Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 276
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Phạm Ngọc Thảo huyền thoại tình báo Việt Nam
Kế hoạch Citadel và bí mật điệp viên Wether
Hồng Sơn |
1
Chiến thắng của Hồng quân đã được bảo đảm từ ngày
12-4-1943 trước đó, khi tình báo Xô-viết đặt trên bàn của Stalin kế
hoạch của chiến dịch “Citadel” về âm mưu phản công của quân Đức tại
Kursk, trên đó có chữ ký của những tướng lĩnh hàng đầu của quân phát
xít.
Người biến điệp viên Liên Xô thành công dân Mỹ Ngôi sao điện ảnh Đức là điệp viên của tình báo Xôviết Ngày 23-8-1943 là ngày đánh dấu sự kết thúc một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất trong Đại chiến thế giới thứ hai. Trong
vòng một tháng rưỡi đối đầu với Hồng quân Xôviết tại khu vực vòng cung
Kursk, phát xít Đức gần như đã cạn kiệt sinh lực tại mặt trận phía Đông –
500 ngàn binh sĩ chết và bị thương, 1.500 xe tăng và 1.700 máy bay bị
tiêu diệt. Từ thời điểm bước ngoặt này, quân đội của Hitler đã không thể
gượng dậy, bắt đầu buộc phải rút lui trên khắp mặt trận phía Đông. Trên
thực tế, chiến thắng của Hồng quân đã được bảo đảm từ ngày 12-4-1943
trước đó, khi tình báo Xôviết đặt trên bàn của Stalin kế hoạch của chiến
dịch “Citadel” về âm mưu phản công của quân Đức tại Kursk, trên đó có
chữ ký của những tướng lĩnh hàng đầu của quân phát xít. Bản thân Hitler
cũng phải 3 ngày sau đó mới được nhìn thấy kế hoạch trên. Cho tới
bây giờ, tên tuổi chính xác của điệp viên nằm trong bộ tham mưu thân cận
nhất của Hitler đã chuyển bản kế hoạch “Citadel” cho Moscow vẫn chưa
được giải mật. Người ta chỉ biết nhân vật này có mật danh “Wether”. Có
nhiều giả thuyết khá thú vị về nhân vật bí ẩn này… Rudolf Roessler – Người bán tin tuyệt mật Nhiều
người cho rằng, đóng vai trò chính trong việc lấy cắp tài liệu quan
trọng về kế hoạch “Citadel” từ Berlin chính là Rudolf Roessler, chủ nhân
của nhà xuất bản Vita Novi. Đó là một người đàn ông Đức, di cư tới Thụy
Sĩ sau khi Hitler lên nắm quyền. Tại đây, ông mở một nhà xuất bản nhỏ
làm bình phong cho hoạt động khai thác và buôn bán thông tin tình báo.
Rudolf Roessler.
Tháng
11-1942, ông tự đề nghị được hợp tác với Cơ quan tình báo quân đội
Xôviết (GRU) với mật danh Lucy. Roessler đã trao cho GRU không chỉ có
bản kế hoạch “Citadel”, mà còn bản vẽ loại xe tăng Panthera cùng nhiều
thông tin giá trị khác. Khác với phần lớn các điệp viên Xôviết ở
nước ngoài, Roessler không phải là một đảng viên cộng sản. Ông chỉ hợp
tác bằng việc bán lại thông tin và được coi là điệp viên được trả công
cao nhất trong lịch sử tình báo Xôviết. Một số tờ báo phương Tây khẳng
định, Roessler đã nhận được gần 500 ngàn đôla chỉ riêng cho kế hoạch
“Citadel”. Roessler được đánh giá là một nhân vật khá bí ẩn trong
làng tình báo thế giới. Khi quân Đức bắt đầu xâm chiếm châu Âu, ông ban
đầu chỉ buôn bán các tài liệu mật với các cơ quan mật vụ của Anh, Thụy
Sĩ và Mỹ; sau đó mới quyết định hợp tác với Liên Xô. Vì theo như lời
ông, “chỉ có Liên Xô mới có khả năng giành thắng lợi trong cuộc chiến
này”. Cho đến tháng 5-1944, GRU thậm chí còn chưa biết đến cả tên
thật của Roessler. Từng tham gia vào Đại chiến thế giới thứ nhất, nên
Roessler đã chiến đấu và quen biết với một số lớn các sĩ quan cao cấp
của Đế chế thứ ba. Không có gì ngạc nhiên, khi ông đã gây dựng
được những nguồn tin đặc biệt ngay trong bộ tham mưu của Hitler. Theo
đánh giá, điệp viên Wether nhiều khả năng nằm trong số nguồn tin này của
Roessler. Nhưng bất chấp mọi yêu cầu của GRU, Roessler không chịu tiết
lộ tên tuổi thực sự các nguồn tin của mình. Nhờ thông tin kịp thời
của Roessler, bộ chỉ huy quân đội Hồng quân đã kịp thời bổ sung lực
lượng, xây dựng hệ thống phòng thủ vững chắc, đồng thời chuẩn bị sẵn kế
hoạch phản công để giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch Kursk.
Tham gia hỗ trợ Roessler trong việc liên lạc còn có nữ nhân viên điện
đài Margarita Bolli. Tình báo Đức đã nhanh chóng nhận ra sự nguy
hiểm của Roessler, nên cử nhân viên tới Thụy Sĩ tìm cách lật tẩy mạng
lưới tình báo của ông. Nhân vật này đã quyến rũ Bolli, lấy được bản mật
mã làm bằng chứng để gửi cho nhà chức trách Thụy Sĩ. Mùa thu năm 1943,
Bolli bị cảnh sát Thụy Sĩ bắt giữ, trước khi Roessler cũng bị sa lưới
vào tháng 5-1944. May mắn cho họ là Thụy Sĩ vì không muốn làm hỏng
mối quan hệ với Liên Xô, nên đã khước từ yêu cầu dẫn độ của Berlin. Nhờ
đó, Roessler được xử trắng án, còn Bolli chỉ phải nhận bản án 9 tháng
tù treo cùng khoản tiền phạt nhỏ. Được biết sau chiến tranh,
Roessler vẫn tiếp tục cung cấp các thông tin tình báo cho Liên Xô. Vài
năm sau, ông lại bị bắt và giam giữ một năm. Ra tù chưa đầy một năm,
điệp viên đắt giá nhất của tình báo Xôviết qua đời ở tuổi 61. Heinrich Hoffmann – Nhiếp ảnh gia thân cận nhất của Hitler Theo
đánh giá, phải là một nhân vật cực kỳ thân cận với Hitler và bộ tham
mưu của trùm phát xít mới có thể lấy được bản kế hoạch “Citadel” một
cách nhanh chóng đến như vậy. Một trong những giả thuyết về nhân vật này
được cho là Heinrich Hoffmann, nhiếp ảnh gia riêng của Hitler.
Bộ tham mưu của Hitler bàn bạc kế hoạch tác chiến.
Trên
thực tế, có 2 nhiếp ảnh gia thường xuyên làm việc với Hitler là Hugo
Jaeger và Heinrich Hoffmann. Jaeger là người làm việc chủ yếu trong lĩnh
vực ảnh phóng sự nên mối quan hệ với trùm phát xít mang tính xã giao
chính thức. Còn Hoffmann lại là chuyện hoàn toàn khác. Với tư cách
nhiếp ảnh gia riêng của Hitler, ông có thể tham dự bất cứ cuộc họp bí
mật nào, có thể bước vào tất cả mọi cánh cửa tại Bộ tham mưu, thậm chí
nhiều viên tướng còn phải nịnh nọt ông. Sự ưu ái này có được là
nhờ việc chính Hoffmann vào năm 1929 đã giới thiệu người tình Eva Braun
với Hitler, khi cô ta còn là người mẫu chụp ảnh khỏa thân của ông. Kể từ
thời điểm đó, sự nghiệp của Hoffmann lên như diều gặp gió. Ông ta được
bầu làm đại biểu quốc hội, độc quyền tất cả những bức ảnh của Hitler và
trở thành một nhà triệu phú. Chỉ ông mới có độc quyền chụp cả
những bức ảnh về cuộc sống riêng tư của Hitler, kể cả những chuyến đi
nghỉ của cặp Hitler-Braun tại vùng Alps. Theo một số người thân cận,
Hoffmann ngay từ năm 1938 đã làm giàu bằng cách bán ra nước ngoài nhiều
tranh và tài sản giá trị tịch thu của người Do Thái. Câu hỏi chính
liên quan tới giả thuyết này là tại sao Hoffmann lại mạo hiểm hợp tác
với tình báo Xôviết, trong khi ông đã có quá nhiều tiền nếu so với
Roessler. Trên
thực tế, Hoffmann không phải là một nhân vật đơn giản. Dù đã gia nhập
đảng phát xít, nhưng ông vẫn giữ tại két sắt bí mật của mình tại Thụy Sĩ
những bức ảnh nhạy cảm của Braun như một cách phòng thân. Ông
từng cảnh báo các tướng lĩnh Đức sau bàn nhậu rằng, việc gây chiến với
nước Nga là một bước đi nguy hiểm, nhất là sau thất bại của quân Đức tại
ngoại ô Stalingrad. Sau thảm bại tại vòng cung Kursk, Hoffmann
cũng từng bị ông trùm SS Walter Schellenberg liệt vào danh sách những
người bị nghi ngờ đã trao tài liệu mật cho Liên Xô vì hai nguyên nhân
chính. Thứ nhất, ông là một trong rất ít những nhân vật không hề
bị lục soát trước khi vào ra văn phòng tuyệt mật của đế chế (theo qui
định thì các tướng lĩnh cũng như thứ trưởng cũng bị khám xét). Thứ
hai, Hoffmann có rất nhiều thiết bị chụp ảnh đặc biệt, chẳng hạn như có
cả camera có thể bố trí trong cúc áo, một vật đặc biệt hiếm có vào thời
bấy giờ. Mùa hè năm 1945, quân Đồng minh đã tìm thấy tại nhà Hoffmann
286 thiết bị chụp ảnh khác nhau, trong đó có loại có thể chụp được con
ruồi đang bay ở khoảng cách 200 mét. Ngày 10-5-1945, Hoffmann bị
người Mỹ bắt giữ tại thị trấn Oberwossen. Một năm sau, ông bị xét xử vì
có dính líu tới tội ác của phát xít Đức, phải nhận bản án 10 năm tù cùng
việc bị tịch thu tài sản. Được biết trong thời gian chờ đợi tại
phiên tòa Nuremberg, Hoffmann còn được một số sĩ quan tình báo Liên Xô
trực tiếp gặp riêng với nội dung cuộc nói chuyện không được tiết lộ. Sau
khi tuyên án chưa đầy một tháng, Hoffmann còn được bất ngờ giảm hình
phạt xuống còn có 4 năm. Còn một chi tiết quan trọng nữa, khi Hoffmann
đã quen biết với Roessler ngay từ Đại chiến thế giới thứ nhất. Martin Bormann – Nhân vật thứ hai trong Đảng Phát xít Gần
20 năm trước, nhà báo từng đoạt giải Pulitzer là Lou Kilzer xuất bản
một cuốn sách có nhan đề “Hitler's Traitor: Martin Bormannand the Defeat
of the Reich” (Kẻ phản bội của Hitler: Martin Bormann và thất bại của
Đức Quốc xã). Trong đó, ông cũng nêu lên câu hỏi: Ai là điệp viên
Wether nổi tiếng đã chuyển cho tình báo Liên Xô tài liệu về kế hoạch
“Citadel”? Sau khi nghiên cứu những tài liệu của mật vụ phát xít tại kho
lưu trữ của Bộ quốc phòng Mỹ, Kilzer đã đưa ra một giả thuyết gây chấn
động. Theo đó, điệp viên Wether không ai khác chính là… Martin
Bormann, nhân vật thứ hai trong đảng phát xít, từng được coi là thư ký
riêng, cánh tay phải của Hitler.
Martin Bormann.
Trên
thực tế, người đầu tiên đã đưa ra nhận định bất ngờ trên không ai khác
chính là Reinhard Gehlen, thiếu tướng của Abweh (Cơ quan tình báo quân
sự phát xít), về sau là người đứng đầu Cơ quan tình báo CHLB Đức (BND).
Từ năm 1963, Gehlen đã từng phát biểu rằng, Bormann là một điệp viên
siêu bí mật của Liên Xô. “Trong một cuộc gặp bí mật tại quán cà
phê ở Berlin, chúng tôi đã bàn luận vấn đề này với người đứng đầu Abweh,
đô đốc Canaris– Ghelen viết trong hồi ký của mình – Hoạt động của tình
báo Xôviết đơn giản là rất tuyệt vời. Họ có thể nhanh chóng biết ngay
tất cả mọi nội dung bàn bạc trong giới chức cao cấp nhất của Đức. Vậy
thì ai có thể là nguồn tin của người Nga? Đến tháng 11-1943, chúng
tôi đã biết chính xác rằng, tín hiệu vô tuyến điện truyền về Moscow
được phát trực tiếp từ… văn phòng của Bormann: có nghĩa là ông ta đã
thiết lập một trạm phát sóng của người Nga ngay trước mũi Hitler! Nhưng
bất cứ nỗ lực nào theo dõi Bormann đều sẽ đồng nghĩa với cái chết dành
cho tôi và Canaris”. Trên thực tế, Canaris đã bị cách chức chỉ
khoảng 3 tháng sau, đến tháng 7-1944 bị bắt giữ và tử hình trước khi
quân Đức đầu hàng khoảng một tháng. Rất có khả năng, Bormann đã biết
Abweh đang tổ chức theo dõi mình. Khi được yêu cầu giải thích về
việc phó tướng của Hitler lại có thể làm việc cho Moscow, Gehlen trả lời
rất đơn giản: “Không có gì đáng ngạc nhiên ở đây cả. Tình báo Nga khi
đó là cơ quan xuất sắc nhất, họ hoàn toàn có khả năng tuyển mộ thậm chí
cả Bormann”. Liên quan đến câu chuyện này, còn có một số giả
thuyết khác. Như một số người còn quả quyết, tại khu nghĩa trang
Vvedenskoye ở Moscow, có người đã phát hiện và chụp ảnh một tấm bia mộ
trên có đề dòng chữ: Martin Bormann, 1900-1973 (năm sinh trùng hợp với
nhân vật thứ hai của đảng phát xít). Nhưng về sau, ngôi mộ trên đã biến
mất một cách đầy bí ẩn. Cần biết là lần cuối cùng Bormann được
nhìn thấy giữa những đống đổ nát tại khu vực boongke của Hitler là vào
ngày 1-5-1945. Sau đó, ông ta đã biến mất hoàn toàn, không ai có dịp
được bắt gặp, ngay cả thi thể. Quan điểm về Bormann cũng nhận được sự
đồng thuận từ một số nhà nghiên cứu của Mỹ, từng chuyên đào bới trong
các kho hồ sơ lưu trữ của quân phát xít.
Chẳng
hạn như nội dung một báo cáo trong năm 1969 từ một nguồn tin của Mỹ tại
Đông Berlin cho biết, một sĩ quan mật vụ Đông Đức khẳng định, Bormann
đã được tình báo Liên Xô tuyển mộ từ 30 năm trước, sau đó được cài cắm
vào bộ sậu của Hitler theo chỉ đạo của lãnh tụ Đảng cộng sản Đức Ernst
Thalmann. Có lẽ chúng ta chỉ có thể biết được chân tướng thực sự
của điệp viên Wether, sau khi các tài liệu lưu trữ về Đại chiến thế giới
thứ hai được giải mật hoàn toàn, một thời điểm có lẽ còn rất lâu nữa. Chẳng
hạn như theo qui định, hồ sơ về chuyến bay của Rudolf Hess chạy sang
nước Anh chỉ được giải mật vào năm 2045. Nhưng có lẽ ai là điệp viên
Wether trên thực tế không còn quá quan trọng nữa. Điều chủ yếu là chính
nhân vật này 76 năm trước đây đã giúp Hồng quân giành thắng lợi quyết
định tại Kursk, trận đánh có vai trò chủ chốt trong việc đánh bại phát
xít Đức.
theo Công an Nhân dân
Vỏ bọc hoàn hảo của điệp viên MI6 hai mang
Hoàng Nam |
0
Tháng 6/1951, chính phủ Anh thừa nhận rằng hai nhà ngoại
giao thuộc Bộ Ngoại giao đã biến mất. Một người là Donald Maclean đã
vuột khỏi tầm tay của phản gián Anh chỉ ba ngày trước khi dự kiến bị
thẩm vấn về cáo buộc chuyển tin mật cho Nga. Với người còn lại Guy
Burgess, thông tin còn bất ngờ hơn nữa.
Là một người đàn ông khéo léo, quyến rũ và có mối quan hệ rộng, Burgess hoàn toàn có cơ sở để trở thành điệp viên nhưng không ai từng nghi ngờ ông ta thực sự làm vậy. Người
này trở nên đặc biệt trong giới tình báo giữa thế kỷ trước, bởi ở thời
điểm mà đồng tính luyến ái vẫn còn là hành vi bất hợp pháp, thì ông ta
đã không hề giấu giếm về khuynh hướng tình dục bị xem là “khác người”
của mình.
Guy Burgess (trái) và một nhà viết sử.
Sáng
7/6/1951, mẹ của nhà ngoại giao Anh Guy Burgess đột nhiên có linh cảm
xấu khi đọc dòng tít “Cảnh sát Anh đang truy bắt hai người Anh đang trên
đường trốn tới Liên Xô” chạy lớn trên trang nhất của tờ Daily Express.
Theo thông tin được nêu trong bài viết, cảnh sát Anh đang truy bắt hai
người đàn ông đã được Bộ Ngoại giao Anh tuyển mộ. Hai người này
được cho là đã chạy trốn khỏi London với ý định đào tẩu tới Moscow. Ngay
sau khi đọc bản tin, bà Evelyn Bassett vội vã nhấc điện thoại gọi cho
bạn thân của con trai tên Anthony Blunt. “Cháu có nghĩ rằng thông tin
trên tờ Express về việc hai người thuộc Bộ Ngoại giao đang tìm cách bỏ
trốn tới Nga là nói về Guy?”, bà Bassett hỏi. Blunt nói chưa đọc
được thông tin nên bà mẹ vội vã cúp máy rồi lật giở, đọc lại bản tin
trước khi tiếp tục gọi điện cho con trai út tên Nigel. “Có thể một trong
hai người được nói đến trong bản tin chính là anh Guy”, bà nói. Thoạt
nghe, người đọc có thể nghĩ đó là một cảnh trong một bộ phim về đề tài
gián điệp. Tuy nhiên, đây chính xác là sự việc đã diễn ra vào năm 1951
và sở dĩ chúng ta biết được việc này là do tình báo Anh khi đó đã nghe
lén điện thoại của bà Bassett nhằm phục vụ cho cuộc tìm kiếm “nhà ngoại
giao mất tích” Burgess. Và ở thời điểm diễn ra các cuộc điện thoại
này, tình báo Anh vẫn chưa thực sự nắm chắc được các thông tin về đường
dây gián điệp trường Cambridge khét tiếng mà Burgess, Blunt cùng các
đồng môn Donald Maclean, Kim Philby, John Cairncross là những thành viên
cốt cán. Điệp viên đồng tính hiếm hoi Cả năm thành
viên trong đường dây “Bộ ngũ trường Cambridge” đều do Arnold Deutsch,
một điệp viên của Liên Xô ở Anh tuyển mộ. Ở thời kỳ đỉnh cao, tất cả họ
đều giữ các vị trí quan trọng trong chính phủ Anh. So với bốn thành viên
còn lại, Guy Burgess được cho là khác biệt hoàn toàn. Ông ta sinh
năm 1911 trong một gia đình có truyền thống quân sự. Xuất thân trong
gia đình giàu có lại là một người thông minh, Burgess được hưởng sự giáo
dục tốt. Rời trường trung học, ông ta được nhận vào trường đại học
Cambridge danh tiếng. Tại đây, ông ta bộc lộ rõ quan điểm ủng hộ chủ
nghĩa cộng sản và gia nhập đảng Cộng sản Anh sau năm tuần thử thách. Cùng
thời gian, Burgess kết thân với một người bạn tên Kim Philby. Tháng
6/1934, Philby được tình báo Liên Xô tuyển dụng với nhiệm vụ đầu tiên là
giới thiệu những người khác có thể cung cấp tin mật cho Liên Xô. Tháng
5/1934, Philby dàn xếp để người tuyển mộ ông ta là Arnold Deutsch gặp
Guy Burgess. Việc tuyển mộ Burgess làm gián điệp cho Liên Xô diễn ra sau
đó ít lâu. Theo hướng dẫn của Deutsch, Burgess đã rời khỏi đảng
Cộng sản Anh, cũng như không còn công khai quan điểm ủng hộ cộng sản của
mình để thuận tiện cho việc hoạt động gián điệp. Năm 1936, Burgess được
nhận vào làm việc tại đài BBC. Ít lâu sau đó, ông được cơ quan
tình báo Anh MI6 tuyển mộ để điều tra các hoạt động của chủ nghĩa cộng
sản trong đội ngũ nhân viên của đài trên cũng như các trường đại học ở
Anh. Được làm việc theo đúng ý thích thực sự của mình nên người
này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cùng lúc, ông đã chuyển được khá
nhiều thông tin mật về cho tình báo Liên Xô mà không hề bị nghi ngờ. Năm
1938, Burgess trở thành người đầu tiên trong mạng lưới điệp viên trường
Cambridge được nhận vào làm việc toàn thời gian tại cơ quan tình báo
Anh với nhiệm vụ phụ trách hoạt động tuyên truyền chống Đức quốc xã ở
nước ngoài. Ít lâu sau đó, Burgess đã giúp Philby gia nhập MI6 để thuận
tiện cho hoạt động của đường dây. Năm
1939, ông ta tiếp tục sử dụng các mối quan hệ để giúp một thành viên
khác trong mạng lưới tình báo Cambridge là Blunt gia nhập cơ quan tình
báo nội địa Anh MI5. Không hề bị nghi ngờ, năm 1943, Burgess được
giao một công việc nhạy cảm khác là phụ trách bản tin ở Bộ Ngoại giao
Anh. Ở vị trí này, ông ta được tiếp cận nhiều điện tín ngoại giao, tài
liệu mật hơn cả khi trước. Những tài liệu này đều được ông ta bí mật
chuyển cho Nga. “Tài sản” của Burgess trong vai trò một điệp viên
chính là mạng lưới bạn bè rộng khắp. Những người bạn của ông ta bao gồm
rất nhiều người nổi tiếng, trong đó có Maynard Keynes, W H Auden,
Winston Churchill, Isaiah Berlin, Harold Nicolson, George Orwell, Lucian
Freud… Ngoài ra, sự quyến rũ cũng là một vũ khí sắc bén của người
này. Ở thời điểm lúc bấy giờ, việc quan hệ tình dục đồng giới vẫn là
bất hợp pháp và cũng như đại bộ phận dân số, hầu hết các điệp viên không
phải là người đồng tính. Thế nhưng, Burgess không ngại ngùng công
khai về xu hướng giới tính của mình. Không những thế, những mối quan hệ
tình cảm đồng giới như vậy còn trở thành công cụ được ông ta sử dụng
hiệu quả để khai thác thông tin. Theo các ghi chép, trong số các người
tình của ông ta, người đầu tiên chính là Philby, về sau là Maclean cùng
nhiều người khác. Vỏ bọc hoàn hảo Theo người phụ
trách hoạt động của đường dây điệp viên trường Cambridge Yuri Modin,
Burgess là người hoạt động khá hiệu quả, luôn thực hiện một cách chính
xác các công việc được giao, tuân thủ các biện pháp cảnh báo và liên tục
chứng minh trí nhớ tuyệt vời của ông ta. Ngược lại, phía Anh lại không
mảy may nghi ngờ gì về Burgess bởi tài che giấu có thể nói xuất sắc của
ông ta. Các đồng nghiệp ở Anh lúc bấy giờ chỉ thấy ông ta là một
kẻ vô tổ chức, thường xuyên đi làm muộn, say xỉn cả trong giờ làm việc,
chửi bới người khác không có lý do và chỉ chăm chăm xà xẻo công quỹ vào
việc riêng. Chính vì vậy nên dù Burgess ở quán rượu vẫn luôn miệng khoe
khoang là gián điệp nhưng không ai tin đó là sự thật. Các
tác giả cuốn “Điệp viên biết tất cả mọi người” về sau kết luận rằng
Burgess đã cố ý tạo ra bề ngoài vô tâm để che giấu cho bản chất thực sự
một cách tài tình. Nhiều người cho rằng Burgess thực sự không mấy nguy
hại nhưng thực tế lại chứng minh điều ngược lại. Theo các tài
liệu, trong giai đoạn từ 1941 đến 1945, ông ta đã chuyển khoảng 4.600
tài liệu về cho Moscow, trong số đó có các thông tin mật về các hội nghị
hòa bình sau chiến tranh, các cuộc họp bàn về việc thành lập NATO, Liên
hợp quốc hay OECD. Trong những năm 1950, ông ta là người cố vấn cho
tình báo Liên Xô về việc tuyển mộ các điệp viên. Một kẻ đào tẩu
của KGB thậm chí cho biết, vì là người đồng tính nên chính ông ta là
người đã giúp tình báo Liên Xô lập kế hoạch tiến hành một chiến dịch
dùng xu hướng tình dục đồng tính để buộc những người đồng tính nam phải
chấp nhận làm việc cho Moscow. Burgess cung cấp cho phía Nga nhiều
thông tin đến mức chính tình báo Nga lúc đầu còn nghi ngờ đó là một cái
bẫy. Họ không tin rằng người Anh ngây thơ đến mức để cho một người vốn
có quan điểm ủng hộ cộng sản như Burgess gia nhập cơ quan tình báo của
mình. Năm 1951, Philby nhận thấy Maclean sắp bị phát hiện làm gián
điệp nên đã thuyết phục Burgess về London để cảnh báo Maclean. Tuy
nhiên, thay vì chỉ báo tin, ông ta lại sợ hãi nên đã bỏ trốn luôn tới
Moscow cùng dù chưa từng bị nghi ngờ. Việc này đã khiến đường dây
gián điệp Cambridge bị phanh phui. Không bạn bè, không biết tiếng Nga,
lại còn là người đồng tính nên cuộc sống của Guy Burgess tại Liên Xô
chìm trong rượu cho đến khi qua đời mà không một lần được trở về nước.
theo Pháp luật Việt Nam
Christopher Boyce – Từ điệp viên trở thành… kẻ cướp
Quỳnh Nga |
0
Christopher Boyce cùng một người bạn thân từ trẻ từng bị
kết tội bán những tài liệu tuyệt mật của chính phủ Mỹ cho Liên Xô trong
suốt nhiều năm.
Ngôi sao điện ảnh Đức là điệp viên của tình báo Xôviết Cuốn sách về những điệp viên đầu tiên của Israel Cái kết đắng của điệp viên hai mang Điều
đáng chú ý là Boyce bắt đầu hoạt động cho Liên Xô vì động cơ tư tưởng
xuất phát từ những mâu thuẫn về quan điểm với chính sách hiếu chiến của
Mỹ, đặc biệt là trong cuộc chiến phi nghĩa tại Việt Nam. Sau khi bị bắt
giữ và vượt ngục, Boyce lại tiếp tục nổi tiếng khắp nước Mỹ với vai trò
là thủ phạm của hơn chục vụ cướp ngân hàng khác nhau… Christopher
Boyce sinh ngày 16-2-1953 tại ngoại ô Los Angeles (California) trong gia
đình một nhân viên Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI), thật ngẫu nhiên
cũng là một cơ quan đảm trách nhiệm vụ phản gián hàng đầu của
Washington. Sau khi rời khỏi FBI, cha của Boyce chuyển sang phụ
trách bộ phận an ninh tại tập đoàn hàng không vũ trụ McDonnell Douglas,
chuyên về sản xuất các máy bay quân sự nổi tiếng như chiếc F-4 vào thời
kỳ đó. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Boyce từng gia nhập tới ba trường đại học rồi lại bỏ dở giữa chừng. Người
cha hết sức lo ngại đã phải gọi điện cho bạn cũ đang làm tại Công ty
hàng không vũ trụ TRW Defense and Space Systems Group, một công ty tư
nhân chuyên đảm nhiệm việc điều hành các vệ tinh gián điệp của Mỹ. Thế
là ngay từ khi mới 21 tuổi, Boyce đã được TRW nhận làm thư ký. Nhờ
có sự nâng đỡ của cha cũng như khả năng nhanh nhạy của bản thân, Boyce
đã thăng tiến khá nhanh trong công việc. Chỉ vài tháng sau khi vào TRW,
Boyce đã trở thành một trong những quan chức điều hành tại “Black
Vault”, một bộ phận đặc biệt lưu trữ những thông điệp mã hóa tuyệt mật
của tình báo Mỹ cùng với các chìa khóa giải mã chúng. Có cảm tưởng
như vào thời điểm đó, Boyce dù còn rất trẻ nhưng đã có trong tay được
mọi thứ: một công việc tại cơ quan uy tín, lương cao, đẹp trai, có tài
năng và tương lai còn rất rộng mở… Nhưng số phận đã định hướng cuộc đời
của Boyce theo một con đường hoàn toàn khác. Chuyển biến tư tưởng Thật
ra ngay từ vài năm trước, nhận thức và tư tưởng của Boyce đã có những
biến đổi lớn. Anh ta bắt đầu có thái độ bất mãn trước những chính sách
của chính phủ Mỹ. Những tin tức về cuộc chiến đang sa lầy tại Việt
Nam được phát trên tivi hàng ngày cùng với vụ bê bối Watergate đã khiến
cho Boyce nảy sinh mối nghi ngờ về cái gọi là “tự do và dân chủ kiểu
Mỹ” và cảm thấy như mình đang bị mất phương hướng. Đó cũng chính là tâm
lý chung của đa số thanh niên Mỹ trong phong trào phản chiến vào thời kỳ
những năm 1960-1970.
Christopher Boyce khi bị bắt giữ.
Cũng
như nhiều người dân Mỹ khác, Boyce rất phẫn nộ trước sự can thiệp quân
sự của Mỹ tại Việt Nam. Theo anh ta, chính phủ nước này đã tiến hành một
cuộc chiến tuyệt vọng và vô nghĩa dẫn đến cái chết của hàng chục ngàn
binh lính Mỹ chỉ để chống đỡ cho cái chính quyền tham nhũng mục nát tại
miền Nam Việt Nam. Việc tiếp cận được với các tài liệu mật sau này
còn giúp Boyce hiểu rõ hơn và cảm thấy ghê tởm trước vai trò của Mỹ
trong cuộc đảo chính đẫm máu đối với chính quyền tổng thống Salvador
Allende, một lãnh tụ được bầu một cách hoàn toàn dân chủ tại Chile. Boyce
còn nắm bắt rất rõ về các dự án thu thập thông tin tình báo bí mật có
tên Rylite và Argus, trong đó tập trung vào việc giám sát và chụp ảnh
các căn cứ quân sự và bệ phóng tên lửa của Liên Xô và Trung Quốc. Theo
đó, Mỹ đã ký một thỏa thuận với Australia để chia sẻ các thông tin mật
về hoạt động của Liên Xô và Trung Quốc trong phạm vi xung quanh
Australia. Boyce có được bằng chứng rõ ràng cho thấy, Washington đã
không chia sẻ thông tin trong khuôn khổ các dự án trên với Austarlia. Lý
do để Mỹ giữ lại những thông tin này, theo Boyce được biết, chính là do
một chính phủ thân chủ nghĩa xã hội đang nắm quyền tại Australia và Mỹ
không muốn làm bất cứ gì để hỗ trợ cho chính quyền này. Người đứng
đầu chính phủ Australia khi đó là Gough Whitlam cũng không phải là nhân
vật hợp gu với cộng đồng tình báo Mỹ. CIA còn lên kế hoạch cụ thể nhằm
loại bỏ Thủ tướng Whitlam, sau khi ông này dự định cho đóng cửa các căn
cứ quân sự của Mỹ tại Australia. Kế hoạch này đã được tiến hành
với sự giúp đỡ của viên tướng John Kerr, kẻ được đánh giá trong tài liệu
mật là “người bạn lớn của nước Mỹ”. CIA khi đó đang tìm mọi cách xâm
nhập vào các liên đoàn lao động đầy quyền lực của Australia. Hoạt động
này vẫn được tiếp tục ngay cả sau khi Whitlam bị đổ và chính phủ bảo thủ
của Malcolm Fraser lên nắm quyền. Đây cũng là một lý do khiến
Boyce cảm thấy bất bình trước chính sách hai mặt của chính quyền Mỹ đối
với đồng minh. Dần dần trong nhận thức của Boyce, nguy cơ lớn nhất đối
với hòa bình thế giới không phải là chủ nghĩa cộng sản như Washington
vẫn tuyên truyền, mà trên thực tế lại chính là đất nước ruột thịt của
anh ta. Quyết định hành động Cho dù rất bất bình với những chính sách của Mỹ, Boyce không hề gia nhập bất kỳ một nhóm hoạt động chống đối nào. Anh
ta chọn một cách phản đối thầm lặng đồng thời lại có thêm thu nhập về
tài chính: tìm cách hợp tác với đối thủ chính của Mỹ là Liên Xô để bán
thông tin mật cho nước này. Để thực hiện được ý định của mình, Boyce
quyết định nhờ đến người bạn thân từ nhỏ Daulton Lee.
Daulton Lee.
Cũng
cần nói thêm, cho dù là một đôi bạn thân, nhưng nhiều sở thích và khả
năng của Boyce và Lee lại có phần khác biệt khá nhiều. Nếu như
Boyce học giỏi và khá nhanh nhẹn, thì Lee lại không thích thú đến chuyện
sách vở, chỉ say mê những công việc kỹ xảo thủ công của một thợ mộc. Do
có tính cách và sở thích có phần hướng nội, anh ta luôn cảm thấy lạc
lõng với những người xung quanh và cuối cùng phải tìm đến cần sa và
cocain làm chỗ dựa cho cuộc sống. Dần dần, Lee còn tham gia vào
việc buôn bán ma túy và còn có biệt danh “Người tuyết – Snowman” trong
giới mua bán và sử dụng ma túy. Boyce bàn với Lee về việc bán các thông
tin mật khai thác từ Black Vault. Theo
đó, Lee sẽ đóng vai trò một người liên lạc qua việc tiếp cận với một
đại sứ quán của Liên Xô ở nước ngoài. Lee cũng nhìn thấy ở đây một cơ
hội kiếm tiền dễ dàng hơn buôn ma túy và đồng ý ngay. Đầu tháng
4-1975, Daulton Lee xuất hiện tại Đại sứ quán Liên Xô ở Mexico City. Anh
ta yêu cầu được gặp một quan chức quan trọng và tiết lộ đang có trong
tay thông tin về các vệ tinh gián điệp mà người Nga quan tâm. Lee được
giới thiệu sang gặp một nhân viên tình báo có tên Vasily Okana. Sau
khi kể mọi chuyện về Boyce, Lee trao cho Okana một phong bì, trong đó
có một chiếc thẻ máy tính cùng với tờ giấy có dòng chữ: “Kèm trong phong
bì này là một tấm thẻ máy tính lấy từ hệ thống mã hóa của NSA. Nếu muốn
hợp tác, hãy báo cho người đưa tin”. Ngoài những tấm thẻ chương
trình máy tính, phong bì còn có một băng giấy đã được dùng trong các máy
mật mã KG-13 và KW-7 của Mỹ. Sau khi kiểm tra những tài liệu này, Okana
trao cho Lee một phong bì chứa 250 đô la và thông báo đồng ý hợp tác
với Lee cùng với người bạn của anh ta. Ban đầu, Lee được qui định tên
liên lạc là “Luis” và Boyce cũng có mật danh là “Falcon” (Chim cắt). Về
phần mình, Christopher Boyce vẫn tiếp tục thu thập thông tin mật cho
tình báo Xôviết nhờ một chiếc máy ảnh nhỏ hiệu Minox. Anh ta thường giấu
tài liệu vào trong túi xách. Tuy không phải hoạt động với mục
đích chính là tiền, trong gần hai năm cộng tác với tình báo Xôviết,
Boyce đã kiếm được 20 ngàn đôla. Sau khi phía Liên Xô bày tỏ nguyện vọng
muốn gặp trực tiếp người đã cung cấp thông tin cho họ, Boyce cùng với
Lee còn có một chuyến đi Mexico với tư cách hai nhà du lịch thông
thường. Từ những năm 1960, CIA thường sử dụng các vệ tinh quân sự
để liên lạc với các điệp viên của họ. Dần dần, công nghệ này đã trở nên
lỗi thời. Các điệp viên chỉ có thể sử dụng hệ thống nếu chúng nằm trong
phạm vi phủ sóng của vệ tinh, trong khi các cơ quan tình báo nước ngoài
có thể nghe trộm được. Đến đầu những năm 70, CIA đề xuất việc phát
triển một vệ tinh có khả năng liên lạc thuận tiện trên toàn thế giới
với các điệp viên. Một vài công ty hàng không vũ trụ hàng đầu đã được
yêu cầu nghiên cứu và tham gia công trình này. Đây chính là nguyên nhân
ra đời của dự án chế tạo vệ tinh tuyệt mật của CIA có tên “Pyramider”. TRW
đã giành được hợp đồng thiết kế của dự án Pyramider vào năm 1973. Kết
quả là họ đã cho ra đời một vệ tinh lớn có hình dạng giống chiếc ô đang
bay. Tất nhiên là những bức ảnh và thông tin cực kỳ quí giá về dự án
Pyramider đã nhanh chóng được Boyce sao chép và tìm cách chuyển ngay đến
tay các điệp viên Xôviết. Bại lộ Hoạt động hợp tác
của cặp Boyce-Lee với tình báo Xôviết diễn ra rất suôn sẻ cho tới năm
1977. Vào đầu năm đó, Lee bị cảnh sát Mexico bắt giữ ngay gần khu vực
lãnh sự quán Liên Xô vì bị nghi ngờ là tội phạm. Khi đó, Lee trong
lúc giả dạng một khách du lịch đang tản bộ đến gần đại sứ quán Liên Xô,
đã lén vứt một mảnh giấy vào phía trong cổng trước khi cảnh sát Mexico
ập tới. Họ nghi ngờ anh ta là thành viên một nhóm khủng bố chống chính
phủ có âm mưu mờ ám. Ban đầu, Lee chỉ thừa nhận mình là khách du lịch
thông thường đi ngang qua.
Cuốn sách “American Sons: The Untold Story of the Falcon and the Snowman”.
Kết
quả khám người đã khiến cảnh sát Mexico phát hiện cuộn phim chụp có dấu
tuyệt mật và họ đã giao cho phía Mỹ kiểm tra. Nhà chức trách còn phát
hiện trong người Lee có tấm bưu thiếp chụp một giao lộ nơi có một viên
cảnh sát Mexico vừa bị giết hại. Lee bị nghi ngờ là tên giết người và bị
tra tấn suốt mấy ngày liền. Khi không chịu nổi, Lee bèn bịa ra
một câu chuyện khác: anh ta và người bạn là Christopher Boyce đang làm
việc cho CIA, họ đang có nhiệm vụ cung cấp thông tin giả cho phía Liên
Xô. Cuối cùng, các nhân viên FBI cũng được cử đến để xác minh thực chất
của con người Lee. Sau khi liên hệ với CIA, Lầu Năm Góc và cả Nhà
Trắng, FBI đã hiểu được vấn đề. Lee bị dẫn độ về Mỹ ngay sau đó. Boyce
sau đó cũng bị bắt vào tháng giêng năm 1977. Sau vài ngày quanh co giấu
diếm, anh ta đã đồng ý thú nhận tất cả. Boyce khai báo tỉ mỉ mọi thứ về
hoạt động gián điệp của mình, về việc bán các thông tin bí mật cho người
Nga. Điệp viên thành… tướng cướp Phiên tòa xét xử
Boyce và Lee đã diễn ra suốt 5 tháng. Sở dĩ như vậy là do mật vụ Mỹ lo
ngại quá trình điều tra sẽ buộc họ phải tiết lộ nhiều thông tin nhạy
cảm. Vì nhiều lý do, đôi bạn này đã bị tách ra để xét xử riêng. Kết quả
là Boyce phải nhận bản án 40 năm tù. Còn Lee lại phải chịu án chung thân
do đã có nhiều tiền án trước đây liên quan đến buôn bán ma túy. Đến
ngày 21-1-1980, Christopher Boyce đã leo qua hàng rào nhà tù và tẩu
thoát. Trong thời gian lẩn trốn, Boyce đã cặp kè cùng với người đàn bà
có tên Gloria Ann White và kịp cùng với nhân vật này tổ chức… 16 vụ cướp
nhà băng. Boyce có ý định kiếm nhiều tiền để mua máy bay, học
lái, sau đó bay tới Alaska để tìm cách hạ cánh xuống một hòn đảo nào đó
thuộc Liên Xô. Tuy nhiên anh ta đã không kịp thực hiện ý định này
khi bị bắt lại sau 19 tháng sống tự do, bị xử thêm một số tội danh như
vượt ngục, cướp nhà băng và sở hữu vũ khí trái phép. Tù nhân đặc biệt
này được chuyển đến nhà tù Marion nổi tiếng là chắc chắn và an toàn nhất
nước Mỹ.
Trong
tù, Boyce đã nhận tham gia một buổi trả lời phỏng vấn truyền hình trong
chương trình “60 Minutes” của Australia, trong đó anh ta vẫn lên án
chính sách hiếu chiến của chính phủ Mỹ và cho biết không hề hối hận vì
bán thông tin mật cho Liên Xô. Boyce được chính thức trả tự do vào
ngày 16-9-2002 sau hơn 25 năm ngồi tù. Còn người bạn Lee đã được phóng
thích trước thời hạn vào năm 1998. Câu chuyện về cặp bạn thân này
được phía Mỹ tìm hiểu khá kỹ, viết thành sách và sau đó còn được chuyển
thể lên màn ảnh với bộ phim “The Falcon and the Snowman” (Chim Ưng và
Người Tuyết). Năm 2013, Boyce tự mình xuất bản cuốn sách với tựa
đề “American Sons: The Untold Story of the Falcon and the Snowman”
(Những người con trai của nước Mỹ: Chuyện chưa kể về Chim ưng và Người
tuyết) kể về cuộc đời sóng gió của mình. Trong khi trả lời phỏng
vấn về cuốn sách, Boyce đã công khai ủng hộ cho hành động của “người
thổi còi” Edward Snowden về việc tiết lộ thông tin về các chương trình
do thám của Mỹ.
theo An ninh Thế giới
CIA và dự án trục vớt tàu ngầm Liên Xô
Trang Thuần |
1
Glomar Explorer, con tàu đóng vai trò chính trong Dự án Azorian.
Đầu tháng 8-1974, mặc dù có những rủi ro chính trị, quân
sự và tình báo đáng kinh ngạc và sau 6 năm chuẩn bị bí mật, Cục Tình
báo Trung ương Mỹ (CIA) bắt đầu nỗ lực trục vớt tàu ngầm mang tên lửa
đạn đạo K-129 của Liên Xô bị chìm dưới đáy biển Bắc Thái Bình Dương dưới
biệt danh “Dự án Azorian”.
Sáng tỏ vụ “giăng bẫy hụt” tàu ngầm Liên Xô của Hải quân Canada Mỹ đau đầu với tàu ngầm chở ma túy Nỗ lực táo bạo được thực hiện dưới vỏ bọc hoạt động khai thác dưới đáy biển được tài trợ bởi tỷ phú Howard Hughes. Dự
án Azorian được đánh giá là nỗ lực kỹ thuật đại dương đầy tham vọng
nhất mà con người cố gắng thực hiện. Nó có thể được so sánh với cuộc đổ
bộ Mặt Trăng năm 1969 về mức độ thành tựu công nghệ. Sau vụ tai
nạn tàu ngầm tên lửa Liên Xô - trong đó có ngư lôi và tên lửa vũ trang
hạt nhân cũng như thiết bị mật mã - bị đắm vào tháng 3-1968, các cơ quan
tình báo Mỹ đã có thể xác định vị trí chính xác và phát triển phương
tiện nâng tàu ngầm từ độ sâu khoảng 5km.
Cuốn
sách “Project Azorian: The Raising of the K-129” - phát hành vào cuối
năm 2009 với một phần ba tài liệu bị kiểm duyệt – là câu chuyện chưa
được kể về Dự án Azorian của CIA cuối cùng đã được tiết lộ sau nhiều
thập niên chìm sâu trong bí mật. Mặc dù các cuốn sách khác đã được xuất
bản về dự án bí mật này, nhưng không có cuốn sách nào dựa trên các cuộc
phỏng vấn với những người tham gia hoặc trên các tài liệu chính phủ được
phân loại. Hai tác giả Norman Polmar và Michael White thực hiện
hàng loạt cuộc phỏng vấn những người đàn ông trên tàu Glomar Explorer và
USS Halibut (chiếc tàu ngầm Mỹ tìm thấy chiếc tàu ngầm bị chìm K-129),
các sĩ quan tình báo hải quân Mỹ kể cả chỉ huy sư đoàn tàu ngầm Liên Xô.
Hai tác giả cũng có quyền truy cập vào nhật ký của Glomar Explorer và
các tài liệu khác từ nguồn của Mỹ và Liên Xô. Phát triển “Dự án Azorian” Tại
một góc trong cuộc triển lãm của Bảo tàng Điệp viên Quốc tế mới vừa
diễn ra ở Washington D.C., khách tham quan sẽ nhìn thấy một bảng điều
khiển tàu ngầm, một bộ tóc giả có mái xù, bản in chi tiết và một miếng
mangan được trưng bày. Chúng nằm trong số các di tích của một nhiệm vụ
gián điệp rất táo bạo thời Chiến tranh Lạnh. Nhiệm vụ có tên mã là
“Dự án Azorian” liên quan đến CIA với nhiệm vụ xây dựng một con tàu dài
183 mét để trục vớt một chiếc tàu ngầm Liên Xô nặng 1.750 tấn, dài 40
mét đang nằm sâu gần 5km dưới đáy đại dương. Nhiệm vụ tuyệt mật
bắt đầu từ năm 1968 khi tàu ngầm tên lửa đạn đạo K-129 của Liên Xô bị
mất tích một cách bí ẩn ở đâu đó trên Thái Bình Dương. Trong thời kỳ
Khủng hoảng tên lửa hậu Cuba này, cả tàu ngầm Mỹ và Liên Xô đều rình mò
trên biển khơi với vũ khí hạt nhân trên tàu, chuẩn bị cho cuộc chiến
tiềm tàng có thể nổ ra vào bất cứ lúc nào. Một số báo cáo chỉ ra
rằng vụ chìm tàu do lỗi cơ học ví dụ như hệ thống đánh lửa động cơ tên
lửa bị trục trặc, trong khi phía Liên Xô nghi ngờ người Mỹ phá hoại
ngầm.
Sơ đồ kế hoạch trục vớt tàu ngầm K-129 trong Dự án Azorian được trưng bày tại Bảo tàng Điệp viên Quốc tế.
Sau
2 tháng, Liên Xô từ bỏ việc tìm kiếm K-129 cũng như số vũ khí hạt nhân
trên tàu. Nhưng Mỹ xác định chính xác K-129 chìm sâu khoảng 5km dưới mặt
nước và cách Hawai 2.400 ki lô mét về phía Tây bắc. Theo tài liệu
giải mật về dự án của CIA, “không có quốc gia nào trên thế giới thành
công trong việc nâng một vật thể có kích thước và trọng lượng này từ độ
sâu như thế”. Do đó, cộng đồng tình báo Mỹ hết sức cân nhắc về tỷ lệ chi
phí so với phần thưởng của một công việc tốn kém và rủi ro như vậy ngay
cả khi tàu ngầm hứa hẹn tiết lộ cả một kho thông tin cực kỳ quý giá về
mặt quân sự. Theo giám đốc bảo tàng Vince Houghton, giá trị của
K-129 không chỉ xuất phát từ những tài liệu mật mã và đầu đạn hạt nhân
trên tàu mà còn có cơ hội hiểu được quy trình sản xuất đàng sau các tàu
ngầm Liên Xô. Nếu giới quân sự Mỹ biết được thông tin về các hệ
thống sonar của K-129 hoạt động như thế nào, hoặc các cơ chế giúp tàu
ngầm giữ im lặng dưới nước, họ có thể cải thiện khả năng phát hiện ra
chúng. Năm 1967, Liên Xô đã xây dựng được một kho vũ khí hạt nhân
đủ lớn để cạnh tranh sức mạnh quân sự răn đe với Mỹ. Do đó, người Mỹ
khao khát có được lợi thế cạnh tranh mà K-129 có thể mang lại.
Tàu ngầm K-129 của Liên Xô.
Giới
chức CIA đề xuất một số phương án nghe có vẻ không khả thi để trục vớt
tàu ngầm Liên Xô. Một đề nghị liên quan đến việc tạo ra đủ khí gas dưới
đáy đại dương để làm nổi chiếc tàu ngầm lên mặt nước. Ngoài ra, CIA còn
đưa ra ý tưởng một “móng vuốt” khổng lồ bằng thép sẽ nắm và kéo K-129
vào bụng của một con tàu khổng lồ. Ban đầu, CIA tự hào Dự án
Azorian có khoảng 10% cơ hội thành công. Thế nhưng về mặt luật pháp,
chính phủ Mỹ lo ngại dự án có thể bị ghép tội danh vi phạm bản quyền nếu
Liên Xô phát hiện kế hoạch trục vớt tàu ngầm bất hợp pháp. Muốn
vượt qua căng thẳng ngoại giao đồng thời thu thập được kho thông tin quý
giá lượm lặt từ bí mật của K-129, CIA phải bịa ra một câu chuyện với sự
giúp đỡ của tỷ phú bí ẩn Howard Hughes. Sự đóng góp của một tỷ phú Ông
trùm hàng không Mỹ đồng ý kế hoạch chế tạo con tàu dài 618 feet đặt tên
là Hughes Glomar Explorer, được quảng cáo rầm rộ là tàu nghiên cứu khai
thác dưới biển sâu. Năm 1972, một buổi lễ ra mắt con tàu diễn ra một
cách rầm rộ với rượu sâm banh và sự tham gia của giới truyền thông. Khi
con tàu lần đầu tiên đi từ Pennsylvania đến vùng biển gần Bermuda để
thử nghiệm vào năm 1973, tờ Los Angeles đã ghi nhận dịp này, mô tả con
tàu “bị che khuất trong bí mật”. Trong khi đó, thông tin chi tiết về
điểm đến cũng như nhiệm vụ của chiếc tàu Glomar Explorer không được tiết
lộ. Tiếp theo, Glomar Explorer hướng đến Thái Bình Dương quanh
Nam Mỹ vì nó quá lớn để có thể đi qua Kênh đào Panama. Cuối cùng, Glomar
Explorer đến cảng Long Beach bang California và chuyển lên tàu hơn 20
xe tải đầy đủ thiết bị (bao gồm phòng tối, hệ thống xử lý giấy và chất
thải hạt nhân) để phân tích những bí ẩn chứa bên trong K-129. Trong
khi đó, một đội đặc nhiệm phụ trách xây dựng “móng vuốt” (biệt danh là
“Clementine” và chính thức được biết đến với cái tên là “phương tiện bắt
giữ”) trong một chiếc sà lan khổng lồ đặc biệt có tên HMB-1 ở Redwood
City bang California.
Chiếc sà lan HMB-1 nặng 51.000 tấn bên dưới Cầu Golden Gate.
Vào
mùa hè năm 1974, HMB-1 âm thầm lặn xuống biển và cặp vào bên dưới bụng
Glomar Explorer ngoài khơi đảo Catalina miền nam California để chuyển
giao “móng vuốt” thép. Sau đó, HMB-1 tách ra và trở về Redwood City. Việc
chuyển giao “móng vuốt” diễn ra trong bí mật tuyệt đối. Trong khoảng
thời gian này, Glomar Explorer - với sự chấp thuận của Tổng thống
Richard Nixon - lên đường đến nơi K-129 “nghỉ ngơi”. Đến thời điểm
này, Chiến tranh Lạnh đã đạt đến đỉnh điểm và vẫn có 2 tàu Liên Xô
riêng biệt (chứa đầy thiết bị tình báo) theo dõi chặt chẽ chiếc “tàu
thăm dò biển sâu” vì nghi ngờ nó hoạt động nhằm mục đích trục vớt tàu
ngầm K-129. Nhưng nhiệm vụ của CIA vẫn tiếp tục mà không hề bị phát
hiện. Chiếc tàu ngầm K-129 cuối cùng đã nằm trong tầm tay của
“Clementine”. Triển khai kế hoạch Sau khoảng một tuần
tiến triển chậm, Dự án Azorian cuối cùng đã hoàn thành việc nâng K-129,
nhưng đó mới chỉ một phần. Theo “Project AZORIAN: CIA and Raising of
K-129” - cuốn sách đồng tác giả của nhà sử học hải quân Norman Polmar và
đạo diễn phim tài liệu Michael White; vào khoảng giữa quá trình, một
vài cánh tay “Clemantine” túm lấy chiếc tàu ngầm bị gãy khiến cho một
phần lớn thân tàu K-129 rơi trở lại đáy đại dương. Trong khi các
báo cáo trên phương tiện truyền thông và sách lịch sử nói chung cho rằng
các thành phần đáng mong đợi hơn của tàu ngầm - như phòng mật mã - bị
chìm dưới nước cho nên giám đốc bảo tàng Vince Houghton đặt ra mối hoài
nghi về các chi tiết thất bại có thể khiến dự án phải bị hủy bỏ. Tuy
nhiên, Glomar Explorer đã vớt được 6 thi thể thủy thủ K-129 rồi tổ chức
lễ tang theo nghi thức quân đội (được CIA quay phim và trao cho Nga gần
20 năm sau) ngay trên biển.
Bộ tóc giả mà phó giám đốc CIA Vernon Walters thường dùng để ngụy trang khi đến thăm chiếc tàu Glomar Explorer.
Thật
trùng hợp, việc cứu vớt thi thể này cũng dẫn đến phát hiện một số mẫu
mangan từ đáy biển, vật liệu mà Glomar Explorer cố sức nghiên cứu. James
Schlesinger, Bộ trưởng Quốc phòng của tổng thống Gerald Ford, phát biểu
trong một cuộc họp tại Nhà Trắng: “Chiến dịch là một điều kỳ diệu”. Vào
đầu năm 1975, câu chuyện Dự án Azorian được đăng tải trên trang nhất tờ
Los Angeles và phát sóng trên đài truyền hình quốc gia Mỹ. Thực
ra Seymour Hersh, phóng viên nổi tiếng của New York Times, đã âm thầm
theo dõi dự án từ đầu năm 1973 nhưng không công bố câu chuyện do tôn
trọng yêu cầu giữ bí mật từ giám đốc CIA William Colby. Sự tiết lộ về Dự
án Azorian đã gây lo lắng cho Liên Xô. Tình huống khó xử Giới
chức CIA cũng phải đối mặt với một tình huống khó xử về ngoại giao vào
mùa xuân năm 1975. Trước sức ép từ đại sứ Liên Xô tại Mỹ và Đạo luật Tự
do Thông tin (FOIA) từ các nhà báo, CIA muốn tránh trực tiếp thừa nhận
rằng họ đã đánh cắp trái phép một chiếc tàu ngầm bất chấp sự cảnh giác
của Liên Xô, nhưng vẫn có nghĩa vụ phải trả lời bằng cách nào đó. Houghton
kể: “Dĩ nhiên, chính phủ Mỹ không muốn làm xấu mặt Liên Xô chủ yếu vì
nếu làm như thế thì chẳng khác nào Washington thực sự đẩy mối quan hệ
ngoại giao giữa hai quốc gia vào ngõ cụt.
Nói cách khác, lãnh đạo Liên Xô sẽ đáp trả lại thông qua các biện pháp trừng phạt hoặc tấn công lãnh thổ Mỹ”. Trong
nỗ lực thực hiện biện pháp thắt chặt ngoại giao này đồng thời tuân thủ
các yêu cầu của FOIA, CIA đã không chính thức lên tiếng phủ nhận hay xác
nhận. Nhà sử học M. Todd Bennett bình luận rằng vụ việc về Dự án
Azorian đã dẫn đến một “cuộc chiến tình báo” căng thẳng giữa Liên Xô và
Mỹ với những đòn ăn miếng trả miếng hết sức gay cấn. Vince
Houghton cho biết 45 năm sau khi Glomar Explorer trục vớt được một phần
của K-129 từ đáy đại dương, Dự án Azorian vẫn là “huyền thoại bên trong
cộng đồng tình báo”. Vince Houghton cũng hài hước đánh giá về Dự án
Azorian rằng nó “hết sức táo bạo, đầy tham vọng và nó gần như được đảm
bảo chắc chắn… sẽ thất bại”.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét