CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 107

(ĐC sưu tầm trên NET)

Cuộc đời chìm nổi của thiên tài quân sự Liên Xô Tukhachevsky


VOV.VN - Nguyên soái Tukhachevsky là một nhà chỉ huy thiên tài, một lý luận gia xuất chúng có đóng góp to lớn vào nền quân sự Liên Xô và thế giới.

Xuất thân từ một gia đình quý tộc, Mikhail Tukhachevsky gia nhập phái cách mạng Bolshevik chiến đấu chống lại các phần tử ủng hộ Sa hoàng ở vùng Siberia và miền Nam nước Nga trong giai đoạn nội chiến Nga.
cuoc doi chim noi cua thien tai quan su lien xo tukhachevsky hinh 0
Con tem Liên Xô năm 1963 vinh danh cố Nguyên soái Mikhail Tukhachevsky và học thuyết quân sự của ông. Ảnh: Andrei Sdobnikov.
Tukhachevsky được giới sử gia coi là một tư lệnh và chiến lược gia quân sự lỗi lạc, người đã đặt nền móng cho các thắng lợi vĩ đại của Hồng quân Liên Xô.
Với tài năng và đóng góp to lớn của mình, ông thăng tiến nhanh chóng trong hàng ngũ lãnh đạo quân sự của Liên Xô.
Thế nhưng sự đời khó biết được chữ ngờ. Từ đỉnh cao vinh quang, ông bất ngờ bị cách mọi chức vụ, bị giam dưới hầm tối với tội danh làm gián điệp và phản bội Tổ quốc.
Bị quân Đức bắt trong Thế chiến 1 và gia nhập Hồng quân
Mikhail Tukhachevsky sinh ra trong một gia đình quý tộc ở vùng Smolensk vào năm 1893. Sau khi tốt nghiệp trường quân sự Aleksandrovskoye, ông gia nhập trung đoàn cận vệ Semyonovsky lẫy lừng và được gửi ra mặt trận tham gia Thế chiến thứ 1.
Trong thời gian nửa năm chiến đấu, Tukhachevsky được trao tặng 6 huân chương vì lòng can đảm. Tháng 2/1915 ông bị quân Đức bắt. Giai đoạn đó ông đã cố chạy trốn tới 4 lần. Khi bị cầm tù ở pháo đài Ingolstadt, nơi giam giữ những tù nhân “ương bướng và nguy hiểm nhất”, Tukhachevsky đã gặp đại úy Charles de Gaulle, người về sau trở thành anh hùng kháng chiến và Tổng thống của Pháp.
Nỗ lực trốn ngục lần thứ 5 của Tukhachevsky đã thành công và ông xoay sở để về được nước Nga vào tháng 10/1917, khi phong trào nổi dậy của phái Bolshevik đang lên cao. Giai đoạn đầu ông được phong cấp bậc đại úy trước khi giải ngũ. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, ông gia nhập Đảng Bolshevik và Hồng quân, nơi ông thăng tiến nhanh chóng trong hàng ngũ chỉ huy. Về sau ông tâm sự, “cuộc đời thật của tôi bắt đầu kể từ Cách mạng tháng Mười và khi gia nhập Hồng quân”.
cuoc doi chim noi cua thien tai quan su lien xo tukhachevsky hinh 1
Nhà chỉ huy và lý luận quân sự hàng đầu thế giới Mikhail Tukhachevsky. Ảnh: istorya.ru.
Trong Nội chiến Nga, Tukhachevsky chiến đấu chống lại lực lượng Bạch vệ do Đô đốc Aleksandr Kolchak cầm đầu. Năm 1919 ông giúp phái Bolshevik chiếm lại vùng Siberia. Năm 1920, ông được điều về mặt trận phương Nam nơi ông cuối cùng đánh tan các lực lượng của một viên tướng Bạch vệ khác tên là Anton Denikin ở vùng Crimea.
Tư lệnh cứng rắn
Nội chiến Nga chưa kết thúc nhưng Đảng Bolshevik đã cử Tukhachevsky đưa quân sang Ba Lan hỗ trợ phong trào cách mạng ở đây và kết nối nó với Nga.
Giai đoạn sau, ông được giao nhiệm vụ trấn áp một cuộc nổi loạn của hải quân đánh bộ ở cảng Kronstadt gần Leningrad (nay là Saint Petersburg).
Cùng thời điểm với cuộc nổi loạn của thủy quân lục chiến, hàng trăm ngàn nông dân bị lực lượng phản động xúi giục đã nổi dậy ở nhiều nơi nhằm lật đổ chính quyền cách mạng.
Dưới sự lãnh đạo của Tukhachevsky, các đơn vị Hồng quân đã sử dụng những biện pháp vô cùng cứng rắn để trấn áp không thương tiếc các thủy thủ nổi loạn cũng như các cuộc bạo động ở khu vực Tambov và Voronezh của Nga.
Đối phương có thể coi Tukhachevsky là một chỉ huy đáng sợ nhưng trên thực tế Tukhachevsky lại là một con người rất nho nhã, yêu nhạc, đặc biệt ngưỡng mộ Beethoven, và thậm chí tự tay chế ra violin.
Năm 1921 Mikhail Tukhachevsky được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Học viện Quân sự Hồng quân. Trong giai đoạn 1925-1928, ông được cử làm một trong các Tham mưu trưởng Xô viết. Vài năm tiếp theo, ông nhanh chóng vươn lên thành Phó Dân ủy Quốc phòng (tức Thứ trưởng Quốc phòng) vào năm 1934 và Thứ trưởng thường trực vào năm 1936.
Cha đẻ của nhiều trường quân sự Xô viết
Ở tuổi 42 ông được phong trở thành một trong 5 vị Nguyên soái đầu tiên trong lịch sử Liên Xô. Trong thập kỷ này, Tukhachevsky tham gia sâu vào việc hiện đại hóa Hồng quân, với nỗ lực cải biến các đơn vị cách mạng phi chính quy thành một lực lượng mạnh và hiệu quả.
cuoc doi chim noi cua thien tai quan su lien xo tukhachevsky hinh 2
Năm vị Nguyên soái đầu tiên của Liên Xô, được phong vào tháng 11/1935. Trong ảnh, Tukhachevsky ngồi ngoài cùng bên trái. Ảnh: Pinterest.
Ông đã khởi xướng việc lập ra một số cơ sở quân sự cùng với các học viện chuyên về lính dù, xe tăng, pháo binh và không quân. (Bản thân ông cũng viết nhiều sách về lý luận quân sự, đặc biệt là lý thuyết "tác chiến chiều sâu", tạo nền móng cho học thuyết quân sự Liên Xô và đóng góp đáng kể vào kho tàng nghệ thuật quân sự thế giới – ND).
Tukhachevsky cũng ủng hộ các nghiên cứu sơ khởi về việc chế tạo rocket. Nhìn chung ông chủ trương tái trang bị cho quân đội bằng những vũ khí tân tiến, công nghệ cao.
Trong lĩnh vực này, ông cực lực phản đối Bộ Quốc phòng Liên Xô và thủ trưởng trực tiếp của mình khi ấy là Bộ trưởng Quốc phòng Kliment Voroshilov. Quan điểm của Voroshilov coi kỵ binh là lực lượng mạnh nhất trên chiến trường và ông ta không chịu từ bỏ quan điểm này cho tới khi Thế chiến thứ 2 bắt đầu.
Thành công ở cả tư cách chỉ huy và quản lý quốc phòng, Nguyên soái Tukhachevsky bị nhiều kẻ ghen tức và gièm pha.
Ngày định mệnh
Vào ngày 22/5/1937, Nguyên soái Tukhachevsky đột ngột bị bắt giữ theo lệnh trực tiếp của lãnh đạo cao nhất khi đó mà không hề có quyết định của tòa án hay bên công tố.
Ông cùng 7 sĩ quan cao cấp khác bị kết án âm mưu chống chế độ.
Cả 8 chỉ huy cao cấp này cùng bị kết tội làm gián điệp và phản quốc. Việc xét xử họ cũng mở ra một trang đen tối trong lịch sử Liên Xô khi ấy, khi hàng trăm ngàn người trong Hồng quân bị thanh lọc trong cuộc Đại thanh trừng.
Không chỉ vậy, rất nhiều người thân của Tukhachevsky bị liên lụy và chịu nhiều khổ đau tột cùng...
(Bên cạnh đó, các lý luận quân sự của Tukhachevsky cũng bị gạt bỏ. Chỉ đến khi Thế chiến thứ 2 diễn ra một thời gian và Hồng quân Liên Xô liên tiếp bị đẩy lui trên chiến trường, người ta mới chịu quay trở lại với các tư tưởng quân sự đúng đắn của ông - ND).
Mãi đến năm 1957, khi đã thành người thiên cổ từ rất lâu, ông mới được phục hồi danh dự và vị thế. Năm đó, dưới thời lãnh đạo Nikita Khrushchev, bản án dành cho Tukhachevsky được lật lại. Đến năm 1988 bản án của ông được xóa bỏ về mặt tư pháp.
Có 3 phiên bản về việc thất sủng của Nguyên soái Tukhachevsky. Giả thuyết thứ nhất cho rằng ông quá nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng lớn nên có những kẻ ghen ghét, muốn hãm hại.
Giả thuyết thứ 2 cho rằng lực lượng mật vụ Đức Quốc xã muốn loại bỏ các vị chỉ huy quân sự tài năng nhất của Liên Xô trước khi nổ ra chiến tranh nên chúng đã tung tin đồn về một âm mưu tạo phản trong nội bộ quân đội Xô viết.
Cách lý giải thứ 3 được nhiều sử gia chia sẻ là việc Tukhachevsky luôn khẳng định rằng Đức Quốc xã là kẻ thù chính của Liên Xô mà điều này lại cản trở phe ủng hộ quan hệ hòa giải với Đế chế 3 nên họ đã ra tay loại bỏ Nguyên soái này.
Cuộc thanh trừng giai đoạn thập niên 1930 thực sự đã làm suy yếu đáng kể sức mạnh của Hồng quân Liên Xô trước khi họ bước vào Thế chiến 2./.

Trung Hiếu/VOV.VN Lược dịch từ RT

 

8 điều ít biết về Thống chế Đức Erwin Rommel - “Cáo sa mạc” Bắc Phi


VOV.VN - Sau bảy thập kỷ, vẫn còn nhiều điều chưa biết về Thống chế Rommel – viên tư lệnh lão luyện của phát xít Đức ở mặt trận Bắc Phi.

Vào ngày 14/10/1944, hai phái viên của Đức Quốc xã xuất hiện tại tư gia của tư lệnh quân sự cấp cao Erwin Rommel – nhân vật nổi bật vào đầu Thế chiến 2 ở chiến trường Pháp và Bắc Phi.
8 dieu it biet ve thong che duc erwin rommel - "cao sa mac" bac phi hinh 0
Thống chế Rommel. Ảnh: History.com
Các phái viên này tố cáo Thống chế Rommel đã tham gia vào một âm mưu ám sát bất thành Adolf Hitler và đưa cho Rommel sự lựa chọn nghiệt ngã: Hoặc ra tòa để bị xử về tội phản quốc, hoặc uống thuốc độc tự tử.
Biết rằng đằng nào cũng chết dưới chế độ của Hitler, Thống chế Rommel đã đồng ý nhét viên thuốc cực độc cyanide vào miệng để đổi lấy quyền miễn trừ cho gia đình mình.
Bảy thập kỷ sau, người ta đã xác định được một số thông tin mới về nhân vật “Cáo sa mạc” (biệt hiệu mà bạn bè và đối phương đặt cho Rommel).
1. Thời bé hiền lành và dễ bảo
Mặc dù sau này trong binh nghiệp của mình Rommel nổi tiếng với những chiến thuật táo bạo, chị gái của ông mô tả Rommel thời nhỏ là một đứa trẻ hiền lành và dễ bảo.
Rommel thời bé mê toán học và kỹ thuật. Ông cùng bạn bè lứa tuổi 14 đã tự chế một chiếc tàu lượn hoàn thiện. Ông cũng tháo rời một chiếc xe máy và lắp ráp trở lại.
Không đủ điểm vào đại học, Rommel tính đến chuyện vào làm tại một nhà máy khinh khí cầu gần quê nhà ở miền nam nước Đức.
Thế nhưng người cha của Rommel là hiệu trưởng một trường học đã hướng ông vào con đường quân ngũ.
Không được vào lực lượng pháo binh và công binh, chàng trai 18 tuổi Rommel cuối cùng được nhận vào binh chủng bộ binh vào năm 1910 với tư cách học viên sĩ quan. Khác với những người thân là nam giới đi nghĩa vụ quân sự, ông sau đó ở lại trong quân đội trong suốt phần còn lại của đời mình.
2. Bị thương nhiều lần trong cả 2 cuộc Thế chiến
Rommel xông xáo tham gia vào nhiều cuộc tấn công và trinh sát đầy hiểm nguy trong suốt Thế chiến 1. Vì vậy các đồng đội của ông đã đùa rằng “ở đâu có Rommel, ở đó là mặt trận”.
Có lần trong một đợt chiến đấu kéo dài 52 tiếng đồng hồ, đơn vị của ông bắt được khoảng 9.000 tù binh Italy.
Xông pha bao nhiêu thì ông bị thương nhiều bấy nhiêu. Tháng 9/1914, khi đã bắn hết đạn, Rommel một mình dùng lưỡi lê tấn công 3 lính Pháp. Kết quả ông bị đối phương bắn thủng đùi, vết thương rộng ngoác như nắm đấm.
Ba năm sau ở Romania, ông mất nhiều máu do một viên đạn găm vào cánh tay. Ông cũng thường xuyên bị đau dạ dày, sốt và kiệt sức.
Sang Thế chiến thứ 2, Rommel càng chịu nhiều thương tật hơn, từ viêm ruột thừa đến vết thương ở mặt do mảnh đạn pháo.
Ngay sau cuộc đổ bộ Normandy, máy bay của phe Đồng minh oanh kích trúng chiếc xe mui trần của Rommel ông khi đang đi qua khu vực Normandy của nước Pháp. Hậu quả,  xe của ông lộn một vòng bay ra khỏi đường. Khi người ta phủi hết bụi đi thì Rommel đã bất tỉnh với nhiều vết rạn nứt ở hộp sọ và các mảnh kính găm trên gương mặt của ông.
Sau này, để che đậy việc bức tử Rommel bằng thuốc độc trước công luận, các quan chức Đức Quốc xã đã công bố rằng Rommel chết do các vết thương trong vụ không kích này. Chỉ đến khi kết thúc Thế chiến 2, sự thật này mới được làm sáng tỏ.
3. Giai đoạn đầu, Rommel hâm mộ Hitler
Sau Thế chiến thứ 2, các lực lượng Đồng minh phương Tây lao vào cuộc chiến ý thức hệ với Liên Xô. Trong bối cảnh đó, phương Tây cố làm sống lại danh tiếng của nước Đức. Để đạt được điều này, họ đã minh họa Rommel như một chiến binh hào hiệp, và nhấn mạnh chi tiết Rommel chưa bao giờ gia nhập Đảng Quốc xã.
Tuy nhiên việc ông tận tụy với Hitler (trong giai đoạn đầu) là không phải bàn cãi. Khi Hitler lên nắm quyền, Rommel đã nhất trí với kế hoạch tái vũ trang của y và gọi y là “người thống nhất quốc gia”.
Sau này khi Rommel và Hitler quen nhau trong giai đoạn xâm chiếm Ba Lan, Rommel, đã viết thư cho vợ mình nói rằng “Quốc trưởng [Hitler] biết điều gì là đúng cho chúng ta”.
Ngoài ra Rommel cũng tham dự các khóa nhồi sọ của Đức Quốc xã và ký “Heil Hitler!”. Hitler thậm chí còn tặng Rommel một bản cuốn “Mein Kampf” (Cuộc đấu tranh của tôi) có thủ bút của Hitler.
Chỉ mãi về sau Rommel mới tiêu tan ảo vọng vào Hitler và tin rằng nước Đức phải đàm phán với phe Đồng minh thay vì cố đánh đến cùng.
4. Rommel bất tuân một số mệnh lệnh trực tiếp của Hitler
Sau khi chỉ huy một sư đoàn xe tăng tiến công chớp nhoáng nước Pháp trong năm 1940, Rommel được điều sang mặt trận Bắc Phi nhằm hỗ trợ cho các binh sĩ phát xít của Italy đang vất vả đối phó với quân Anh.
Khi tới đó, Rommel gần như ngay lập tức lật ngược tình thế, đẩy lùi quân Anh hàng trăm dặm bằng một chuỗi các cuộc tấn công táo bạo. Chính nhờ loạt chiến dịch này, ông được người ta đặt cho biệt danh “Cáo sa mạc” và được thăng lên lon Thống chế.
Tuy nhiên vào tháng 10/1942, người Anh nhờ vào ưu thế số lượng áp đảo đã chặn đứng đà tiến của quân Rommel ở gần El Alamein, Ai Cập.
Thiếu xe tặng, đạn dược và nhiên liệu, Rommel chuẩn bị rút lui. Nhưng Hitler đã gửi thư cho Rommel yêu cầu ông không được lùi dù chỉ “một tấc đất”.
Trong thư, Quốc trưởng Hitler viết thêm “đối với binh sĩ, ông có thể chỉ cho họ thấy không còn con đường nào khác – hoặc là chiến thắng hoặc là chết”.
Bất chấp việc tôn thờ Hitler, Rommel bất tuân lệnh của gã vì sợ rằng lực lượng của mình có thể bị tiêu diệt hoàn toàn.
Bên cạnh đó, Rommel còn phớt lờ một mệnh lệnh khác yêu cầu các tướng Đức phải hành quyết các lính đặc nhiệm Đồng minh bị bắt.
Cuối cùng Rommel chạy tới Tunisia, giành chiến thắng trong một trận đấu tăng với người Mỹ ở đó. Đồng thời ông cũng thua một trận khác với quân Anh. Sau đó Rommel trở về châu Âu vào tháng 3/1943.
Hai tháng sau, phe Đồng minh đã đánh bật quân Đức khỏi Bắc Phi, dọn đường cho cuộc xâm chiếm Italy.



5. Rommel tăng cường phòng thủ bờ biển trước cuộc đổ bộ Normandy
Ý thức rõ phe Đồng minh sẽ xâm chiếm Tây Âu trong tương lai gần, Đức Quốc xã đã giao cho Rommel kiểm tra hệ thống phòng ngự của Đức dọc theo tuyến bờ biển Thái Bình Dương dài khoảng 2.570km.
Trái ngược với các tuyên truyền tâng bốc của Đức Quốc xã về phòng tuyến này, Rommel nhận ra rằng khu vực này rất yếu và dễ bị chọc thủng.
Dưới sự giám sát của Rommel, lực lượng Quốc xã đã xây dựng hệ thống công sự, vùng ngập ven biển, và bố trí lượng lớn dây thép gai, mìn và rầm thép trên bờ biển và ở ngoài khơi.
Ngoài ra, Rommel còn muốn bố trí xe tăng để ngăn ngừa quân Đồng minh thiết lập đầu cầu đổ bộ nhưng thượng cấp của ông bỏ ngoài tai, muốn giữ hầu hết lực lượng tăng thiết giáp ở sâu trong nội địa.
6. Rất có thể Rommel không biết âm mưu giết Hitler
Khi tình hình quân sự của Đức xấu đi, một nhóm sĩ quan cấp cao định ám sát Hitler bằng một trái bom giấu trong valy. Tuy nhiên âm mưu này bị vô hiệu hóa vào thời khắc cuối cùng.
Rommel là bạn của một trong những người mưu phản đó và chắc chắn đã trao đổi với họ về tương lai nước Đức sau khi Hitler ra đi.
Tuy nhiên, hiện vẫn chưa thể xác định rõ Rommel dính líu vào âm mưu này sâu đến mức độ nào. Theo bà góp phụ Rommel, ông phản đối việc ám sát – ông chỉ muốn bắt và đưa Hitler ra xét xử.
7. Rommel và các lãnh đạo phe Đồng minh không ngần ngại ca ngợi lẫn nhau
Trong giai đoạn thành công đỉnh cao của Rommel ở Bắc Phi, Thủ tướng Anh Winston Churchill đã ca ngợi Rommel trước Hạ viện Anh.
Churchill nói: “Chúng ta có một đối thủ rất táo bạo và khéo léo – một vị tướng vĩ đại”.
George Patton, Bernard Montgomery, và các vị tướng hàng đầu khác của phe Đồng minh cũng thể hiện sự tôn trọng dành cho Rommel.



Rommel phản ứng lại một cách lịch thiệp, nói về Patton rằng “chúng tôi được chứng kiến thành tựu kinh ngạc nhất về vận động chiến” và rằng “Montgomery chưa bao giờ phạm một sai lầm chiến lược nghiêm trọng nào”.
8. Ở Đức người ta vẫn tôn vinh Rommel
Khác với những nhân vật Đức nổi bật trong Thế chiến 2, ông Rommel không bị phỉ nhổ trên quy mô lớn. Trên thực tế, tên của ông còn được đặt cho 2 căn cứ quân sự và vài con phố ở Đức. Một đài tưởng niệm Rommel ở quê nhà ông này ca ngợi ông là “hào hiệp”, “can đảm” và một “nạn nhân của chế độ chuyên chế”.
Nhiều nhà sử học cho rằng Rommel chủ yếu quan tâm đến sự nghiệp cá nhân của mình hơn là đến những tội ác mà chế độ Đức Quốc xã đã phạm phải./.

Trung Hiếu/VOV.VN Dịch từ History.com

Lý do khiến Hitler đọc lệnh giết "Cáo sa mạc" Erwin Rommel?

Thể Thao VN
Là một chỉ huy quân sự vào loại xuất sắc nhất trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội Đức Quốc xã trong thế chiến thứ 2, đã có lúc Erwin Rommel từng là vị Tướng “yêu” của trùm phát xít Hitler. Thế nhưng, khi cuộc chiến tranh bước vào giai đoạn quyết định, Erwin Rommel lại bị bức tử bởi chén thuốc độc của chính Hitler.
Ngược hẳn với hình tượng khát máu và tàn bạo của phát xít Đức, Erwin Rommel là một danh tướng theo đúng nghĩa. Ông không những nổi tiếng về tài năng quân sự hơn người mà còn là một chỉ huy hào hiệp và nhân đức. Mặc dù phục vụ Hilter và là một chiến binh vào loại xuất sắc nhất của Đế chế thứ ba, song Erwin Rommel không bao giờ đứng trong hàng ngũ đảng Quốc xã.
Không những thế, vị Tướng yêu của Hitler còn nhiều lần cứng rắn từ chối những mệnh lệnh tàn bạo yêu cầu ông phải hành quyết lính và người Do Thái bị bắt giữ ở những mặt trận mà ông chỉ huy của chính ông trùm phát xít nước Đức. Vì thế, mặc dù tất cả những trận đánh mà Erwin Rommel tham gia, tất cả những chiến công mà ông có được đều nhằm mang lại lợi ích cho Đức Quốc xã, song chưa lần nào vị Tướng này bị cáo buộc về tội ác chiến tranh.
Erwin Rommel sinh năm 1891 trong một gia đình trung lưu ở Heidenheim. Cha của ông là Giáo sư Erwin Rommel, Hiệu trưởng của một trường trung học ở địa phương, còn mẹ ông là con gái một chức sắc trong vùng. Trong Thế chiến thứ nhất, Erwin Rommel đã là một viên sỹ quan nổi tiếng với tinh thần trách nhiệm và những chiến công lừng lẫy.
Khi tuổi đời còn rất trẻ, Erwin Rommel đã nhận được Huân chương “Pour le Merite” của Đế chế Đức vì những chiến công của ông ở mặt trận Ý. Erwin Rommel gặp Hitler vào năm 1934 và đã lọt vào mắt xanh của tên trùm phát xít tham vọng. Được sự chú ý của Hitler, Erwin Rommel ngày càng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong quân đội Đức Quốc xã. Từ một Tiểu đoàn trưởng kiêm giảng viên tại một trường quân sự, Erwin Rommel trở thành sỹ quan chỉ huy tiểu đoàn bảo vệ Quốc trưởng Hitler với cấp bậc Thiếu tướng.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Erwin Rommel xin được ra chiến trường và với việc chỉ huy Sư đoàn thiết giáp số 7 tiến quân một cách thần tốc vào nước Pháp trong cuộc tấn công năm 1940, Erwin Rommel đã trở thành gương mặt được cả nước Đức biết tới. Thành công vang dội đó đem đến cho Erwin Rommel chức chỉ huy liên quân Ý – Đức tại chiến trường châu Phi.
Tại chiến trường này, với số quân luôn ít hơn và một lượng xe tăng khá tồi tàn lúc bấy giờ của Đức, Rommel đã đập tan và đẩy lùi nhiều sư đoàn của khối liên minh Anh, Mỹ, Úc và Pháp. Với tài năng cầm quân bậc thầy cùng quân số ít ỏi nhưng Rommel vẫn giáng một đòn nặng nề vào Quân đoàn số 2 của Mỹ tại Tunisia trước khi ông và số quân Đức còn lại buộc phải rút khỏi Bắc Phi trong bất lực khi không còn nguồn tiếp tế để tiếp tục chiến đấu. Những chiến công vang đội trên chiến trường Bắc Phi đã khiến chính những đối thủ của Erwin Rommel phải “cung kính” gọi ông bằng biệt danh “Cáo sa mạc”.
Quay trở về Đức, Rommel đã có một khoảng thời gian khá rảnh rỗi. Tuy nhiên, khi quân đội phát xít Đức mất thể chủ động trên chiến trường, Hilter đã gửi Rommel đến Bộ Tham mưu của Tập đoàn quân B, chịu trách nhiệm tổ chức phòng thủ bờ biển phía Tây nước Pháp trước cuộc xâm lược có thể xảy ra của quân đội Đồng minh.
Adolf Hitler
Trước khi cuộc tấn công xảy ra vài tháng, do nhận thấy sự mất tinh thần, tốc độ xây dựng chậm chạp của quân Đức, Rommel đã nỗ lực hết sức mình để xây dựng tuyến phòng thủ dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Dưới sự trực tiếp chỉ đạo của ông, công việc diễn ra với tốc độ đáng kinh ngạc, hàng triệu bãi mìn, hàng ngàn ụ bê tông bảo vệ xe tăng và các chướng ngại vật đã được dựng lên trên các bãi biển và các vùng thôn quê.
Sau các trận chiến của mình tại châu Phi, ông đúc kết ra rằng không thể nào ngăn chặn được tốc độ tiến công dưới sự yểm trợ tối đa bằng đường không của quân Đồng minh. Ông đã đưa ra quan điểm rằng các lực lượng xe tăng nên được tách ra thành các đơn vị nhỏ để củng cố vững chắc các điểm trọng yếu và nên được đặt gần chiến tuyến càng tốt bởi vì chúng không thể di chuyển được đi xa một khi cuộc tấn công nổ ra. Ông muốn cuộc tấn công của quân Đồng minh phải được chặn đứng ngay từ các bãi biển.
Tuy nhiên, vị chỉ huy của ông, Thống chế Gerd von Rundstedt, lại cho rằng không có cách nào ngăn chặn được cuộc tấn công từ bờ biển vì hỏa lực quá mạnh của lực lượng Hải quân Hoàng gia Anh. Ông ta lại nghĩ các lực lượng xe tăng nên được tổ chức lại thành các đơn vị lớn đóng sâu vào vùng đất liền gần Paris, nơi cho phép lực lượng Đồng minh tiến sâu vào và sau đó sẽ tiêu diệt họ.
Khi phải lựa chọn một kế hoạch cụ thể để tiến hành, Hitler tỏ ra do dự và đưa ra một giải pháp mang tính lưng chừng, vừa đủ xa để làm kế hoạch của Rommel trở nên không còn có ích và cũng không đủ xa như theo kế hoạch của Rundstedt vạch ra. Có thể nói rằng, kế hoạch của Rommel đã không được toại nguyện.
Trong ngày D-Day, ngày mở màn cuộc đổ bộ vào Normandie, nhiều đơn vị xe tăng, nhất là Sư đoàn Panzer SS số 12 khi đó đang ở rất gần bờ biển và có đủ khả năng để gây ra một sự thiệt hại nghiêm trọng cho quân Đồng minh. Cái rủi cho quân phát xít Đức lại là cái may cho quân Đồng minh, Hitler đã từ chối tung ra các đơn vị tăng này vì ông ta tin rằng cuộc đổ bộ lên bờ biển chỉ là đòn nghi binh của đối phương.
Nhờ có sự thành công của chiến dịch tung tin giả mạo mang tên Fortitude, Hitler và bộ chỉ huy tối cao của Đức đã mong chờ một cuộc tấn công lớn của quân Đồng minh vào Pas de Calais. Đối mặt với các cuộc tấn công quy mô nhỏ của quân Đức, lực lượng Đồng minh nhanh chóng chiếm được các vị trí đổ bộ. Đúng lúc đó, cuộc chính biến của lực lượng sĩ quan chống đối Hitler trong quân đội Đức quốc xã nổ ra.
Trên thực tế, vào cuối những năm 30, đầu những năm 40, trong quân đội Đức đã bắt đầu nhen nhóm những âm mưu đảo chính chống lại Quốc trưởng Adolf Hitler do những tội ác kinh hoàng mà ông ta gây ra. Đã có hai cuộc ám sát tên trùm phát xít diễn ra trong những năm 1938, 1939 nhưng đều bất thành. Cho tới tháng 7-1944, lực lượng phản đối Hitler quyết định thực hiện cuộc ám sát lần thứ ba với kế hoạch chi tiết và thời gian chuẩn bị lâu hơn rất nhiều.
Sau nhiều lần thất bại, ngày 20/07/1944 đại tá Claus von Stauffenberg (1907-1944) đã đem bom vào đặt trong phòng họp của Hitler ở đại bản doanh “Hang sói” ở Đông Phổ khi được Hitler triệu tập tới để báo cáo về tình hình quân dự bị ở Berlin nhằm bổ sung cho quân số đang ngày một hao hụt ở tiền tuyến. Phe đối lập hy vọng rằng sau khi giết được Hitler, họ sẽ huy động quân trừ bị và các đơn vị chống Hitler đưa lính đến chiếm các cơ quan đầu não của chính quyền, quân SS và bắt những nhân vật cao cấp nhất trong đảng Phát xít.
Tuy nhiên, không may mắn cho phe chống đối, quả bom mà Tham mưu trưởng Lực lượng quân dự bị Stauffenberg mang vào phòng họp tại hôm 20/7 đã không giết được Hitler. Thêm vào đó, phe đảo chính ở Berlin lại dùng dằng không hành động ngay vì vẫn muốn xác định thông tin về cái chết của Hitler.
Họ đã đánh mất những giờ phút quý giá nhất. Bốn tiếng sau, khi Stauffenberg về tới Berlin, họ mới quyết định gửi điện tín cho các đơn vị quân đội tuyên bố đã chiếm quyền. Nhưng bức điện không có tác động gì vì được ký bởi Nguyên soái Erwin von Witzleben (1881-1944), người đã nghỉ vì bệnh được hơn hai năm. Sau đó, phe đảo chính sửa lại lỗi đó bằng cách gửi thêm một bức điện nữa với chữ ký của Tướng Erich Hoepner (1886-1944). Đây cũng là một nhân vật có tiếng trong chiến trận nhưng không có uy tín gì lớn trong quân đội.
Các Tư lệnh quân đoàn nhận được điện đã không hiểu chuyện gì xảy ra và quyết định gọi về Berlin để kiểm chứng. Trong thời gian đó, bộ máy quân sự và an ninh của Hitler nhanh chóng ra tay và đến 18 giờ 30 đã làm chủ tình hình. Năm người được cho là cầm đầu vụ mưu phản ngay lập tức bị bắt rồi hành quyết ngay trong buổi chiều ngày 20. Tuy nhiên, cơn cuồng sát của Hitler vẫn chưa có dấu hiệu nguôi ngoai, lực lượng mật vụ ráo riết truy lùng những người có liên quan.
Khác với sự trù trừ dẫn tới thất bại một cách đẫm máu ở Berlin, tại Pháp, những người chủ mưu của phong trào chống đối Hitler tỏ ra năng động hơn các tướng lĩnh trong nước và cuộc chính biến ban đầu diễn ra cực kỳ thuận lợi. Tướng von Stülpnagel đã bắt giam tất cả 1.200 sĩ quan cùng binh sĩ SS và SD ở Paris, kể cả chỉ huy trưởng của họ, Trung tướng SS Karl Oberg.
Vào thời điểm lúc bấy giờ, Thống chế Günther von Kluge, người vừa nhậm chức Tổng Chỉ huy miền Tây trở thành nhận vật trọng yếu quyết định sự thành bại của cuộc chính biến ở Paris. Mặc dù Kluge trước sau vẫn chần chừ, nhưng cuối cùng thì vẫn tỏ thái độ đồng tình, hoặc chí ít có thể nói, những người chống đối Hitler cho rằng, nếu như Hitler chết thì Kluge sẽ ủng hộ quân nổi dậy.
Tuy nhiên, khi thông tin Hitler may mắn thoát chết khỏi vụ đánh bom của Stauffenberg, Kluge đã từ chối tham gia vào nhóm âm mưu chính biến. Cũng như Thống chế Fromm tại Berlin, hành động này của Kluge không hề giúp ông thoát khỏi sự “đuổi cùng giết tận” của Hitler.
Vào ngày 17/8, Thống chế Walter Model được Hitler cử đến thay thế cho Kluge mới chỉ nhậm mới nhậm chức chưa đầy một tháng, làm Tổng Chỉ huy miền Tây. Kluge không hề biết rằng mình bị thay thế cho tới tận khi Model đến kèm theo một thông báo của Hitler, yêu cầu ông báo cáo mọi hành tung của mình ở nước Đức.
Thông báo này đồng nghĩa với việc Kluge bị Hitler nghi ngờ có dính líu tới những người nổi dậy hôm 20/7. Trên đường trở về nước Đức, vì lo sợ phải ra trước “Tòa án nhân dân” của Hitler, Thống chế Kluge quyết định tự tử. Tuy nhiên, Kluge không chết và được đưa vào bệnh viện ở Verdun. Nơi đây, khi nửa mê nửa tỉnh và bị mù mắt, ông thốt ra tên cái tên: Erwin Rommel.
Sau đó, khi bị mật vụ tra tấn dã man, Đại tá Caesar von Hofacker, anh họ của Stauffenberg người đã tham gia cuộc chính biến tại Pháp khai ra vai trò của Rommel trong âm mưu. Hofacker khai Rommel đã từng trấn an ông rằng: "Hãy nói với những người ở Berlin rằng họ có thể trông cậy nơi tôi".
Trên thực tế thì tại thời điểm đó việc Erwin Rommel có tham gia vào âm mưu đảo chính hay không vẫn chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, những báo cáo của lực lượng mật vụ dồn dập gửi về khiến cái tên Erwin Rommel trở thành một nỗi ám ảnh đối với Hitler. Cuối cùng ông trùm phát xít quyết định vị Thống chế mà y yêu thích buộc phải chết, dù y biết rằng, Erwin Rommel là người được ngưỡng mộ nhất trong quân đội Đức.
Vào thời điểm Erwin Rommel lọt vào tầm ngắm của Hitler, ông đang phải nằm điều trị những vết thương nặng ở đầu do gặp phải một trận oanh kích bất ngờ của Không lực Hoàng gia Canada tại trận tuyến Normandie. Để tránh bị quân đội đồng minh bắt, từ bệnh viện dã chiến, Erwin Rommel được đưa về nhà riêng ở Herrlingen cách Ulm khoảng 50 km. Đó cũng là thời điểm Erwin Rommel nhận được những dấu hiệu cảnh báo cho số phận của mình khi biết người cựu Tham mưu trưởng của ông – Tướng Hans Speidel bị bắt vào ngày 9/7, chỉ một ngày sau khi đến thăm nhà ông ở Herrlingen.
Khi họ nói chuyện với nhau về Hitler, Rommel đã than thở với tướng Speidel: “Cái tên lừa dối bệnh hoạn ấy đã điên hẳn rồi. Hắn đang trút cơn bạo hành lên những người âm mưu ngày 20/7, và đấy chưa phải là hết”. Lúc bấy giờ, Rommel nhận thấy nhân viên mật vụ của Đức Quốc xã đang rình rập quanh nhà ông.
Khi ông đi tản bộ trong khu rừng gần nhà cùng với cậu con trai 15 tuổi, được đơn vị phòng không nơi cậu phục vụ cho phép về săn sóc cha. Cùng lúc đó, tại Tổng Hành dinh ở Rastenburg, Hitler nhận được báo cáo về lời khai của Hofacker đề cập đến Rommel. Thế là, Hitler tuyên án tử hình Erwin Rommel nhưng theo cách đặc biệt.
Erwin Rommel
Tướng Wilhelm Keitel, Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu Quân lực khai rằng, vào lúc bấy giờ, Hitler nhận ra rằng đây sẽ là một vụ scandal kinh khủng nếu như vị Thống chế có tiếng tăm và rất được yêu mến trong quân đội Đức quốc xã này lại bị bắt và lôi ra trước “Tòa án nhân dân”. Vì vậy, Hitler đã nói với Keitel là y sẽ báo cho Rommel về chứng cứ chống lại ông này và cho phép ông chọn lựa giữa tự tử hoặc ra trước Tòa án nhân dân về tội danh phản quốc. Nếu chọn cách tự tử, Rommel sẽ được an táng theo nghi lễ cấp nhà nước với mọi nghi thức của quân đội, đồng thời gia đình ông sẽ không bị xâm phạm.
Buổi trưa ngày 14/10/1944, hai vị Tướng từ Tổng Hành dinh của Hitler là Wilhelm Burgdorf và phụ tá của ông thuộc Phòng Nhân viên Lục quân, Ernst Maisel đi đến nhà của Rommel. Lúc bấy giờ nhà của Erwin Rommel đã bị mật vụ bao vây cùng với 5 xe bọc thép. Họ đã báo trước cho Rommel hay rằng Hitler phái họ đến để thảo luận "công tác sắp tới" của Thống chế.
Tuy nhiên, Burgdorf và Maisel không hề đến để thảo luận về công tác của vị Thống chế. Trước khi đi, theo lệnh của Hitler, Keitel đã chỉ thị cho Burgdorf mang theo thuốc độc kèm theo văn bản của lời khai chống lại Rommel. Sau khi Burgdorf và Maisel đến, hai người yêu cầu được nói chuyện riêng với Thống chế, và ba người đi vào phòng đọc sách.
Manfred Rommel, con trai của Rommel, sau này kể lại: "Vài phút sau, tôi nghe tiếng cha tôi đi lên lầu và bước vào phòng mẹ tôi. Sau đó, ông đi vào phòng của tôi. Ông ấy chậm rãi nói: ‘Vừa rồi, cha đã không với mẹ con rằng trong vòng một phần tư giờ nữa cha sẽ chết... Hitler đang kết tội cha là phản quốc.
Xét qua công trạng của cha ở châu Phi, cha sẽ có cơ hội chết bằng thuốc độc. Hai người Tướng đã mang thuốc độc đến. Cái chết sẽ đến sau ba giây. Nếu cha chấp nhận, gia đình ta sẽ không phải chịu những biện pháp thường thấy... Cha sẽ được làm lễ an táng cấp nhà nước. Lễ tang đã được chuẩn bị đến chi tiết cuối cùng. Trong vòng một phần tư giờ, con sẽ được bệnh viện ở Ulm báo cho biết cha đã bị tai biến mạch máu não trên đường đi dự họp".
Và sự việc sau đó đã xảy ra đúng như thế. Mặc chiếc áo jacket cũ bằng da của Binh đoàn châu Phi và cầm cây gậy Thống chế, Rommel bước vào chiếc xe cùng với hai viên Tướng. Xe chạy được khoảng 3 km theo con đường ven một khu rừng, rồi Tướng Meisel và tài xế SS bước ra, để Rommel và Tướng Burgdorf ngồi lại phía sau.
Một phút sau, hai người quay lại chiếc xe, Rommel đã chết. Mười lăm phút sau khi tạm biệt chồng, vợ của Rommel nhận được một cuộc gọi từ bệnh viện. Bác sĩ cho biết hai người Tướng đã mang thi hài của Rommel đến, ông qua đời vì nghẽn mạnh máu não, hiển nhiên là do việc vỡ xương sọ lúc trước. Thật ra, Burgdorf đã cấm khám nghiệm tử thi. Y nói: "Không được đụng đến xác chết. Mọi việc đã được thu xếp ở Berlin".
Sau cái chết của vị Thống chế tài ba vì thuốc độc, Thống chế Model ra một nhật lệnh cho biết Rommel đã qua đời vì "những vết thương gây ra ngày 17/7" và tỏ ý thương tiếc sự mất mát "của một trong những vị Tư lệnh vĩ đại nhất của đất nước". Quốc trưởng Hitler cũng gửi điện tín đến bà vợ của Rommel.
Nội dung bức điện có viết: “Xin hãy nhận lòng cảm thông chân thành của tôi đối với sự mất mát nặng nề mà bà phải chịu đựng vì cái chết của ông nhà. Tên tuổi của Thống chế Rommel sẽ mãi mãi gắn liền với những trận đánh anh hùng ở châu Phi”. Tướng Göring cũng gửi một bức điện: “Sự kiện ông nhà đã qua đời với một cái chết anh hùng vì hậu quả của các vết thương, sau khi tất cả chúng tôi đã hy vọng ông sẽ ở lại với nhân dân Đức, đã khiến cho tôi cảm thương một cách sâu sắc”.
Để che giấu hành vi tội ác của mình, Hitler ra lệnh tổ chức lễ tang cấp nhà nước, trong đó vị sĩ quan cao niên của Quân đội Đức, Thống chế Karl Rudolf Gerd von Rundstedt, cựu Tổng Chỉ huy Mặt trận miền Tây, cũng là cấp trên trực tiếp của Rommel (trước Kluge), đọc điếu văn khi đứng bên thi hài của Rommel phủ cờ chữ thập ngược: "Con tim của ông ấy thuộc về lãnh tụ".
Thực tế thì có lẽ Rundstedt không biết những tình tiết trong cái chết của Rommel, và hẳn ông ta chỉ chỉ biết được qua lời khai của Keitel tại Tòa án Nürnberg được mở sau khi thế chiến thứ 2 kết thúc. Rundstedt khai: "Tôi không nghe được những lời đồn đại ấy, nếu không tôi đã từ chối đại diện cho Lãnh tụ ở lễ tang; đấy sẽ là điều ô nhục không lời nào diễn tả được". Tuy nhiên, tang quyến Rommel nhận thấy Rundstedt từ chối đến dự lễ hỏa thiêu sau lễ tang và đến chia buồn với quả phụ tại nhà của Rommel, trong khi phần lớn các tướng lĩnh khác đều đến.
Việc bị Hitler bức tử bằng thuốc độc một lần nữa giúp Erwin Rommel trở thành cái tên được yêu mến nhất ở nước Đức. Những viên Tướng dưới quyền cũng như các nhà sử học đều dành cho Erwin Rommel những lời ca ngợi tốt đẹp nhất. Theodor Werner, từng là một sĩ quan phục vụ dưới quyền Rommel trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã nói: “Bất kỳ ai bị rơi vào sức thu hút mạnh mẽ của ông đều trở thành một người lính thực sự. Ông ta dường như biết được kẻ thù của mình ra sao và họ sẽ đánh trả lại như thế nào”.
Theo SBĐ
 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32