CUỘC CHIẾN THẦN THÁNH 15
-Chiến
dịch Mậu Thân nếu là một chiến thắng thì là một chiến thắng tốn quá
nhiều sinh mạng. Do
hoang tưởng mà chỉ có tổng tấn công chứ không có nổi dậy, và khi thấy
vấn đề thì thành chuyện đã rồi!Mới thấy danh vọng cá nhân, một khi phát
tác, dù ở bất cứ lĩnh vực nào, cũng gây tác hại ghê gớm như thế nào!
-Dù vậy, xét về thành quả chính trị đạt được sau đó, nó vẫn có thể được ca ngợi!
-Nếu gọi cuộc chiến thắng phát xít Hittle của Liên Xô là "Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại", thì phải gọi cuộc chiến thắng Mỹ-ngụy của Dân Tộc ta là "Cuộc chiến tranh cứu nước thần thánh"! Còn nếu gọi cuộc chiến thắng phát xít Hittle của Liên Xô là "Cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh", thì phải gọi cuộc chiến thắng Mỹ-ngụy của Dân Tộc ta là "Cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại"! Đó là hai cuộc chiến cứu mình đồng thời cũng cứu người, tưởng thua mà thắng vẻ vang, mang nét thần kỳ.
-Lời Võ Văn Kiệt: "Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn".
-Có hai luồng ý kiến khen và chê câu nói trên. Riêng phần tôi, luôn đứng về bên luồng khen! Tôi cho rằng, câu nói đó không những chính xác theo nghĩa đen, mà còn thỏa mãn về mặt tình cảm ghét chiến tranh của con người. Ngày 30/4 là ngày Giải Phóng khỏi ách nô dịch của Dân Tộc, không lẽ không vui? Nhưng để có ngày đó, Dân Tộc Việt đã phải đổi bằng khoảng 5 triệu sinh mạng con em mình (nếu kể cả chiến tranh với Pháp thì hơn thế nữa!) ở cả hai phía chính nghĩa lẫn phi nghĩa. Ngày Chiến Thắng, trong niềm vui chung, tất nhiên cũng có nỗi buồn riêng của từng gia đình về những người thân đã nằm xuống vĩnh viễn, không về. Có thể nói, chiến tranh Việt Nam là cần thiết nhưng quá đắt, ai coi ngày 30/4 là ngày vui trọn vẹn thì rõ ràng là người vô cảm, cuồng tín, và ai coi ngày đó là ngày "quốc hận"thì chính là kẻ ác tâm, cố tình mù quáng lịch sử Việt Nam!
-------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trênNET)
Mạng công nghệ thông tin công trình Trung Quốc đã
xếp cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân 3 nước Đông Dương
vào danh sách 100 cuộc chiến có ảnh hưởng lớn trên thế giới.
Chỉ hai ngày sau khi Đức tấn công Liên Xô, ngày 24 tháng 6 năm 1941, một bài thơ có tựa đề "Cuộc chiến tranh thần thánh" của nhà thơ Vasily Ivanovich Lebedev-Kumach được đăng trên các báo "Izvestia" và "Sao Đỏ". Sau khi bài thơ công bố, Trưởng Đoàn ca múa nhạc Cờ Đỏ Hồng quân Liên Xô Alexander Vasilyevich Alexandrov
ngay lập tức phổ nhạc. Không có thời gian để in ấn các bảng ký âm và bè
phổ, Alexandrov đã viết chúng lên bảng bằng phấn, để các ca sĩ và nhạc
sĩ chép lại chúng vào bản ký âm của riêng mình Mọi người chỉ có vỏn vẹn 1 ngày để tập dượt, và ngay ngày hôm sau, ngày 24 tháng 6 năm 1941, một buổi công diễn được tổ chức ngay trước Nhà ga Belorussky. Các nghệ sĩ của Đoàn ca múa nhạc Cờ Đỏ Hồng quân Liên Xô đã luân phiên trình diễn, mà theo một nhân chứng, đến 5 lần ngay trong ngày hôm đó .
Trong chiến tranh, bài hát đã được ghi âm 2 lần: lần đầu với một nhóm của Đoàn ca múa nhạc Cờ Đỏ vào năm 1941 và lần thứ hai với toàn bộ thành viên của đoàn vào năm 1942 . Bài hát trở nên phổ biến rộng rãi trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại như một biện pháp tinh thần để duy trì sức chiến đấu cao trong quân đội, đặc biệt là trong trận chiến phòng thủ khó khăn.
Cho đến nay, tại Nga và một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ, bài hát vẫn được trình diễn trang trọng trong những dịp lễ kỷ niệm Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Trong các lễ diễu binh mừng Ngày Chiến thắng hàng năm, phần nhạc được dùng như một phần của các bài nhạc diễn hành của Quân đội Nga.
Tuy nhiên, những nhân vật có liên quan đều đã qua đời trước đó. Bode đã qua đời từ năm 1939, A.V. Alexandrov năm 1946, Lebedev-Kumach vào 1949. Bên cạnh đó, một số bằng chứng được trưng ra để phản lại, cho rằng những thông tin cáo buộc là không đúng sự thật và bôi nhọ nhân phẩm, danh dự và uy tín của tác giả "Cuộc chiến tranh thần thánh" Lebedev-Kumach , quan trọng nhất là các bản phác thảo chép tay của Lebedev-Kumach, hiện vẫn được lưu trữ tại Viện Lưu trữ Văn học và Nghệ thuật Nhà nước Nga, phản ánh quá trình sáng tác của ông . Trên cơ sở đó, tòa án đã bác bỏ các cáo buộc. Tuy nhiên, nhưng người cáo buộc tỏ ra nghi ngờ về sự công bằng và hợp lý của các quyết định của tòa án .
Bên cạnh đó, cũng có những nghi vấn về phần nhạc của A.V. Alexandrov. Nhà nghiên cứu Viktor Suvorov cho rằng bài nhạc đã ra đời sớm hơn vì: "Từ tháng 2 năm 1941, Stalin đã ra lệnh viết một bài hát về cuộc chiến tranh chống lại nước Đức. Và rõ ràng là Stalin đã có bài nhạc từ trước." Một bằng chứng khác được đưa ra khi cho rằng Alexandrov gần như lấy lại giai điệu của bài "Bài ca Kliment Voroshilov" , cũng do ông phổ nhạc trên phần lời O. Kolychev, được viết vào năm 1938, ghi trên đĩa năm 1940.
Đọc thêm tại: http://www.tudiendanhngon.vn/tabid/87/strcats/219/sw/c/charmode/true/default.aspx © TuDienDanhNgon.vn
-Dù vậy, xét về thành quả chính trị đạt được sau đó, nó vẫn có thể được ca ngợi!
-Nếu gọi cuộc chiến thắng phát xít Hittle của Liên Xô là "Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại", thì phải gọi cuộc chiến thắng Mỹ-ngụy của Dân Tộc ta là "Cuộc chiến tranh cứu nước thần thánh"! Còn nếu gọi cuộc chiến thắng phát xít Hittle của Liên Xô là "Cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh", thì phải gọi cuộc chiến thắng Mỹ-ngụy của Dân Tộc ta là "Cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại"! Đó là hai cuộc chiến cứu mình đồng thời cũng cứu người, tưởng thua mà thắng vẻ vang, mang nét thần kỳ.
-Lời Võ Văn Kiệt: "Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn".
-Có hai luồng ý kiến khen và chê câu nói trên. Riêng phần tôi, luôn đứng về bên luồng khen! Tôi cho rằng, câu nói đó không những chính xác theo nghĩa đen, mà còn thỏa mãn về mặt tình cảm ghét chiến tranh của con người. Ngày 30/4 là ngày Giải Phóng khỏi ách nô dịch của Dân Tộc, không lẽ không vui? Nhưng để có ngày đó, Dân Tộc Việt đã phải đổi bằng khoảng 5 triệu sinh mạng con em mình (nếu kể cả chiến tranh với Pháp thì hơn thế nữa!) ở cả hai phía chính nghĩa lẫn phi nghĩa. Ngày Chiến Thắng, trong niềm vui chung, tất nhiên cũng có nỗi buồn riêng của từng gia đình về những người thân đã nằm xuống vĩnh viễn, không về. Có thể nói, chiến tranh Việt Nam là cần thiết nhưng quá đắt, ai coi ngày 30/4 là ngày vui trọn vẹn thì rõ ràng là người vô cảm, cuồng tín, và ai coi ngày đó là ngày "quốc hận"thì chính là kẻ ác tâm, cố tình mù quáng lịch sử Việt Nam!
-------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trênNET)
Cuộc chiến tranh 'thần thánh' gây chấn động thế giới
Mạng công nghệ thông tin công trình Trung Quốc đã
xếp cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân 3 nước Đông Dương
vào danh sách 100 cuộc chiến có ảnh hưởng lớn trên thế giới.
Cuộc chiến tranh 'thần thánh' gây chấn động thế giới
| Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch Kaysone Phomvihane tại Hà Nội năm 1966. |
Cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt
Nam, Lào và Campuchia kéo dài trong 14 năm, bắt đầu vào tháng 5 năm 1961
khi Lầu năm góc bắt đầu đổ quân vào miền Nam Việt Nam và kết thúc vào
tháng 4 năm 1975, khi Việt Nam giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đây là cuộc đấu tranh chống Mỹ, giải phóng dân tộc, giành lại độc lập
của nhân dân 3 nước Đông Dương. Trong suốt cuộc chiến tranh này, Mỹ đã
đổ vào đây hơn 600.000 quân, sử dụng rất nhiều loại vũ khí thông thường
hiện đại nhất thế giới, nhưng nhân dân 3 nước Đông Dương anh em không sợ
hy sinh, đoàn kết một lòng, cùng nhau đi đến thắng lợi cuối cùng.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ 2
kết thúc, Mỹ đã tích cực ủng hộ và giúp đỡ Pháp xâm lược 3 nước Việt
Nam, Lào, Campuchia, đồng thời cũng âm thầm lôi kéo và nuôi dưỡng các
phần tử thân Mỹ.
Sau năm 1955, Mỹ hất cẳng Pháp
khỏi Đông Dương, phái hàng loạt nhân viên quân sự đến miền Nam Việt Nam,
biến “Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Đông Dương” thành “Đoàn cố vấn viện
trợ quân sự miền nam Việt Nam”, đồng thời dốc sức nuôi dưỡng và giúp đỡ
chính phủ bù nhìn Ngô Đình Diệm tiến hành các chiến dịch “Tố cộng, diệt
cộng”. Tháng 5 năm 1961, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã ra lệnh điều
động 100 lính đặc nhiệm nhảy vào miền Nam Việt Nam, mở đầu cuộc chiến
tranh xâm lược 3 nước Đông Dương, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia cũng chính thức bắt đầu.
| Người già và trẻ em cũng là những đối tượng bị Mỹ quy là Việt Cộng. |
Giai đoạn đầu cuộc chiến chủ yếu do
chính phủ bù nhìn họ Ngô tiến hành, Mỹ ra sức dốc tiền, hàng viện trợ
và cố vấn quân sự; tích cực giúp đỡ ngụy quyền xây dựng quân đội, càn
quét lực lượng Cách mạng, xây dựng các ấp chiến lược và các khu trắng để
cách ly Quân giải phóng và dân chúng. Để chống lại chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt” (Kế hoạch Staley-Taylor) của Mỹ, Mặt trận giải phóng
miền nam Việt Nam đã tích cực xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân bao
gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích triển khai
sâu, rộng chiến tranh du kích. Đầu năm 1964, lực lượng vũ trang miền nam
Việt Nam đã lên tới hơn 20 vạn người, giải phóng một vùng rộng lớn
chiếm 4/5 diện tích và 2/3 dân số miền Nam, từng bước hình thành thế
trận có lợi, từ nông thôn bao vây thành phố, làm phá sản chiến lược
“chiến tranh đặc biệt”.
| Quân Mỹ lùng sục tìm hầm bí mật. |
Vào giữa thập niên 60, chính phủ Mỹ
quyết định từng bước leo thang chiến tranh, đổ quân vào miền Nam Việt
Nam tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược với sự tham gia một số nước chư
hầu. Ngày 02/08/1964, Mỹ đã cố ý gây ra vụ va chạm giữa tàu chiến Mỹ và
tàu phóng lôi Việt Nam rồi dựng lên cái gọi là “Sự kiện vịnh Bắc bộ”.
Ngày 05/08, Mỹ đã điều động 64 chiếc máy bay, lần đầu tiên tiến hành
không kích Bắc Việt, khởi đầu cho cuộc chiến trên toàn lãnh thổ Việt
Nam. Đầu tháng 2 năm 1965, Mỹ đã huy động một số lượng lớn máy bay oanh
tạc các mục tiêu trọng điểm trên miền Bắc kéo dài đến hạ tuần tháng 3.
Tháng 6 năm 1965, trước các thất
bại liên tiếp trên chiến trường và tình hình chính trị rối loạn tại Việt
Nam Cộng hòa, chính phủ Hoa Kỳ quyết định huỷ bỏ kế hoạch
Staley-Taylor, đưa quân đội Hoa Kỳ sang trực tiếp tham chiến để giữ miền
Nam khỏi rơi vào tay lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam,
đồng thời phân Việt Nam thành 2 chiến trường: “Nam càn quét, Bắc oanh
tạc”, đồng thời tiến hành song song 2 cuộc chiến tranh là “Chiến tranh
cục bộ” ở miền Nam và “Chiến tranh phá hoại” ở miền Bắc.
| Máy bay Mỹ xuất kích trên tàu sân bay Midway. |
Trên chiến trường Nam Bộ, Mỹ khởi
đầu bằng chiến lược “vết dầu loang”, lấy các căn cứ ở duyên hải từ vĩ
tuyến 17 đến Sài Gòn làm cứ điểm, tiến hành tìm kiếm, càn quét lấn sâu
vào vùng giải phóng. Sau khi thất bại trong chiến dịch mùa khô đầu tiên
năm 1965 - 1966, Mỹ lại tiếp tục sử dụng chiến lược “tìm diệt”, trực
tiếp dùng quân Mỹ tiến hành tác chiến, để quân Ngụy và chư hầu trấn giữ
các yếu điểm. Vì thế, quân số Mỹ tại miền Nam liên tục gia tăng, đến
cuối năm 1966 đã tăng đến 326.000 người.
Quân dân miền Nam Việt Nam nhằm
đúng yếu điểm tác chiến của quân đội Mỹ, triển khai chiến tranh nhân dân
với chiến thuật “dương đông kích tây, tránh mạnh đánh yếu, lấy ít địch
nhiều”, đập tan chiến dịch mùa khô lần thứ 2 năm 1966 - 1967 của Mỹ, đến
mùa mưa năm 1967 Quân giải phóng đã lật ngược thế cờ, chuyển thủ thành
công.
| Tàu sân bay Mỹ Oriskany, nơi xuất phát nhiều chuyến bay đánh phá miền Bắc. |
Thất bại liên tiếp tại miền Nam đã
khiến Mỹ phải bỏ chiến lược “tìm và diệt”, chuyển sang chiến lược “giữ
và quét”, tức là quân Mỹ rút từ vòng ngoài vào vòng trong, đẩy ngụy quân
ra vòng ngoài làm chủ lực, tập trung binh lực cố thủ dọc vĩ tuyến 17 và
các thành phố và căn cứ quan trọng ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, đồng thời
đẩy mạnh càn quét, tiêu diệt, xây dựng các khu trắng kết hợp với các
hoạt động vỗ về dân chúng. Khi đó, tổng số quân Mỹ tại chiến trường miền
Nam đã lên đến con số 543.500 quân, quân dân miền Nam Việt Nam chủ động
nắm vững tình hình bố trí của địch, chờ đợi thời cơ.
Qua 3 năm chiến đấu trực tiếp với
quân Mỹ, tuy đứng vững và chủ động mở được nhiều cuộc tiến công trên
chiến trường, nhưng cơ bản cục diện vẫn đang ở trong tình trạng giằng
dai, nếu tiếp tục kéo dài thì không thể giành được thắng lợi quyết định.
Để xoay chuyển tình thế, tạo bước đột phá cho cuộc chiến tranh, Bộ
Chính trị Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định mở cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
| Quân Mỹ bắt bớ người dân vô tội Campuchia trong chiến dịch truy quét chỗ đứng chân của bộ đội Việt Nam năm 1970. |
Vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, Quân
giải phóng đã đồng loạt Tổng tiến công và nổi dậy khắp miền Nam, đánh
vào hầu hết các thành phố, thị xã và các căn cứ quân sự của đối phương.
Đây là một sự kiện gây chấn động thế giới và có một vai trò bước ngoặt
trong cuộc chiến tranh, đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, buộc họ phải
xuống thang ngồi vào bàn đàm phán ở Hội nghị Pari.
Theo con số thống kê chưa đầy đủ,
từ năm 1961 đến năm 1968, lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam Việt Nam
tiêu diệt và làm bị thương hơn 130.000 lính Mỹ.
(còn nữa)
Theo Anninhthudo(còn nữa)
Bài viết của John Lee VHN.net Đăng trên Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam 7-2014
Chiến tranh! Khi nhắc đến hai từ đó người ta thường
nhớ đến một quá khứ hào hùng và bi tráng trong lịch sử dân tộc Việt
Nam. Cũng chính vì thế, nhiều người trên thế giới mỗi khi nói đến Việt
Nam lại nghĩ ngay đến chiến tranh. Rất nhiều sách báo đã nói về một Việt
Nam anh hùng với lòng cảm phục. Mấy nghìn năm lịch sử dựng nước cũng là
từng ấy thời gian dân tộc Việt Nam phải chống giặc giữ nước. Một lịch
sử quá đậm nét sử thi từ thời Hùng Vương đến một “Điện Biên chấn động
địa cầu” và cuối cùng là một “Chiến dịch Hồ Chí Minh” giải phóng hoàn
toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Vậy thì làm sao không nhắc đến chiến
tranh khi chính ở trong đó, dân tộc Việt Nam đã có nhiều bài học đau
thương, mất mát vô bờ bến vùng lên từ đống tro tàn đổ nát, trưởng thành
và vững vàng cho đến ngày nay! Phải thế chăng mà người Việt Nam sẽ còn
nhắc mãi và không bao giờ quên niềm tự hào về những gì mà cả một dân tộc
“Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được
độc lập”.
Ấy vậy mà thời gian gần đây, một số người ở trong
nước lại tung ra các bài viết, những phát biểu đòi “xét lại lịch sử”.
Những người này, vốn trước đây “từ nhân dân mà ra”, từng theo Đảng, theo
bộ đội đánh đuổi thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ xâm lược nay lại tỏ ra
“sám hối”, tiếc nuối vì đã “lỡ” một thời theo Đảng. Họ lớn tiếng đòi
“xét lại vai trò lãnh đạo” của Đảng, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam “đặt
lợi ích Đảng lên trên lợi ích dân tộc, đẩy dân tộc Việt Nam vào con
đường binh đao máu lửa hơn 30 năm”. Họ phát biểu ào ào vô trách nhiệm
rằng: “Đảng chỉ lấy dân làm vật thí nghiệm, vật hi sinh cho chủ nghĩa xã
hội hư vô, đưa dân tộc Việt Nam vào con đường máu lửa”…
Chúng ta là người Việt Nam chân chính. Chúng ta phải nói một cách dứt khoát rằng, đây lại là một luận điệu xuyên tạc lịch sử với ý đồ bôi nhọ, chà đạp trắng trợn lên thành quả cách mạng mà toàn dân tộc phải đánh đổi bằng sinh mạng hàng triệu người con ưu tú, hàng triệu sinh mạng của người dân lành để đổi lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Luận điệu này chúng ta phải hết sức cảnh giác bởi nó dễ gây nên sự hiểu lầm, vì đối tượng phát tán tài liệu đã từng là người trải qua chiến tranh, và đã một thời đứng trong hàng ngũ của Đảng. Điều nguy hiểm là một số ít người thiếu hiểu biết lịch sử đất nước và lớp người trẻ sinh ra sau chiến tranh sẽ nhận thức sai lầm dẫn tới phủ nhận thành quả cách mạng, mất lòng tin vào chế độ, vào con đường đi tới của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chúng ta là người Việt Nam chân chính. Chúng ta phải nói một cách dứt khoát rằng, đây lại là một luận điệu xuyên tạc lịch sử với ý đồ bôi nhọ, chà đạp trắng trợn lên thành quả cách mạng mà toàn dân tộc phải đánh đổi bằng sinh mạng hàng triệu người con ưu tú, hàng triệu sinh mạng của người dân lành để đổi lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Luận điệu này chúng ta phải hết sức cảnh giác bởi nó dễ gây nên sự hiểu lầm, vì đối tượng phát tán tài liệu đã từng là người trải qua chiến tranh, và đã một thời đứng trong hàng ngũ của Đảng. Điều nguy hiểm là một số ít người thiếu hiểu biết lịch sử đất nước và lớp người trẻ sinh ra sau chiến tranh sẽ nhận thức sai lầm dẫn tới phủ nhận thành quả cách mạng, mất lòng tin vào chế độ, vào con đường đi tới của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Một người bất mãn – một nhà “dân chủ” tự phong đã
viết trên RFA Việt ngữ: “Phan Châu Trinh mất sớm, con đường cứu nước
đúng đắn Phan Châu Trinh vừa khởi xướng, đành bỏ dở! Sự nghiệp giải
phóng dân tộc Việt Nam thôi đành phó thác cho những người Cộng sản! Và
dân tộc Việt Nam phải trải qua con đường đấu tranh bạo lực dằng dặc máu
lửa”. Thưa với nhà “dân chủ”, ông ngủ gật trong giờ học lịch sử hay sao?
Lịch sử của dân tộc Việt Nam diễn tiến rất đúng quy luật và truyền
thống như thế này: Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và cả khi thiết
lập được quyền cai trị trên đất nước Việt Nam thì dân tộc này đã kháng
cự lại. Đã có biết bao cuộc nổi dậy của nhân dân dưới ngọn cờ của các sĩ
phu yêu nước. Nhưng tất cả các cuộc kháng cự đó đều bị đè bẹp và bị dìm
trong biển máu. Ông cho rằng vì cụ Phan Châu Trinh mất sớm, nếu không
dân tộc này sẽ đi theo con đường của Ấn Độ đòi lại độc lập từ người Anh?
Điều này cho thấy ông đã cố tình bẻ cong sự thật lịch sử và cố tình suy
diễn theo cái lối “nói cho sướng miệng”. Sự thật thì sau nhiều cuộc
khởi nghĩa và các phong trào chống Pháp không đem lại kết quả, đứng
trước vận mệnh của đất nước, Đảng Cộng sản đã gánh vác sứ mệnh giải
phóng dân tộc. Phong trào chống xâm lược do những người Cộng sản phát
động có cùng mục đích như các phong trào khởi nghĩa trước đó là giành,
giữ độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam có “hiếu chiến” như ông và các nhà “dân chủ” cùng hội cùng thuyền với ông quy kết không? Chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề này. Những ai hiểu biết về hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, những người có lương tri trên thế giới, đều đứng về phía Việt Nam. Đáng lẽ sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do để xây dựng chế độ mới. Nhưng thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược Việt Nam. Trong tình thế tương quan lực lượng bất lợi cho một chính phủ còn non trẻ, rất cần một khoảng thời gian để xây dựng lực lượng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp. Chúng ta đã nhượng bộ, chấp nhận nền độc lập hạn chế và nền thống nhất có điều kiện, cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc để đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi, khẳng định việc Nam Bộ có trở về với nước Việt Nam hay không là tùy thuộc vào kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân. Nhưng thực dân Pháp quyết dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ nước ta. Chúng tăng quân trái phép ở miền Bắc, gây ra nhiều vụ xung đột đẫm máu và cuối cùng gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta, đòi quân, dân ta hạ vũ khí. Vậy thì xin hỏi các nhà “dân chủ”, ở vào tình thế như vậy, theo các vị thì Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xử lý ra sao? Nếu theo cách nói của các vị thì nên chọn con đường “không đổ máu” ư? Xin thưa, không đổ máu mà vẫn giữ được độc lập như các vị nói thì chỉ là con đường chấp nhận làm kiếp nô lệ mà thôi! Dân tộc này không bao giờ chọn con đường đó! Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Chúng ta nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Nhà sử học Pháp Philip Deville đã nhận định: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”. Sau này Tổng thống Pháp F.Mitterand, trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam, tháng 2-1993, đã trả lời các nhà báo rằng: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại, nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh bị đẩy vào cuộc chiến tranh”. Đến đây hẳn các “nhà dân chủ” đã hiểu là các vị đang chụp mũ cho Đảng Cộng sản. Còn giả sử như không hiểu thì có lẽ chăng đầu óc các vị đã bị thiểu năng.
Đảng Cộng sản Việt Nam có “hiếu chiến” như ông và các nhà “dân chủ” cùng hội cùng thuyền với ông quy kết không? Chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề này. Những ai hiểu biết về hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, những người có lương tri trên thế giới, đều đứng về phía Việt Nam. Đáng lẽ sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do để xây dựng chế độ mới. Nhưng thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược Việt Nam. Trong tình thế tương quan lực lượng bất lợi cho một chính phủ còn non trẻ, rất cần một khoảng thời gian để xây dựng lực lượng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp. Chúng ta đã nhượng bộ, chấp nhận nền độc lập hạn chế và nền thống nhất có điều kiện, cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc để đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi, khẳng định việc Nam Bộ có trở về với nước Việt Nam hay không là tùy thuộc vào kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân. Nhưng thực dân Pháp quyết dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ nước ta. Chúng tăng quân trái phép ở miền Bắc, gây ra nhiều vụ xung đột đẫm máu và cuối cùng gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta, đòi quân, dân ta hạ vũ khí. Vậy thì xin hỏi các nhà “dân chủ”, ở vào tình thế như vậy, theo các vị thì Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xử lý ra sao? Nếu theo cách nói của các vị thì nên chọn con đường “không đổ máu” ư? Xin thưa, không đổ máu mà vẫn giữ được độc lập như các vị nói thì chỉ là con đường chấp nhận làm kiếp nô lệ mà thôi! Dân tộc này không bao giờ chọn con đường đó! Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Chúng ta nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Nhà sử học Pháp Philip Deville đã nhận định: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”. Sau này Tổng thống Pháp F.Mitterand, trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam, tháng 2-1993, đã trả lời các nhà báo rằng: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại, nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh bị đẩy vào cuộc chiến tranh”. Đến đây hẳn các “nhà dân chủ” đã hiểu là các vị đang chụp mũ cho Đảng Cộng sản. Còn giả sử như không hiểu thì có lẽ chăng đầu óc các vị đã bị thiểu năng.
Các vị còn hồ đồ rằng: “Trong khi đội quân xâm lược
Pháp lực đã kiệt, thế đã tàn thì lực lượng kháng chiến giành độc lập đã
lớn mạnh, đang bừng bừng xốc tới, chỉ dấn thêm một bước là cả nước sạch
bóng giặc ngoại xâm. Nhưng những người Cộng sản đặt giá trị giai cấp
lên trên giá trị dân tộc thì giải phóng dân tộc không phải là mục đích
duy nhất và cao nhất của họ.
Với ý thức hệ giai cấp, những người Cộng sản Việt
Nam coi giải phóng dân tộc không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện
để họ làm cách mạng vô sản thế giới”. Thật nực cười cho cái lập luận méo
mó, quái gở này. Các vị vì ngu dốt hay vì cố tình xuyên tạc cuộc kháng
chiến thần thánh của dân tộc ta là cuộc chiến tranh ý thức hệ, chiến
tranh ủy nhiệm, miền Bắc xâm lược miền Nam? Hiệp định Geneve quy định
Pháp phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt
Nam, rút quân về nước. Theo Hiệp định Geneve, tháng 7-1956 sẽ tổ chức
tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước. Nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu
biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, lập
“đê chắn làn sóng đỏ” xuống phía Nam nên đã hất cẳng Pháp, nhảy vào xâm
lược chia cắt lâu dài đất nước ta. Ngô Đình Diệm từng tuyên bố khi sang
thăm Mỹ: “Biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17”. Trên thực tế, Mỹ và chính
quyền tay sai Việt Nam Cộng hòa đã gây ra “cuộc chiến tranh một phía”.
Họ dọa “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”, “giải phóng Cố đô rửa hận”. Sau
này, đế quốc Mỹ còn thực hiện cuộc “chiến tranh cục bộ”, đưa trên nửa
triệu quân Mỹ vào xâm lược miền Nam, và tiến hành cuộc “chiến tranh phá
hoại”, đe dọa đẩy miền Bắc nước ta trở về “thời kỳ đồ đá”. Như thế thử
hỏi có con đường độc lập, thống nhất không đổ máu ư? Không có gì quý hơn
độc lập, tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hễ còn một tên xâm
lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó
đi”. Nhân dân Việt Nam, bạn bè trên thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ và cả
một số người trong chính giới Hoa Kỳ hẳn vẫn không quên, trong suốt hơn
40 năm thù địch Việt Nam, Hoa Kỳ đã trực tiếp làm cho hơn 3 triệu người
Việt Nam phải hy sinh và hàng triệu người khác bị tàn tật, phải chịu di
hại của chiến tranh, của chất độc da cam, bao vây cấm vận làm cho nhân
dân Việt Nam vốn đã khốn khó do phải khắc phục hậu quả chiến tranh lại
càng thêm khốn khó.
Trong một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam
được tổ chức tháng 3-2007 tại tiểu bang Texas, các học giả Mỹ đã phân
tích những nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam,
trong đó nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa. Cuộc hội thảo này đã đi đến kết
luận: Sự thiếu hiểu biết của Hoa Kỳ về văn hóa, lịch sử và con người
Việt Nam chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của Mỹ trên chiến
trường. Tổng thống Nixon đã cay đắng thừa nhận: “Sai lầm nghiêm trọng
của chúng ta là không biết một trong những quy luật của chiến tranh. Đó
là, đừng bao giờ bước vào cuộc chiến tranh, nếu không biết cách nào để
ra khỏi cuộc chiến tranh đó”. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong
cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam” đã
viết: “Chúng tôi ở trong chính quyền Kennedy và Johnson, tham gia vào
các quyết định về Việt Nam, đã hành động theo những gì mà chúng tôi coi
là nguyên tắc và truyền thống của dân tộc này. Chúng tôi đã ra các quyết
định dưới ánh sáng của các giá trị đó. Nhưng chúng tôi đã sai lầm, sai
lầm khủng khiếp”. Lẽ phải chỉ có một. Những người chủ mưu trong cuộc
chiến tranh Việt Nam đã thú nhận thì những lập luận kiểu “giá như” của
những kẻ xuyên tạc, bóp méo lịch sử như các “nhà dân chủ” đều trở nên vô
nghĩa. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của nhân dân Việt
Nam đã được lịch sử ghi nhận.
Dân tộc Việt Nam từ thủa khai sơn phá thạch cho đến hôm nay luôn chủ trương sống và hành động theo tư tưởng “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo”, “lấy chính nghĩa để thắng phi nghĩa” không thể là một dân tộc “nồi da nấu thịt”, “tắm máu” đồng bào như luận điệu xuyên tạc của những kẻ vì động cơ cá nhân, mục tiêu tư lợi đã lớn tiếng phê phán, chà đạp lên truyền thống tổ tiên… Thực tế lịch sử đã minh chứng, sau thắng lợi mùa Xuân năm 1975 không có chia cắt, chỉ có thống nhất; không có “tắm máu”, chỉ có hòa hợp dân tộc, thống nhất, hòa bình, xây dựng đất nước.
Dân tộc Việt Nam từ thủa khai sơn phá thạch cho đến hôm nay luôn chủ trương sống và hành động theo tư tưởng “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo”, “lấy chính nghĩa để thắng phi nghĩa” không thể là một dân tộc “nồi da nấu thịt”, “tắm máu” đồng bào như luận điệu xuyên tạc của những kẻ vì động cơ cá nhân, mục tiêu tư lợi đã lớn tiếng phê phán, chà đạp lên truyền thống tổ tiên… Thực tế lịch sử đã minh chứng, sau thắng lợi mùa Xuân năm 1975 không có chia cắt, chỉ có thống nhất; không có “tắm máu”, chỉ có hòa hợp dân tộc, thống nhất, hòa bình, xây dựng đất nước.
Thế giới đã bước sang giai đoạn mới, trong đó, hòa
bình, hợp tác và phát triển đã trở thành xu thế chủ yếu của thời đại, tư
duy sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết các vấn đề quốc tế đã trở
nên lỗi thời. Lịch sử dân tộc đã chứng minh, dân tộc Việt Nam yêu chuộng
hòa bình, nâng niu từng mối quan hệ bang giao hữu hảo nhưng nếu độc
lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bị xâm phạm thì dân tộc này quyết
không chịu lùi bước. Các “nhà dân chủ” trong khi phủ nhận hai cuộc chiến
tranh thần thánh của nhân dân nhưng lại nuôi dã tâm gây ra “biến cố”
làm mất ổn định đất nước hòng mong muốn trong sự rối loạn trục lợi cho
những toan tính cá nhân. Thật chỉ là hành động của những kẻ hoang tưởng
và ác độc!■
Đăng 12th December 2014 bởi LEADER
Nhật Quỳnh-Huy Hoàng/VOV - Washington
Người Mỹ nói về sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam
VOV.VN - David Lamb, phóng viên chiến
trường của hãng tin Mỹ UPI: “Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng
tôi là không hiểu người Việt Nam".
40
năm đã trôi qua nhưng thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn là
nỗi ám ảnh đối với nhiều người Mỹ. Vì sao một cường quốc kinh tế và quân
sự hàng đầu thế giới lại không thể khuất phục một nước Việt Nam bé nhỏ,
nghèo nàn và vừa trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân
Pháp? Nhiều lý do được đưa ra nhưng một yếu tố mà người Mỹ không thể
không nhắc đến là ý chí đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.
Với
hàng chục năm nghiên cứu và giảng dạy lịch sử quân sự Mỹ tại trường Đại
học George Washington, Giáo sư Ronald Spector nhìn nhận cuộc chiến
tranh Việt Nam như một dấu mốc lớn trong lịch sử nước Mỹ, một bước ngoặt
thay đổi mối quan hệ giữa người dân với chính phủ Mỹ cũng như quan điểm
của người dân Mỹ về Chiến tranh lạnh vốn được cho là nguyên nhân chủ
yếu khiến Mỹ can dự vào Việt Nam. Theo Giáo sư Spector, cho đến giờ thì
thất bại tại cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn là vấn đề gây tranh cãi gay
gắt ngay trong nội bộ nước Mỹ.
Giáo
sư Ronald Spector chia sẻ: “Có người cho rằng Mỹ không thua tại Việt
Nam mà Tổng thống Nixon chỉ rút quân và từ bỏ cuộc chiến trước sức ép,
trước sự mất kiên nhẫn của người dân và Quốc hội Mỹ. Có người nhận định
Mỹ thất bại là do chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã không nhận được sự
ủng hộ rộng rãi của người dân do tình trạng tham nhũng và hoạt động kém
hiệu quả, thậm chí ngay cả những người chống Cộng tại miền Nam khi đó
cũng không thể đoàn kết hành động với nhau. Bên cạnh đó, có những ý kiến
cho rằng Mỹ đã mắc sai lầm, chẳng hạn như phải cắt đứt nguồn tiếp tế từ
Lào cho bộ đội Việt Nam thay vì tập trung quá nhiều vào việc đối phó
với lực lượng khởi nghĩa ở miền Nam”.
Từng
tham chiến ở Việt Nam trước khi chuyển sang nghiên cứu lịch sử, Giáo sư
Spector đã trực tiếp đối mặt với những người phía bên kia chiến tuyến
để từ đó đưa ra những lý giải về thất bại của Mỹ.
“Nhiều
người trong Chính phủ cũng như báo giới Mỹ đều kỳ vọng rằng sự can
thiệp của quân đội Mỹ vào miền Nam Việt Nam sẽ dẫn đến một thắng lợi
chớp nhoáng hoặc chí ít là buộc quân đội Bắc Việt Nam lùi bước. Nhưng
phía Mỹ đã đánh giá thấp Việt Nam. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara khi
đó từng tuyên bố nếu chúng ta cho đối phương thấy được rằng họ không thể
chiến thắng thì họ sẽ bỏ cuộc. Nhưng miền Bắc đã không bỏ cuộc. Tôi cho
rằng Tổng Bí thư Lê Duẩn và Bộ Chính trị Việt Nam khi đó nhận định rằng
một khi Mỹ nhận thấy quyết tâm chiến đấu của miền Bắc thì họ sẽ nản
lòng. Và đúng là phía Mỹ đã nản lòng”, Giáo sư Ronald Spector cho biết
thêm.
Cũng
như Giáo sư Spector, những quân nhân Mỹ trực tiếp tham chiến chính là
những người hiểu cuộc chiến và đối thủ hơn ai hết. Cựu Đại tá Mỹ Andres
Sauvageot đã ở Việt Nam 9 năm trong thời kỳ chiến tranh trong vai trò cố
vấn cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Là một quân nhân chuyên nghiệp,
ông sang Việt Nam theo mệnh lệnh của cấp trên nhưng không hề biết chút
gì về lịch sử Việt Nam, không hề biết rằng Việt Nam là nạn nhân của các
cuộc xâm lược từ Trung Quốc, Pháp, Nhật rồi Mỹ.
Sau
những năm tháng lăn lộn khắp nơi, tiếp xúc với những người dân Việt Nam
trong đó có không ít chiến sỹ cách mạng, hiểu thêm về lịch sử, văn hóa
và truyền thống của Việt Nam, Andres biết rằng đây là cuộc chiến mà
người Mỹ không thể thắng.
“Đáng
lẽ Tổng thống Nixon phải rút quân khỏi Việt Nam sớm hơn. Pháp hay Mỹ
đều phải viễn chinh đến một đất nước xa xôi trong khi người Việt Nam
chiến đấu ngay trên chính đất nước của họ vì độc lập, tự do của chính
họ. Đây là sự khác biệt, nhất là khi Việt Nam có những con người anh
dũng, yêu hòa bình, ghét chiến tranh nhưng nếu bị xâm lược, cho dù kẻ đó
là ai, Trung Quốc, Nhật, Pháp hay Mỹ thì cuối cùng những kẻ đó cũng đều
thất bại. Nếu sinh ra ở Việt Nam, tôi cũng sẽ đứng về phía cách mạng,
sẽ không chấp nhận bất kỳ kẻ ngoại xâm nào”, ông Andres nói.
Việc
Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam cũng có đóng góp không nhỏ của các phóng
viên chiến trường quốc tế, nhất là các nhà báo Mỹ. Với những bài viết,
hình ảnh chân thực từ nơi chiến sự, họ đã giúp người dân Mỹ và cộng đồng
quốc tế hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tại Việt Nam, tạo nên sức ép
công luận buộc chính phủ Mỹ chấm dứt leo thang chiến tranh.
Ông
David Lamb, phóng viên chiến trường của hãng tin Mỹ UPI nhớ lại: “Trước
khi đến Việt Nam, về cơ bản tôi ủng hộ chiến tranh, cho rằng đó là điều
Mỹ nên làm, tức là chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Chúng ta nên đặt những
suy nghĩ của tôi trong bối cảnh thời gian vì khi đó đang là thời kỳ
Chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng kết thúc cách đó
chưa lâu. Nhưng trong 2 năm ở Việt Nam, quan điểm của tôi đã hoàn toàn
đảo ngược. Tôi nhận ra rằng đây là cuộc chiến mà Mỹ sẽ không thể chiến
thắng, cuộc chiến mà đáng lẽ Mỹ không nên tham gia.”
Có
mặt tại khắp các chiến trường Việt Nam từ năm 1968 đến 1970, thời điểm
khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh, rồi sau đó trở lại vào những ngày
cuối cùng của tháng 4/1975 để đưa tin về sự sụp đổ của chính phủ Việt
Nam Cộng hòa, nhà báo David Lamb đã quá đủ trải nghiệm thực tế để hiểu
lý do thất bại của người Mỹ.
“Một
trong những sai lầm lớn nhất của chúng tôi là không hiểu người Việt
Nam, không hiểu lòng kiên nhẫn, sự ngoan cường, chủ nghĩa dân tộc, khả
năng chiến đấu, lịch sử, văn hóa, và ngôn ngữ của các bạn. Đối với thắng
bại trong chiến tranh thì đó là sự thiếu hiểu biết chết người. Tôi ước
rằng Mỹ đã có thể rút ra được bài học kinh nghiệm từ Việt Nam nhưng đáng
tiếc là chúng tôi lại sa vào cuộc chiến tại Iraq, một thảm họa không
khác cuộc chiến tranh Việt Nam”, David Lamb nhấn mạnh./.
Cuộc chiến tranh thần thánh (bài hát)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cuộc chiến tranh thần thánh (chữ Kirin: Священная война) là một bài hát nổi tiếng của Liên Xô trong Thế chiến thứ hai. Bài hát được viết chỉ 2 ngày sau khi Đức tấn công Liên Xô
và nhanh chóng trở thành một kiểu "Bài ca chính thức" về chiến tranh
bảo vệ Tổ quốc. Cho đến nay, bài hát vẫn được trình diễn trang trọng
trong những dịp lễ kỷ niệm Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại tại Nga và một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ.
Ra đời
Tem in hình Alexander Vasilyevich Alexandrov, nhà soạn nhạc cho Cuộc chiến tranh thần thánh, cũng như Quốc ca Liên Xô.
Bài ca Vệ quốc Vĩ đại
Tuy nhiên, trong những thời gian đầu của cuộc chiến, bài hát không được phổ biến nhiều do các nhà lãnh đạo Liên Xô cho rằng nó quá tiêu cực đối với một cuộc chiến tranh mà họ cho rằng sẽ dễ dàng kiểm soát. Tuy nhiên, đến ngày ngày 15 tháng 10 năm 1941, khi quân Đức đã chiếm được Kaluga, Rzhev và Kalinin, bài hát bắt đầu được phổ biến. Nó được phát mỗi ngày trên các đài phát thanh của Liên Xô, mỗi sáng sau tiếng chuông của Điện Kremli.Trong chiến tranh, bài hát đã được ghi âm 2 lần: lần đầu với một nhóm của Đoàn ca múa nhạc Cờ Đỏ vào năm 1941 và lần thứ hai với toàn bộ thành viên của đoàn vào năm 1942 . Bài hát trở nên phổ biến rộng rãi trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại như một biện pháp tinh thần để duy trì sức chiến đấu cao trong quân đội, đặc biệt là trong trận chiến phòng thủ khó khăn.
Bất tử với thời gian
Sau chiến tranh, bài hát vẫn thường xuyên được biểu diễn cả trong lẫn ngoài nước như một biểu tượng anh hùng của nhân dân Liên Xô trong chiến tranh. Mặc dù các tác giả của nó đã qua đời sau chiến tranh không lâu, họ vẫn kịp nhìn thấy đứa con tinh thần của mình được mọi người đón nhận. Thậm chí, vào ngày 22 tháng 5 năm 2007, Đoàn Ca múa nhạc Alexandrov , hậu thân của Đoàn ca múa nhạc Cờ Đỏ Hồng quân Liên Xô, đã trình diễn bài hát này trước những đồng minh cũng như đối thủ trước đây trụ sở của NATO ở Brussels, và đã nhận được nhiều lời khen ngợi.Cho đến nay, tại Nga và một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ, bài hát vẫn được trình diễn trang trọng trong những dịp lễ kỷ niệm Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Trong các lễ diễu binh mừng Ngày Chiến thắng hàng năm, phần nhạc được dùng như một phần của các bài nhạc diễn hành của Quân đội Nga.
Tranh chấp tác quyền
Bài hát là sự kết hợp hoàn hảo giữa lời thơ hào hùng với nhịp điệu quân hành mạnh mẽ. Tuy nhiên, tốc độ sáng tác ngắn ngủi của nó đã nảy sinh rất nhiều nghi vấn. Vào thập niên 1990, một số thông tin truyền thông đã đưa cáo buộc Lebedev-Kumach đạo văn khi cho rằng tác giả phần lời bài hát là Alexander Adolfovich Bode, còn gọi là Alexander Heinrich de Bode, một giáo viên văn học tỉnh lẻ[ . Những chứng cứ quan trọng đưa ra căn cứ vào những bức thư của Zinaida Alexandrovna Bode, con gái của A.A. Bode, gửi cho Boris Alexandrovich Alexandrov, con trai của A.V. Alexandrov, cho rằng cha mình đã viết Cuộc chiến tranh thần thánh vào Thế chiến thứ nhất, vào khoảng năm 1916-1917, và nó đã được gửi đến Lebedev-Kumacha vào năm 1937.Tuy nhiên, những nhân vật có liên quan đều đã qua đời trước đó. Bode đã qua đời từ năm 1939, A.V. Alexandrov năm 1946, Lebedev-Kumach vào 1949. Bên cạnh đó, một số bằng chứng được trưng ra để phản lại, cho rằng những thông tin cáo buộc là không đúng sự thật và bôi nhọ nhân phẩm, danh dự và uy tín của tác giả "Cuộc chiến tranh thần thánh" Lebedev-Kumach , quan trọng nhất là các bản phác thảo chép tay của Lebedev-Kumach, hiện vẫn được lưu trữ tại Viện Lưu trữ Văn học và Nghệ thuật Nhà nước Nga, phản ánh quá trình sáng tác của ông . Trên cơ sở đó, tòa án đã bác bỏ các cáo buộc. Tuy nhiên, nhưng người cáo buộc tỏ ra nghi ngờ về sự công bằng và hợp lý của các quyết định của tòa án .
Bên cạnh đó, cũng có những nghi vấn về phần nhạc của A.V. Alexandrov. Nhà nghiên cứu Viktor Suvorov cho rằng bài nhạc đã ra đời sớm hơn vì: "Từ tháng 2 năm 1941, Stalin đã ra lệnh viết một bài hát về cuộc chiến tranh chống lại nước Đức. Và rõ ràng là Stalin đã có bài nhạc từ trước." Một bằng chứng khác được đưa ra khi cho rằng Alexandrov gần như lấy lại giai điệu của bài "Bài ca Kliment Voroshilov" , cũng do ông phổ nhạc trên phần lời O. Kolychev, được viết vào năm 1938, ghi trên đĩa năm 1940.
Phần lời của bài hát
|
|
Danh ngôn về Chiến tranh
I know not with what weapons World War III will be fought, but World War IV will be fought with sticks and stones.
720 người thích Thích
I am not only a pacifist but a
militant pacifist. I am willing to fight for peace. Nothing will end war
unless the people themselves refuse to go to war.
353 người thích Thích
Peace is the virtue of civilization. War is its crime.
286 người thích Thích
The soldier above all
others prays for peace, for it is the soldier who must suffer and bear
the deepest wounds and scars of war.
220 người thích Thích
The real and lasting victories are those of peace, and not of war.
151 người thích Thích
Great is the guilt of an unnecessary war.
150 người thích Thích
The firmest security of peace is the preparation during peace of the defenses of war.
138 người thích Thích
There was never a good war, or a bad peace.
121 người thích Thích
Wars are not paid for in wartime, the bill comes later.
113 người thích Thích
Qui desiderat pacem praeparet bellum.
110 người thích Thích
There are two ways to conquer and enslave a country. One is by the sword. The other is by debt.
99 người thích Thích
I can not believe that war is the best solution. No one won the last war, and no one will win the next war.
85 người thích Thích
Civil war? What does that mean? Is there any foreign war? Isn't every war fought between men, between brothers?
81 người thích Thích
We want peace, total peace and nothing but peace, and even if we have to fight the bloodiest battle, we are going to get it.
Khuyết danh
73 người thích Thích
I
do not believe that civilization will be wiped out in a war fought with
the atomic bomb. Perhaps two-thirds of the people of the earth will be
killed.
66 người thích Thích
We hear war called murder. It is not: it is suicide.
64 người thích Thích
It is my conviction that killing under the cloak of war is nothing but an act of murder.
63 người thích Thích
In war, there is no substitute for victory.
58 người thích Thích
It is fatal to enter any war without the will to win it.
58 người thích Thích
The facts of life
are that a child who has seen war cannot be compared with a child who
doesn't know what war is except from television.
56 người thích Thích
In war, you win or lose, live or die - and the difference is just an eyelash.
54 người thích Thích
War is the greatest
plague that can afflict humanity, it destroys religion, it destroys
states, it destroys families. Any scourge is preferable to it.
53 người thích Thích
We used to wonder where war lived, what
it was that made it so vile. And now we realize that we know where it
lives... inside ourselves.
50 người thích Thích
50 người thích Thích
All wars are follies, very expensive and very mischievous ones.
45 người thích Thích
The
most shocking fact about war is that its victims and its instruments are
individual human beings, and that these individual beings are condemned
by the monstrous conventions of politics to murder or be murdered in
quarrels not their own.
38 người thích Thích
Anyone who thinks must think of the next war as they would of suicide.
37 người thích Thích
Only
the person who has experienced light and darkness, war and peace, rise
and fall, only that person has truly experienced life.
36 người thích Thích
War is the science of destruction.
36 người thích Thích
One is left with the horrible feeling now that war settles nothing; that to win a war is as disastrous as to lose one.
32 người thích Thích
He who is the author of a war lets loose the whole contagion of hell and opens a vein that bleeds a nation to death.
32 người thích Thích
At
no time has the world been without war. Not in seven or ten or twenty
thousand years. Neither the wisest of leaders, nor the noblest of kings,
nor yet the Church — none of them has been able to stop it. And don't
succumb to the facile belief that wars will be stopped by hotheaded
socialists. Or that rational and just wars can be sorted out from the
rest. There will always be thousands of thousands to whom even such a
war will be senseless and unjustified.
26 người thích Thích
A great war leaves a country with three armies: an army of cripples, an army of mourners, and an army of thieves.
Khuyết danh
24 người thích Thích
War is a quarrel between two thieves too cowardly to fight their own battle.
20 người thích Thích
We have all taken risks in the making of war. Isn't it time that we should take risks to secure peace?
10 người thích Thích
They prefer death to peace, others prefer death to war.
9 người thích Thích
There is no such thing as an inevitable war. If war comes it will be from failure of human wisdom.
7 người thích Thích
War is just when it is necessary; arms are permissible when there is no hope except in arms.
7 người thích Thích
Mankind has had ten-thousand years of experience at fighting and if we must fight, we have no excuse for not fighting well.
6 người thích Thích
If war has its
chivalry and its pageantry, it has also its hideousness and its
demoniac woe. Bullets respect not Beauty. They tear out the eye, and
shatter the jaw, and rend the cheek.
4 người thích Thích
Establishing lasting peace is the work of education; all politics can do is keep us out of war.
Maria Montessori
4 người thích Thích
There’s something in soldiers, in
every war that people who have not fought will never know: the terrible
dependency on killing. There is a primordial instinct in man, we were
born to kill in order to live, to be hunters, to protect our family. I
remember that in between, between pain and nothingness, I loved the
moments of battle. We all loved them. Every fighting soldier loves to
shoot and kill. He’s got an enemy. And the enemy leaves no need for
philosophizing about morals and things like that. In battle we are human
beasts. Bloodthirsty.
3 người thích Thích
Older men declare war. But it is youth that must fight and die.
Herbert Hoover
2 người thích Thích
If we lose our chance
now...that chance will not return either to us or to our children. The
memories of the last War will grow dim. The world will get back into the
old rut, familiar professions and piety about peace will again soothe
us to sleep, and the various countries will once more base their
security upon military preparation. So they will all, in the end, find
themselves drifting hopelessly upon those currents that make for
war...And remember what the next war will be like. The old lines which
divide combatants from non-combatants, the weak and the diseased from
the strong and the robust, men from women and children, will all be
obliterated and civilization itself assailed, and from sea and sky will
be brought to a heap of ruins.
1 người thích Thích
Đọc thêm tại: http://www.tudiendanhngon.vn/tabid/87/strcats/219/sw/c/charmode/true/default.aspx © TuDienDanhNgon.vn
Danh ngôn về Chiến tranh, Những câu nói hay về Chiến tranh
Danh ngôn Yêu nước
Có phải một người lính tham gia các cuộc chiến tranh là để giết quân thù hay không? Không! anh ta ra đi để hi sinh vì Tổ Quốc.
Có phải một người vợ muốn chồng thấy mình đang hạnh phúc như thế nào không? Không! cô ấy muốn chồng thấy cô ấy chân tình như thế nào, cô ấy chịu đựng như thế nào để khiến anh ta hạnh phúc.
Có phải một người chồng đi làm vì nghĩ rằng anh ta sẽ tìm được sự đáp ứng đầy đủ nhu cầu cá nhân ở nơi làm việc không? Không! anh ta đang đem những giọt mồ hôi và những giọt nước mắt đổi lấy sự tốt đẹp, an lành cho gia đình.
Và vì vậy cuộc sống vẫn có những đứa con trai từ bỏ những giấc mơ của chúng để làm vui lòng cha mẹ, cha mẹ từ bỏ cuộc sống của họ vì con cái; đau đớn và khổ sở được dùng để bào chữa cho một thứ duy nhất đem lại niềm vui sướng: Tình Yêu
- Paulo Coelho
Never bend your head. Always hold it high. Look the world straight in the eye.
Đừng bao giờ cúi đầu. Hãy luôn ngẩng cao. Nhìn thẳng vào mắt thế giới.
- Helen Keller
Nhận xét
Đăng nhận xét