Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 274
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Tình báo Mỹ CIA và những điệp vụ thất bại trước KGB "những thằng ngu nhất thế giới"
Bí mật 21 năm CIA săn lùng sức mạnh Liên Xô giấu trong vũ trụ
Ám ảnh tiềm lực công nghệ không gian của Liên Xô, Mỹ dành 21 năm đằng đẵng để giải mã một trong những bí mật bao quanh địch thủ.
Trong giai đoạn đối đầu leo thang của cuộc Chiến tranh Lạnh, Liên
Xô bí mật triển khai chương trình không gian khiến Mỹ "đứng ngồi không
yên". Chương trình này cho phép Moskva có thể liên lạc với các tàu vũ
trụ và tàu thăm dò liên hành tinh của mình thông qua một "kênh bí mật
ngoài không gian." Người Mỹ do thám và biết sự tồn tại của nó. Tuy nhiên, họ không biết tìm nó ở đâu và như thế nào. Luôn luôn ám ảnh và lo sợ về sức mạnh tiềm ẩn từ vũ khí và công nghệ
không gian mà Liên Xô có thể nắm giữ, Mỹ đương nhiên đứng ngồi không
yên. Họ đã làm mọi thứ để khai thác "con át chủ bài" mà địch thủ của
mình có thể đang bí mật triển khai. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1946-1989), NSA và CIA đã
miệt mài làm việc chỉ để “phá hoại” chương trình không gian của Liên Xô. CIA1 cử đi các gián điệp nhằm nghiên cứu chương trình không gian của
Liên Xô. Các chuyên gia tình báo tín hiệu thăm dò vô tuyến từ các trạm
nghe của Liên Xô đặt tại Bắc Phi và Trung Đông. Các chuyên gia phân tích
CIA lùng sục và giải mã những manh mối dù nhỏ nhất từ hình ảnh vệ tinh
đến các hoạt động tuyên truyền của Liên Xô, thậm chí là những bình luận
trái chiều của các nhà khoa học Liên Xô... Tất cả đều được CIA và NSA2
săn lùng. Tuy nhiên, trong 21 năm trời đằng đẵng, từ 1962 đến 1983, bí mật vẫn hoàn bí mật. Chỉ đến khi cuộc Chiến tranh Lạnh tàn canh, và sau những báo cáo của
NSA và CIA, bí mật Liên Xô cất giấu một thời nay lại nổi lên, người ta
mới hiểu sâu về nhiệm vụ "giải mật Liên Xô" mà 2 cơ quan này thực hiện. Như James D. Burke, tác giả hai bản báo cáo của CIA, đã thừa nhận
trong báo cáo thứ hai của mình rằng 16 năm sau cuộc tìm kiếm 21 năm ấy
gói gọn bằng 3 chữ: Đáng kinh ngạc. Bài viết "Bí mật kế hoạch đánh cắp dữ liệu hành tinh của Liên Xô" của
tác giả William Herkewitz (thuộc Đại học California, Mỹ) đăng trên
Astronomy.com miêu tả hành trình 21 năm không ngừng "giải mã Liên Xô"
của người Mỹ. Hành trình “giải mật Liên Xô” kéo dài 21 năm của NSA và CIA Tính đến thập niên 1960, Liên Xô khiến Mỹ choáng váng bởi hàng loạt
thành tựu khai phá không gian "vô tiền khoáng hậu", có thể kể đến việc
phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên trong lịch sử vũ trụ Sputnik 1 năm 1957;
đưa người lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại bay ra ngoài không gian
năm 1961... Chỉ xét riêng sự kiện Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik 1 thôi đã khiến
Mỹ thực sự lo sợ. Thứ ám ảnh họ không chỉ là việc Liên Xô mở màn rồi dẫn
đầu cuộc đua lên không gian, Washington "mất ăn mất ngủ" vì sợ rằng với
khả năng phóng vệ tinh, Liên Xô hoàn toàn có thể phóng tên lửa mang đầu
đạn hạt nhân xuyên lục địa, đe dọa đến sự an toàn của Mỹ từ khoảng cách
hàng ngàn km. Nói rộng ra, Mỹ lo sợ về một Liên Xô chạy đua vũ trang
trên không gian, từ đó có thể đe dọa sự an nguy của Mỹ. Năm 1962, Liên Xô tiếp tục thừa thắng xông lên, chương trình không
gian của nước này khiến Mỹ thực sự điên đầu. Vào năm đó, Liên Xô đã
phóng Mars 13 - tàu thăm dò liên hành tinh thứ 8 của mình - nhằm quan
sát sao Hỏa ở khoảng cách 11.000km. Các thế hệ tàu thăm dò liên hành
tinh trước được Liên Xô phóng đi nhằm quan sát sao Hỏa, sao Kim... Bí mật cất giấu trong vũ trụ của Liên Xô. Sau khi rời khỏi quỹ đạo Trái Đất và bay ở khoảng cách hơn 106 triệu
km so với mặt đất, hệ thống định hướng ăng-ten của Mars 1 hỏng hóc. Trái
Đất mất liên lạc hoàn toàn với Mars 1. Tuy nhiên, trước đó, Mars 1 đã kịp có những liên lạc từ xa ban đầu,
theo báo cáo của NSA, Mars 1 đã thực hiện 4 lần dẫn truyền vô tuyến, với
các tần số 163, 32, 8, và 5 centimeters. Ở hai tín hiệu đầu tiên (bước sóng 163 và 32 cm), sau khi được các
chuyên gia tình báo tín hiệu Mỹ phân tích, là dạng tín hiệu điều khiển
vệ tinh đơn giản và tín hiệu định hướng được sử dụng bởi hầu hết các tàu
vũ trụ của Liên Xô. Tín hiệu thứ ba với bước sóng 8 cm được kính viễn vọng vô tuyến gián
điệp của Mỹ đặt gần Liên Xô phát hiện. Tuy nhiên, tần số cực cao này,
theo báo cáo của NSA, cơ bản được sử dụng để đo nhật thực. Tín hiệu cuối cùng là tín hiệu tần số siêu cao (SHF) - bước sóng 5cm -
là một bí ẩn chưa thể phân tích, giải mã đối với các chuyên gia Mỹ,
theo báo cáo của CIA. James D. Burke cho hay, bí mật của tần số siêu cao
này luôn ám ảnh người Mỹ thời đó. Liệu có phải Liên Xô đang ầm thầm thu nhận các tín hiệu ngoài hành
tinh? Tín hiệu tần số siêu cao này đến từ trí thông minh ngoài Trái Đất
và Liên Xô hiện đang có nó và đang tiến hành giải mã? Hay nó là tín hiệu
được sử dụng để thu nhận các dữ liệu khoa học và hình ảnh chi tiết từ
các tàu thăm dò vũ trụ của Liên Xô mà Mỹ chưa từng biết?... Tất cả đều
có sức ám ảnh Mỹ cao độ.
Mars 1 - tàu thăm dò sao Hỏa của Liên Xô.
Có thể nói, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, bí mật và sự khó nắm bắt
đến từ địch thủ (cụ thể là đến từ Liên Xô) khiến nó có giá trị cao nhất
trong cuộc đua cân sức-cân não của Mỹ và Liên Xô. Khi một bên không thể nắm được sức mạnh mà bên kia chiếm giữ, nỗi sợ
tự nhiên dâng cao mạnh mẽ. Việc phát hiện tín hiệu tần số cực cao mà
không thể giải mã khiến CIA và NSA "mất ăn mất ngủ". Washington vốn đã ám ảnh sức mạnh không gian của Liên Xô, lại càng
thêm sốt sắng. Liên Xô đang che giấu điều gì? Họ đang thực hiện kế hoạch
gì? Và kế hoạch đó tác động xấu đến Mỹ như thế nào?... chính là những
vấn đề mà Mỹ điên đầu. Thời gian sau khi Mars 1 phóng đi là kỷ nguyên điên cuồng của các sứ
mệnh không gian của Liên Xô: Tàu thăm dò Mặt Trăng đã đổ bộ thành công;
trạm vũ trụ đầu tiên trong lịch sử được phóng vào quỹ đạo Trái Đất; các
tàu thăm dò sao Hỏa và sao Kim đã gửi những dữ liệu/hình ảnh ban đầu cho
Liên Xô... Vậy mà, ngoài thành tựu đưa người đổ bộ thành công đầu tiên lên Mặt
Trăng năm 1969, Mỹ vẫn chưa có nhiều thành tựu không gian đột phá. Một
phần cũng bởi, CIA và NSA "rút ruột rút gan" để giải mã tín hiệu tần số
siêu cao bí ẩn kia. Bước đột phá bất ngờ đến vào buổi sáng tháng 11/1983 Vào tháng 6/1983, Liên Xô đã phóng hai tàu thăm dò mới tới sao Kim:
Tàu vũ trụ Venera 15 và Venera 16. Sau chuyến đi kéo dài 4 tháng tới
hành tinh chị em của Trái Đất, cả hai tàu vũ trụ đều có nhiệm vụ quét
hình ảnh sao Kim, một nhiệm vụ mà Mỹ cũng đã lên kế hoạch nhưng cho một
nhiệm vụ không gian cho năm 1988. Tài liệu báo cáo của NSA cho biết, khi Liên Xô đang thực hiện sứ mệnh
sao Kim, người Mỹ đã phát triển công cụ mới - một hệ thống được thiết
kế dành riêng cho việc thu thập các tín hiệu từ không gian sâu thẳm. Đó chính là SETI - Chương trình Tìm kiếm trí thông minh ngoài Trái Đất - một đột phá của NASA nhen nhóm từ những năm 1970.
Thiết bị RFI của Mỹ. Nguồn: NRAO/AUI/NSF
Đến đầu thập niên 1980, các nhà khoa học của SETI đã phát triển hệ
thống công cụ tìm kiếm cực kỳ tân tiến, có tên Giao thoa tần số vô tuyến
(RFI), gồm máy thu, máy phân tích phổ và máy tính, có thể quét hàng
chục ngàn tần số sóng vô tuyến riêng lẻ cùng một lúc, báo cáo tài liệu
NSA. Thiết bị RFI tỏ ra là công cụ hữu ích để dò tìm các tín hiệu không
xác định ngoài Trái Đất... cũng như đen đến khả năng giải mã tín hiệu
bước sóng 5cm mà Liên Xô nhận được trong sứ mệnh Mars 1. Với sứ mệnh thăm dò sao Kim Venera 15 và Venera 16 của Liên Xô, Mỹ hy
vọng sẽ nghe ngóng được những tín hiệu tần số siêu cao tương tự, từ đó,
có thể hiểu bí mật mà tần số vô tuyến bước sóng 5cm trước kia khiến họ
đau đầu. Để làm được điều đó, Mỹ bí mật chở RFI đến một địa điểm dọc theo kinh tuyến Crimea để nghe ngóng động tĩnh từ Liên Xô. Ngày 14/10/1983, Venera 15 và Venera 16 đã thực hiện hành trình thành
công đến sao Kim. Người Mỹ sẵn sàng "nghe lỏm" tín hiệu liên hành tinh
mà Liên Xô có thể nhận được từ các tàu của họ. Tuy nhiên, RFI vẫn không nhận được tín hiệu nào. Mỹ bắt đầu nghi ngờ
tính hiệu quả của RFI. Trung tâm Hàng không và Tên lửa quốc phòng đặc
biệt của Mỹ - nơi điều phối nhiệm vụ gián điệp này - vẫn kiên trì với nỗ
lực "đánh cắp" tín hiệu vô tuyến từ sứ mệnh thăm dò sao Kim của Liên
Xô.
Và sự kiên nhẫn này đã mang lại kết quả
RFI đã bắt được tín hiệu. Lúc 6:35 sáng, Trung tâm Hàng không và Tên
lửa quốc phòng đặc biệt gửi một tin nhắn đến Washington với nội dung:
"Chúng ta đã "bắt" được nó. Sứ mệnh "giải mã Liên Xô" kéo dài 21 năm kết
thúc!" Dù cả CIA và NSA không công bố chi tiết nội dung sứ mệnh giải mã tín
hiệu tần số siêu cao kia và nói rằng, người Mỹ nhận được rất ít lợi ích
từ việc này. Tuy nhiên, báo cáo cho hay, việc bỏ ra 21 năm dài đeo đuổi
tín hiệu SHF mà Liên Xô từng có được đã gián tiếp cho ra đời Viện SETI
mà NASA vẫn còn sử dụng đến tận ngày nay trong hành trình tìm kiếm trí
thông minh ngoài Trái Đất. 21 năm đằng đẵng mà CIA và NSA bỏ ra để giải mã một tín hiệu vô tuyến
bí ẩn từ vũ trụ mà Liên Xô có được cho thấy người Mỹ thực sự nghiêm túc
coi trọng tiềm năng sức mạnh của địch thủ của mình. Dù kết quả có thể nào, thì ít ra với họ (Mỹ), một trong những bí ẩn bao quanh Liên Xô đã ngã ngũ!
Theo PV (Trí Thức Trẻ)
Kế hoạch OP-32 của CIA và Bộ Tư lệnh Mỹ phá sản
Nguyễn Đăng Song |
4
Lực lượng thám báo Sài gòn báo cáo với các điệp viên CIA về kế hoạch đổ bộ biệt kích vào vùng ngã ba Đông Dương.
Tài liệu được giải mã sau chiến tranh tiết lộ, trong số
240 điệp viên “dài hạn” được tung vào miền Bắc có 8 tên chết khi nhảy
dù, 33 tên bị tiêu diệt, 33 tên chết vì bệnh tật, 146 tên bị bắt hoặc
mất tích, 17 tên phải tháo lui. Rất nhiều tên bị bắt ngay sau khi xuống
đất mà chưa kịp có bất kì hành động nào.
LTS: Trong
cuốn "Chiến tranh Việt Nam : được và mất", Nhà sử học Nigel Cawthorne
từng nhận định: "Trong khi phía Mỹ không bị tổn thương về mặt thể xác
thì sự hủy hoại về mặt tâm lý phải gánh chịu không thể tính toán hết.
Việt
Nam là cuộc chiến tranh đầu tiên mà Mỹ thất bại trong việc giành chiến
thắng và đã đẩy đất nước Mỹ đến những phân rẽ cay đắng.
Rất
nhiều người trong số 2.700.000 lính Mỹ phục vụ ở Việt Nam đã phải gánh
chịu những chấn thương tâm lý trong nhiều thập kỷ và nước Mỹ buộc phải
chấp nhận một điều rằng dù với tất cả sức mạnh và sự ưu việt về kỹ thuật
của mình, họ vẫn không thể đánh bại một đối thủ tuy nhỏ bé nhưng đầy
quyết tâm".
Nhân kỷ niệm 44
năm sự kiện lịch sử, chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm ký dài 10 kỳ về
cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ, với góc nhìn khách quan và
nhiều chi tiết lịch sử được xâu chuỗi.
---------
Góc nhìn từ bên kia chiến tuyến: “Chúng ta đã thất bại“
Nguyễn Đăng Song |
28
Giám đốc
CIA William Colby, Ngoại trưởng Henry Kissinger và Chủ tịch Hội đồng
tham mưu Liên quân George Brown (từ trái sang phải), khi nhận "tin xấu"
từ Việt Nam vào tối ngày 28/4/1975 (giờ Mỹ). Ảnh: Nhiếp ảnh gia David
Hume Kennerly.
Trong khi đang đàm phán Hiệp định Geneva về khôi phục hòa bình ở
Đông Dương, Ngoại trưởng Mỹ thông báo với thủ lĩnh các đảng trong Quốc
hội rằng, Hoa Kì phải gánh vác nhiều hơn trách nhiệm ở vùng đất châu Á
này. Cụ thể, Mỹ muốn xây dựng một liên minh khu vực, theo mô hình NATO ở
châu Âu.
Lời tòa soạn: Trong cuốn "Chiến tranh Việt Nam: được và mất", Nhà sử học Nigel Cawthorne từng nhận định: "Trong khi phía Mỹ không bị tổn thương về mặt thể xác thì sự hủy hoại về mặt tâm lý phải gánh chịu không thể tính toán hết.
Việt
Nam là cuộc chiến tranh đầu tiên mà Mỹ thất bại trong việc giành chiến
thắng và đã đẩy đất nước Mỹ đến những phân rẽ cay đắng.
Rất
nhiều người trong số 2.700.000 lính Mỹ phục vụ ở Việt Nam đã phải gánh
chịu những chấn thương tâm lý trong nhiều thập kỷ và nước Mỹ buộc phải
chấp nhận một điều rằng dù với tất cả sức mạnh và sự ưu việt về kỹ thuật
của mình, họ vẫn không thể đánh bại một đối thủ tuy nhỏ bé nhưng đầy
quyết tâm".
Nhân kỷ niệm
44 năm sự kiện lịch sử, chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm ký dài 10 kỳ
về cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ, với góc nhìn khách quan và
nhiều chi tiết lịch sử được xâu chuỗi.
------------
Phần 1: Chú SAM vào cuộc
16h30
ngày 8/5/1954, tại phòng số 5, khách sạn Palais des Nations nằm bên hồ
Leman của thành phố Geneva thơ mộng, Hội nghị Geneva chính thức khai mạc
phiên họp đầu tiên. Chín chiếc bàn to được xếp thành hình bầu dục cho 9
đoàn ngồi theo thứ tự Alfabet: Anh, Vương quốc Campuchia, Mỹ, Quốc gia
Việt Nam (VNCH), Pháp, Vương quốc Lào, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, CHND Trung Hoa, Liên Xô.
Buổi khai mạc hội nghị Geneva về về khôi phục hòa bình ở Đông Dương.
Đoàn
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Geneva với tư thế đại biểu cho một dân
tộc chiến thắng, nhiều vấn đề không có tiếng nói của Việt Nam thì không
thể giải quyết được.
Lập trường của
Việt Nam rất rõ ràng, vừa giữ vững những vấn đề mang tính nguyên tắc,
vừa có sách lược mềm dẻo nhằm phân hóa nội bộ đối phương.
Tuy
nhiên, chúng ta có ít kinh nghiệm đàm phán, ít thông tin về các cuộc
mặc cả, lại bị gây sức ép và đối phó với những toan tính và sự dàn xếp
của các nước lớn, kể cả trong phe ta.
Về
phần các nước lớn – thực chất vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên chính,
trong xu thế hòa hoãn quốc tế và giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng
thương lượng hòa bình, họ đều đến Geneva với những toan tính, mưu mẹo
riêng của mình.
Trong đó, Mỹ chủ trương ngăn chặn mọi thỏa hiệp bất lợi cho mưu đồ của Mỹ thay chân Pháp ở Đông Dương.
Vì
vậy, Mỹ tìm mọi cách phá hoại hội nghị, coi đây chỉ là cuộc đình chiến
tạm thời để có thời gian tổ chức một hệ thống phòng ngự mới ở Đông Nam Á
bao gồm Campuchia, Lào và hai vùng lãnh thổ của Việt Nam.
Thực
ra, sự “quan tâm” của Mỹ đến Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng
xuất hiện từ rất sớm, từ khi người Pháp theo sau quân Đồng Minh trở lại
thuộc địa cũ nay đã trở thành một quốc gia độc lập.
Và
cũng chính từ lúc ấy Mỹ đã chơi trò hai mặt: vừa viện trợ cho Pháp (vì
sợ Việt Minh thắng thế), lại vừa tìm cách sán đến Đông Dương và hất cẳng
Pháp. Bao năm Mỹ tung tiền của “giúp” Pháp tiến hành cuộc chiến tranh
Đông Dương, cũng để chờ thời cơ độc chiếm khu vực này.
Ngày
27/6/1950, Tổng thống Mỹ Harry Truman cho lập Phái bộ cố vấn viện trợ
quân sự Mỹ ở Đông Dương (Millitary Assistance Advisory Group in
Indochina, viết tắt MAAG – Indochina) có nhiệm vụ theo dõi chiến tranh
của Pháp ở Đông Dương, đề nghị lên chính phủ Mỹ kế hoạch viện trợ quân
sự cho quân viễn chinh Pháp và các đạo quân bản xứ ở ba nước Đông Dương,
hướng dẫn các đạo quân này sử dụng các loại vũ khí và phương tiện chiến
tranh do Mỹ cung cấp.
Từ đó, song
song với những khoản kinh phí hỗ trợ không ngừng tăng lên qua mỗi năm là
những cuộc thăm viếng liên tục của các nhân vật quân sự và dân sự Mỹ,
đỉnh điểm là chuyến thăm của Phó Tổng thống Nixon (tháng 10/1953).
Tới
năm 1953, viện trợ Mỹ cả kinh tế và quân sự đã lên tới 2,7 tỷ USD,
trong đó viện trợ quân sự là 1,7 tỷ USD, năm 1954 Mỹ viện trợ thêm 1,3
tỷ USD nữa.
Tổng cộng, Mỹ đã cung cấp
cho Pháp trên 40 vạn tấn vũ khí, gồm 360 máy bay, 347 tàu thuyền các
loại, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 16.000 xe vận tải, 17,5 vạn súng cá
nhân.
Thời gian này ở tất cả các cấp
bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến
bất cứ nơi nào kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của Tổng chỉ
huy lực lượng viễn chinh Pháp.
Sự phụ
thuộc quá nhiều của Pháp vào Mỹ khiến Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông
Dương - Henri Navarre phải than phiền: "Địa vị của chúng ta đã chuyển
thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ".
Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương - Tướng Henri Navarre (thứ ba - trái sang) chỉ huy trận đánh tại Điện Biên Phủ
Khi nghe tin Điện Biên Phủ thất thủ, Ngoại trưởng John Duless thốt lên: “Pháp thua ở Điện Biên Phủ cũng có cái hay, nó cho phép Mỹ nhảy vào Đông Dương ngon lành, không mang tiếng thực dân xâm lược…”.
Và
ngay trong đêm 7/5/1954, Tổng thống Mỹ Eisenhower đã họp gấp với Ngoại
trưởng Duless đề xuất chủ trương đòi Pháp trao quyền cho Mỹ trực tiếp
huấn luyện, chỉ huy quân ngụy. Một tháng sau, ngày 6/6, Mỹ ép Pháp và
Bảo Đại buộc thủ tướng bù nhìn Bửu Lộc (thân Pháp) từ chức.
Thế
rồi, ngày 7/7, một nội các mới với thành phần thân Mỹ là chủ yếu được
dựng lên, do Ngô Đình Diệm làm thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng.
Trước
đó, ngày 26/6, Ngoại trưởng Mỹ thông báo với thủ lĩnh các đảng trong
Quốc hội rằng, Hoa Kì phải gánh vác nhiều hơn trách nhiệm ở vùng đất
châu Á này. Cụ thể, Mỹ muốn xây dựng một liên minh khu vực, theo mô hình
NATO ở châu Âu.
Tại Hội nghị Geneva, trưởng đoàn Mỹ đã không kí vào Tuyên bố cuối cùng, để rảnh tay thực hiện ý đồ can dự vào Việt Nam.
Và
khi các chữ kí trên bản Hiệp định còn chưa ráo mực, ngày 8/8/1954 (18
ngày sau khi Hội nghị Geneva kết thúc), Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ
chính thức quyết định hất cẳng Pháp, thay Pháp nhảy vào miền Nam.
Quyết
định nêu rõ: Mỹ trực tiếp viện trợ cho ngụy quyền Sài Gòn , không qua
Pháp; Pháp phải rút hết quân khỏi miền Nam và phải ủng hộ Diệm; loại bỏ
Bảo Đại, tay sai lâu đời của Pháp...
Ngày
8/9/1954, Mỹ lôi kéo các nước đồng minh thành lập Khối hiệp ước phòng
thủ Đông Nam Á (SEATO), đặt Nam Việt Nam, Lào, Campuchia dưới sự bảo trợ
của tổ chức này. Ngày 17/11, Mỹ cử tướng Collin sang làm đại sứ ở Sài
Gòn.
Tháng 1/1955, chuyến hàng viện
trợ quân sự đầu tiên của Mỹ tới tay quân đội Sài Gòn. Ngày 1/11/1955, Mỹ
lập MAAG – Việt Nam (thay cho MAAG – Đông Dương) để tổ chức lại Quân
đội quốc gia Việt Nam do Pháp lập ra ngày 11/5/1950 thành Quân đội Việt
Nam cộng hòa, huấn luyện và trang bị vũ khí cho đạo quân này chống lại
nhân dân miền Nam.
Ngày 26/4/1956,
người lính Pháp cuối cùng rút khỏi miền Nam, hai ngày sau đó, phái đoàn
MAAG của Mỹ chính thức nắm và huấn luyện quân đội Sài Gòn …
Nhà sử học Mỹ Cecil B. Currey thừa nhận là:
“... ngay từ đầu, Duless đã nhìn hội nghị Geneva với con mắt nghi ngờ.
Ông ta biết tất nhiên sẽ có một giải pháp nào đó và lo sợ trước ý nghĩ
một khoảng trống quân sự sẽ để lại ở Đông Nam Á khi người Pháp ra đi.
Ông
ta muốn Mỹ phải đứng chân vững chắc trong khu vực và dùng Việt Nam như
một mắt xích chính trong vành đai an toàn (Cordon Sanitaire) mà ông ta
muốn thiết lập.
Khi xung quanh bàn đàm phán im lặng trong chốc lát, phái đoàn Mỹ đã nghe thấy các quân bài domino đổ dây chuyền”.
theo Viettimes
---------
Phần 2: Kế hoạch OP-32 của CIA và Bộ Tư lệnh Mỹ phá sản
Ngay sau Hiệp định Geneve, theo chỉ đạo của Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ ( CIA)
lúc bấy giờ là Alen Dulles, chuyên gia lật đổ Edward Lansdale đã được
phái đến Việt Nam đứng đầu Phái bộ quân sự Sài Gòn (SMM) với nhiệm vụ
tiến hành các hoạt động bán quân sự ở miền Bắc Việt Nam trước khi Cộng
sản nắm quyền.
Một trong những việc
làm đầu tiên của ông này, với sự trợ giúp của thiếu tá tình báo Lucien
Conein, là tổ chức cài cắm điệp viên bí mật nằm chờ cho đến khi được gọi
đến. Vũ khí, điện đài và vàng được cất giấu cẩn thận ở những nơi được
cho là cơ quan an ninh Việt Nam chưa biết đến…
Mặt
khác, Lansdale xúc tiến tổ chức đưa các điệp viên người Việt Nam đến
huấn luyện tại căn cứ của CIA trên đảo Saipan/Philippines (giai đoạn sau
là căn cứ Long Thành) để chờ dịp tung ra miền Bắc móc nối với các
"chiến hữu" nằm vùng.
Ngày
16/12/1959, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ (NSC) thông qua Chỉ thị số 5809
về việc đối phó với "tình hình khẩn cấp" ở khu vực châu Á, kêu gọi tăng
cường nỗ lực chi viện cho chính phủ Diệm, đồng thời ngăn chặn miền Bắc
Việt Nam giành một thắng lợi dễ dàng.
Trên
cơ sở Chỉ thị 5809, CIA phối hợp với Bộ Tư lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương
đã soạn thảo Kế hoạch 32-59 (OP-32) mà nội dung chủ yếu là tiến hành
cuộc chiến gián điệp chống miền Bắc nước ta.
Kế
hoạch đặt ra mục tiêu "phối hợp các hoạt động quân sự và ngoại giao,
làm cho ban lãnh đạo Việt Nam Dân chủ cộng hòa (VNDCCH) tin rằng sự ủng
hộ và sự chỉ đạo của họ đối với cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và ở
Lào cần phải được xem xét lại và chấm dứt".
Cái
mà các tác giả của Kế hoạch tìm kiếm là "sự thay đổi trong những tính
toán chính trị của Hà Nội"; ngoài ra, thông qua các hoạt động có phạm vi
rộng lớn ở ngay trong lòng miền Bắc và chống lại miền Bắc, Kế hoạch còn
trực tiếp trả đũa cho cái gọi là hành động "xâm lược" của Hà Nội đối
với miền Nam.
Các toán gián điệp
"đánh" ra miền Bắc trước hết có nhiệm vụ thu thập tin tình báo, bước thứ
hai chuyển sang phá hoại và quấy rối, sau đó tiến hành chiến tranh tâm
lí và cuối cùng, thực hiện tham vọng thiết lập căn cứ cho "các hoạt động
kháng chiến của du kích".
Alen Dulles.- Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), đồng tác giả của Kế hoạch OP-32
Loại
1, hoạt động quấy nhiễu, bao gồm các hoạt động nhỏ mang tính phá hoại;
các hoạt động tâm lí mức độ "vừa phải"; các hoạt động thu thập tin tình
báo quy mô nhỏ gồm trinh sát chiến thuật của các đơn vị nhỏ để thu thập
tin tình báo bằng mắt thường, cung tù binh, tài liệu, các tài liệu công
khai; tạo ra sự quấy nhiễu; và tạm thời cắt đứt các tuyến giao thông.
Mục
đích của hoạt động loại này là làm cho đối phương ý thức được sự chống
đối, gây cho họ sự khó chịu, buộc họ phải tăng cường tình trạng sẵn sàng
đồng thời giảm sự đi lại, vận chuyển người và trang thiết bị.
Tuy nhiên, Kế hoạch xác định cố không để đối phương có hành động trả đũa lớn đối với các hoạt động này.
Các
hoạt động được vạch trong Kế hoạch sẽ được tiến hành trong điều kiện
"dưới mức chiến tranh" và có phối hợp với các hành động chính trị, quân
sự khác. Các hoạt động bao gồm những hành động "có chọn lọc" và chia làm
4 loại.
Loại
2, các hoạt động tiêu hao, bao gồm các hoạt động chống phá quy mô nhỏ,
các cuộc oanh kích vào các cơ sở quân sự và dân sự, chú trọng các mục
tiêu quan trọng.
Mục tiêu của các
hoạt động này là đặt ra mối đe dọa rõ ràng đối với các cơ sở vật chất,
các lực lượng an ninh, tạo áp lực đối với ban lãnh đạo VNDCCH. Phản ứng
dự kiến từ phía đối phương là các hành động trả đũa ở miền Nam và yêu
cầu viện trợ từ các đồng minh.
Loại
3, các hoạt động trừng phạt, bao gồm các hoạt động phá hoại vật chất
nhằm gây thiệt hại và/hoặc phá hủy các phương tiện, các cơ sở thiết yếu
đối với nền kinh tế, phát triển công nghiệp và an ninh của VNDCCH.
Đó
sẽ là các cuộc tập kích của các lực lượng cỡ đại đội, tiểu đoàn, cố duy
trì càng bí mật càng tốt, còn nếu trong trường hợp bị lộ, sẽ tạo (cho
đối phương) cảm giác là do các đơn vị thuộc chính quyền bù nhìn VNCH
thực hiện.
Các toán biệt kích sẽ đặt
mìn phá hoại các cây cầu, bến phà, đường bộ; tập kích các trạm gác tại
các cửa sông; phá hoại các tuyến đường xe lửa theo cả 2 phương thức:
hoạt động lâu dài và tiến công kiểu "đánh và chạy".
Loại
4, tiến công đường không, tức tiến hành các cuộc oanh kích phối hợp
cường độ thấp nhằm vào các mục tiêu như các kho xăng dầu, các nhà máy
nhiệt điện, nhà máy gang thép.. Mất những cơ sở này sẽ gây tác động què
quặt đến khả năng duy trì một nền kinh tế ổn định, phát triển công
nghiệp của VNDCCH.
Dự kiến, phản ứng của VNDCCH phụ thuộc vào sự sẵn sàng của họ chấp nhận những thiệt hại để tiếp tục cuộc chiến tranh ở miền Nam.
Trong thực tế, rất nhiều nội dung của cả 4 loại hình hoạt động nêu trên chỉ nằm trên giấy mà không thực hiện được.
Kế
hoạch còn dự kiến tiến hành các hành động gây sức ép chính trị (chẳng
hạn thông qua Liên Hợp quốc) buộc các nhà lãnh đạo VNDCCH phải chấm dứt
sự chỉ đạo và "xâm lược" miền Nam Việt Nam và ở Lào, nếu không sẽ có
những hành động trả đũa gây thiệt hại nhiều hơn cho miền Bắc.
Việc
thu thập tin tức tình báo được tiến hành thông qua: chụp ảnh từ trên
không, trinh sát bờ biển đối với các mục tiêu dự kiến; các hoạt động
tình báo thông tin/tình báo liên lạc (COMINT/ELINT) và tình báo chiến
thuật.
Các hoạt động tâm lí chiến sẽ
sử dụng tất cả các phương tiện sẵn có (tờ rơi, VTĐ, thư tín...) để đạt
được sự quấy nhiễu, chia rẽ tối đa và tạo ra sự chống đối bên trong
VNDCCH.
Các nguồn lực dự kiến được sử
dụng là: tàu tuần tiễu cao tốc đặt mua của Na Uy, máy bay vận tải C-123
có lắp các thiết bị tác chiến điện tử, các phân đội chiến tranh tâm lí
được tăng cường lực lượng và phương tiện, các phương tiện đi biển, các
phương tiện vô tuyến, các phi hành đoàn của đồng minh (Đài Loan) được
huấn luyện kĩ càng...
"Nguồn
lực" quan trọng nhất là hàng chục vạn người "tị nạn" di cư từ miền Bắc,
trong đó có thể lựa chọn hàng nghìn "tình nguyện viên" để huấn luyện
các hoạt động đặc biệt.
Phần lớn ứng viên là đảng viên đảng Đại Việt, một số thuộc Việt Nam Quốc dân đảng, chủ yếu là những người dân tộc thiểu số.
Các
toán gián điệp được đào tạo tại trại Long Thành thường gồm: các toán
kết hợp, là toán có thành viên là người thuộc trên 2 nhóm dân tộc; các
toán kép, gồm người Kinh và một nhóm dân tộc khác. Có một số toán kép
gồm người Thổ – Nùng hoặc Nùng – Mường.
Thực
hiện Kế hoạch, chỉ trong các năm 1961-1967, CIA đã tung ra miền Bắc 52
toán gián điệp gồm 240 tên, bằng cả đường bộ, đường biển và đường không
(chủ yếu là bằng đường không).
Trừ
tên gián điệp đầu tiên, bí danh Ares (đổ bộ tháng 2/1961 vào bờ biển
Quảng Ninh) và tên gián điệp Goldfish (xâm nhập ngày 13/9/1967), hoạt
động đơn tuyến, các toán còn lại thường gồm khoảng 4-5 tên.
Nhóm gián điệp - biệt kích chính quyền Sài Gòn trong thời kỳ huấn luyện
Cá
biệt có những toán đông hơn, như toán Buffalo đột nhập ngày 19/6/1964,
có 10 tên; toán Romeo được thả bằng trực thăng ngày 19/11/1965, gồm 10
tên; toán Hector được thả bằng trực thăng ngày 22/6/1966, gồm 15 tên;
toán Hadleyvà toán Nansen thả đầu năm 1967, mỗi toán gồm 17 tên…
Thời
kì đầu, các phi vụ thả gián điệp do các phi công Đài Loan thực hiện.
Thời kì sau, CIA bố trí để Hãng Hàng không Trung Hoa (CAT/Đài Bắc) thành
lập tại Sài Gòn một chi nhánh lấy tên là Cục Vận tải đường không Việt
Nam (VIAT), làm bình phong để huấn luyện phi công không lực VNCH tiến
hành các phi vụ ra miền Bắc.
Tài liệu
được giải mã sau chiến tranh tiết lộ, trong số 240 điệp viên "dài hạn"
được tung vào miền Bắc có 8 tên chết khi nhảy dù, 33 tên bị lực lượng an
ninh VNDCCH tiêu diệt, 33 tên chết vì bệnh tật, 146 tên bị bắt hoặc mất
tích, 17 tên phải tháo lui.
Rất
nhiều tên bị bắt ngay sau khi xuống đất mà chưa kịp có bất kì hành động
nào. Một số tên bị đối phương sử dụng làm điệp viên hai mang. Bất chấp
những nỗ lực "tẩy não" trong trại huấn luyện, đại đa số điệp viên bị bắt
đều khai báo.
Theo William Colby
(năm 1962 là Phân cục trưởng CIA tại Sài Gòn, trong các năm 1973-1976 là
Giám đốc CIA), "Bắc Việt Nam không phải là nước Pháp kháng chiến", và
Kế hoạch OP-32 đã thất bại thảm hại.
"Điệp
viên được đánh vào bằng nhiều đường (không, bộ, biển), theo toán hay
đơn tuyến, song kết quả gần giống nhau: bị đánh trở lại, bị xóa sổ,
không có liên lạc, mất liên lạc, bị bắt, hoặc "hoạt động" dưới sự kiểm
soát của đối phương".
William Colby
cũng đổ lỗi cho thất bại của Kế hoạch OP-32 ở các nguyên nhân: Thứ nhất,
CIA không phải là người tuyển mộ và kiểm tra các điệp viên được lựa
chọn tham gia các toán xâm nhập.
Đồng
nghiệp Việt Nam cộng hòa của họ phụ trách việc lựa chọn điệp viên trong
số những người miền Bắc di cư lúc bấy giờ đang sống ở miền Nam. Thứ
hai, các toán được cài cắm nằm rải rác trên khắp miền Bắc và không ai
chú ý tập trung vào một địa điểm nhất định rồi mới tản ra.
Kiểu
cài cắm này, được Colby đặt tên là "thả tù mù" (blind drop), làm các
điệp viên không có manh mối để hoạt động; không có ai để điệp viên bắt
liên lạc và để bắt đầu một "phong trào kháng chiến".
Thứ
ba, các toán gián điệp hoạt động phụ thuộc vào tiếp tế đường không, mà
CIA thì có rất ít máy bay. Thứ tư, các toán không được trợ giúp nhiều về
mặt giấy tờ giả để sống và hoạt động ở một xứ sở "được kiểm soát rất
tốt về an ninh".
Chuẩn bị kế hoạch giăng bẫy bắt gián điệp - biệt kích Mỹ - VNCH.
Còn
W.Hassard, người phó của Colby tại Sài Gòn, nêu lên 4 nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến đổ vỡ của OP-32 và các điệp vụ tương tự của CIA chống miền
Bắc Việt Nam:
1.Sự thiếu thống nhất,
nhanh nhậy trong chỉ đạo hoạt động. Điệp viên có nhiệm vụ gì sau khi
được "đánh" hoặc cài cắm, nhiều khi không rõ. Nhiệm vụ của các toán gián
điệp thường xuyên bị xem xét lại. Washington thường lo nhiều về chiều
sâu của hoạt động hơn là lo đến cách thức hoạt động của điệp viên.
2.
Thiếu chuyên gia giỏi. Trong lí luận cũng như trong giáo trình ở trường
huấn luyện không có một khoa mục chuyên về loại điệp vụ này. Nhân viên
CIA thiếu hiểu biết về đối phương và về Bắc Việt Nam.
3.
Khiếm khuyết trong tuyển chọn, xây dựng động cơ và huấn luyện điệp
viên. "Các điệp viên có trong danh sách bảng lương, nhưng lại tỏ ra
không hăng hái khi được giao nhiệm vụ. Họ không hề bộc lộ chút nào lòng
yêu nước đối với VNCH".
4. Tài nghệ của Hà Nội trong tiến hành cuộc chiến phản tình báo mang cả tính tiến công và tính phòng thủ.
Hà
Nội tỏ ra rất biết cách: Đặt ưu tiên hàng đầu cho nhận dạng, truy tìm,
phát hiện, bắt giữ, vô hiệu hóa các toán gián điệp, biệt kích và lôi kéo
chúng hoạt động cho mình. Đồng thời, dành những nguồn lực đáng kể cho
các nhiệm vụ an ninh nội bộ và phản tình báo.
Điều
này được phản ánh rõ qua quy mô, công tác huấn luyện và chế độ chuyên
nghiệp hóa của bộ máy an ninh, tình báo. Và hơn nữa là nâng lên tầm nghệ
thuật việc vạch ý đồ đối phương cũng như đánh lừa, nghi binh.
Ở
chi tiết cuối này, Hassard (và cả Colby) đã thừa nhận một thực tế quyết
định số phận các toán điệp viên được "đánh" ra miền Bắc cũng như số
phận của Kế hoạch OP-32 nói chúng, đó là tinh thần cảnh giác của người
dân và trình độ nghiệp vụ của lực lượng an ninh ta.
"Tình
báo Việt cộng đã nắm được nội dung OP-32 ngay từ khi kế hoạch này còn
manh nha", tiếp đó, đại đa số các điệp vụ đều bị phát hiện sớm.
Không
lạ gì khi nhiều tên gián điệp đã tiếp đất trong một cái lưới đã bủa
sẵn. Phía VNDCCH đã triển khai một cuộc chiến quy mô, bài bản chống sự
xâm nhập của các toán gián điệp và vô hiệu hóa chúng. Trong khi người
dân thực hiện "ba không", thì Chính quyền thực hiện một loạt các biện
pháp khẩn cấp.
Tháng 1/1960 đã ban
hành chỉ thị về việc tăng cường kiểm soát các tuyến biên giới trên bộ,
trên biển, các tuyến đường quan trọng. Lực lượng biên phòng thực hiện
thống nhất quy định hàng ngày, hàng tuần báo cáo mọi hoạt động khả nghi
dọc biên giới về cơ quan tham mưu.
Họ
được quyền sử dụng các thiết bị vô tuyến điện để đảm bảo tính thời
gian. Các bức điện được "ngụy trang, nghi binh" nhằm cản trở khả năng
nghe trộm cũng như khả năng giải mã của tình báo Mỹ và ngụy Sài Gòn.
Hệ
thống mật mã T-90 được đưa vào sử dụng thay cho hệ thống mật mã cũ
DB-2. Là một dạng cải tiến của mật mã KTB-4 và không phổ biến rộng rãi
trong suốt 7 năm, hệ thống T-90 có độ an toàn gấp đôi so với DB-2, được
xem là chìa khóa khiến miền Bắc đối phó thành công với các toán điệp
viên của CIA.
OP-32 chỉ là một trong
nhiều kế hoạch tình báo mà CIA cùng chính quyền ngụy Sài Gòn tiến hành
trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả
các kế hoạch đó, dù là OP-34, OP-37 hay Phượng Hoàng… đều bị thất bại
thảm hại, hệt như kết cục chung của cả cuộc chiến tội lỗi ấy.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét