Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
BÍ ẨN LỊCH SỬ 100/i
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Đại Việt Đã 5 Lần Tiến Quân Chiếm Phương Bắc Như Thế Nào|Lịch Sử Việt Nam|
. Dân tộc Việt Nam luôn kiên cường bất khuất chống lại sự xâm lược của
phương Bắc.
Tuy nhiên cũng trong thời gian này, người Việt, dưới sự dẫn dắt của
những vị vua anh minh, những vị tướng thiên tài, những anh hùng dân tộc
đã luôn biết cách trừng trị ngoại bang, và còn tiến lên phương bắc khiến
cho đế quốc phương bắc phải nể phục.
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” là của ai?
Trần Hưng
•
• 69.5k lượt xem
“Nam
quốc sơn hà” là bài thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam, và được
coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên khẳng định chủ quyền của người
Việt trên lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, với ít nhất là 35 dị bản sách và
8 dị bản thần tích, nguồn gốc của “Nam quốc sơn hà” vẫn còn là một dấu
hỏi…
Một
số tài liệu cho rằng “Nam quốc sơn hà” là tác phẩm của Lý Thường Kiệt
viết ra để khích lệ tinh thần quân sĩ Đại Việt trong cuộc chiến chống
lại quân Tống lần hai. (Tranh qua hungsuviet.us)
ADVERTISEMENT
“Nam quốc sơn hà”
là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán, chưa rõ nguồn gốc tác
giả, nhưng được một số tài liệu cho là tác phẩm của Lý Thường Kiệt. Theo
đó, trong cuộc chiến chống lại quân Tống lần thứ hai (1075-1077), Lý
Thường Kiệt đã sai người tâm phúc đọc vang bài thơ trong đền thờ Trương
Hống, Trương Hát thuộc địa phận sông Như Nguyệt, Yên Phong, Bắc Ninh, để
khích lệ tinh thần quân sĩ Đại Việt.
Nam quốc sơn hà
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” vốn không có tên. Tựa đề của nó xuất hiện trong “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam”
tập 2 (NXB Văn học, 1976), lấy từ bốn chữ đầu trong câu thơ đầu tiên
của bài thơ. Bài thơ này có nhiều dị bản khác nhau, bản chữ Hán trong
Đại Việt sử ký toàn thư có chép:
南國山河南帝居,
截然分定在天書。
如何逆虜來侵犯,
汝等行看取敗虚。
Phiên âm Hán Việt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên phận định tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản
khắc gỗ và bản dập bài “Nam quốc sơn hà” trong Mộc bản triều Nguyễn tại
khu trưng bày ngoài trời Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV – Đà Lạt. (Ảnh
qua Wikipedia)
Trước đây, sách giáo khoa từng sử dụng bản dịch của học giả Trần Trọng Kim, có âm điệu hào hùng và dễ nhớ:
Sông núi nước Nam vua Nam ở, Rành rành định phận tại sách trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Sau
này, sách giáo khoa không sử dụng bản dịch trên nữa, mà sử dụng bản
dịch của Lê Thước và Nam Trân (Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7, tập 1,
2015):
Núi sông Nam Việt vua Nam ở, Vằng vặc sách trời chia xứ sở. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây, Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Tuy nhiên sách giáo khoa lại không dùng nguyên văn bản dịch này, mà sửa đoạn đầu “Núi sông Nam Việt vua Nam ở” thành “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Bản dịch mới này đã từng gây ra rất nhiều tranh luận vì không truyền tải được âm hưởng và khí phách của “Nam quốc sơn hà”.
“Nam quốc sơn hà” có từ bao giờ?
Cuộc chiến chống lại quân Tống của quân sĩ Đại Việt. (Ảnh qua nghiencuulichsu.com)
Trong Lĩnh Nam chích quái, phần “Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt” có ghi chép rằng:
Năm
Thiên Phúc nguyên niên hiệu vua Lê Đại Hành, vua Tống Thái Tổ sai Hầu
Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đem quân sang đánh Đại Cồ Việt. Hai bên đối lũy
cùng cầm cự với nhau ở sông Đồ Lỗ. Vua Lê Đại Hành nằm ngủ thấy hai vị
Thần hiện về báo mộng. Hai vị Thần nói với vua, đại ý như sau: “Anh em
thần tên là Trương Hống, Trương Hát, là tướng của Triệu Việt Vương
(Triệu Quang Phục). Anh em thần vì nghĩa mà chết nên được phong làm
tướng trong các thần linh, thống lĩnh quỷ binh. Nay quân Tống xâm phạm
nước ta, anh em thần đến yết kiến, cùng giúp vua đánh giặc để cứu dân
chúng.”
Vua Lê Đại
Hành tỉnh dậy liền đốt hương khấn cầu thần giúp. Đêm ấy thấy một người
dẫn đoàn âm binh áo trắng và một người dẫn đoàn âm binh áo đỏ từ phía
Bắc sông Như Nguyệt mà lại cùng xông vào trại quân Tống mà đánh. Quân
Tống kinh hoàng, lúc này bỗng có tiếng thơ ngâm lớn rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư. Như hà Bắc Lỗ lai xâm lược, Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
Dịch là:
Sông núi nước nam, vua nam ở, Sách Trời định phận rõ non sông. Cớ sao giặc bắc sang xâm phạm, Bây hãy chờ gươm chém bại vong.
Quân
Tống nghe thấy, xéo đạp lên nhau chạy tan, đại bại mà về. Vua Lê Đại
Hành trở về ăn mừng, truy phong cho hai vị Thần nhân, một là Tinh Mẫn
Đại Vương lập miếu thờ tại ngã ba sông Long Nhãn; hai là Khước Mẫn Đại
vương, lập miếu ở ngã ba sông Nguyệt.
Trước
Lý Thường Kiệt, vua Lê Đại Hành cũng nổi danh với cuộc chiến chống quân
Tống lần thứ nhất cùng các chính sách cứng rắn trước Tống và Chiêm.
(Ảnh qua baonga.com)
Vậy Trương Hống, Trương Hát là ai? Theo “Việt điện u linh”
ghi chép lại thì anh em Trương Hống, Trương Hát là tướng của Triệu Việt
Vương tức Triệu Quang Phục. Khi Triệu Việt Vương bị Lý Phật Tử cướp
ngôi, dù được mời nhưng hai anh em không muốn làm quan cho Lý Phật Tử,
mà về ở ẩn ở núi Phù Long. Lý Phật Tử cho người lùng bắt, hai anh uống
thuộc độc, thà chết vẫn trung thành với Triệu Việt Vương.
Anh em Trương Hống, Trương Hát.
Hai bộ sử khác nữa từ thế kỷ 16, 17 là “Việt sử diễn âm” và “Thiên nam ngữ lục” cũng cho rằng bài thơ trên có từ cuộc chiến chống quân Tống năm 981.
“Việt sử diễn âm” có ghi chép rằng:
Tháng bảy có Tống binh sang Toàn những tướng mạnh binh cường ba muôn Đến thành Phù Lỗ đóng vây Quân ta quân nó đôi bên ngất trời Chưa phân thắng phụ về ai Ngày rằm tháng chạp vua nằm chiêm bao Thấy đôi thần nhân bãi nào Trương Hống Trương Hát bước vào quỳ thưa Chúng tôi thần đế lòng xưa Phụng thờ nhà chúa bấy chừ chẳng sai Tiên Hoàng có sắc chỉ bày Đòi về phong chức cho tôi tước quyền Trung thần bất sự nhị quân Chúng tôi tự vẫn làm thần đạo ngay Thượng đế thấy bộ thương thay Phong chúng tôi rày Quỉ bộ thần quân Đại Hành thức dậy mừng thay Giết trâu liền có minh tài tế khao Đêm sau vua lại chiêm bao Thấy mặc áo mới liền vào tạ ơn Có một người đứng án tiền Lĩnh được trăm áo vàn vàn quỷ binh Lấy ra chưng đất Nam Bình Đại Hành sực thức gẫm tình mới hay Nửa đêm thấy một cơn mây Bạo phong hắc ám gió bay vội vàng Tống binh mất vía trở dường Chúng quỷ đánh gãy đao thương liền cờ Bỗng nghe mảng tiếng không hư Thần nhân hiện xuống có thơ ngâm rằng
Thi vân:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư Như hà Bắc lỗ cảm xâm phạm Hội kiến phong trần tận tảo trừ
Còn trong “Thiên nam ngữ lục” thì ghi chép rằng:
Bấy giờ binh mã sửa sang Địch cùng Nhân Bảo là thằng giặc Ngô Mười buôn binh mạnh thẳng đua Qua miền Giang Bắc, đây là Phù Lan Đêm thấy hai ngài đến màn Xưng danh là Hát, xưng danh là Hồng Giúp đời Triệu Việt có công Thuở chẳng như lòng, ẩn nội Phù Lan… Ơn trên Thượng đế xét thương Quyền cho chúa tể giữ phương yên này. Bây chừ bệ hạ đến đây Nguyện ra giúp nước phá này giặc Ngô Phán rằng: Tướng quan y như Công nên thời lập miêú thờ trả ơn Ngày sau Nhân Bảo ra quân Trên không nghe tiếng người ngâm thơ rằng: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm Hội kiến phong trần tận khử trừ
Vậy việc cho rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ là xuất phát từ đâu? Trong bài viết “Lịch sử, sự thật và sử học” được đăng trong báo Tổ Quốc, số 401 tháng 1/1988, Giáo sư Hà Văn Tấn có viết:
“Không có một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam
quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào
cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chống Tống ở vùng
sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền
thờ Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho
người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả
bài thơ. Nhưng đó chỉ là ‘đoán’ thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó
là của Lý Thường Kiệt.”
Lý
Thường Kiệt đã sử dụng “Nam quốc sơn hà” để khích lệ tướng sĩ, nhưng có
lẽ ông không phải là tác giả của “Nam quốc sơn hà”. (Ảnh: Bìa sách
Tranh truyện lịch sử Việt Nam – NXB Kim Đồng)
Trong cuốn sách “Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn”, Hội sử học Hà Nội đã cho rằng, “Nam quốc sơn hà” ra đời vào thời Tiền Lê và được Lê Hoàn sử dụng trong cuộc chiến chống lại cuộc xâm lăng lần thứ nhất của quân Tống năm 981.
Trong Tạp chí Hán Nôm, số 1-2002, bài viết “Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà” cũng đã khẳng định về thời gian, địa điểm ra đời của bài “Nam quốc sơn hà” thông qua việc phân tích 28 nguồn tư liệu khác nhau. Theo đó, “Nam quốc sơn hà” ra đời gắn liền với cuộc chiến chống Tống năm 981 và nhân vật lịch sử Lê Đại Hành (Lê Hoàn).
“Nam
quốc sơn hà” cũng gắn liền với cuộc chiến chống Tống lần thứ nhất và
vua Lê Đại Hành. (Ảnh: Bìa sách Tranh truyện lịch sử Việt Nam – NXB Kim
Đồng)
Bên cạnh đó, bài viết “Nam Quốc Sơn Hà và Quốc Tộ – Hai kiệt tác văn chương chữ Hán ngang qua triều đại Lê Hoàn” đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 5 năm 2005, Phó Giáo sư Bùi Duy Tân cũng đã khẳng định rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà” có từ thời Tiền Lê.
Tác giả của bài thơ
Dù các dẫn chứng lịch sử cho thấy “Nam quốc sơn hà” được ra đời vào thới kỳ đánh Tống lần thứ nhất năm 981, nhưng lại không hề có bằng chứng nào nói về tác giả của bài thơ trên.
Một
số người cho rằng tác giả có thể là thiền sư Đỗ Pháp Thuận bởi lẽ thời
đó vua Lê Đại Hành rất tin tưởng các thiền sư như Pháp Thuận, Định
Không, Vạn Hạnh, La Quý, Khuông Việt, Đa Bảo. Rất nhiều chinh sách đối
nội, cũng như kế hoạch đánh Tống, Chiêm Thành, vua Lê Đại Hành đều hỏi
qua các thiền sư trước rồi mới tiến hành làm. Kết quả đều rất tốt. Vua
Lê cũng muốn dùng Phật Pháp để giáo hóa muôn dân, giúp dân chúng thăng
hoa đạo đức, ổn định xã hội, giang sơn bền vững và cường thịnh.
Trong đó thiền sư Pháp Thuận là người “vận trù kế sách”
ngay từ lúc vua Lê Đại Hành sáng nghiệp. Hơn nữa nhiều văn thư quan
trọng thời ấy đều do thiền sư Pháp Thuận soạn thảo. Ông cũng là người
sáng tác ra nhiều thơ ca. Chính vì thế mà một số người cho rằng có thể
chính thiền sư Pháp Thuận là tác giả bài thơ này. Tuy nhiên đây cũng mới
chỉ là suy đoán.
Trần Hưng
Người phụ nữ giúp Trần Quốc Tuấn giữ chức “Quốc Công Tiết Chế” đánh bại quân Nguyên Mông
Trần Hưng
•
• 92.2k lượt xem
Theo
lịch sử ghi lại thì cha của Trần Quốc Tuấn là An Sinh Vương Trần Liễu
mang theo mối hận với vua, trước khi chết đã trăn trối với con rằng:
“Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng
không nhắm mắt được”
Điều này
Vua và Hoàng thân quốc thích nhà Trần đều biết rõ, nhưng vì sao nhà Vua
vẫn quyết định phong cho Trần Quốc Tuấn làm Quốc Công Tiết Chế – Tổng
chỉ huy quân đội đánh quân Nguyên Mông? Điều này không thấy trả lời rõ
trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhưng được nói rõ trong cuốn “Đông
A di sự” của Trần Triều Bình Chương Quốc Sư Băng Hồ Tướng Công Trần
Nguyên Đán. “Đông A di sự” là một bộ tài liệu nói về các chuyện trong
hoàng cung nhà Trần do những người trong hoàng cung ghi chép lại.
Câu chuyện mối hiềm khích trong nhà Trần
ADVERTISEMENT
Trong
lịch sử triều đại nhà Trần vào giai đoạn đầu, người nắm thực quyền
không phải là Vua, mà là Thái Sư Trần Thủ Độ, người có công lớn nhất đối
với nhà Trần khi ép nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng mới 7 tuổi phải nhường ngôi
cho chồng mình là Trần Cảnh mới 8 tuổi, từ đó lập ra nhà Trần. Quyền
lực thực chất nằm trong tay Trần Thủ Độ cho đến khi ông mất vào năm
1264.
Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là
Trần Thái Tông, phong hoàng hậu Lý Chiêu Hoàng là Chiêu Thánh hoàng hậu,
năm 15 tuổi sinh hoàng tử Trần Trịnh nhưng không may chết yểu, sau đó
hoàng hậu Chiêu Thánh không thể mang thai lại được nữa.
Cảnh trong phim “Thái sư Trần Thủ Độ”
Năm
1237 vua Trần Thái Tông mãi vẫn chưa có con, điều này khiến nhiều tôn
thất nhà Trần lo lắng hậu vận nhà Trần không có người nối dõi. Lúc này
anh ruột của Vua Trần Thái Tông là Trần Liễu có vợ là bà Thuận Thiên
đang có thai 3 tháng.
Trần Thủ Độ liền
ép bà Thuận Thiên phải làm vợ của vua Trần Thái Tông, tức ép Vua phải
lấy chị dâu đang mang thai. Sự việc này khiến nhà Vua và anh mình là
Trần Liễu đều phản đối kịch liệt không tuân thủ theo.
Nửa
đêm nhà Vua cùng hai cận thần trốn nên núi Yên Tử, gặp Quốc Sư Phù Vân
là bạn của mình ngỏ ý muốn nương nhờ cửa Phật, Quốc Sư trả lời rằng: “Trên núi không có Phật, mà Phật ở ngay trong tâm ta”.
Lúc
này Trần Thủ Độ dẫn quân tìm Vua và cuối cùng gặp được nhà Vua trên núi
Yên Tử, nhà Vua nhất quyết không chịu trở về cung. Trần Thủ Đội nói
rằng: “Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó”, rồi ra lệnh xây ngay cung điện trên núi nơi Vua ở.
Sợ
mất sự yên tĩnh nơi tu hành trên núi Yên Tử, Quốc sư Phù Vân khuyên vua
trở lại kinh thành và nhờ vậy, vua Trần Thái Tông cùng mọi người quay
trở lại hoàng cung.
Trần Liễu uất ức
vì bị mất vợ, nhân lúc Trần Thủ Độ dẫn quân đi tìm vua liền đem quân của
mình đến đánh chiếm kinh thành. Thế nhưng Trần Thủ Độ khi dẫn quân đi
tìm Vua đã đề phòng có biến, nên dặn dò sắp đặt trước mọi việc cho các
tướng lĩnh giữ thành. Vì thế quân Trần Liễu chưa kịp tới kinh thành thì
đã bị bao vây.
Không đủ sức chống lại
quân Triều Đình, Trần Liễu bỏ chạy, biết rằng khó thoát tội chết, lại
nghĩ rằng bây giờ chỉ có em mình là vua Trần Thái Tông mới cứu được
mình, liền hẹn vua ở sông Cái, rồi Trần Liễu đem thân đầu hàng trước
Vua. Tới khi gặp Trần Thủ Độ, nhà Vua đem thân mình che chở bảo vệ cho
anh mình khiến cho Trần Thủ Độ không làm gì được.
Trần Thủ Độ tức lắm ném gươm xuống sông và nói: “Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?”.
Trần
Liễu được tha nhưng quân tướng đi theo ông thì bị xử tội chết hết cả.
Sau sự việc này anh em Trần Liễu và Trần Cảnh đã xóa hiềm khích. Tuy
nhiên Trần Liễu vẫn dấu mối hận trong lòng, nhất là vợ mình là Thuận
Thiên khi trở thành vợ vua ngoài sinh được Trần Quốc Khang còn sinh ra
Trần Hoảng (sau này là vua Trần Thánh Tông), Trần Quang Khải, Trần Nhật
Vĩnh, Trần Ích Tắc.
Trần Quốc Tuấn (Tranh minh họa)
Trần
Liễu có đứa con thứ ba là Trần Quốc Tuấn rất khôi ngô tuấn tú, Trần
Liễu hy vọng đứa con này sau này có thể rửa mối hận cho mình, vì thế ông
từ sớm đã đưa Quốc Tuấn đến thành Thanh Long ăn học ở nhà em gái mình
là Thụy Bà công chúa, tìm thầy giỏi về dạy học cho Quốc Tuấn, nhờ đó
ngay từ thời trẻ Trần Quốc Tuấn đã giỏi võ và thông thạo binh pháp.
Trước khi qua đời Trần Liễu trăn trối với Trần Quốc Tuấn rằng: “Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”
Năm
1257 đứng trước nguy cơ quân Nguyên Mông sang xâm lược đại Việt, các
tướng sĩ đề xuất cần có người làm Tiết chế binh mã, vua Trần Thái Tông
định trao chức vụ quan trọng Tiết chế cho Trần Quốc Tuấn. Vì đâu vua
Trần có được niềm tin này?
Việc trao binh quyền cho Trần Quốc Tuấn bắt đầu từ câu chuyện dưới đây:
Câu chuyện đánh cuộc tử vi nổi tiếng nhà Trần
Nước
Tống có một vị quan đậu đến tiến sĩ, rất thông tỏ thiên văn, tử vi là
Hoàng Bính, khi quân Nguyên Mông sang đánh Tống, ông hiểu rằng nhà Tống
đã hết thời, tử vi nhiều quốc thích dòng tộc nhà Tống rất xấu, lại chết
cùng năm. Nhìn về phương nam thấy nơi ấy sáng tỏ tất có thể cư ngụ.
Tháng
giêng năm 1257, Hoàng Bính đưa toàn bộ gia tộc khoảng 2.000 người đến
Đại Việt xin được lập nghiệp. Vua Thái Tông được tin liền cho đưa về
kinh. Cảm nhận thấy vua cùng các đại thần vẫn còn nghi ngại về mình.
Hoàng Bính lấy tay chỉ lên trời mà rằng: “Trời Nam… linh khí ngùn
ngụt, thánh nhân giáng trần, cầm gươm đuổi ác quỷ, đó là nơi có thể an
thân. Vì vậy thần mới đem tông tộc sang xin bệ hạ cho núp bóng hoàng
long”.
Lại nói Hoàng Bính có cô
con gái út mới 16 tuổi tên là Hoàng Chu Linh hết sức tài giỏi, thông
hiểu tử vi, học một hiểu mười. Trở về kinh thành, được biết Hoàng Bính
rất giỏi tử vi, nhiều người muốn ông xem, nhưng Hoàng Bính lại để con
gái của mình là Chu Linh xem cho mọi người.
Chu
Linh xem cho mọi người đều vô cùng chuẩn xác, khiến ai cũng khâm phục.
Lúc này Thái Sư Trần Thủ Độ mới tìm cách thử tài Chu Linh, câu chuyện
này được ghi chép trong Đông A Di Sự.
Chu Linh (Tranh minh họa)
Nhà Vua chỉ vào Trần Thủ Độ nói: “Hoàng
cô nương! Đây là lão Vũ Thủy. Lão vốn cùng quê với quả nhân. Vì lão có
tài trồng hoa, nên quả nhân trao cho lão coi vườn Thượng uyển. Xin cô
nương coi dùm xem lão còn sống được mấy năm nữa!”
Rồi lão Vũ Thủy (tức Trần Thủ Độ) cho biết mình sinh vào giờ Tỵ, ngày 6 tháng 6, năm giáp dần 1194.
Sau khi bấm tay, Chu Linh nói: “À! Lão tiên sinh đùa tiểu nữ đây! Đến đấng chí tôn cũng thử tiểu nữ nữa”. Nàng nói bằng giọng nũng nịu, khiến cử tọa đều rung động.
Chu Linh đoán: “Cứ
như tướng tiên sinh: Dáng đi như con diều hâu rình mồi, mắt hổ, đầu
lân, tay vượn… Thì e tiên sinh chỉ ngồi dưới một người, mà trên vạn vạn
người. Còn số Tử vi, để tiểu nữ tính xem.”
Lúc
này Hoàng Bính mới xen vào câu chuyện cùng Trần Thủ Độ đánh cuộc, nếu
Chu Linh đoán đúng hết thân thế sự nghiệp thì Trần Thủ Độ phải thực hiện
3 yêu cầu của Chu Linh; còn ngược lại đoán không đúng thì Hoàng Bính
cùng toàn bộ gia tộc trở về tộc.
Triều
đình giật mình, vì không ngờ Hoàng Bính dám đánh cuộc lớn quá như vậy.
Nhà Vua định bảo Thủ Độ bỏ cuộc, nhưng Trần Thủ Độ đồng ý đánh cuộc.
Sau một lúc bấm ngón tay, Chu Linh nói:
“Mệnh
của tiên sinh lập tại Dần, Tử, Phủ thủ mệnh. Tử vi, Thiên phủ đều là đế
tinh. Vì vậy tiên sinh thuộc loại mệnh cực lớn. Tiên sinh sinh ra đúng
thời, là người tạo ra thời thế. Tất cả thăng trầm của Đại Việt trong
vòng 50 năm qua, đều do một tay tiên sinh nắn bóp thành voi, thành hổ,
tùy ý.
Tiên
sinh tuổi Dần, mệnh lập tại Dần, thì trong người có đến hai ông kễnh
thủ mệnh, lại thêm sao Thiên hình phù trì. Tử vi kinh nói: Hình hổ cư
Dần, hổ đới kiếm hùng, tương phùng đế cách, ư Giáp Kỷ nhân, uy vũ trấn
động. Nghĩa là: Người có Thiên hình, với Bạch hổ, hay tuổi Dần, là cách
hổ đeo kiếm hùng. Người tuổi Giáp, tuổi Kỷ, uy vũ trấn động. Có điều
tiên sinh được Lộc tồn thủ mệnh, Hóa lộc cư quan, là cách song lộc, thì
là người chuyên quyền.
Thiên
hình miếu địa ở mệnh, thì dù tiên sinh chịu ơn ai một bát cơm, sau sẽ
trả bằng một kho thóc. Bị ai mắng một câu, sau này tiên sinh sẽ tru di
tam tộc nhà người ta.
Cung
thê của tiên sinh có Phá quân, ngộ Hóa quyền, Thai, lại bị Kiếp, Không
chiếu thì duyên tình của tiên sinh rối như mớ bòng bong. Cho đến giờ này
cũng chưa xong, còn chạy như ngựa nhong nhong.
Năm
trên mười tuổi, tiên sinh gặp một người. Rồi hai người thề non, hẹn
biển, định cuộc trăm năm, không cần mai mối, cũng chẳng thỉnh mệnh cha
mẹ. Mà dù cha mẹ có cản trở, tiên sinh cũng không nghe nào!
Hai
người xa nhau. Nàng tuân lệnh cha mẹ lấy chồng. Tiên sinh hóa điên, hóa
khùng, nhưng nhất quyết trung thành với nàng. Vì vậy khi chồng nàng qua
đời, tiên sinh với nàng nối lại tình xưa. À, có một điều tiểu nữ nói
tiên sinh đừng giận. Kể về uy quyền, thì tiên sinh thuộc loại vương bất
vi vương, bá bất vi bá, nhi quyền khuynh thiên hạ.Nghĩa rằng tiên sinh
chẳng là vua, cũng chẳng là bá, mà quyền nghiêng thiên hạ. Thế nhưng,
bất cứ một người ở địa vị cao sang cũng năm thế bẩy thiếp. Riêng tiên
sinh thì chỉ biết có một phu nhân mà thôi!
Cung
quan của tiên sinh có Liêm trinh, Thiên tướng, thì tiên sinh là người
võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Danh tiếng bốn bể. Nhưng tiếc
rằng cung quan ngộ Thiên không, nên tiên sinh hành sự bất chấp luật
pháp, chẳng kể đạo lý. Có lúc tiên sinh thành người nửa chính, nửa tà,
nửa ma, nửa quỷ. Tiểu nữ e muôn nghìn năm sau còn bị dị nghị. Nhưng… dù
ai dị nghị, thì chỉ dị nghị về cá nhân tiên sinh. Còn đối với đất nước,
quả thật công nghiệp cũng như tấm lòng của tiên sinh sáng như trăng rằm,
không ai chê trách được.”
Lúc này Hoàng Bính hỏi Thủ Độ: “Thưa tiên sinh, xét số tiên sinh, thì tiên sinh chính là Thái sư Trần Thủ Độ”.
Nhà vua tuyên chỉ: “Thái sư thua Hoàng cô nương rồi. Vậy Thái sư phải làm cho cô nương ba điều đi thôi.”
Chu Linh nói điều ước thứ nhất của mình là mong toàn thể gia đình được ở Đại Việt, 2 điều ước còn lại sẽ nói sau.
Lúc
này Hoàng Bính mới quỳ trước Vua và nói rằng: Chuyến về Thăng long này,
mục đích của ông là dâng con gái cho nhà vua, để tỏ lòng trung với Trần
triều. Lập tức nhà vua ban chế phong Hoàng Chu Linh là Huệ Túc phu
nhân.
Người phụ nữ củng cố tinh thần kháng Nguyên và giúp Trần Quốc Tuấn đảm nhiệm Tiết chế binh mã
Năm
1257 quân Mông Cổ chuẩn bị tiến đánh Đại Việt, nhiều người lo lắng. Huệ
Túc Phu Nhân lúc này thấy lá số của nhiều tôn thất trong Hoàng tộc đều
rất vẻ vang, nhiều người là anh hùng, bèn khuyên nhà Vua nên quyết tâm
chống giặc.
Bà cũng thấy rõ Trần Quốc
Tuấn là anh hùng dân tộc, sự nghiệp và tên tuổi của ông sẽ lưu lại thiên
thu, nên dù cho mâu thuẫn gia tộc bà cũng khuyên nhà vua nên giao chức
Tiết Chế cho Trần Quốc Tuấn.
Huệ Túc Phu Nhân tâu với Vua rằng:
“Thiếp xem Tử Vi cho các thiếu niên trong Hoàng Tộc thấy họ đều là các
vị anh hùng xã tắc mai sau. Sự nghiệp của Quang Khải, Quốc Tuấn mai sau
rực rỡ vô cùng. Số của Quốc Tuấn là số của một vị anh hùng, là bậc thánh
nhân chắc không có việc tạo phản đâu. Trong số các vị thái tử, thiếp
chỉ lo có số của Trần Ích Tắc, tuy thông minh, nhưng sau này hình khắc
lục thân, trôi nổi…”
Trần Ích Tắc (Tranh minh họa)
Huệ
Túc Phu Nhân cũng thấy rõ lá số của Trần Quốc Tuấn là người thông tuệ,
tấm lòng sáng tỏ như đôi vầng nhật nguyệt, tuyệt đối không thể làm phản
nên hết lòng tiến cử Quốc Tuấn, và nhà Vua đã tin tưởng nghe theo lời bà
mặc cho có lời bàn tán.
Nhờ đó, Trần
Quốc Tuấn được cất nhắc làm Tiết Chế, tổng chỉ huy quân đội ngay từ lần
chống quân Mông Cổ lần thứ nhất. Vào cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần
thứ 2. Khi 50 vạn quân Nguyên tiến sang, phía nam Toa Đô dẫn 20 vạn quân
đánh ngược lên, người giữ thành Nghệ An là Trần Kiện cùng toàn bộ gia
quyến đã đưa toàn quân đầu hàng giặc. Quân giặc từ hai hướng Bắc Nam như
hai gọng kìm siết chặt, Đại Việt rối bời.
Lúc
này nhiều người nói với Trần Quốc Tuấn rằng đây là cơ hội tốt nhất để
trả thù cho cha. Thế nhưng Trần Quốc Tuấn bỏ ngoài tai hết, kể cả những
lời nhắc nhở của con trai và người thân khác về thù nhà. Ông dốc lòng
đem tài thao lược của mình với kế sách “vườn không nhà trống”, “dùng
đoản binh phá trường trận”, từng bước lấy lại thế trận đánh bại 50 vạn
đại quân Nguyên Mông, giữ vững giang sơn xã tắc nước Đại Việt.
Nếu
như không có lời tiến cử của Huệ Túc Phu Nhân, không có lòng trung
trinh của Trần Quốc Tuấn, thì có lẽ lịch sử Đại Việt đã thay đổi.
Trần Hưng
Biết trước vận mệnh, các bậc danh nhân kỳ tài xưa vẫn không thể thay đổi nó
Trần Hưng
•
• 49.1k lượt xem
Biết trước vận mệnh, các bậc danh nhân kỳ tài xưa đã làm gì để thay đổi nó?
Trong
lịch sử Việt Nam và Trung Hoa, có nhiều vị tướng kỳ tài có khả năng tri
mệnh (biết trước được vận mệnh) như Trần Nguyên Đán và Gia Cát Lượng.
Dù có tài năng như vậy, nhưng họ có thể làm gì để thay đổi vận mệnh theo
ý mình?
Trần Nguyên Đán làm gì để cứu nhà Trần và cháu ngoại của mình là Nguyễn Trãi?
Cuối đời nhà Trần, Hồ Quý Ly được thăng quan tiến chức rất nhanh, nổi lên là một quyền thần trụ cột, thao túng triều chính.
Theo
lịch sử thì hai bà cô ruột của Hồ Quý Ly (cũng là hai chị em ruột) đều
là Hoàng phi của vua Trần Minh Tông. Bà Minh Từ sinh ra vua Trần Hiến
Tông và vua Trần Nghệ Tông, còn bà Đôn Từ thì sinh ra vua Trần Duệ Tông.
Sau, con gái của Hồ Quý Ly lại là Hoàng hậu của vua Trần Thuận Tông. Em
gái họ của Hồ Qúy Ly lấy Trần Duệ Tông, sinh ra Trần Phế Đế.
ADVERTISEMENT
Dựa
vào mối quan hệ hôn nhân phức tạp này, Hồ Qúy Ly thao túng nhà Trần,
nhiều tôn thất nhà Trần biết đây là mối họa lớn nhưng không sao diệt trừ
được.
Hồ Quý Ly (Ảnh minh họa)
Trụ
cột của nhà Trần lúc đó là quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán xem lá số tử vi
Thái Thượng Hoàng Nghệ Tôn thấy có Vũ Phá thủ mệnh, coi người thân như
cừu thù, coi kẻ ác như ruột gan chắc chắn sẽ nghe Hồ Quý Ly; lại thấy
Quý Ly có Tử Phá thủ mệnh, biết y sẽ cướp ngôi, và nhà Trần mất.
Biết
trước được điều này, Trần Nguyên Đán đã làm gì để thay đổi vận mệnh cho
nhà Trần? Ông đã hết lòng khuyên can Thượng Hoàng, nhưng những lời lẽ
ruột gan của ông không được Thượng Hoàng nghe theo.
Khi
Thượng Hoàng Nghệ Tôn gả công chúa cho Hồ Quý Ly, thì Trần Nguyên Đán
hết sức khuyên can, ông còn làm bài thơ “Thập cầm” (Mười giống chim)
cảnh tỉnh Thượng Hoàng hãy cảnh giác với “con quạ già hiểm độc” (chỉ Hồ
Quý Ly). Trong bài thơ có câu:
Nhân ngôn ký gửi dữ lão nha Bất thức lão nha liên ái phầu
Tạm dịch là:
Gửi con cho lão quạ già Biết là lão quạ thương là mấy thương
Cảnh
tỉnh Thượng Hoàng không được, ông biết vận mệnh nhà Trần đã hết, ông
quyết định về Côn Sơn (Hải Dương) dạy học. Trước khi đi ông kết thân với
Hồ Quý Ly, giao các con mình Mộng Dữ, Thúc Giao và Thúc Quỳnh cho Hồ
Quý Ly.
Đáp lại, Hồ Quý Ly cũng đem
con gái là Hoàng Trung gả cho Mộng Dữ và cho Mộng Dữ làm chức Đông cung
phán thủ. Thúc Giao và Thúc Quỳnh đều được làm Tướng quân.
Chính
vì thế mà cho đến tận ngày nay, nhiều người chê trách Trần Nguyên Đán
về việc này, nhiều người gia tộc họ Trần xem hành động này của ông là
phản bội là nhà Trần.
Thực ra cũng
không thể trách Trần Nguyên Đán được, ông đã biết trước tương lai và đã
làm tất cả những gì có thể làm được, nhưng ông cũng biết rằng đã là vận
mệnh thì sức người không thể thay đổi, dù biết trước cả nhưng không thay
đổi được, nên đành thuận thiên mà hành động thội. Việc ông kết thân với
Hồ Quý Ly là nhằm bảo vệ gia tộc họ của mình khỏi bị tận diệt khi Hồ
Quý Ly cướp ngôi.
Đúng như dự đoán của
Trần Nguyên Đán, năm 1399 Hồ Quý Ly cho thanh trừng 370 tướng lĩnh tôn
thất nhà Trần, dẹp tan thế lực nhà Trần, năm 1400 thì lên ngôi Vua.
Tuy
nhiên gia đình Trần Nguyên Đán thì không hề bị Hồ Quý Ly đụng đến, nhờ
thế cháu nội và cháu ngoại của ông là Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi mới
có điều kiện ăn học thành tài, sau này đều là anh hùng dân tộc.
Trần
Nguyên Đán khi xem lá số của Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi biết 2 cháu
mình sau này sẽ thành nghiệp lớn. Với Trần Nguyên Hãn thì ông không lo
lắng lắm, nhưng ông lại rất lo cho Nguyễn Trãi vì đứa cháu ngoại này có
số bị chết cả 3 họ, ông chỉ có thể dặn dò Nguyễn Trãi rằng “chiếm thành thì lui binh”.
Quả
nhiên sau này hai người cháu của ông đều là trụ cột hàng đầu cho nghĩa
quân Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn thuộc dòng quan võ, làm đến Thái Úy chỉ
huy toàn bộ các tướng lĩnh. Đặc biệt Nguyễn Trãi là người hoạch định và
ra toàn bộ các kế sách giúp quân Lam Sơn đánh đuổi quân Minh là giành
lại được giang sơn đất nước.
Nguyễn
Trãi dâng lên Lê Lợi Bình Ngô sách tại căn cứ khởi nghĩa Lam Sơn. Tranh
minh họa: Hoàng Hoa Mai. Ảnh dẫn từ kienthuc.net.n
Khi chiến thắng quân Minh, nhớ lại lời ông ngoại của mình từng dặn dò kỹ “chiếm thành thì lui binh”,
Nguyễn Trãi bèn xin về Côn Sơn ở ẩn. Thế nhưng vận mệnh khó tránh, ông
vẫn bị bắt ra làm quan. Vì làm quan thanh liêm chính trực, Nguyễn Trãi
bị các đại thần ghen ghét vu cho ông tội giết Vua trong vụ án “Lệ chi viên” khiến ông bị tru di tam tộc.
Lời
dự đoán ngày nào của Trần Nguyên Đán đã ứng nghiệm, ông dù biết rất rõ,
đã căn dặn Nguyễn Trãi cẩn thận, Nguyễn Trãi cũng đã làm theo, nhưng
quả nhiên mệnh trời khó tránh.
Cũng
như Nguyễn Trãi, sau khi đánh thắng quân Minh, Trần Nguyên Hãn xin về
quê ở ẩn, thế nhưng nhiều kẻ ghen ghét nói ông có khả năng mưu phản, vua
Lê Lợi sai người đến đưa ông về kinh thành chịu tội.
Theo lịch sử thì trên đường về kinh thành, khi đến bến Đông Hồ trên dòng sông Lô. Trước khi chết, Trần Nguyên Hãn nói: “Tôi
với hoàng thượng cùng mưu cứu nước, cứu dân, nay sự nghiệp lớn đã
thành, hoàng thượng nghe lời gièm mà hại tôi. Hoàng thiên có biết xin
soi xét cho”. Nói rồi ông trầm mình xuống sông tự vẫn.
Thế
nhưng theo dòng tộc họ Trần truyền lại thì khi đến giữa sông, Trần
Nguyễn Hãn đã giết mấy tên sai nha, tự làm đắm thuyền giống như mình đã
tự vẫn, rồi bơi trở vào bờ.
Còn theo dân gian thì khi thuyền đến xã Đông Sơn, ông ngửa mặt khấn trời rằng: “Tôi với Vua cùng mưu việc cứu dân. Việc lớn đã hoàn tất mà Vua lại muốn giết tôi. Hoàng Thiên có biết thì xin soi xét cho”.
Ông
vừa khấn xong thì bỗng nhiên gió lớn nổi lên, lật úp cả thuyền xuống.
Bốn mươi hai xá nhân đều chết đuối cả, riêng ông cùng hai gia đồng lại
trôi dạt được vào bờ và thoát chết.
Lời
tiên đoán của Trần Nguyên Đán về Trần Nguyên Hãn cũng lại ứng nghiệm,
ông đã thấy trước nạn của Trần Nguyên Hãn nhưng lại không lo lắm, mà chỉ
lo cho Nguyễn Trãi.
Tượng Trần Nguyên Hãn (Ảnh: Wikipedia)
Chuyện tương lai Gia Cát Lượng đều hiểu rõ, ông đã làm gì?
Gia Cát Lượng là bậc quân sư kỳ tài thời hậu Hán, tài năng và của ông đều còn lưu truyền đến ngày nay.
Về
chuyện Tam quốc, đến nay rất nhiều người lấy làm tiếc vì nhà Thục không
thống nhất được thiên hạ. Nhiều người tiếc nuối, giá như không có cơn
mưa lớn ở hang Thương Phương cứu cha con Tư Mã Ý cùng đại quân Ngụy; nếu
như khi Gia Cát Lượng đánh bại quân Tư Mã Ý chuẩn bị tiến đến kinh
thành nước Ngụy, Thục Chủ là Lưu Thiện đừng nghe lời xàm tấu bắt gọi Gia
Cát Lượng kéo quân về nửa chừng thì mọi nguyện đã khác.
Thế nhưng thực hư chuyện này là do dâu?
Gia Cát Lượng (Tranh: wevina.vn)
Khi
Lưu Bị lên lều cỏ tìm Gia Cát Lượng giúp mình, Gia Cát Lượng nhận thấy
vận mệnh nhà Hán đã hết, nhưng trước sự kiên nhẫn của Lưu Bị, ông quyết
định giúp Lưu Bị.
Sáu lần xuất binh ra Kỳ Sơn phạt ngụy, trên đường hành quân trên xe ngựa ông đã viết “Mã tiền khóa” dự đoán tương lai hàng trăm năm sau.
Mở đầu “Mã tiền khóa”, Gia Cát Lượng đã viết trong khóa thứ nhất rằng:
Vô lực hồi thiên Cúc cung tận tụy Âm cư Dương phất Bát thiên nữ quỷ
Tạm dịch là:
Không sức đổi Trời Còng mình gắng sức Âm tồn Dương phất Tám ngàn nữ quỷ
“Vô lực hồi thiên, Cúc cung tận tụy” là nói bản thân Gia Cát Lượng, như ông viết trong “Xuất sư biểu”: “Thần cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi”. “Âm cư Dương phất” chỉ hoạn quan Hoàng Hạo loạn quyền, Khương Duy chỉ có thể duy trì tàn cục chứ không thể làm gì được.
Câu cuối “Bát thiên nữ quỷ”:
Chữ “Bát” (八) thêm chữ “thiên” (千) thêm chữ “nữ” (女) rồi thêm chữ “quỷ”
(鬼), hợp thành một chữ “Ngụy” (魏) ý nói nhà Ngụy sẽ thống nhất thiên
hạ.
Gia Cát Lượng dù khi ấy đang trên
đường hành quân đánh Ngụy, nhưng ông đã biết trước rằng nhà Ngụy rồi sẽ
thống nhất thiên hạ, bản thân ông dù biết trước cũng “không sức đổi trời”, chỉ có thể “cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi”.
Khóa thứ hai trong “Mã tiền khóa” cho thấy ông biết trước kết thúc tam quốc phân tranh, nhà Tấn sẽ lên ngôi
Hỏa thượng hữu hỏa Quang chúc Trung Thổ Xưng danh bất chính Giang Đông hữu hổ
Tạm dịch là:
Trên lửa có lửa Rọi sáng Trung Thổ Xưng danh bất chính Giang Đông có hổ
“Hỏa thượng hữu hỏa”, trên “hỏa” (火) có “hỏa” (火) tức hai chữ hỏa trên dưới tạo thành chữ “Viêm” (炎). Chỉ Tư Mã Viêm lập nên triều Tấn.
“Xưng danh bất chính”
chỉ triều Tấn của Tư Mã Viêm thực chất là soán ngôi Tào Ngụy mà kiến
lập, mà Tào Ngụy lại là soán ngôi triều Hán mà kiến lập, danh không
chính ngôn không thuận.
“Giang Đông hữu hổ” chỉ Đông Tấn thành lập, đóng đô tại Kiến Khang thuộc Giang Đông.
Chính vì “Không sức đổi trời”
nên khi Gia Cát Lượng lừa cha con Tư Mã Ý cùng đại quân nước Ngụy đến
hang Thượng Phương, quân Thục dùng hỏa quân thiêu quân Ngụy. Không còn
đường thoát, cha con Tư Mã Ý ngửa mặt lên trời gào khóc chờ chết, đột
nhiên một cơn mưa lớn đổ ập xuống cứu thoát nước Ngụy.
Kỳ
sơn tháng 9 không bao giờ có mưa, nhưng trời lại mưa một lần duy nhất,
và đó chính là cơn mưa cứu nước Ngụy. Điều đó thể hiện rằng ngọn lửa tài
năng nhiệt huyết của con người không thể nào thắng được cơn mưa của
trời.
Cảm thán trước sự việc này “Tam quốc diễn nghĩa” đã có thơ rằng:
Cửa hang gió cát với mây bay Mưa xối mây đen kéo lại đây Võ Hầu kế diệu ví thành đạt Tấn triều sao chiếm núi sông này?
(Võ Hầu tức chỉ Gia Cát Lượng)
Nước
Thục phía sau được bao bọc bởi núi Âm Bình hiểm trở không thể vượt qua,
thế nhưng Gia Cát lượng cũng biết trước nhà Thục sẽ mất ở chính đường
qua núi Âm Bình này, chính vì thế ông luôn báo trước cho các tướng việc
này, đồng thời căn dặn khi nào cũng phải có quân túc trực phòng bị trên
núi.
Thế nhưng “người tính không bằng trời tính”,
sau khi Gia Cát Lượng mất, các tướng nhà Thục nhận thấy đường qua núi
Âm Bình vô cùng hiểm trở, không thể đi đường này mà đánh nước Thục được
nên bỏ qua, không cho quân canh giữ nữa.
Khi
quân Ngụy tiến đánh nhà Thục, cánh quân Chung Hội tiến đánh phía trước,
Khương Duy đưa toàn quân ra phía trước chặn Chung Hội, phía sau là núi
Âm Bình hiểm trở không có ai canh giữ.
Đặng
Ngải dẫn một cánh quân Ngụy theo đường núi này, liều chết qua núi, qua
được ngọn núi này thì quân sĩ chết gần hết, chỉ còn 500 quân tiến vào
kinh đô nhà Thục. Quân chủ lực nhà Thục không còn để chống lại, Thục Chủ
đầu hàng, nhà Thục mất.
Lời tiên đoán
của Gia Cát Lượng đã ứng nghiệm, ông đã biết trước tất cả nhưng chỉ có
thể làm được vậy, không thể thay đổi ý trời được.
Nhiều
danh nhân trước đây đều có khả năng tri thiên mệnh, họ thành đại nghiệp
là nhờ ‘thuận thiên’ mà làm, tức thuận theo số mệnh mà làm chứ không
phải thay đổi số mệnh
Ngoài Gia Cát
Lượng và Trần Nguyên Hãn, trong lịch sử còn có một số danh nhân khác có
khả năng tri mệnh như Trương Lương và Tôn Tử.
Vào
cuối thời nhà Tần, nhiều người lập cát cứ nổi lên chống Tần, Lưu Bang
lúc đó không phải là thế lực mạnh nhất, nhưng Trương Lương biết rõ Lưu
Bang có chân mạng Đế Vương nên đi theo phò tá. Kết quả Lưu Bang dù yếu
thế hơn Sở Bá Vương Hạng Võ nhưng vẫn giành thắng lợi, lên ngôi Hoàng
Đế.
Sở Bá Vương dù hùng mạnh “thiên hạ vô song” nhưng cuối cùng vẫn đại bại (Ảnh: saimonthidan.com)
Nhiều
người nói rằng Lưu Bang lên ngôi là nhờ có quân sư Trương Lương phò
giúp, nhưng giả sử như Trương Lương theo giúp người khác thì sẽ không
thành được, vì người khác không có chân mạng Đế Vương.
Nhà
tiên tri thiên tài là Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh vào thời loạn lạc, khi làm
quan cho nhà Mạc, thấy nhiều quan lại cường quyền bức hại dân chúng,
ông đã làm sớ dâng vua xin trị tội 18 kẻ nịnh thần, chém đầu làm gương.
Thế nhưng nhà Vua chỉ mải thú vui bên các lời xu nịnh mà không nghe lời
ông. Ông biết nhà Mạc đã mạt, thời thế loạn lạc, không có ai đáng để
theo phò giúp nên về quê ở ẩn.
Người xưa đã đúc kết lại rằng: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, mệnh trời khó cãi”.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét