MỌI MIỀN NƯỚC VIỆT 6 (Bắc Ninh)

(ĐC sưu tầm trên NET)

Map of Bắc Ninh
Bắc Ninh
Tỉnh của Việt Nam
Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Bắc Ninh tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang. Wikipedia
Diện tích: 317,8 mi²
Dân số: 1,131 triệu (2014)

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Photo An Bùi

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình
Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

Tham quan thắng cảnh Tràng An, Ninh Bình

10 món ngon nức tiếng xa gần ở Bắc Ninh

A- A A+ ‹Đọc›
Thích tắt quảng cáo hãy nhấn nút
Quê hương của những làn điệu dân ca quan họ có rất nhiều món ngon như: thịt chuột Đình Bảng, nem làng Bùi, gà Hồ, bánh phu thê…khiến bạn không thể cưỡng nổi khi tới nơi đây.

10 món ngon nức tiếng xa gần ở Bắc Ninh
ảnh minh họa
Thịt chuột Đình Bảng
Theo người trong làng, Đình Bảng săn chuột không phải để kiếm sống như nhiều nơi khác nó xuất phát từ việc giúp mùa màng bội thu, người dân bắt chuột đồng để ăn quanh năm nhưng chủ yếu họ đi săn vào vụ gặt bởi thời gian này chuột sinh sản nhiều và thịt béo.
Thịt chuột đồng có màu trắng và thơm ngon như thịt gà, được sử dụng như một nguyên liệu chính, kết hợp với các phụ gia để chế biến nhiều món ăn từ đơn giản đến cầu kỳ. Trong đó, phổ biến nhất là thịt luộc ép lá chanh
Ngoài ra, chuột đồng còn được chế biến thành các món chuột đồng nấu đậu, chuột nấu đông, chuột giả cầy, chuột rán, chuột xào chua ngọt hay sốt cà chua, khiến không ít người phải ứa nước miếng khi các món được bày ra trước mắt. Người dân ở Đình Bảng cho biết, ăn thịt chuột đồng rất lành, có tác dụng mạnh làm giảm đau, liền xương.
Nem làng Bùi
Nem Bùi được khai sinh ở làng Bùi Xá, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Nghề làm nem ở đây đã có hàng trăm năm, đời này kế tiếp đời kia phát triển và gìn giữ nghề cha ông để lại.Trải qua bao thăng trầm, vài năm trở lại đây nem Bùi dần có mặt trên thị trường và trở thành món ẩm thực ngon, rẻ, đồng thời là món quà trao tay ý nghĩa cho bạn bè, người thân sau mỗi dịp ghé qua Bắc Ninh.
Nguyên liệu làm món nem Bùi phải là giống lợn ỉ đen, lưng gẫy hình yên ngựa, mõm ngắn nuôi bằng cám gạo và bèo cái, hoặc rau chuối. Cả con lợn thịt ra cũng chỉ lấy được hai cái thăn và phần mỡ gáy để làm nem. Công đoạn làm rất công phu và cẩn thận để giữ vệ sinh an toàn thực phẩm
Lấy một nhúm nem quấn với lá sung cắn một miếng ngon tuyệt. Nem Bùi không cần chấm với nước chấm vì nem đã đầy đủ gia vị vừa ăn, nếu thích, thực khách có thể chấm thêm với chút tương ớt.
Gà Hồ
“Gà Hồ mang rộn rã sinh sôi
Gà lại vào tranh thắm nghĩa đời
Lúa bên ngô vun nguồn gốc lạc
Hội thi càng quý nét tinh khôi”…
Đó là những vần thơ mà các cụ cao tuổi trong làng Lạc Thổ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành truyền tai nhau khi nói về gà Hồ.
Người dân nơi đây không nhớ rõ gà Hồ có từ bao giờ, nhưng tên tuổi của nó gắn với dòng tranh Đông Hồ thì không ai phủ nhận vì đây là giống gà đẹp mã, thịt thơm ngon nên giống gà này chỉ có được vào dịp tết đến xuân về.
Gà Hồ thịt thơm, giòn, ngọt, ăn một lần là nhớ mãi. Vì là loại gà giống to nên gà muốn ăn thịt được phải từ 2,5-3 kg trở lên. Vì thế thời gian nuôi một con gà thịt kéo dài đến 7-8 tháng.
Bún làng Tiền
Không biết tự bao giờ món bún đã trở thành một món ăn không thể thiếu trong đời sống con người Kinh Bắc. Mỗi khi thưởng thức món riêu cua, chả nướng, bún ốc… người dân xứ Kinh Bắc lại nhắc tới bún làng Tiền, xã Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh.
Để làm ra được sợi bún tươi ngon thì cần trải qua rất nhiều các giai đoạn khác nhau. Đầu tiên gạo sau khi ngâm một ngày được cho vào ủ thêm 4 ngày sau đó được xay thành bột nước. Tiếp theo, để bột lắng 3 ngày, bỏ phần nước trong, lấy phần bột đã lắng cứng, cho vào máy làm bún. Bột được lấy thành tảng cho vào cối của máy, máy tự khuấy nhuyễn với lượng nước vừa đủ, thành bột sền sệt. Bột được dẫn xuống khay, bầu chứa, nhờ lực ép của máy bột được đưa qua bầu hơi nóng làm chín và ép qua khuôn tạo thành sợi bún. Bún sau khi ngâm qua nước vớt lên, để ra từng mớ và có thể bán cho khách hàng có nhu cầu.
Cỗ chay Đào Xá
Không những được biết đến là một làng quan họ gốc, một trong những tài của người Đào Xá xưa kia là làm cỗ chay đãi khách vừa ngon vừa khéo.
Hàng năm, cứ vào ngày hội chùa (mồng 7 tháng Giêng) dân làng Đào Xá lại làm cỗ chay đãi khách. Cỗ chay Đào Xá gồm bánh chưng, bánh rợm, bánh rán, bánh cắp, một đĩa giò, 4 bát nấu, 5 bát cháo cái... Trong những món ăn chay nói trên, bánh cắp và cháo cái là hai món đặc trưng, không thể thiếu trên mâm cỗ mời khách của làng Đào Xá.
Bánh tẻ làng Chờ
Ai từng ăn bánh răng bừa (hay còn gọi là bánh tẻ), một thứ quà quê nổi tiếng của thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh sẽ không thể nào quên được vị ngọt từ thịt, mùi thơm của hành, cái giòn của mộc nhĩ và sự dẻo thơm của bột bánh.
Bánh tẻ ăn lúc còn nóng vừa có độ giòn lại vừa có vị đậm, vị béo của nhân, nồng nàn của mùi lá, không thể lẫn vào thứ bánh tẻ nào khác được. Bánh khi ăn chấm với tương ớt hoặc nước mắm ớt, tùy sở thích của từng người.
Bánh khúc làng Diềm
Trong bánh, ngoài xôi, lớp nếp óng dẻo bọc lấy lớp nhân đậu xanh bên trong, không phải là bánh, chẳng hẳn là xôi. Đó chính là bánh khúc - đặc sản làng Diềm, ven hữu ngạn sông Cầu, thuộc xã Hòa Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Sở dĩ có tên bánh khúc là vì nguyên liệu chính để làm bánh là rau khúc. Rau khúc có hai loại: khúc tẻ và khúc nếp, khi làm bánh, người ta thường chọn lá khúc nếp, bởi lá khúc nếp thơm ngon hơn nhiều.
Bánh khúc làng Diềm có 2 loại: nhân hành và nhân đỗ. Bánh khúc nhân đỗ có vị bùi của đỗ, béo của thịt mỡ và thơm của hạt tiêu. Bánh khúc nhân hành có khác hơn đôi chút, hành được dùng làm nhân bánh khúc nhất thiết phải là hành khô, cộng thêm mộc nhĩ, hạt tiêu, răm, thịt ba chỉ băm nhỏ trộn lẫn với nhau. Dù là bánh nhân đỗ hay nhân hành thì vỏ bánh và nhân cũng đều phải nêm một lượng gia vị vừa đủ, bánh mặn làm mất đi vị bùi, béo song nếu nhạt bánh sẽ có mùi ngai ngái.
Bánh khúc thường được người dân làng Diềm nặn với 2 hình thức: tròn như bánh rán hoặc hình tai voi, nhưng dù với hình thức nào, vỏ bánh cũng phải dát mỏng mà không để lộ nhân.
Bánh phu thê Đình Bảng
Được gói bằng những tấm lá dong giản dị, rồi luộc lên, bánh phu thê không khoe mùi tỏa hương như bánh rán, bánh khúc; chỉ tới khi bóc bánh đặt lên đĩa sứ người ta mới thật sự ngỡ ngàng. Dưới lớp vỏ bánh sắc vàng trong suốt rắc lấm tấm những hạt vừng đen, nhân bánh hiện ra. Ngoài đỗ xanh đãi sạch vỏ đã được hấp chín đánh tơi, người ta còn cho thêm đường trắng, cùi dừa, hạt sen và các hương ngũ vị.
Khi làm bánh phải dùng nước quả dành dành nhào bột để lấy mầu sắc tự nhiên chứ không được pha phẩm mầu.
Nhân bánh hình tròn nằm trong vỏ bánh bẻ khuôn hình vuông bằng lá dừa, như biểu tượng vuông tròn của triết lý âm dương.
Lá gói bánh cũng là lá dong gói bánh chưng phải làm kỹ hơn là bánh chưng, sau khi rửa sạch lá để ráo nước người ta phải tước bớt cọng để khi gói bánh được mềm mại. Lá lót trong phải là lá chuối tây dẻo luộc chín hong khô chứ không được dùng lá chuối tiêu.
Tương Đình Tổ
Trên khắp cả nước có rất nhiều loại tương gắn liền với địa danh nổi tiếng như Tương Bần (Hưng Yên), Cự Đà (Hà Tây cũ), tương Nam Đàn (Nghệ An)…tuy nhiên, loại tương đặc biệt nhất phải kể đến tương Đình Tổ (Thuận Thành, Bắc Ninh).
Tương Đình Tổ khác với các tương khác bởi lẽ nguyên liệu chính là ngô ngoài ra còn có đỗ tương và gạo nếp cái hoa vàng, tất cả đều được ủ và lên men tự nhiên không dùng bất kỳ một loại hoá chất hay men phụ trợ nào.
Thông thường một mẻ tương phải được ủ kỹ trong vòng nửa tháng mới có thể mang ra xay để tạo ra tương thành phẩm. Tương thành phẩm sẽ có màu đỏ nâu, đặc sánh, mùi thơm vị ngọt bùi, ngậy béo đặc trưng của gạo nếp, của ngô, tất cả tạo cho tương ăn có giá trị dinh dưỡng riêng, thường được dùng chấm rau luộc, thịt lợn, thịt bò, cá nướng, bánh đúc, bánh tẻ, bún, dùng kho cá, kho thịt…
Cháo thái Đình Tổ
Cháo thái đã có mặt trong đời sống của người dân Đình Tổ từ lâu đời
Cháo thái có cách nấu không quá cầu kỳ, gạo được xay nhuyễn rồi trộn với nước vo thành một cục to, nước dùng để nấu cháo thường là nước ninh thịt gà hoặc thịt lợn, khi nồi nước dùng đang sôi trên bếp thì dùng dao thái cục bột thành lát mỏng cho rơi xuống nồi. Khi cháo chín, cho hành hoa, hạt tiêu, mắm, muối vừa ăn,thịt gà, thịt lợn nhừ có trong cháo cùng tất cả gia vị được quyện chung vào nhau tạo nên nồi cháo thái vừa lạ vừa ngon miệng.
Người làng Đình Tổ còn có một cách đặc biệt để thưởng thức món ăn này, thay vì dùng thìa thì những đôi đũa lại là sự lựa chọn hàng đầu. Cháo thái ngon nhất khi còn nóng, vừa thưởng thức cháo thái, các bạn vừa được nghe những sự tích liên quan đến lịch sử ngôi làng Đình Tổ gắn liền với bát cháo dân dã, bình dị này.
 

Bảo vật vô giá trong chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh

Cập nhật ngày: 00:41:54 10-01-2014 Lượt xem: 1 (lần)
Xây dựng từ thế kỷ 17, chùa Bút Tháp vẫn lưu giữ nhiều tác phẩm tuyệt mỹ, đặc biệt là bảo tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay bằng gỗ lớn nhất Việt Nam.
Không chỉ nổi tiếng về dân ca quan họ, Bắc Ninh còn là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng cả nước với nhiều ngôi chùa cổ. Bên cạnh chùa Dâu, chùa Phật Tích…, chùa Bút Tháp là điểm dừng chân không thể thiếu trong hành trình du xuân đầu năm của nhiều Phật tử và du khách phương xa.
Chùa Bút Tháp nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Từ Hà Nội, bạn có thể qua cầu Chương Dương và men theo đường đê sông Đuống hoặc đi thẳng hướng quốc lộ 5, đến ngã ba Sủi rẽ trái hơn 10 km là đến chùa Bút Tháp. Bằng không, bạn bắt xe buýt 204 xuống Xuân Lâm và đi xe ôm chừng 5 km nữa.
Chùa Bút Tháp nhìn từ cổng vào. Ảnh: Kim Anh.
Theo con đường chạy xuyên qua cánh đồng lúa bạt ngàn, bạn sẽ choáng ngợp trước vẻ đẹp trầm mặc, trang nghiêm của ngôi chùa cổ. Lối dẫn vào chùa là con đường gạch đá rêu phong cùng hàng cau xanh mướt. Không gian thanh tịnh bao trùm khi ngay trước sân chính là hai cây đa rễ rủ như buông màn.
Không bước vào bằng cửa chính như những ngôi chùa khác, du khách đến viếng thăm chùa phải đi qua cánh cổng nhỏ vừa đủ một người qua ở phía hiên chùa. Tới đây, bạn sẽ nhận thấy hiếm có ngôi chùa cổ nào mà quy mô kiến trúc lớn và bề thế như chùa Bút Tháp.
Cụm kiến trúc trung tâm ở chùa Bút Tháp bao gồm 8 đơn nguyên chạy song hành được bố trí đăng đối trên một đường "thần đạo" và được bao bọc bởi hai dãy hành lang chạy suốt dọc chùa ở hai bên. Đó là tòa Tiền Đường, Thượng Điện, Cầu Đá, tòa Tích Thiện Am, Trung Đường, Phủ Thờ, tòa Hậu Đường và hàng tháp đá.
Tượng La Hán thể hiện cảm xúc nội tâm, mang nặng ý tưởng Phật giáo. Ảnh: Kim Anh.
Toàn bộ kiến trúc chính của chùa quay theo hướng nam, hướng truyền thống của người Việt. Đối với đạo Phật, hướng Nam là hướng của trí tuệ, của bát nhã. Với cách bố trí độc đáo, chặt chẽ và sinh động, cộng với sự kết hợp hài hòa các chất liệu gạch, gỗ, đá… du khách vãn cảnh chùa như được bước vào con đường tu đạo với một tâm hồn nhẹ bẫng.
Đã trải qua những lần trùng tu, sửa chữa, chùa vẫn giữ được những tác phẩm kiến trúc, điêu khắc tuyệt mỹ. Nổi bật là bức tượng Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656. Tượng cao 2,35 m (tính từ đài sen đến đỉnh đầu tượng), có 11 đầu, 42 cánh tay lớn và hơn 900 cánh tay nhỏ. Một trong những vẻ đẹp riêng của pho tượng là các cánh tay lớn hoàn toàn trong tư thế tự do thanh thoát với những động tác mềm mại. Những cánh tay tỏa ra sau lưng như vầng hào quang rộng mở, trong mỗi lòng bàn tay có một con mắt.
Tượng tọa trên đài sen do một con rồng nhô lên từ mặt nước đội lấy. Phía trên đầu là các pho tượng Phật ngồi cao dần, và trên cùng là Phật A Di Đà, Đức Phật của cõi Tây Phương cực lạc. Đây được coi là một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng - nghệ thuật làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng thứ ngôn ngữ tạo hình hàm súc.
Tượng Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Ảnh: phatgiao.vn
Hai kiệt tác điêu khắc khác nữa làm thành bộ ba tác phẩm danh bất hư truyền là tượng Tây Thiên Đông Độ Việt Nam lịch đại Tổ sư và tượng Thị Kính. Ngoài ra, trong chùa có hơn 70 pho tượng gỗ được tạc trong tư thế quỳ, đứng, ngồi với nét mặt thành kính trông rất sinh động như pho tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ..., còn tượng La Hán lại thể hiện cảm xúc nội tâm, mang nặng ý tưởng Phật giáo.
Đền phủ thờ nằm sau Phật điện, trong ngôi nhà 5 gian đặt hai pho tượng quý, tạc chân dung hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (nhà Lê) đầu đội vương miện nhưng khoác áo tu hành, và công chúa Ngọc Duyên. Từ thượng điện, đi qua một chiếc cầu đá có 3 nhịp uốn cong, bạn sẽ bắt gặp cây Cửu Phẩm Liên Hoa trong Tích Thiện am. Đây là một tháp bằng gỗ 9 tầng, 8 mặt, có thể quay tròn quanh một trục, có gắn tượng Phật và chạm những cảnh dân gian hay lấy đề tài trong Phật thoại.
Còn rất nhiều điều thú vị và hấp dẫn trong ngôi chùa cổ này đang chờ bạn khám phá, nhất là mùa lễ hội du xuân 2014 đang đến gần.
Vy An
                                        
Những điểm tham quan chính tại Bắc Ninh
(Tamlongtravel) - Bắc Ninh, quê hương của những làn điệu quan họ, của Hội Lim đặc sắc, cách Hà Nội không xa, chỉ khoảng 31km đến thị xã, đến Từ Sơn khoảng 20km, Hà Nội đi làng Đông Hồ hay chùa Dâu ở Thuận Thành khoảng 30km. Với nhiều nét văn hóa truyền thống thú vị và những thắng cảnh đẹp, Bắc Ninh là điểm đến khó bỏ qua tại phía Bắc.alt

Du lịch Bắc Ninh khi nào

Du lịch ở Bắc Ninh không phụ thuộc vào thời điểm nào trong năm, bạn có thể đi bất cứ lúc nào, vào mùa lễ hội đầu xuân thì càng thú vị. Lễ hội nổi tiếng nhất phải kể đến là Hội Lim diễn ra từ 13 – 15 tháng Giêng âm lịch.
Một số tuyến đi để tham khảo:
-Tuyến 1: làng Tranh Đông Hồ, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, thành cổ Luy Lâu, các vườn hoa cải.
-Tuyến 2: Đền Đô, thành phố Bắc Ninh, đền Bà Chúa Kho, Hội Lim, chợ vải Ninh Hiệp, có thể đi thêm cả Thổ Hà nữa.
  • -Tuyến 3: làng gốm Phù Lãng.

Những điểm du lịch chính:

Đền Đô

Một ngôi đền cổ lâu đời, được xây dựng từ thời Lý Công Uẩn, đến nay đa số các hạng mục công trình đã được khôi phục và xây mới lại. Đây là nơi thờ tám vị vua nhà Lý, có thể nói đây chính là nơi hội tụ của những con mang họ Lý. Đền tọa lạc tại làng Đình Bảng, Tiên Sơn, Bắc Ninh, đây cũng là làng có làng nghề làm bánh Phu Thê truyền thống.
Tại Đền Đô, lễ hội Đền Đô được tổ chức vào ngày 15 tháng 3 âm lịch hàng năm, đúng ngày Lý Công Uẩn đăng quang (15- 3 năm canh Tuất, 1010). Lễ hội đền Đô là một lễ hội truyền thống có từ lâu đời, là nơi để những người con Đất Việt hướng về cội nguồn dân tộc, tưởng nhớ những vị vua Lý anh minh, đã có công xây dựng đất nước Việt. Tới Đền Đô, nhiều du khách cũng tới ghé thăm Đình làng Đình Bảng, một ngôi đền cổ có kiến trúc độc đáo.

Làng tranh Đông Hồ

Làng tranh Đông Hồ là làng nghề nổi tiếng về tranh dân gian, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, cách Hà Nội khoảng 35 km. Làng Đông Hồ (đôi khi dân địa phương gọi là làng Hồ) nằm trên bờ nam sông Đuống, cạnh bến đò Hồ, nay là cầu Hồ. Đến với làng tranh Đông Hồ, bạn sẽ được tìm hiểu về qui trình sản xuất tranh, hiện nay trong làng chỉ còn lại 2 nhà còn lưu giữ và sản xuất tranh. Các hộ gia đình còn lại thường làm vàng mã, xuất đi các tỉnh thành ở miền Bắc.

Làng Gốm Phù Lãng

Làng Phù Lãng (thuộc xã Phù Lãng), nằm ở phía đông huyện Quế Võ, cách huyện lỵ khoảng 10 km và cách sông Lục Đầu khoảng 4 km. Phù Lãng nằm bên bờ sông Cầu và có nhiều bến đò ngang với những con đò chở khách qua lại cả ngày. Phù Lãng còn có nhiều ngọn núi đẹp, tạo nên cảnh sơn thuỷ hữu tình đáng nhớ. Khác với gốm Thổ Hà, gốm Phù Lãng được phủ một lớp men có hoa văn màu da lươn trông vừa thanh nhã vừa bền đẹp. Tới Phù Lãng, bạn hãy đi sâu vào các ngõ ngách trong làng và khám phá tận nhà các người thợ làm gốm, như vậy mớicó thể tận mắt thấy những lò gốm và tìm hiểu cách làm gốm. Những gì được thấy sẽ cho bạn nhiều tấm ảnh đẹp.
Chùa Dâu
Chùa thuộc thôn Khương Tự (còn gọi là làng Dâu), xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đây là ngôi chùa đầu tiên của Việt Nam, được khởi dựng vào đầu thế kỷ thứ 3.
Chùa Bút Tháp
Chùa tọa lạc ở phía tây thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Bút Tháp có nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cổ độc đáo, có nhiều tượng Phật và cổ vật quý.Chùa được xây dựng từ thời hậu Lê (thế kỷ 17). 
Nói đến Bắc Ninh, ta không thể không nói đến chùa Bút Tháp. Ðây là một ngôi chùa cổ, mặc dù đã trải qua những lần trùng tu, sửa chữa nhưng chùa vẫn giữ được những nét nguyên sơ hấp dẫn. 


Chùa Phật Tích


Ch
ùa nằm ở sườn núi Lạn Kha (Rìu Mục), xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. 
Chùa Phật Tích xưa kia là nơi có nhiều nhà tu hành tu luyện. Theo sử sách để lại thì chùa Phật Tích chính là nơi Phật ngự. Chùa Phật Tích còn gọi là chùa Vạn Phúc, được xây dựng vào khoảng thế kỷ 7 đến thế kỷ 10.


(tổng hợp)

Khám phá lễ hội Lim Bắc Ninh

Hội Lim là lễ hội văn hoá nghệ thuật có từ lâu đời đặc sắc của người dân Bắc Ninh làng quê quan họ. Mỗi năm cứ đến mùa du lịch lễ hội là Hội Lim, Bắc Ninh lại thu hút nhiều người, mọi thành phần lứa tuổi từ khắp nơi trên mọi miền tổ quốc về trẩy hội chơi xuân, trong đó phần đông là các bạn trẻ nam thanh nữ tú. Đến với Hội Lim họ lại cùng nhau ca hát. Với những cụ ông, cụn bà thì đến với hội là dịp tìm về tuổi thanh xuân, với tầng lớp thanh niên thì hội Lim lại là dịp tìm bạn, tìm duyên vui chơi, giải trí. Đây là một sự kiện văn hoá độc đáo nổi tiếng đã trở thành giá trị tinh thần của nền văn hóa Việt Nam.


Hội Lim du lịch lễ hội

Địa điểm diễn ra lễ hội: Ở Đồi Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng thờ cúng: Hai vị sư tổ của làn dân ca quan họ.
Nội dung: Tổ chức hát Quan họ trên đồi, trên các thuyền và tại nhà.
Cũng nằm trong khuôn khổ của các lễ hội truyền thống khác, ngoài hát hò và nhảy múa hội Lim cũng tiến hành những hoạt động nghi lễ trang nghiêm, thành kính nhằm suy tôn công đức của những người có công, gồm các lễ tế hay các trò hội dân gian mua vui, thi tài. Sáng sớm ngày 13 tháng chạp là lễ rước chùa Trũng tới chùa Hồng Ân, sau khi nghi lễ kết thúc, đoàn rước lại đón nước thiêng từ chùa Hồng Ân trở về chùa Trũng. Kết thúc lễ rước cùng là lúc khai hội.
Quan họ là loại thể loại dân ca nghệ thuật đặc sắc và chủ yếu của vùng Kinh Bắc ngày xưa. Sự nổi tiếng của những làn điệu dân ca quan họ không chỉ bởi ở lời ca trữ tình, say đắm yêu cuộc sống và tình yêu nồng nàn, hay với hàng trăm làn điệu dân gian đặc sắc mà còn do những đặc điểm độc đáo không có ở những làn điệu dân ca các vùng khác. Từ lời ăn tiếng hát đến cách ứng xử hàng ngày hay trong ngày hội, người dân Quan họ đều nhẹ nhàng, khiêm tốn. Tục kết “chạ” giữa các làng Quan họ hay kết bạn giữa các "bọn" Quan họ đã hình thành nếp sống đạo đức cao quý. Người Quan họ đều rất hiếu khác, là những anh em thân thiết với nhau. Sự hiếu khách của người Quan họ ngày xưa đã đi vào trong câu hát:
Mấy khi khách đến chơi nhà,
Lấy than, quạt nước tiễn trà người xơi.
Trà này ngon lắm người ơi,
Người xơi một chén cho tôi bằng lòng.
Và đến lúc chia tay về, thì thật là khó để chia ly vì lời ca bao giờ cũng như níu chân khách lại:
Người ơi, người ở đừng về...


Hội Lim du lịch lễ hội

Hội hát Quan họ cũng thường gắn với lễ hội chùa. Vậy nên chùa cũng là nơi nghỉ chân và đi lễ của khách Quan họ. Ở đây có tới 49 làng hát quan họ, phân bố chủ yếu trong bốn huyện ở phía nam tỉnh Bắc Ninh. Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là ở xã Lũng Giang ngày xưa. Hội mở trên đồi Lim, nơi có chùa Lim. Hội Lim là hội đông vui và nổi tiếng nhất trong các hội Quan họ. Hội mở vào ngày 13 tháng giêng, đúng vào phiên chợ đầu năm của chợ Lim.


Hội Lim du lịch lễ hội

Đến với hội Lim, du khách du xuân được xem và nghe hát khắp mọi nơi trên các đồi, hát sau sân chùa, hát trên thuyền hội và hát trong các gia hình, tiếng hát quan họ ở khắp mọi nơi làm say đắm lòng người; nếu để ý quý khách lại có thể nghe hát đối từng cặp đôi nam nữ. Khách du xuân, trẩy hội Lim còn được tham gia nhiều hoạt động văn hoá truyền thống khác của địa phương, như các trò chơi đu bay, chọi gà, chọi chim, đấu vật đánh bài tổ tôm... là những nét đặc trưng văn hóa dân gian còn giữ lại những trò chơi của hội làng cổ truyền mà hội Lim vẫn còn tồn tại như một di sản.
                                      

Chùa Phật Tích và cây tháp cổ thời Lý  - 
Chùa Phật Tích có tên chữ là "Vạn Phúc Tự" nằm lưng chừng sườn núi Phật Tích, thuộc thôn Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
 

Theo thư tịch cổ thì chùa Phật Tích là "cái nôi" Phật giáo du nhập vào nước ta. Vào thời Lý, chùa Phật Tích được xây dựng là Ðại danh lam. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết: Năm 1057, Lý Thánh Tông cho xây dựng một cây tháp cao hơn 10 trượng, trong chứa pho tượng Phật mình vàng cao 6 trượng.
Sang thời Trần, Phật Tích tiếp tục là đại danh lam thắng cảnh; các vua Trần thường tới đây thăm thú, lễ Phật, dự hội, đề thơ và từng tổ chức cuộc thi Thái học sinh tại đây. Ðến thời Lê Trung Hưng, chùa Phật Tích được quý tộc triều đình cho trùng tu với quy mô rất lớn theo kiểu chùa trăm gian có kiến trúc kiểu nội công ngoại quốc tòa ngang dãy dọc gồm các tòa như: tiền đường, thiêu hương, thượng điện, hậu đường, hành lang, nhà tổ, nhà mẫu. Năm 1952, thực dân Pháp chiếm đóng ở Phật Tích phá hủy hoàn toàn kiến trúc của ngôi chùa, chỉ còn trơ lại các lớp nền móng và một số di vật, cổ vật.
Năm 1959, chùa được dựng tạm mấy gian nhà nhỏ để bảo vệ pho tượng Phật A Di Ðà. Với giá trị to lớn nhiều mặt của chùa Phật Tích, ngay từ năm 1962 chùa Phật Tích đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Dẫu trải qua nghìn năm lịch sử, chùa xưa tháp cũ không còn nữa, nhưng đại danh lam chùa Phật Tích thời Lý còn để lại là những di sản văn hóa quý giá như: quy mô nền móng với bốn lớp nền to lớn, cùng với gạch ngói, chân cột, linh thú... đặc biệt là pho tượng Phật A Di Ðà.
Mặc dù pho tượng Phật A Di Ðà đã có 1000 năm tuổi, nhưng vẻ đẹp đã vượt thời gian và không gian, ở nhiều phương diện như: triết lý của Phật pháp, tạo hình, chất liệu, đường nét, hoa văn trang trí... Pho tượng Phật A Di Ðà được làm từ đá xanh nguyên khối, trong tư thế ngồi thiền tĩnh tọa trên tòa sen; thân tượng cao 1,845 m có thân hình thon thả, óng nuột và mềm mại bởi những đường cong và những nếp chảy của tấm áo cà sa khoác ngoài; cổ kiêu ba ngấn, nõn nà; khuôn mặt đầy đặn với đôi mắt hiền từ, lông mày thanh cong, miệng cười mỉm.
Toàn bộ thân hình và khuôn mặt của tượng toát lên vẻ đẹp thánh thiện, từ bi, hỷ xả, như đang thấu nghe mọi tiếng kêu cứu khổ, cứu nạn của mọi kiếp chúng sinh để cứu khổ độ nạn. Phần bệ tượng gồm hai phần: tòa sen có chu vi là 3,61 m gồm 15 cánh, trên mỗi cánh đều chạm nổi một đôi rồng giun; còn phần bệ bát giác có bốn cấp nhỏ dần từ dưới lên để đỡ đài sen, hai cấp dưới soi kiểu vỏ măng, hai cấp trên cạnh vuông khối; toàn bộ bệ bát giác được chạm nổi các hình rồng giỡn đuổi nhau, cúc dây, sen dây, cấp dưới cùng chạm hình sóng nước cách điệu.
Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, được sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước, năm 2008 chùa Phật Tích được khôi phục trùng tu với quy mô lớn gồm các tòa: Tam bảo, nhà tổ, nhà mẫu. Ðại đức Thích Ðức Thiện trụ trì ở chùa Phật Tích còn vận động các nhà hảo tâm, Phật tử gần xa, công đức xây dựng mới một số công trình như: viện Quan Âm, nhà khách, nhà trưng bày... và cho phục dựng một pho tượng Phật A Di Ðà mới cao gần 30 m đặt trên đỉnh núi Phật Tích. Khi thực hiện Dự án trùng tu tôn tạo chùa Phật Tích, trong quá trình đào móng tại khu vực tòa Tam bảo đã xuất lộ chân của cây tháp cổ đúng như sử sách ghi chép. Một cuộc khai quật khảo cổ học đã được tiến hành: Chân cây tháp cổ đã lộ nguyên hình, vuông lòng rỗng, tường tháp bao quanh rộng trung bình 2,4 m; mặt cắt ngang có diện tích trung bình 84,64 m2 (9,20 m x 9,20 m), được xây dựng bằng các loại gạch thời Lý có ghi niên đại: Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo (gạch được sản xuất vào triều Lý đời vua thứ 3, niên hiệu Long Thụy Thái Bình năm thứ 4, tức năm 1057). Vậy căn cứ vào bằng chứng khảo cổ học trên, cho biết niên đại chính xác tòa tháp này được xây dựng vào triều vua Lý Thánh Tông năm (1057) và đã từng được sử sách cổ ghi chép ca ngợi. Chùa Phật Tích với những di sản văn hóa quý giá như: quy mô nền móng to lớn với nhiều di vật, cổ vật thời Lý như chân cột, gạch ngói, con giống, linh thú, đặc biệt là tượng Phật A Di Ðà và việc phát lộ chân cây tháp cổ, đã khẳng định chùa Phật Tích đại danh lam thắng cảnh thời Lý nổi tiếng. Ðây là di tích thời Lý tiêu biểu hướng tới Ðại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Vừa qua, chùa Phật Tích đã khánh thành các công trình khôi phục trùng tu với quy mô to lớn và ngày 26-9-2010 đã được tổ chức lễ gắn biển: Công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội với hàng nghìn quý khách tham dự, tham quan.
Nguồn: Báo Bắc Ninh

Chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh)



 
Nằm gần trung tâm Phật giáo Luy Lâu, lịch sử chùa Tiêu Sơn gắn liền với lịch sử dựng nước của dân tộc. Linh khí đất Tiêu Sơn đã sản sinh cho dân tộc một người con ưu tú. Đó là vua Lý Thái Tổ. Chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh)




Đường đến chùa Tiêu Sơn

Đi theo đường Hà Nội – Bắc Ninh, đến ki-lô-mét 20 nhìn về bên trái thấy có quả núi đất mọc lên giữa đồng lúa mênh mông. Phía dưới chân núi là dấu tích dòng sông Tiêu Tương cổ thơ mộng còn tại lưng chừng núi, giữa rừng cây sum suê, thấp thoáng mái chùa cổ kính. Đó là chùa Tiêu Sơn, tên chữ Thiên Tâm tự, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh)

Hành hương thưởng ngoạn chùa Tiêu Sơn

Đến Tiêu Sơn, ngay trên đường lên nhà Tổ và chùa chính, ta gặp một nhà bia. Ở hai cột nhà bia đắp nổi đôi câu đối:
Lý gia linh tích tồn bi ký,
Tiêu lĩnh danh khu đắc sử truyền.
(Dấu thiêng nhà Lý còn bia tạc,
Danh thắng non Tiêu có sử truyền).

Ở giữa nhà bia đặt một tấm bia bằng đá nhám kích thước 60 x 40 x 25cm, mặt chính khắc bốn chữ “Lý gia linh thạch”. Bia trước ở vách núi, ba mặt bị đất cỏ che lấp, khi chuyển vào nhà bia, người ta mới biết mặt sau có khắc chữ Hán.
Chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh)
Chùa Thiên Tâm quy mô to lớn. Trước đây, hằng năm có hàng trăm tăng, ni từ khắp nước về đây nghe kinh, giảng đạo. Trong nhiều thế kỷ, chùa là nơi khắc ván in các bộ kinh lớn của nhà Phật. Vào năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ngôi cổ tự bỗng chốc đã biến thành đống tro tàn. May thay ở sườn núi còn khá nguyên vẹn 14 ngọn tháp, là nơi yên nghỉ của các vị sư tổ.
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, chùa Tiêu Sơn đã được dựng lại đơn sơ trên nền móng cũ. Năm 1992, nhân dân địa phương công đức tiền của dựng ngôi bảo tháp thờ vọng Lý Vạn Hạnh ở trước tòa tam bảo; lại dựng tượng vị thiền sư trên đỉnh núi Tiêu. Tượng Lý Vạn Hạnh tạo ở thế tọa thiền cao 8m, mặt hướng về phía kinh thành Thăng Long. Năm 2001 dựng lầu Bồ Tát giữa hồ nước lớn trước chùa. Năm 2002 dựng nhà Tổ. Năm 2003 dựng tam bảo theo kiến trúc xưa.
Chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh)
Tương truyền, vùng Tương Giang, Từ Sơn, Bắc Ninh, hơn nửa thế kỷ trước, một trong số các ngôi tháp trong vườn tháp chùa Tiêu Sơn có tượng bó cốt của một vị Thiền sư. Người đã để lại nhục thân của mình cho đời sau như một minh chứng cho lý tưởng Bồ Tát đạo.
Theo lịch sử Phật giáo, Thiền sư Như Trí là người đã có công khắc in Thiền Uyển Anh tập vào năm 1715 tại chùa Tiêu Sơn. Đây là bộ sử Thiền có giá trị trong kho tàng văn hoá Phật giáo nước nhà. Trong bài kệ truyền pháp của chùa Tiêu Sơn cũng có một đoạn nói về Thiền sư Như Trí: “Minh chân như tính hải. Kim tường phổ chiếu thông. Chí đạo thành chính quả. Giác ngộ chứng chân không”. Nửa thế kỷ trở lại đây, ngôi tháp được bịt kín, trông bề ngoài không khác là bao so với các ngôi tháp khác trong vườn.
Chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh)
Theo một nhà nghiên cứu về đạo Phật thì hệ phái Thiền Tông lấy pháp vô tướng làm căn bản, hành đạo mà không lưu dấu vết. Việc để lại xác thân của các Thiền sư là một cách thể hiện lý tưởng Bồ tát đạo để cho người đời sau chứng nghiệm, có tu là có kết quả, tu kiếp nào thì kết quả hiện tiền kiếp ấy. Tượng Thiền sư Như Trí tư thế ngồi thẳng, mắt mở to, tay để vững chãi, chân bán già; tuy đã tịch diệt nhưng tinh thần không lìa bỏ thế gian. Bằng xác thân của mình, Ngài như đang dẫn dắt người đời sau đến với đạo một cách chân thực, giản dị.
Dòng tượng bó cốt nhục thân các thiền sư không chỉ có ý nghĩa về lịch sử, văn hoá mà còn chứng tỏ những khả năng kỳ diệu của con người. Lần lượt bóc sạch những lớp vỏ bí hiểm của tôn giáo để chứng minh cho một chân lý: có tu thì có đắc.
Ngày nay, du khách về vãng cảnh chùa không những được hiểu sâu hơn về thiền sư Vạn Hạnh mà còn biết thêm thiền sư Thích Như Trí, viên tịch 1723, để lại nhục thân còn khá nguyên vẹn trong tháp Viên Tuệ trước chùa.
Thiền sư Thích Như Trí là người có công lớn trong việc sưu tập và in ấn các cuốn sách của đạo Phật để lại cho đời những ấn phẩm quý, những áng thơ hay. Chùa còn lưu giữ tài liệu ‘Thiền uyển tập anh’, tác phẩm sử học và văn học có giá trị ghi chép về các vị anh tú trong vườn
Theo dulichGo

Bắc Ninh: Lễ hội chùa Dạm

Chùa Dạm, Bắc Ninh. Nguồn: Internet
(Cinet)- Lưng chừng núi Dạm có ngôi chùa Dạm cổ kính. Hàng năm, từ 7-9/9 người dân xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh lại tưng bừng tổ chức Lễ hội truyền thống chùa Dạm.
Chùa Dạm có tên chữ là “Đại Lãm Tự” hay chùa Cao, chùa Bà Tấm là đại danh lam thắng cảnh trên núi Dạm được Hoàng Thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông xây dựng vào năm Quảng Hựu 2 (1086) và đến năm Hội Phong 3 (1094) thì khánh thành. Đến năm Long Phù thứ 5 (1105), vua còn cho dựng ba cây tháp đá lớn ở chùa. Phong cảnh chùa thâm u, cổ kính với 100 gian nhà được ghép bằng đá, chiều dài 120 mét, chiều rộng 70 mét, với khoảng 12 toà sen tráng lệ. Chùa được coi là trung tâm Phật giáo nổi tiếng thời Lý. Thời Lê Trung Hưng, chùa Dạm được trùng tu tôn tạo. Việc trùng tu, tôn tạo chùa còn được lưu lại trên tấm bia đá có tên: “Đại Lãm Thần Quang tự trùng tu bi ký” được dựng năm Chính Hoà 15 (1694). Những năm kháng chiến chống Pháp, giặc Pháp đã phá huỷ hoàn toàn chùa Dạm. Chỉ còn lại dấu tích 4 lớp nền móng kè đá còn nguyên gốc (cao chừng 5 – 6 m), những tảng đá chân cột (0,7 x 0,7 m) được chạm khắc cánh hoa sen cầu kỳ, viên gạch ngói đất nung có chạm khắc tinh xảo của thời Lý với nhiều hoa văn nghệ thuật, giếng Bống và 2 pho tượng Hoàng thái hậu Nguyên Phi Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông. Đặc biệt, nơi đây còn bảo lưu được một cột đá nguyên khối cao hơn 5 m, gồm 2 phần: phần dưới là khối hình hộp, (cạnh 1,4m x 1,6m), phần trên là khối hình trụ có tiết diện tròn (đường kính 1,3m) được chạm nổi đôi rồng lớn quấn quanh cột, đầu rồng ngẩng cao, miệng ngậm ngọc, chầu vào hình mặt trời tỏa sáng, mào và bờm bốc lên như ngọn lửa. Đến năm 1986, để bảo tồn khu di tích vô cùng quý giá này, nhân dân địa phương đã xây dựng tạm một ngôi chùa nhỏ thờ Phật, phía sau là ngôi đền nhỏ thờ Hoàng Thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông là người có công xây dựng chùa.
Các thôn nằm quanh chân núi Dạm được ăn lộc điền của chùa như: Môn Tự, Tự Thôn, Sơn Nam đều thờ Hoàng Thái hậu Ỷ Lan làm Thành Hoàng làng. Hàng năm cứ đến ngày 7 tháng 9 (âm lịch) chùa Dạm lại tưng bừng mở hội. Lễ hội đã trở thành hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh ăn sâu trong tiềm thức của người dân địa phương. Trong 3 ngày, đông đảo người dân và du khách thập hương nô nức về trảy hội chùa Dạm thành tâm lễ Phật và thưởng ngoạn cảnh đẹp của ngôi chùa cổ. Đặc biệt vào ngày chính hội mùng 8 tháng 9, các thôn quanh núi Dạm như: Sơn Nam, Môn Tự, Sơn Trung, Triều Thôn và Tự Thôn đều có tục rước kiệu Thành Hoàng làng lên đền “Bà Tấm” (tức đền Vua Bà thờ Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan) để yết kiến “Vua Bà”. Kiệu Thần của các thôn được rước lên chùa tập trung tế lễ theo nghi lễ truyền thống. Lễ vật dâng lên “Vua Bà” bao giờ cũng phải có bánh trưng, bánh dày. Sau khi tế lễ ở chùa một ngày xong, kiệu của làng nào được rước về đình của làng đấy, tiếp tục tế lễ và mở hội. Sau phần lễ trang nghiêm, phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như Vật, đu, cà kheo, thi dệt vải, thi cỗ, đập niêu, chọi gà... và thưởng thức những làn điệu quan họ đối đáp ngọt ngào, mượt mà của các liền anh, liền chị.
Chia tay lễ hội, hẹn năm sau gặp lại, âm vang của làn điệu quan họ của vùng Kinh Bắc còn vấn vương níu chân du khách./.
Cinet tổng hợp
 Làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh): Lấp lánh màu dân tộc

     Nằm ấp mình bên bờ đê phía nam của dòng sông Đuống hiền hoà, nghiêng trôi một “dòng lấp lánh”, làng tranh Đông Hồ đã trải qua biết bao những thăng trầm để giữ cho “hồn dân tộc” mãi được “sáng bừng trên giấy điệp”.
     Từ Hà Nội muốn đi Đông Hồ đường gần nhất du khách thường đi là xuôi theo đường Quốc lộ số 5 (đường đi Hải Phòng) đến ga Phú Thụy, cách Hà Nội chừng 15 km thì rẽ trái, đi chừng 18 km nữa, qua các địa danh khá nổi tiếng của huyện Gia Lâm (Hà Nội) như phố Sủi, chợ Keo, chợ Dâu (Thuận Thành-Bắc Ninh) là đến phố Hồ - huyện lỵ Thuận Thành. Rẽ trái thêm 2 km là đến làng Hồ. Cũng có thể đi hết phố Hồ, lên đê rẽ trái, gặp điếm canh đê thứ hai sẽ có biển chỉ đường xuống làng Đông Hồ.
     Tranh Đông Hồ nổi tiếng khắp trong và ngoài nước không chỉ bởi chất liệu đặc biệt, phương pháp in độc đáo mà còn bởi nội dung phong phú. Chất liệu tranh Đông Hồ bắt nguồn từ các sản phẩm của thiên nhiên, gắn bó gần gũi với đời sống người Việt Nam như vỏ cây dó dùng để làm giấy, lá tre, viên sỏi, hoa hiên, bột nếp dùng làm màu, gỗ thị làm bản khắc…
     Nhìn vào một bức tranh dân gian Đông Hồ, người xem không khỏi trầm trồ, thú vị trước những màu sắc phong phú, tươi tắn; những hình khối, đường nét tuy đơn giản nhưng sống động, thực mà hư, hư mà thực, gần gũi với đời sống của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Mỗi bức tranh có từ bẩy đến tám màu nhưng mỗi màu phải in theo một trình tự nhất định: đầu tiên là màu đỏ, rồi xanh, tiếp đến là trắng, hồng hoặc vàng và cuối cùng là màu đen (bản nét). Mỗi một màu của bức tranh lại đi kèm với một bản khắc bằng gỗ thị.
     Tranh làng Ðông Hồ không phải vẽ theo cảm hứng nghệ thuật mà người dùng ta dùng ván để in. Ðể có những bản khắc đạt đến trình độ tinh xảo phải có người vẽ mẫu. Những người vẽ mẫu và bản khắc ván đòi hỏi họ phải có lòng yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đặc biệt phải có trình độ kỹ thuật cao. Công đoạn in tranh có lẽ không khó lắm bởi lẽ ai cũng có thể phết màu lên ván rồi in.
     Giấy dùng in tranh là loại giấy gió mịn mặt. Trước khi in, giấy được bồi điệp làm nền, chất điệp óng ánh lấy từ vỏ con sò, con hến đã tạo nên chất liệu riêng biệt của tranh dân gian Ðông Hồ.
     Sau khi in thành tranh, kể cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia có sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên. Các màu đã hoà quyện in tranh thường lấy từ chất liệu thiên nhiên: màu đen người ta phải đốt lá tre rồi lấy than của nó; màu xanh lấy từ vỏ và lá tràm, màu vàng lấy từ hoa hòe, màu đỏ thắm lấy từ thân, rễ cây vang, màu sơn lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp...Những năm gần đây có một số người khi in tranh đã từng dùng một số màu và hoá chất hiện đại, như thế sản phẩm có tăng nhưng chất liệu màu của tranh không tươi màu sắc nét như tranh làm truyền thống. Ðã thế, chỉ trong một thời gian ngắn màu sắc bị phai nhạt.
     Ðông Hồ, một cái tên làng quen thuộc xinh xắn nằm bên bờ sông Ðuống thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã từ lâu đi vào cuộc sống tinh thần của mỗi người dân Việt Nam bằng những bức tranh dân gian nổi tiếng, đậm đà sắc thái dân tộc.
     Không phải tự nhiên tranh Đông Hồ được nhà thơ Hoàng Cầm nhắc đến đầy tự hào và kiêu hãnh trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” như một đặc sản nghệ thuật của vùng quê Kinh Bắc. Cái làm nên nét đặc sắc độc đáo của tranh Đông Hồ chính là chất liệu làm tranh, được chế biến thủ công từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên: Giấy làm từ cây dó, màu đỏ từ gạch non, màu vàng từ hoa điệp vàng, màu đen từ lá tre đốt, màu trắng được nghiền từ vỏ sò, ốc…
     Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau  từ việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy  và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi… Cứ thế, dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày... như “bừng” sáng trên giấy dó. Mọi giai đoạn đều thật công phu nên đòi hỏi người làm tranh luôn cẩn trọng, cầu kì, chú ý đến từng chi tiết nhỏ để có được một bức tranh đẹp.
     Không chỉ có người Hà Nội và dân một số tỉnh thành trong nước sành điệu, yêu thích tranh dân gian Tết Ðông Hồ về tham quan tìm hiểu và chọn mua, mà không ít du khách, những người trong lĩnh vực hội hoạ, mỹ thuật của nước ngoài cũng đến để nghiên cứu về nghệ thuật tranh dân gian nổi tiếng của làng Hồ.
     Ðã có một thời gian tranh dân gian Ðông Hồ bị lãng quên nên nghề làm tranh mai một ít nhiều. Không ít hộ bỏ làm tranh chuyển sang làm đồ vàng mã. Nhưng vài năm trở lại đây , người Ðông Hồ lại hoan hỉ trở lại với nghề tranh nhiều hơn bởi người dân của ta đã lại nhận ra vẻ đẹp trong sự mộc mạc giản dị của tranh Ðông Hồ là không thể thiếu được trong cuộc sống thường nhật, nhất là ngày Tết.
     Sau nhiều năm có nguy cơ mai một, làng tranh dân gian Đông Hồ, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) đang có sức sống trở lại, trở thành một điểm tham quan du lịch văn hóa có sức hấp dẫn du khách cả trong và ngoài nước. Có lẽ đã đến lúc đón nhận sự quay trở lại của  dòng sản phẩm văn hóa truyền thống. Hi vọng trong tương lai gần, cùng với các làng nghề truyền thống khác trên cả nước, làng tranh Đông Hồ sẽ tìm lại được vị trí vốn có của mình và ngày càng phát triển, làm giàu thêm cho nền văn hoá đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam.
Nguồn: Website Xã Luận - Tổng cục du lịch



Hội chọi trâu Phú Sơn, Bắc Ninh: Không giết thịt “ông trâu” thắng trận

GĐ&XH

GiadinhNet - Trong thời điểm Lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng đang gây xôn xao bởi những luồng dư luận trái chiều thì Bắc Ninh tiếp tục đăng cai tổ chức Hội chọi trâu Phú Sơn. Năm nay, để tránh những điều tiếng không hay và tô đậm ý nghĩa nhân văn của hội chọi trâu, ban tổ chức yêu cầu các chủ trâu cam kết không được giết thịt “ông trâu” thắng trận mà giữ lại nuôi để tiếp tục tham gia thi đấu.
Ban tổ chức Hội chọi trâu Phú Sơn trả lời các thắc mắc của báo chí. Ảnh: HTL
Lần đầu có hội chọi trâu Bắc Ninh
Hội chọi trâu Phúc Thọ (Hà Nội) diễn ra vào giữa tháng 1/2014 đã thu hút hơn 3 vạn người tham dự và nhiều cơ quan báo đài đến đưa tin. Năm nay, Báo Nông thôn ngày nay (NTNN) lại kết hợp với Sở VH-TT&DL tỉnh Bắc Ninh tổ chức Hội Chọi trâu Phú Sơn (Bắc Ninh). Hội sẽ diễn ra trong hai ngày 2 - 3/3 (tức ngày 12 - 13 tháng Giêng năm Ất Mùi), với sự tham dự của 24 “ông trâu” tới từ nhiều địa phương trong cả nước.
Theo ông Lưu Quang Định, Tổng biên tập Báo NTNN, Trưởng ban tổ chức, sở dĩ năm nay Bắc Ninh được lựa chọn tổ chức hội chọi trâu vì Bắc Ninh là vùng quê của lễ hội (Bắc Ninh có số lượng lễ hội lớn thứ hai cả nước với 547 lễ hội) lại có khá nhiều trâu chọi và có cơ sở vật chất đảm bảo điều kiện để có thể tổ chức một hội chọi trâu với quy mô lớn. Việc tổ chức Hội chọi trâu ở Bắc Ninh cũng là dịp để quảng bá, giới thiệu những nét văn hóa truyền thống, danh lam thắng cảnh của quê hương Bắc Ninh với du khách trong và ngoài tỉnh. Đồng thời, qua đó thúc đẩy phát triển du lịch dịch vụ và kinh tế của địa phương, tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương. “Chúng tôi sẽ tổ chức mỗi năm ở một địa phương chứ không riêng gì Phúc Thọ hay Bắc Ninh. Sẽ có nhiều địa phương khác được xem hội chọi trâu”, ông Lưu Quang Định khẳng định.
Đại diện Ban tổ chức cũng cho biết, đến thời điểm hiện tại đã có 24 trâu đăng ký tham gia thi đấu. Điều kiện tham gia là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đăng ký trâu tham gia phải viết đơn và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi đăng ký kinh doanh, đăng ký hộ khẩu, phải ký vào mẫu đơn do ban tổ chức phát hành. Để đảm bảo việc cam kết có trâu tham dự hội và chấp hành mọi quy chế, điều lệ của ban tổ chức, các chủ trâu phải đặt cọc 3 triệu đồng. Ban tổ chức sẽ hoàn trả số tiền trên sau khi kết thúc hội.
Trâu chọi đăng ký tham dự hội phải là trâu đực, màu lông đen, có độ tuổi từ 8 – 15 năm tuổi, có đường vanh đai ngực đạt từ 200cm trở lên, nặng 650kg, với các biểu hiện nhanh nhẹn, linh hoạt và đáp ứng đủ các tiêu chí về trâu chọi theo xét tuyển của ban tổ chức.
Sân vận động Trung tâm Suối Hoa, TP Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh), nơi diễn ra sự kiện này chỉ có sức chứa khoảng một vạn người nên để tránh tình trạng quá tải, ban tổ chức sẽ phát hành khoảng 80% số vé. Giá vé vòng loại là 100.000 đồng/vé, vòng chung kết là 120.000 đồng/vé. Ban tổ chức cam kết bảo đảm an toàn nhất cho du khách, người dân khi tham dự hội chọi trâu.
Chủ trâu phải cam kết sẽ giữ lại trâu thắng trận
“Ngày xưa, “ông trâu” nào đoạt chức vô địch thì bị giết để hiến tế các bậc thánh thần trong làng. Sau này các trâu thắng trận trong hội chọi trâu ở Đồ Sơn, Hải Lựu, Hàm Yên… đều bị giết thịt. Thực ra, từ lâu lắm rồi trâu tham gia chọi không phải để sử dụng làm sức kéo sản xuất nông nghiệp, nhiều người dân nuôi trâu để thịt, làm thực phẩm phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày.
Năm ngoái, việc buôn bán thịt trâu sau khi hội chọi trâu Phúc Thọ kết thúc đã làm dấy lên nhiều luồng dư luận trái chiều. Vậy nên, năm nay ban tổ chức sẽ yêu cầu các chủ trâu cam kết sẽ giữ lại “ông trâu” thắng trận để tiếp tục tham gia thi đấu ở các hội chọi trâu khác. Những trâu không thắng trận thì tùy sử dụng của chủ trâu nhưng cũng phải cam kết việc giết thịt trâu diễn ra an toàn, vệ sinh, được quây kín bằng tôn, không giết trâu công khai chỗ đông người để tránh gây phản cảm. Thực ra, trâu chọi không giống trâu thường vì nó được chăm sóc với một chế độ rất đặc biệt. Vì thế, trâu thắng trận nếu giữ lại để chăm sóc cũng rất tốn kém nên các chủ trâu rất ít khi giữ lại nuôi. Nếu không cho họ giết trâu ở nơi tổ chức hội thì họ cũng sẽ mang đi nơi khác giết để bán thịt. Trâu là tài sản của chủ trâu nên việc cấm đoán đôi khi cũng khó”, ông Lưu Quang Định cho biết. Ban tổ chức cũng cam đoan sẽ kiểm soát giá thịt trâu để các chủ trâu không thể “hét giá trên trời” và không cho mang thịt trâu ở ngoài vào bán trà trộn với thịt trâu chọi.
Lý giải vì sao Bắc Ninh tổ chức hội chọi trâu Phú Sơn 2015 trong khi dư luận về lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng, xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du vẫn còn “nóng hổi”, ông Lê Đắc Thuật, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL Bắc Ninh cho biết: “Hội chọi trâu ở Phú Sơn trùng thời điểm diễn ra hội Lim và hội Bà Chúa Kho nên chúng tôi mong muốn các du khách về Bắc Ninh dự hội vừa đi lễ, vừa có cơ hội xem hội.
Về quan điểm gần đây lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng gây nên làn sóng phản đối vì hành động chém lợn rất dã man nay lại tổ chức hội chọi trâu liệu có phải “thách thức dư luận”, tôi xin trả lời rằng “phản cảm” hay “không phản cảm” là quan điểm của từng người. Không phải cứ đổ máu, giết thịt... là phản cảm vì những lễ hội ngày nay đều mang màu sắc truyền thống văn hóa bản địa, gắn liền với phong tục tập quán của cha ông xưa. Ở các nước trên thế giới cũng có những lễ hội rất kỳ quặc như rước bộ phận sinh dục, ném cà chua, tắm máu ngựa… nhưng đều được người dân ở đó gìn giữ và lấy làm tự hào bởi nó là lễ hội của riêng họ. Tôi cho rằng, không phải ai xem hội chọi trâu cũng đều cho việc giết thịt trâu là dã man bởi nếu vậy họ đã không giành nhau mua cho bằng được thịt trâu về làm may”.
Hà Tùng Long
Du thuyền trên sông Cầu - Bắc Ninh
Nguồn: website Tourdulich
Cập nhật: 15/11/2010, 14:37:54
Du khách đến Bắc Ninh không khỏi nhớ về chiến thắng Như Nguyệt diễn ra trên dòng sông Cầu. Trên dòng sông này vào mùa xuân năm 1077 đã diễn ra 2 cuộc chiến thắng Như Nguyệt lần I và Như Nguyệt lần II là thắng lợi oanh liệt của trấn quyết chiến hiến lược có ý nghĩa kết thúc chiến tranh. Ðến nơi đây du khách sẽ hình dung ra được toàn cảnh của cuộc chiến thắng xưa và những dấu tích đã để lại.

Du thuyền trên dòng sông Cầu, du khách sẽ cảm nhận được sự êm ả, thanh bình của vùng đất này. Ðiều thú vị là du khách sẽ được thưởng thức bánh phu thê, được hướng dẫn viên giới thiệu những làn điệu dân ca quan họ mượt mà đằm thắm. Ðặc biệt, trên thuyền còn có dàn âm thanh sẵn sàng phục vụ du khách muốn học hát quan họ. Bạn cũng sẽ thấy thú vị khi đến các di tích lịch sử ven sông để rồi sau đó được du ngoạn trên bãi nhãn, rặng tre, nghỉ ngơi và thả hồn trong phong cảnh đồng quê trù phú.
Du thuyền trên dòng sông Cầu, du khách có thể đi ngược dòng từ đền Bà chúa Kho, chùa Cổ Mễ, đình Thổ Hà đến bến sông Như Nguyệt. Hoặc xuôi dòng từ làng tiến sĩ Kim Ðôi, về cầu Như Nguyệt. Mỗi du thuyền trên dòng sông Cầu chở được 30 người.
Bạn có thể liên hệ trực tiếp với phòng Hướng dẫn Du lịch, Công ty Du lịch Bắc Ninh, 90 Ninh Xá, thị xã Bắc Ninh. ÐT: (0241) 821.296 - 922.926.
Số lần đọc: 1715[ In bài]

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32