷ niệm về một buổi tối mà
ông bất ngờ trải qua như thế cũng như về sự khéo tay đến kinh ngạc của
những người An Nam.
Về tệ nạn trong hệ thống quan lại và thái độ của Pháp:
Triều
đình An Nam vẫn hoạt động tốt gần giống với tình trạng trước khi bị
nước Pháp chinh phục. Hệ thống quan chế tại các tỉnh thành vẫn giữ
nguyên; việc cai trị cũng vậy. Các quan lại sống tại những dinh thự đẹp
đẽ được xây xựng theo kiểu hệ thống Vauban; họ cai trị, hành pháp và thu
thuế dưới danh nghĩa triều đình. Quyền cai trị, hành pháp và thu thuế
là những nguồn lợi trực tiếp của họ, là hối lộ biếu xén và mọi loại bổng
lộc khác. Đương sự của các vụ kiện, những người nộp thuế và những kẻ nô
dịch sẽ dâng lên tất cả những gì họ có; những viên quan to hay nhỏ đều
cố gắng bòn rút tối đa từ dân, và phần được đóng vào quốc khố chỉ là
phần còn lại mà bọn họ không thể ăn chặn được.
Đó
là chế độ quân chủ quan liêu cũ trong đó các quan lại lạm dụng quyền
hành trên mọi mặt, mà không có dáng vẻ trung thực tự tại như những quan
lại xưa kia. Những khiếm khuyết và những tệ nạn trong hệ thống vẫn tiếp
tục hoành hành. Sự kiểm soát từ cấp cao nhằm ngăn chặn tệ nạn này bùng
phát bằng hình phạt nếu cần thiết, rốt cuộc đã bị vô hiệu hóa và tê
liệt. Đây không phải là một cuộc khủng hoảng hay một vấn nạn mà chính
quyền Pháp cần quan tâm, cũng không phải là cái cớ để chúng ta can
thiệp. Và như thế, vị Khâm sứ của chúng ta tại Huế hài lòng với việc
giám sát Đức vua và triều đình, mà không cần hợp tác với họ; và ngay cả
các Công sứ Pháp của chúng ta tại sáu hoặc tám tỉnh lớn vốn có nhiệm vụ
đảm bảo việc duy trì trật tự mà không cần hợp tác với quan lại cũng
không có nhiệm vụ kiểm soát các hành vi của quan lại. Chúng ta chỉ giới
hạn ở mức bảo hộ cơ bản và đã không quan tâm đến việc cai trị cũng như
tác động của nó lên sự phát triển kinh tế.
Có
thể cho đến lúc đó chúng ta chưa thể làm tốt hơn và tiến xa hơn. Nhưng
dù sao đi nữa thì nhất định không thể để tình hình này kéo dài hơn nữa.
Cho dù là vì lợi ích của nước Pháp hay là vì lợi ích của người dân An
Nam, thì đều cần phải áp dụng những phương thức quản lý và những chính
sách kinh tế của nền văn minh châu Âu vào đất nước này. Nhiệm vụ này đặc
biệt thú vị, tất cả cần phải được thực hiện từ đầu và chúng ta có thời
gian, chúng ta có thể phát triển một kế hoạch toàn diện và tiến hành nó
một cách nhịp nhàng, có phương pháp, không hấp tấp, không phô trương.
Trích “Xứ Đông Dương”
Dịch bởi: Lưu Đình Tuân, Hiệu Constant, Lê Đình Chi, Hoàng Long, Vũ Thúy
Nguyễn Thừa Hỷ hiệu đính
Dịch bởi: Lưu Đình Tuân, Hiệu Constant, Lê Đình Chi, Hoàng Long, Vũ Thúy
Nguyễn Thừa Hỷ hiệu đính
Mạc Đĩnh Chi: Bản lĩnh sứ thần nước Nam “bắn rơi mặt trời phương Bắc”
- Trần Hưng
- •
- • 12.3k lượt xem
Trong
sử Việt, người đảm nhận trách nhiệm đi sứ phương Bắc thường phải được
lựa chọn kỹ càng, nhiều trường hợp phải có tài khoa cử, thậm chí là
trạng nguyên. Nhiều vị sứ thần đại diện cho dân tộc bang giao với nước
lớn ấy đã làm rạng danh đất nước, trong đó phải kể đến Trạng nguyên Mạc
Đĩnh Chi.
Mâu thuẫn gốc tích
ADVERTISEMENT
Mạc
Đĩnh Chi sinh năm 1280 vào thời nhà Trần, từ thuở nhỏ đã thông minh hơn
người, tuy nhiên tướng mạo lại rất xấu xí. Bấy giờ Chiêu Quốc Vương
Trần Ích Tắc mở học đường, tập hợp văn sĩ bốn phương, chu cấp cho họ ăn
học và đào tạo thành nhân tài cho đất nước, trong số đó có Mạc Đĩnh Chi.
Về việc này “Đại Việt sử ký toàn thư” có ghi chép như sau:
Ích
Tắc là con thứ của Thượng hoàng, thông minh hiếu học, thông hiểu lịch
sử, lục nghệ, văn chương nhất đời. Dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ,
không nghề ghì không thông thạo; từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập
hợp văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài
như Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châu, v.v… gồm 20 người,
đều được dùng cho đời.

Sau
này trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, Trần Ích Tắc
dẫn cả nhà đầu hàng quân Nguyên. Còn trong cuộc chiến chống quân Nguyên
Mông lần thứ ba, những người ở hương Ba Điểm, Bàng Hà cũng đầu hàng
giặc. “Đại Việt sử ký toàn thư” chép:
Ngày
30, thái tử Nguyên A Thai cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn quân đánh vào Vạn
Kiếp rối thuận dòng xuôi về phía đông. Người các hương Ba Điểm, Bàng Hà
đều đầu hàng chúng.
Chính vì vậy, sau khi đánh bại quân Nguyên, triều đình có xử tội:
Xử
tội đồ quân dân hai hương Ba Điểm và Bàng Hà, làm thang mộc binh, không
được làm quan, ban cho tể thần làm sai sử hoành (tức nô tỳ).
Còn Trần Ích Tắc thì không thể quay trở lại Đại Việt, phải tha hương nơi đất khách (Xem bài: Hậu duệ nhà Trần của Đại Việt trở thành Hoàng đế Trung Hoa?).
Về
gốc tích Mạc Đĩnh Chi, thì “Lịch triều hiến chương loại chí” lại chép
rằng Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, Hải Đông
(tỉnh Hải Dương hiện nay). Như vậy là hai nguồn sử liệu mâu thuẫn nhau.
Dẫu sao, trái với Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rằng người Bàng Hà
không được làm quan, thì năm 1304, Mạc Đĩnh Chi vẫn ứng thí, đỗ trạng
nguyên, và vẫn được làm quan.
Bấy giờ
thấy tướng mạo Mạc Đĩnh Chi xấu xí, vua có ý chê, Mạc Đĩnh Chi bèn làm
bài phú Ngọc tỉnh liên (Sen trong giếng ngọc), trong đó có đoạn:
Khởi hộ lạc hề vô dung,
Thán thuyền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a,
Quả hà thương hề phong vũ.
Thán thuyền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a,
Quả hà thương hề phong vũ.
Dịch nghĩa là:
Há rằng trống rỗng bất tài
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường
Vua Trần Anh Tông xem rồi khen hay, thăng làm Thái học sinh dũng thủ, sung chức Nội thư gia.
Giai thoại truyền kỳ
Giai
thoại về Mạc Đĩnh Chi có rất nhiều, nhưng nổi bật nhất chính là về việc
ông đi sứ phương Bắc. Sau khi sứ Nguyên là Thượng thư An Lỗ Khôi sang
báo tin Vũ Tông lên ngôi. Vua sai Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên.
Đĩnh Chi người thấp bé, người Nguyên khinh ông. Vậy nên khi tiếp kiến, triều Nguyên ra câu đối nhằm hạ nhục nước Nam:
“Nhật hoả vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thố”
Có
nghĩa là: Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng.
Câu đối có hàm ý nói rằng nước Nguyên là nước lớn như mặt trời có thể
đốt cháy tất cả. Còn các nước chư hầu khác chỉ như mặt trăng yếu ớt, chỉ
dám sáng ban đêm, còn ban ngày sẽ bị mặt trời đốt cháy.
Mạc Đĩnh Chi bình tĩnh đối lại rằng:
“Nguyệt cung tinh đan, hoàng hôn xạ lạc kim ô”
Có
nghĩa là: Trăng là cung, sao là đạn, khi hoàng hôn mặt trăng bắn rơi
mặt trời. Vế đối rất chuẩn, ý tứ lại mạnh mẽ, đồng thời cũng tỏ rõ bản
lĩnh của sứ thần, ý chí của nước Nam. Hơn nữa, việc này cũng nhắc nhà
Nguyên nhớ tới việc nhà Trần đã đánh bại quân Nguyên Mông. Triều Nguyên
dù tức tối nhưng cũng không sao bắt bẻ được.
Một
hôm viên tể tướng mời ông vào phủ cho cùng ngồi. Lúc ấy, đương hồi
tháng 5, tháng 6. Trong phủ có bức trướng mỏng thêu hình con chim sẽ
vàng đậu cành trúc. Đĩnh Chi vờ ngỡ con chim sẽ thực, vội chạy đến bắt.
Người Nguyên cười ồ, cho là người phương xa bỉ lậu. Đĩnh Chi kéo bức
trướng xuống xé đi. Mọi người đều lấy làm lạ hỏi tại sao. Đĩnh Chi trả
lời:
“Tôi nghe
người xưa vẽ cành mai và chim sẽ, chứ chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc
bao giờ. Nay trong bức trướng của tể tướng lại thêu cành trúc với chim
sẽ. Trúc là bậc quân tử, chim sẽ là kẻ tiểu nhân. Tể tướng thêu như vậy
là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của
quân tử sẽ suy. Tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân”.
Mọi người đều phục tài của ông.

Đến
khi vào chầu, gặp lúc nước ngoài dâng quạt, vua Nguyên sai làm bài
minh. Đĩnh Chi cầm bút viết xong ngay, lời bài minh như sau:
Lưu kim thước thạch, thiên vị địa lô, nhĩ ư tư thì hề, Y Chu cự nho.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thì hề, Di Tề ngã phu.
Y! dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ, hữu như thị phù.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thì hề, Di Tề ngã phu.
Y! dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ, hữu như thị phù.
Dịch nghĩa là:
Chảy vàng tan đá, trời đất như lò, ngươi bấy giờ là Y Chu đại nho.
Gió bấc căm căm, mưa tuyết mịt mù, ngươi bấy giờ là Di Tề đói xo.
Ôi, được dùng thì làm, bỏ thì nằm co, chỉ ta cùng ngươi là thế ru!
Gió bấc căm căm, mưa tuyết mịt mù, ngươi bấy giờ là Di Tề đói xo.
Ôi, được dùng thì làm, bỏ thì nằm co, chỉ ta cùng ngươi là thế ru!
*Y
Chu và Bá Di, Thúc Tề là những người trung nghĩa trong lịch sử Trung
Hoa, nhưng một người là công thần khai quốc, hai người còn lại thì ở ẩn
rồi chết vì đói. Bài minh này cho thấy sứ thần của Đại Việt sang bang
giao thật sự am hiểu văn hóa Trung Hoa, lại có tài ứng đối.

Nghe
bài minh, người Nguyên lại càng thán phục tài năng ứng đối của Mạc Đĩnh
Chi. Nguyên Thành Tổ xem xong bài minh khuyên son chữ Y và châu phê bốn
chữ “Lưỡng quốc Trạng nguyên” (trạng nguyên hai nước), rồi tự tay trao
sắc phong cho Mạc Đĩnh Chi.
Hậu duệ tại Cao Ly
Mạc
Đĩnh Chi không chỉ giúp tăng cường vị thế của Đại Việt với Trung Hoa,
mà cũng để lại hậu duệ của mình tại Cao Ly. Bấy giờ, sứ bộ nước Việt
giao lưu rất thân thiết với sứ bộ nước Cao Ly. Sự tương đồng hoàn cảnh
của hai nước trước cường quốc Trung Hoa, cùng với tài năng của Mạc Đĩnh
Chi làm sứ thần Cao Ly mến mộ. Vị sứ thần Cao Ly đã mời ông sang chơi và
gả cháu gái cho ông. Người thiếp này sinh được một nữ, và lần ông đi sứ
thứ hai thì sinh một nam, từ đó lập ra một dòng họ ở Cao Ly. Vậy là Đại
Việt đã có ít nhất 3 dòng họ tại xứ Cao Ly: 2 dòng họ Lý và 1 dòng họ
Mạc. (Xem bài: Người Việt giúp đánh bại quân Mông Thát ở Cao Ly, hậu duệ trở thành tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc)
Sau
này, một hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi đã tìm đến Việt Nam, bút đàm Hán tự
với ông Lê Khắc Hoè. Sau đó ông Hòe có viết bài “Người Triều Tiên đi bán
sâm là hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi”, muốn tìm họ Mạc để nhận họ, đăng trên
An Nam tạp chí số 4 năm 1926. Sau này Vũ Hiệp sưu tập và đăng trên tạp
chí Nghiên cứu Sử số 2, 1996 tại Sài Gòn.
Trần Hưng
Một vài hiểu lầm trong các truyền thuyết về Mạc Đĩnh Chi
- Nguyễn Thị Chân Quỳnh
- •
- • 2.4k lượt xem
Mạc Đĩnh Chi (1286-1350) (1)
tự là Tiết Phu, người huyện Chí Linh, tỉnh Hải Duơng, nổi tiềng học vấn
uyên thâm, có tài ứng đối mẫn tiệp nhưng người thấp bé, hình dung xấu
xí. Ông đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Thìn (1304) thời Trần Anh Tông, khi
chưa đầy 20 tuổi. Thời xưa người được chấm đỗ thi Đình có khi còn phải
vào yết kiến để vua xét dung mạo rồi mới quyết định cho đỗ hẳn hay
không. Mạc Đĩnh Chi vào ra mắt nhưng vua Trần Anh Tông thấy tướng mạo
ông xấu xí có ý không muốn cho đỗ Trạng. Ông làm bài phú “Ngọc tỉnh
liên” (Hoa sen trong giếng ngọc), ca ngợi nết cao quý của bông sen, tự
ví mình với hoa quân tử. Vua đọc xong thuận cho ông đỗ Trạng nguyên (2).
Trải
qua ba đời vua: Anh Tông (1293-1313), Minh Tông (1314-1328), Hiến Tông
(1329-1340), làm quan đến chức Đại liêu ban Tả Bộc xạ (3). Hai lần được cử đi sứ sang Trung quốc (4),
ông thường tỏ ra có tài hùng biện, dùng văn chương áp đảo triều thần
nhà Nguyên, những câu ứng đối tài tình của ông được chép nhiều trong
sách sử Trung Hoa. Đặc biệt ông từng được Nguyên đế khen tặng là “Lưỡng
quốc Trạng nguyên”.
ADVERTISEMENT
Ông đã trước tác rất nhiều nhưng còn truyền lại chỉ có những tập Tán văn, Tế văn, câu đối và bốn bài thơ trong Khởi-Thì-Tập, Tạ văn một đạo trong Quốc Triều Biểu-Chương cùng bài bia Bùi Công Mộc-Đạc Thần-Đạo mà thôi (5).

Mạc
Hiển Tích, Tiến sĩ đệ nhất danh khoa Bính Dần (1086) đời Lý Nhân Tông,
làm quan đến Thượng thư bộ Lại, là viễn tổ của ông. Em Mạc Hiển Tích là
Kiến Quan cũng đỗ Tiến sĩ, làm đến Công bộ Thượng thư (6).
Mạc Đăng Dung là cháu đời thứ 7 của Mạc Đĩnh Chi (6).
1- HỌ MẠC VÀ THUYẾT PHONG THỦY
Những
truyền thuyết về Mạc Đĩnh Chi có rất nhiều nhưng cũng như các truyền
thuyết thường có nhiều điều sai lạc, hoang đường. Thí dụ chuyện bà mẹ
ông vì bị khỉ hiếp mà đẻ ra ông cho nên tướng mạo ông xấu xí, giống khỉ.
Khỉ bị cha ông giết, xác do mối đùn thành một cái mồ lớn, cha ông biết
đấy là khu đất quý, dặn con cháu chôn mình lên trên mộ con khỉ, sau
chính ông cũng táng ở dưới chân, cho nên con cháu ông làm to (7)
quý hiển là nhờ khu đất ấy. Thế nhưng Mạc Hiển Tích, Mạc Kiến Quan là
viễn tổ của ông cũng đã làm quan to từ triều Lý, hiển nhiên không phải
nhờ ngôi đất ấy mà ắt phải nhờ một ngôi mộ nào khác của tổ tiên thời
trước nữa, nếu ta tin vào thuyết phong thủy, địa lý. Song tác giả Công Dư Tiệp Ký
lại cho biết nhà Nguyên thấy Mạc Đĩnh Chi có kỳ tài mà tướng mạo lại
không có gì đáng quý nên sai một thầy địa lý Tầu sang xem phong thổ nước
ta. Ông dẫn đi xem phần mộ tổ tiên, ngôi nào họ cũng lắc đầu, đến ngôi
mộ phụ thân ông thì họ tấm tắc khen đấy mới chính là ngôi mộ phát tích.
Nhưng nếu những phần mộ tổ tiên chôn ở đất không phát thì giảng nghĩa
sao đây về hai ông Hiển Tích và Kiến Quan làm quan còn to hơn con cháu
Mạc Đĩnh Chi?
2- “LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN” VÀ BÀI THƠ TÁN QUẠT
Truyền
thuyết về bài thơ tán quạt và chức “Lưỡng quốc Trạng nguyên” thì tuy
không huyền hoặc, hoang đường nhưng lại khiến ta giảm lòng khâm phục ông
Trạng Mạc và óc phê phán của triều đình nhà Nguyên. Tuy Nguyên đế thuộc
dị tộc (Mông cổ) nhưng triều đình bao gồm cả các quan người Hán.
Theo Công Dư Tiệp Ký
tập II thì trong một lần đi sứ nhà Nguyên gập lúc có người ngoại quốc
dâng quạt, Nguyên đế muốn thử tài, sai ông cùng Sứ thần Cao Ly mỗi người
phải làm ngay một bài tán quạt. Sứ thần Cao Ly làm xong trước, có những
câu:
Uẩn long trùng trùng, Y Doãn, Chu Công,
Vũ tuyết thê thê, Bá Di, Thúc Tề.
Vũ tuyết thê thê, Bá Di, Thúc Tề.
Nghĩa là:
Khí nóng bừng bừng, Y Doãn, Chu Công
Mưa tuyết đầm đìa, Bá Di, Thúc Tề (8).
Mưa tuyết đầm đìa, Bá Di, Thúc Tề (8).
Ý
nói mùa hạ nóng nực thì cái quạt đắc dụng như hai ông Y Doãn, Chu Công;
mùa đông giá rét thì cái quạt vô dụng chết lả như hai ông Bá Di, Thúc
Tề.
Trong lúc Mạc Đĩnh Chi chưa biết
viết gì, liếc sang đầu quản bút của Sứ thần Cao Ly đoán được ý tứ rồi
theo đó suy diễn thêm ra thành bài thơ tán quạt sau đây:
Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lô,
Nhĩ ư tư thì hề, Y, Chu cự nho.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ,
Nhĩ ư tư thì hề, Di, Tề ngạ phu.
Y: Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng (9), duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù.
Nhĩ ư tư thì hề, Y, Chu cự nho.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ,
Nhĩ ư tư thì hề, Di, Tề ngạ phu.
Y: Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng (9), duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù.
Nghĩa là :
“Nấu vàng nung đá, Trời đất như lò thì ngươi lúc ấy khác gì Y, Chu nổi tiếng bậc cự nho?
Gió lạnh buốt xương, mưa tuyết đầy đường thì ngươi lúc ấy cũng như Di, Tề nhịn đói trên núi Thú Dương.
Ôi ! Dùng thì ra giúp đời, bỏ thì tạm ẩn để chờ thời, chỉ ta với ngươi giữ được như thế.”
Gió lạnh buốt xương, mưa tuyết đầy đường thì ngươi lúc ấy cũng như Di, Tề nhịn đói trên núi Thú Dương.
Ôi ! Dùng thì ra giúp đời, bỏ thì tạm ẩn để chờ thời, chỉ ta với ngươi giữ được như thế.”
Sứ
thần Cao Ly xong trước, ông viết xong cũng trình lên, Nguyên đế khen
bài của ông hay hơn, cầm bút khuyên vào câu có chữ “Y” và phê “Lưỡng
quốc Trạng Nguyên”.
Nếu quả sự thực là
như vậy thì chức “Lưỡng quốc Trạng Nguyên” phải chia đôi với Sứ thần
Cao Ly mới đúng vì nội dung bài văn không do ông nghĩ ra mà là “mượn”
của Sứ thần Cao Ly, ông chỉ thêm câu kết trích trong Luận Ngữ để tỏ ý
chí của mình.
Nguyên Đế đọc cả hai bài mà không nhận thấy sự trùng ý của hai Sứ thần và không truy nguyên kể cũng lạ.
3- BÀI VĂN TẾ CÓ BỐN CHỮ “NHẤT”
Bài
văn tế này rất nổi tiếng nhưng các bản được truyền tụng khác nhau ở vài
chi tiết: khi thì nói đấy là bài văn tế một cô Công Chúa Tầu, khi thì
là văn tế một bà Hoàng Hậu, khi lại là một bà Hậu Phi, còn chính bài văn
lúc thì có bốn chữ “nhất”, lúc lại chỉ có một chữ “nhất” hoặc là tờ
giấy trắng không có chữ gì cả.
A-
Các bản truyền tụng kể trong một lần Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Trung
quốc, thân sĩ nhà Nguyên thấy ông có tài ứng đối giỏi, áp đảo họ, nên có
ý chơi khăm, cử ông đọc văn tế bà Công Chúa/Hoàng hậu/Hậu Phi. Thói
thường người đọc cũng là người viết hay ít nhất cũng được đọc trước. Văn
tế thì viết rồi dán lên bảng gỗ gọi là Chúc bản. Nếu không đọc được hay
đọc một bài văn tế cũ đều bị tội (10). Mạc Đĩnh Chi ra quỳ
trước lễ đàn nghe xướng xong mở Chúc văn ra để đọc chỉ thấy tờ giấy
trắng tinh có bốn chữ “nhất”. Ông biết họ thử tài, nhanh trí ứng khẩu
đọc bốn câu thơ, mỗi câu có một chữ “nhất” ở trong, ca tụng phong cách
bậc nhất của người chết:
Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y!
Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y!
Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!
Dịch nghĩa:
Trời xanh, một đám mây,
Lò hồng, một điểm tuyết,
Thượng uyển, một cành hoa,
Dao trì, một vừng nguyệt!
Ôi!
Mây tản, tuyết tiêu, hoa tàn, giăng khuyết!
Lò hồng, một điểm tuyết,
Thượng uyển, một cành hoa,
Dao trì, một vừng nguyệt!
Ôi!
Mây tản, tuyết tiêu, hoa tàn, giăng khuyết!
Triều đình nhà Nguyên rất khâm phục.
Có
những dị bản còn thêm mấy chi tiết như khi ông đang chuẩn bị về nước
thì được cử ra đọc văn tế, tất cả các sứ thần đến dự tang lễ đều khâm
phục, bài văn này được khắc vào đá để lên mộ bà Công Chúa/Hoàng Hậu…
B- Nhiều người yên trí bài văn tế này do Mạc Đĩnh Chi làm, có lẽ phần nào dựa vào bài viết đầy đủ nhất về Mạc Đĩnh Chi trong Công Dư Tiệp Ký (1755) của Vũ Phương Đề (Tiến sĩ khoa 1736).
1- Công Dư Tiệp Ký
(CDTK) tập 2 chép Mạc Đĩnh Chi khi được cử đọc văn tế bà Hậu Phi, vào
quỳ trước linh vị, nghe xướng xong mở Chúc văn ra chỉ thấy có bốn chữ
“nhất”, biết họ thử tài, đọc ngay:
Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Quảng hàn nhất phiến nguyệt.
Y!
Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết (11).
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Quảng hàn nhất phiến nguyệt.
Y!
Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết (11).
Bản này rất giống những bản truyền tụng chỉ hơi khác ở câu thứ tư là “Quảng hàn nhất phiến nguyệt” chứ không phải “Dao trì
nhất phiến nguyệt” nên ta có thể tin bài văn đúng là của ông Trạng Mạc
vì ít nhất đã có tới hai bản khác nhau cùng ghi là của ông làm. Vũ
Phương Đề chú rõ: “Bài văn ấy còn ghi trong Bắc Sử. Có người
bảo là của Lý Bạch nhưng ta xét kỹ thì về lời và ý giống văn thể của
ông. Tuy thế chưa chắc đã phải vì bài thơ Đề Quạt đích thị là của ông
thế mà Thuyết Linh lại chép là của Phương Hiếu Nhi, lấy đó suy ra thì sử sách bên Tầu chép về việc ấy chắc gì đã đúng”.
Bản của Vũ Phương Đề, chép theo Bắc sử,
có lẽ sai vì câu “Quảng hàn nhất phiến nguyệt” vô nghĩa: “Quảng hàn” là
cung trăng mà “nguyệt” cũng là trăng, “trong cung trăng có một vừng
trăng” không có nghĩa gì cả. Sự lầm lẫn này nếu không phải do người chép
Bắc sử đã nhầm thì ta có thể cho là không phải Mạc Đĩnh Chi đã
ứng khẩu ra bốn câu thơ ấy mà là nhớ lại một bài thơ đã đọc từ trước,
rồi quên mất hai chữ “Dao trì” và nhanh trí thay tạm bằng “Quảng hàn”.
Trong lúc “tang gia bối rối” không ai lưu ý đến chi tiết nhỏ ấy.
Vũ
Phương Đề nhận định sách sử bên Tầu cũng có thể sai thì đúng, bảo bài
văn tế ấy không phải của Lý Bạch thì không cần dựa vào văn thể mà xét
đoán cũng rõ, và xét văn thể còn có thể sai chứ tính theo thời điểm thì
chắc chắn không nhầm: Lý Bạch sống đời Đường, sao có thể làm văn tế một
bà chết thời Nguyên? Sau nhà Đường (618-907) còn các đời Ngũ Đại
(907-960), Tống (960-1234), rồi mới tới Nguyên (1234-1368).
Vũ
Phương Đề khẳng định bài thơ tán quạt là “đích thị” của Mạc Đĩnh Chi,
lấy gì làm bằng? Dựa vào chi tiết Mạc Đĩnh Chi nhanh trí chỉ nhìn đầu
quản bút Sứ thần Cao Ly mà mượn ý viết hay hơn? Nhưng nếu ông Trạng Mạc
đã “cóp” ý của Sứ thần Cao Ly, biết đâu Sứ thần Cao Ly lại không “mượn” ý
của Phương Hiếu Nhi hay một người nào khác đã viết từ trước nên mới nhớ
lại mà làm được nhanh như thế.
Ngoài
ra câu “Hồng lô nhất điểm tuyết” cũng hơi gò ép ở chỗ sao lại có tuyết
trong “lò lửa đỏ”, chẳng lẽ chỉ để đối với “trời xanh”?
2- Theo một số tài liệu khác thì bài văn tế ấy là của Dương Ức đời Tống khi đi sứ Bắc Liêu.
Trong Kiến Văn Tiểu Lục (1777), mục “Tùng đàm”, Lê Quý Đôn (Bảng Nhãn khoa 1752) cho biết theo Thuyết Phu Tùng Thuyết
thì Tiến sĩ Dương Ức đời Tống Chân Tông đi sứ phương Bắc (Bắc Liêu)
được cử đọc bài kính tế Hoàng Hậu, song Chúc văn chỉ là một tờ giấy
trắng không có một chữ nào. Dương phải tự nghĩ ra và đọc:
Duy linh,
Vu sơn nhất đóa vân,
Lãng uyển nhất đoàn tuyết,
Đào nguyên nhất chi hoa,
Thu không nhất luân nguyệt.
Khởi kỳ,
Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết.
Phục duy thượng hưởng.
Vu sơn nhất đóa vân,
Lãng uyển nhất đoàn tuyết,
Đào nguyên nhất chi hoa,
Thu không nhất luân nguyệt.
Khởi kỳ,
Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết.
Phục duy thượng hưởng.
Dịch nghĩa:
Kính nghĩ anh linh, như:
Một đóa mây Vu sơn,
Một khối tuyết Lãng uyển,
Một cành hoa nguồn đào
Một vầng trăng trời thu.
Ngờ đâu:
Mây tán, tuyết tiêu, hoa tàn, trăng khuyết.
Kính xin hâm hưởng.
Một đóa mây Vu sơn,
Một khối tuyết Lãng uyển,
Một cành hoa nguồn đào
Một vầng trăng trời thu.
Ngờ đâu:
Mây tán, tuyết tiêu, hoa tàn, trăng khuyết.
Kính xin hâm hưởng.
Triều
đình nhà Liêu rất khâm phục. Tống Chân Tông nghe chuyện này khen Dương
có tài mẫn tiệp, làm rạng rỡ thể diện Trung quốc. Thế mà tục truyền việc
ấy là của Nguyễn Đăng Cảo bản triều (người huyện Tiên Du, tỉnh Bắc
ninh, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646) đời Lê Chân Tông) (12).
Bài này tuy ý tựa như bản truyền tụng, nhưng lời lẽ, hình ảnh thì khác, đặc biệt câu thứ ba “Lãng uyển nhất đoàn tuyết” chứ không phải “Hồng lô nhất điểm tuyết”, tuy vậy câu này đối với câu trước vẫn chỉnh vì câu trước không phải “Thanh thiên nhất đóa vân” mà là “Vu sơn…”
“Vu sơn” đối với “Lãng uyển” rất chỉnh cho nên không cần phải gò ép
tuyết vào lò lửa đỏ, không ai lại gắp tuyết bỏ vào lò lửa hay đặt lò lửa
dưới tuyết. Tuyết ở trong vườn Lãng uyển hợp lý hơn trong lò lửa. Rất
có thể là Mạc Đĩnh Chi đọc rộng, nhớ đến bài văn của Dương Ức và trong
lúc cần phải ứng biến nhanh lại không nhớ rõ lời lẽ bài của Dương Ức,
hoặc sợ phạm tội đọc một bài văn cũ nên đã “mượn” ý của Dương Ức nhưng
chỉ mượn ý mà thôi.
Kết luận là bài
văn tế chắc của Dương Ức người đời Tống làm khi đi sứ Bắc Liêu. Nước
Tống thuở ấy đã suy vi, hàng năm phải cống cho nước Liêu 10 vạn lạng bạc
cùng là tơ lụa v.v.. cho nên sứ thần nước Tống sang Liêu bị “chơi khăm”
cũng có lý. Sở dĩ Chúc văn là tờ giấy trắng không có chữ nào có thể vì
nước Liêu không dùng chữ Hán.
Tính
theo thời điểm thì nhà Tống (966-1278) cầm quyền chính Trung quốc trước
nhà Nguyên (1280-1341), vậy thì bài văn tế không thể do Mạc Đĩnh Chi
nghĩ ra trước.
Xét rằng nhiều sự nhầm
lẫn đã xuất phát ngay từ sách sử Trung quốc nên ta có nhầm gán cho Mạc
Đĩnh Chi hay Nguyễn Đăng Cảo cũng không lạ. Có điều Nguyễn Đăng Cảo sống
thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17 sao có thể đi sứ nhà Nguyên, thế kỷ 13,
14?
Nhầm lẫn còn có thể “thông cảm”
được nhưng chỉ e có những người “cố ý nhầm” nghĩ là gán ghép cho Mạc
Đĩnh Chi sẽ khiến người ta khâm phục ông Trạng Mạc hơn, có biết đâu lại
làm giảm giá trị của một ông Trạnh tài năng vốn có thừa không cần ai “tô
son điểm phấn” thêm.
Nguyễn Thị Chân Quỳnh
Hà Nội, tháng 3- 2011
Đăng lại từ bài viết “Mạc Đĩnh Chi (1286-1350) vài truyền thuyết ”Hà Nội, tháng 3- 2011
Có bổ sung hình ảnh và chú thích minh họa.
Theo tạp chí Chim Việt Cành Nam (Chimviet.free.fr)
Mời độc giả ghé thăm tạp chí.
CHÚ THÍCH
(1)
– Trong Giai thoại làng Nho Lãng Nhân chép năm sinh của Mạc Đĩnh chi là
1280 nhưng nếu ông Mạc đỗ Tiến sĩ khoa 1304 khi chưa đầy 20 tuổi thì
không thể là 1280 vì lúc ấy ông đã 24 tuổi.
Vũ Phương Đề nói có thuyết cho ông Mạc sinh năm Giáp Thân (1284), tức là ông đỗ năm 20 tuổi chứ không phải dưới 20.
(2)-
Lệ xem dung mạo rồi mới cho đỗ không thấy chép ở đời Trần trong Khoa
Mục Chí của Phan Huy Chú. Thời Lê, tới khoa 1496 mới chép lệ này :”Lệ cũ
thi Đình không bị đánh hỏng. Khoa này thi Hội lấy 43 người Trúng cách
nhưng sau khi xét dung mạo ở điện Kim Loan vua đánh hỏng 13 người.
Nguyễn văn Huấn thi Hội đỗ thứ hai cũng bị xóa tên”.
“Ngọc
tỉnh liên” : Hàn Dũ đời Đường có câu thơ “Thái hoa phong đầu ngọc tỉnh
liên” = Trên đỉnh núi Thái hoa có thứ hoa sen mọc trong giếng ngọc”
CDTK, tr 114.
(3) – “Bộc xạ” là chức Á Tướng. Nhà Trần dùng Hành Khiển hay Thượng thư vào chức này.
(4) – Lãng Nhân, tr 1.
(5) – Công Dư Tiệp Ký, tập II, tr 111.
(6) – CDTK tập II, tr 100.
(7)
– CDTK tập II, tr 112: “Con trai Mạc Đĩnh Chi là Khản và Trực đều làm
đến Viên ngoại. Cháu là Địch, Toại, Viễn muốn phục thù cho nhà Trần, khi
Trương Phụ đem quân sang đánh nhà Hồ, đã đón đường đầu hàng để báo cáo
tình hình họ Hồ lúc ấy đang tìm mọi cách để cố thủ. Trương Phụ dùng làm
Hướng đạo quan (việc còn ghi rõ trong Bình-Giao Nam-Lục của Khâu văn
Tráng). Vì có công lớn, nhà Minh phong cho Toại làm Tham Chánh, Địch làm
Chỉ Huy Sứ, Viễn làm Diêm Thiết Sứ. Sau khi Toại mất, con cháu di cư
vào vùng Ma Khê, huyện Thanh Hà, đời thứ ba lại di vào làng Cổ Trai,
huyện Nghi Dương rồi sinh ra Mạc Đăng Dung”.
(8)
– CDTK tr 103-4: Y Doãn làm tướng đánh diệt vua Kiệt nhà Hạ, giúp Thành
Thang, sáng lập nhà Thương, dậy vua thái Giáp, con Thành Thang.
Chu
Công Đán giúp vua Vũ Vương và Thành Vương nhà Chu, dẹp nội loạn, sáp
nhập hơn 50 nước nhỏ, sửa chính sự, trị nước theo đạo Nho, chế tác lễ
nhạc…
Bá
Di, Thúc Tề là anh em ruột, con vua nước Cô Trúc. Khi Vũ Vương đánh vua
Trụ, hai ông can không được. Vũ Vương diệt Trụ, lập nhà Chu, hai ông
không thèm ăn thóc nhà Chu, nhịn đói chết ở núi Thú Dương.
(9) – “Dụng chi tắc hành…” trích lời dậy của Khổng Tử trong Luận Ngữ.
(10) – Lê văn Đình, tr 377-9.
(11) – CDTK tập II, tr 108-9.
(12) – Kiến Văn Tiểu Lục, tr 448. Bản của Lê văn Đình chép cũng giống bản của Lê Quý Đôn.







Nhận xét
Đăng nhận xét