Trong thế kỷ 17, nhà toán học và
triết học vĩ đại Blaise Pascal viết trong cuốn Pensées của ông: “Bước
cuối cùng của lý lẽ là nhận ra rằng tồn tại vô số thứ ở phía bên kia tầm
với của nó” [1]. Ba thế kỷ sau, Định lý Bất toàn của Gödel xác nhận tư
tưởng của Pascal và gián tiếp đặt ra cho chúng ta câu hỏi: Làm thế nào
để đạt tới cái thế giới vượt quá tầm với của lý lẽ?
Nếu thế
kỷ 19 dẫn con người tới niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của khoa học
thì thế kỷ 20 lại dẫn niềm tin ấy tới khủng hoảng nghiêm trọng. Chính
khoa học thế kỷ 20 đã làm cho những người thông minh nhất vỡ nhẽ ra rằng
hóa ra khoa học không vạn năng và tuyệt đối như ta tưởng. Thực ra nó
cũng bất toàn và bất định như bất kỳ một dạng nhận thức nào khác. Khát
vọng tìm ra những mô hình vũ trụ xác định và chắc chắn rốt cuộc chỉ là
ảo tưởng! Muốn tiếp cận tới gần sự thật hơn, con người phải thay đổi
cách nhìn đối với thế giới, và phải khiêm tốn hơn trong việc phán xét
chân lý. Đó là tư tưởng cốt lõi rút ra từ cuốn “TỪ XÁC ĐỊNH ĐẾN BẤT
ĐỊNH” (From Certainty to Uncertainty) của David Peat [2], trong đó tác
giả chỉ rõ: Mọi phương pháp nhận thức thông qua ngôn ngữ, bao gồm cả
khoa học lẫn nghệ thuật và văn chương, đều không thể và không bao giờ
đạt tới một nhận thức đầy đủ, chắc chắn và hoàn hảo.
Vậy làm
thế nào có thể nhận thức được vô số thứ ở bên kia tầm với của khoa học?
Có một con đường để tới đó, đó là tư duy trực giác và tâm linh – một
dạng nhận thức bổ sung tuyệt vời đối với khoa học, mà bấy lâu nay loài
người lãng quên và bỏ phí. Nay là lúc cần phải lấy lại. Nhưng để cảm
thấu điều này, trước hết phải thấy rõ tầm với hạn chế của khoa học.
TẦM VỚI HẠN CHẾ CỦA KHOA HỌC
Tính bất định lượng tử
Một
trong những khám phá vĩ đại nhất của thế kỷ 20 là sự thừa nhận tính bất
định lượng tử. Đó là một lời cảnh báo về tầm với hạn chế của khoa học.
Khám phá ấy đã dẫn tới cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về thế giới quan
của vật lý đầu thế kỷ 20 – sự sụp đổ của tư tưởng xác định trong vật lý
lượng tử nói riêng và trong khoa học nói chung.
Nếu khoa
học trước đó được xem như một hệ thống các quy luật xác định của tự
nhiên thì vật lý đầu thế kỷ 20 báo động rằng đó là một tư tưởng sai lầm.
Thật vậy, vật lý học cuối thế kỷ 19 vẽ ra một bức tranh vũ trụ giống
như “chiếc đồng hồ Newton” (Newtonian clock), mà đỉnh cao là Quyết định
luận Laplace (Laplace’s Determinism) với tư tưởng cho rằng mọi sự kiện
của vũ trụ đều tuân theo những phương trình toán học xác định, do đó có
thể tiên đoán trước một cách chính xác theo từng ngày giờ tháng năm.
Nhưng vật lý lượng tử cảnh báo rằng khoa học đã nhầm. Hóa ra Bà Mẹ Tự
Nhiên (The Mother Nature) chỉ ban thưởng cho đứa con khoa học của mình
những năng lực giới hạn, đúng như Pascal đã nói: “Chủ nghĩa vô thần thể hiện sức mạnh của tư duy, nhưng chỉ ở một mức nhất định mà thôi” (Atheism shows strength of mind, but only to a certain degree).
“Mức nhất định” ấy lộ ra khi đi sâu vào
thế giới lượng tử, dẫn đến “Nguyên lý Bất định” (Uncertainty Principle)
của Werner Heisenberg.
Niels
Bohr, nhà biện hộ vĩ đại nhất của Nguyên lý Bất định, thậm chí còn đi xa
tới mức nghi ngờ sự tồn tại của một hiện thực ở cấp độ hạ nguyên tử.
Ông cho rằng việc xác định bản chất thực sự của thế giới lượng tử sẽ là
vô vọng vì “chúng ta bị treo lơ lửng trong ngôn ngữ” – ngôn ngữ không
bao giờ đủ để có thể mô tả chính xác thế giới lượng tử.
Tình
trạng “lơ lửng” ấy đã được Lão tử đề cập đến khi ngài nói về ĐẠO: “Đạo
khả đạo phi thường đạo; Danh khả danh phi thường danh” (Đạo mà có thể
diễn tả được thì không còn là Đạo thường hằng nữa; Tên mà có thể đặt ra
thì không còn là cái tên thường hằng nữa). Tóm lại, ĐẠO là cái không thể
định danh được.
Người giải thích tư tưởng của Lão tử một cách xuất sắc nhất, theo tôi, là học giả Nguyễn Duy Cần. Trong một bản dịch cuốn Đạo Đức Kinh, ông phân tích:
“Danh
từ, bất luận để ám chỉ vật gì, đều có cái nghĩa hạn định của nó, cho
nên không thể nào dùng một tiếng gì trong giới nhị nguyên tương đối để
trỏ vào cái lẽ tuyệt đối thường tồn và bất biến”.
Ý ông
nói rằng, ngôn ngữ chúng ta sử dụng hàng ngày là sản phẩm của thế giới
nhị nguyên và tương đối (thế giới thông thường của con người), nhưng ĐẠO
là cái gì đó nhất nguyên và tuyệt đối, vì thế ngôn ngữ bất lực trong
việc mô tả ĐẠO.
Thật thú
vị để lưu ý rằng ý kiến của học giả Nguyễn Duy Cần hoàn toàn tương đồng
với ý kiến của Paramahansa Yogananda, một Yogi (nhà Yoga) thần thông Ấn
giáo, khi ngài giải thích tại sao khoa học bị hạn chế so với yoga trong
việc nhận thức bản chất của vũ trụ. Điều này sẽ được thảo luận kỹ hơn ở
mục bàn về trực giác và tâm linh. Nhưng ngay bây giờ cần nhận thấy ý
nghĩa quan trọng của vấn đề này là ở chỗ nó mở ra một cách nhìn mới về
thế giới, rằng để tiếp cận tới những thế giới mà ngôn ngữ không thể diễn
tả, chỉ còn một con đường duy nhất là TRỰC GIÁC và TÂM LINH.
Xin nhấn
mạnh một lần nữa, bạn chỉ có thể thấy rõ vai trò của trực giác và tâm
linh khi nào bạn thấy rõ tính không đầy đủ và bất toàn của phương pháp
nhận thức bằng khoa học. Nói cách khác, bạn chỉ có thể nhận ra sự cần
thiết của trực giác và tâm linh chừng nào bạn thấu hiểu câu nói của
Blaise Pascal đã dẫn ra ở đầu bài viết này.
Thật
vậy, bất chấp những thành tựu rực rỡ của Cơ học lượng tử mà đỉnh cao
nhất hiện nay là Mô hình Chuẩn (Standard Model), bản chất của các hiện
tượng lượng tử vẫn là những hiện tượng không thể giải thích được. Chẳng
hạn, hiện tượng mà Einstein gọi là “tương tác ma quỷ” (ghost
interaction), tức hiện tượng một hạt lượng tử đồng thời tồn tại ở hai vị
trí cách biệt, đến nay vẫn không biết tại sao, mặc dù các nhà vật lý đã
biết lợi dụng hiện tượng này để thực hiện việc truyền thông tin tức
thời, gọi là “viễn tải lượng tử” (teleportation) [3]. Theo lý thuyết
viễn tải lượng tử, về nguyên tắc có thể vận chuyển tức thời không chỉ
một hạt lượng tử, mà cả một đồ vật. Nói cách khác, về lý thuyết, một đồ vật có thể cùng một lúc tồn tại ở hai vị trí cách biệt trong không gian.
Đây chính là phép phân thân của các Yogi thần thông. Nhưng các Yogi
thần thông hiểu được vì sao họ có thể phân thân, trong khi khoa học
không thể giải thích được vì sao một đồ vật có thể cùng một lúc tồn tại ở
hai vị trí cách biệt trong không gian. Vấn đề này cũng sẽ được thảo
luận thêm ở mục bàn về trực giác và tâm linh. Nhưng chỉ với một sự kiện
“phân thân” cũng đã đủ để thấy rằng nhận thức khoa học bị hạn chế, và
việc tôn vinh khoa học như một phương pháp nhận thức duy nhất đúng, hoặc
như chúa tể trong vương quốc nhận thức, là một sự dại dột và ấu trĩ của
con người, bởi như thế đã vô tình tự chặt bớt những kênh thông tin quan
trọng nối con người với vũ trụ.
Tính bất toàn của tư duy ngôn ngữ
Tư duy
ngôn ngữ được hiểu là tất cả những dạng tư duy sử dụng ngôn ngữ để phân
tích, nghiên cứu và mô tả đối tượng quan sát. Ngôn ngữ ở đây bao gồm tất
cả các dạng ngôn ngữ có thể có, từ ngôn ngữ thông thường cho tới ngôn
ngữ ký hiệu, hình vẽ, mầu sắc, mã,…
Chú ý
rằng có những dạng tư duy phi ngôn ngữ, tức là tư duy không sử dụng ngôn
ngữ để phân tích, mà trực tiếp tiếp cận với đối tượng quan sát, đó là
tư duy trực giác và tâm linh.
Tóm lại,
có hai kênh thông tin song song: tư duy ngôn-ngữ-lý-lẽ và tư duy
trực-giác-tâm-linh, đó chính là hai con ngựa trong cỗ xe đua song mã của
Plato đã được đề cập đến trong bài báo “Plato’s Chariot / Cỗ xe ngựa đua song mã của Plato” trên PVHg’s Home ngày 16/03/2016.
Mọi loại tư duy ngôn ngữ đều bất toàn, bởi vì ngôn ngữ là bất toàn. Tính bất toàn này đã được nhà ngôn ngữ học trứ danh trong thế kỷ 20 là Ludwig Wittgenstein tổng kết rõ ràng:
“Tính
xác định của ngôn ngữ học là một trong số những ảo tưởng của con người
đầu thế kỷ 20… Chúng ta không bao giờ có thể hoàn toàn tránh khỏi tính
mơ hồ nhập nhằng trong khi nói… Những hạn chế về ngôn ngữ của tôi phản
ánh những hạn chế về thế giới của tôi” [4] .
Nhưng
trước thế kỷ 20 dường như người ta chưa hiểu điều đó nên gã điều khiển
chiếc xe ngựa đua song mã của Plato đã quất roi rất mạnh cho con ngựa
ngôn-ngữ-lý-lẽ phi nước đại, trong khi tảng lờ con ngựa trực giác tâm
linh, làm cho cỗ xe chạy rất nhanh nhưng siêu vẹo, mất cân bằng, và có
nguy cơ rơi xuống vực. Rất may, Định lý Bất toàn của Gödel ra đời năm
1931 đã gióng lên tiếng chuông cảnh báo đầu tiên, rằng ngay cả thứ ngôn
ngữ được coi là chính xác nhất như toán học cũng bất toàn.
Thật
vậy, trước năm 1931, toán học được coi là ngôn ngữ chính xác nhất trong
tất cả các dạng ngôn ngữ. Thậm chí đến nay vẫn có nhiều người coi toán
học là một ngôn ngữ chính xác tuyệt đối – toán học không có chỗ mập mờ
nhập nhằng như Wittgenstein nói. Nhưng hóa ra đó là một ngộ nhận ấu trĩ,
xuất phát từ chỗ không hiểu bản chất của toán học. Thực ra, toán học dù
chính xác đến mấy, nó cũng vẫn chỉ là một hệ thống ngôn ngữ do con
người tạo ra để phản ánh thế giới xung quanh, vì thế nó không thể thoát
khỏi tính chủ quan của con người, và do đó không tránh khỏi bất toàn.
Định lý
Bất toàn của Gödel khẳng định rằng toán học là bất toàn – hoặc không đầy
đủ (không thể chứng minh được mọi mệnh đề toán học), hoặc mâu thuẫn
(chứa đựng nghịch lý), hoặc vừa không đầy đủ vừa mâu thuẫn. Muốn đầy đủ
thì không tránh khỏi mâu thuẫn, muốn tránh mâu thuẫn thì không thể đầy
đủ. Các nhà toán học rất sợ mâu thuẫn, họ chấp nhận thà không đầy đủ còn
hơn mâu thuẫn. Nhưng thực tế toán học hiện nay vừa không đầy đủ, vừa
mâu thuẫn. Tính không đầy đủ thể hiện ở chỗ toán học không có một hệ
tiên đề đầy đủ, độc lập và phi mâu thuẫn, như Lý thuyết Tiên đề đòi hỏi.
Định lý Gödel chứng minh rằng đòi hỏi của lý thuyết tiên đề là bất khả
(impossible).
Tính mâu
thuẫn của toán học thể hiện ở chỗ tồn tại nghịch lý, điển hình là
Nghịch lý Russell (nghịch lý về tập hợp). Người ta đã tìm cách vá chữa
lý thuyết tập hợp để loại bỏ nghịch lý này, nhưng đó là sự vá chữa vụng
về, chỉ nói lên tính ngoan cố của tư tưởng xác định, cố thoát khỏi cái
“vòng kim cô” mà Định lý Gödel đã chòng lên cổ toán học nói riêng và
khoa học nói chung (thuật ngữ “vòng kim cô” do TS Phan Chí Thành nghĩ
ra, và tôi thấy đó là một ví von thú vị và chính xác). Vá chữa lý thuyết
tập hợp kiểu gì cũng không thể tháo bỏ cái “vòng kim cô” đó. Người
thông minh nên điều chỉnh thế giới quan cho phù hợp với thực tế, thay vì
ngoan cố giữ lấy những quan điểm lỗi thời đã bị chính toán học đánh đổ.
Hãy nhìn
tấm gương của Gottlob Frege – người đã xây dựng nên tòa lâu đài số học
dựa trên nền móng logic và tập hợp, một tòa lâu đài rực rỡ nhưng rốt
cuộc bị sụp đổ tan tành vì Nghịch lý Russell. Thay vì ngoan cố tự biện,
ông đoạn tuyệt dứt khoát với chủ nghĩa logic tập hợp mà ông là một trong
những cha đẻ, với tuyên bố mạnh mẽ sau đây:
“Nghịch lý tập hợp đã huỷ hoại lý thuyết tập hợp…
Tôi càng suy nghĩ về điều này thì tôi càng đi đến chỗ tin rằng số học
và hình học đều nẩy sinh từ cùng một nền tảng, thực ra là từ nền tảng
hình học; Do đó toàn bộ toán học thực ra là hình học” [5].
Bất chấp
tuyên bố đó, giới toán học thế kỷ 20 vẫn tiếp tục đẩy mạnh những nghiên
cứu toán học lý thuyết theo chủ nghĩa logic tập hợp, dẫn đến thảm họa
giáo dục toán học trong thế kỷ 20. Phải đợi mãi đến cuối thế kỷ 20 mới
thức tỉnh nhận ra ý nghĩa sâu xa của Định lý Bất toàn. Mặc dù muộn còn
hơn không bao giờ, nhưng đây là một kinh nghiệm cho thấy sự vô minh của
con người lớn đến chừng nào. Chẳng trách Albert Einstein phải thất vọng
đến nỗi thốt lên lời bất hủ, rằng “Chỉ có hai thứ vô hạn: vũ trụ và sự
ngu xuẩn của con người, và tôi không chắc về cái thứ nhất” (Only two
things are infinite: the universe and human stupidity, and I am not sure
about the former).
Sự vô
minh ấy không chỉ biểu hiện trong chủ nghĩa logic tập hợp, mà còn biểu
hiện trong nhiều khu vực khác của khoa học, điển hình nhất là trong
Thuyết Tiến hóa của Darwin. Độc giả nào cần tìm hiểu sự thật về tính phi
khoa học, phản khoa học và ngụy khoa học của học thuyết này, xin đọc
loạt bài “Sự thật về thuyết tiến hóa“.
Có lẽ
các nhà tiến hóa không biết gì về Định lý Gödel, vì thế họ không hiểu
rằng không thể giải thích NGUYÊN NHÂN ĐẦU TIÊN của bất kỳ một hệ logic
nào. Nhưng Thuyết Tiến hóa đã cố gắng giải thích sự hình thành sự sống
đầu tiên và nguồn gốc của mã DNA. Vì thế họ thất bại và sẽ mãi mãi thất
bại. Tôi dám đánh cược với bất cứ ai điều này!
Hình bên: Tranh của M. C. Escher, họa sĩ Hà Lan thế kỷ 20, thể hiện tính bất toàn của tư duy lý lẽ.
Trong
khi đó, một nhà khoa học như Stephen Hawking, mặc dù vô thần, nhưng sau
khi thấm nhuần Định lý Gödel, đã có những thay đổi cách mạng trong cái
nhìn về tương lai của vật lý. Ông không còn cái hăng hái và chủ quan như
hơn 20 năm trước đây, khi xuất bản cuốn “Lược sử Thời gian”, trong đó
ông thể hiện một niềm tin khá mạnh mẽ cho rằng vật lý học sắp có thể tìm
ra Lý thuyết Thống nhất vật lý, có nghĩa là sắp “hiểu được ý Chúa”.
Nhưng trong những bài báo gần đây, ông nói “các lý thuyết vật lý hiện
nay vừa không đầy đủ vừa mâu thuẫn”, thậm chí ông cho rằng mục tiêu lớn
nhất của vật lý học là Lý thuyết về Mọi thứ (Theory of Everything) cũng
khó có thể đạt được. Theo ông, không thể có một lý thuyết vật lý thống
nhất duy nhất, mà sẽ có nhiều lý thuyết khác nhau cùng mô tả vũ trụ.
Những lý thuyết này có thể mâu thuẫn với nhau. Thực tế, tính xác định
của Thuyết Tương đối tổng quát mâu thuẫn với tính bất định lượng tử. Làm
thế nào để thống nhất hai cực mâu thuẫn đó? Lý thuyết Dây có đáng tin
cậy không? Bài báo “Không đạt được nhất trí” của GS Cao Chi gần đây (đã
đăng trên PVHg’s Home ngày 09/03/2016) cho thấy giới khoa học đang chia
rẽ, một trường phái khoa học có uy tín đang mất niềm tin vào tính hiện
thực của Lý thuyết Dây. Một cái ngưỡng đối với vật lý học dường như đang
hiện ra ngày một rõ hơn. Định lý Gödel khẳng định cái ngưỡng đó tồn
tại. Vấn đề là lúc nào sẽ thấy rõ nó mà thôi. Hawking thừa nhận điều này
rồi.
Tóm lại,
khoa học là bất toàn. Vô số thứ ở bên kia tầm với của khoa học đã và
đang hiện ra cho loài người nhìn thấy, như một thách thức đối với khoa
học và mở ra một thế giới mới cho chúng ta chiêm ngắm – thế giới trực
giác và tâm linh. Trước cánh cửa của thế giới mới, chúng ta nên bước vào
hay bỏ đi? Xin mượn lời của đạo sĩ Babu trong “Hành trình về Phương
Đông” của Baird T. Spalding, do Nguyên Phong chuyển ngữ, làm câu trả
lời:
“Có hai
loại người trên thế gian: một loại đã thấy ánh sáng rực rỡ nơi cuối chân
trời và định hướng để tiến tới đó… Hạng thứ hai, không cảm xúc được các
tư tưởng thanh cao, không tin tưởng ở những điều cao thượng. Họ là
những người lạc lõng, đáng thương vì họ sẽ phải học các bài học hết sức
đau khổ cho đến khi họ hiểu biết và quay đầu về phía ánh sáng. Điều này
đã và đang xẩy ra”.
TRỰC GIÁC VÀ TÂM LINH
Maya
Ngày 07/04/2016, do một cơ duyên, tôi gặp cuốn sách bất hủ: “Tự truyện của một Yogi” củaParamahansa Yogananda. Tôi bàng hoàng thích thú khi thấy trong phần mở đầu Chương 30, Định luật Phép lạ, tác giả đặt câu hỏi:
“Chúa đã phục sinh thân bị đóng đinh của mình ra sao?”
Tiếp
theo là câu hỏi: các vị thánh “Lahiri Mahasaya và Sri Yukteswar làm phép
lạ như thế nào?”. Rồi tác giả trả lời ngay: “Khoa học hiện đại vẫn chưa
có câu trả lời”.
Tôi nghĩ rằng khoa học sẽ vĩnh viễn không có câu trả lời, vì tầm với của khoa học bị hạn chế, như Định lý Gödel đã khẳng định.
Tuy
nhiên Định lý Gödel không thể chỉ rõ đâu là giới hạn của khoa học, mặc
dù biết rằng giới hạn đó tồn tại. Đặc biệt, khi phải đối mặt với những
hiện tượng nằm ngoài các định luật của khoa học, những sự kiện không
tuân thủ các định luật khoa học, hoặc vi phạm các định luật khoa học,
khoa học hoàn toàn bó tay. Đó là những hiện tượng mà chúng ta gọi là
PHÉP LẠ (miracles).
Người vô
thần không tin vào phép lạ, vì họ cho rằng mọi hiện tượng trong thế
giới đều là hiện tượng vật chất, và do đó trước sau sẽ được giải thích
bằng các cơ chế vật chất của vật lý học, hóa học hoặc sinh học. Đó là
một kiểu tư duy vừa tự phụ vừa ấu trĩ. Những phép lạ chữa bệnh của cụ
Nguyễn Đức Cần, tức Trưởng Cần, ở làng Đại Yên, quận Ba Đình, Hànội là
những bằng chứng hùng hồn bác bỏ tư tưởng vô thần. Độc giả nào cần tìm
hiểu những phép lạ này, xin đọc cuốn “Nguyễn Đức Cần, nhà văn hóa tâm linh” của Nguyễn Phúc Giác Hải và Nguyễn Tài Đức, do NXB Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2013.
Bản
thân tôi được nghe danh cụ Trưởng Cần từ những năm 1970, và có người
nhà từng là bệnh nhân được cụ cứu chữa, tôi rất ngưỡng mộ và khâm phục
cụ, nghĩ cụ là bậc thánh. Nay đọc cuốn sách về cụ, tôi càng tin tưởng
hơn, và mừng vì rốt cuộc chân lý đã được sáng tỏ. Bản thân sự ra đời của
cuốn sách này là một phép lạ, bởi vì đã có một thời việc chữa bệnh của
cụ bị cấm đoán do bị hiểu lầm là mê tín dị đoan. Tôi muốn gửi lời chúc
mừng đặc biệt đến 2 tác giả của cuốn sách. Riêng với GS Nguyễn Phúc Giác
Hải, tôi được biết ông đã chấp nhận hy sinh nhiều quyền lợi của bản
thân trong khi lao vào nghiên cứu sự thật về việc chữa bệnh của cụ
Trưởng Cần. Nay cuốn sách là một đền đáp lớn dành cho ông, vì đó là bằng
chứng sống của những sự thật này. Tôi xin mạo muội đưa ra một lời
khuyên với độc giả, rằng đây là một tài liệu vô cùng quý giá về tâm
linh. Những người tin vào các giá trị tâm linh chớ nên bỏ qua. Những
người không tin nên đọc để suy ngẫm tìm chân lý.
Trong
cuốn “Tự truyện của một yogi” cũng đầy ắp các phép lạ mà khoa học không
sao hiểu nổi. Nhưng tác giả đã giảng cho chúng ta rất rõ ràng rằng “Kinh Vệ Đà chỉ ra rằng thế giới vật lý vận hành theo một quy luật nền tảng maya, nguyên lý tương đối và nhị nguyên”. Trong khi đó, “Thượng
đế, Sự sống Duy nhất, là Nhất thể tuyệt đối; để xuất hiện như những
biểu thị riêng lẻ và muôn mặt của một sáng tạo Ngài đã khoác một tấm áo
hư ảo hay phi thức. Bức màn nhị nguyên đó là maya”.
Nhận
định trên hoàn toàn trùng hợp với ý kiến của học giả Nguyễn Duy Cần về
tính bất lực của ngôn ngữ trong việc định danh ĐẠO, đã dẫn ở đầu bài
viết này, trong phần tính bất định lượng tử. Ở đây ta thấy “các tư tưởng
lớn gặp nhau” – học giả Nguyễn Duy Cần gặp yogi Yogananda, tư tưởng của
Lão tử gặp Kinh Vệ Đà của Ấn giáo. Sự gặp gỡ ấy củng cố tính chân lý
trong những lời giảng thuyết của Yogananda, mà tôi tiếp thu như sau:
Thế giới mà ta đang sống là thế giới maya,
thế giới tương đối và nhị nguyên, nó chỉ là tấm áo khoác hư ảo của Sự
Thật – thế giới nhất nguyên và tuyệt đối. Khoa học nằm trong thế giới maya,
vì thế khoa học là các định luật trong thế giới hư ảo, không thể giải
thích được những sự kiện trong Thế giới Thật, tức thế giới nhất nguyên
và tuyệt đối. Phép lạ là những sự kiện xẩy ra trong thế giới thật, nhưng
biểu lộ trong thế giới maya,
vì thế chúng ta không sao hiểu được. Nhưng những nhà yogi thần thông
hoặc các vị thánh đắc đạo hiểu được. Các Ngài nắm bắt sự thật đó không
phải bằng khoa học, mà bằng trực chứng. Các ngài khác hẳn chúng ta ở chỗ
cùng một lúc có thể tồn tại trong hai thế giới, thực và ảo, trong khi
chúng ta chỉ tồn tại trong thế giới ảo, maya.
Các ngài không thể giảng cho chúng ta hiểu bản chất của các phép lạ,
bởi vì chúng ta không có cách nào thoát ra khỏi tấm áo khoác maya
để chứng ngộ các phép lạ đó, trừ phi chúng ta trở thành đệ tử của các
ngài, được học hỏi tu luyện theo phương pháp của các ngài.
Theo Định lý Gödel, muốn hiểu rõ bản chất của một hệ thống A, bạn phải đi ra ngoài hệ thống đó. Muốn thấy rõ cái hư ảo của maya, phải đi ra ngoài thế giới maya.
Kẻ phàm trần chúng ta không làm nổi điều đó, nhưng những yogi thần
thông và các vị thánh đắc đạo làm được điều đó. Đó là kết quả của những
phép tu luyện thần thông đặc biệt và có sự trợ giúp của Đấng Siêu nhiên.
Các vị thánh từ Đông sang Tây, những người vượt khỏi maya
Cụ
Trưởng Cần là một vị thánh như thế. Một đạo sư trong đoàn đại biểu nhà
nước Ấn Độ sang thăm Việt Nam năm 1959 đã ngẫu nhiên gặp cụ ở Hồ Tây.
Ông mừng rỡ, reo lên: “J’ai déjà rencontré sauveur de l’humanité ici”
(Tôi đã gặp vị cứu tinh của nhân loại đây rồi). Đạo sư đó nhận ra chân
thánh của cụ Cần do một luồng ánh sáng lạ mà kẻ phàm hèn như chúng ta
không thấy.
Trong “Tự truyện của một yogi”, chúng ta cũng gặp rất nhiều vị thánh.
Ở Chương 3, ta gặp thánh Phân thân,
Swami Pranabananda. Cùng một lúc ngài vừa có mặt tại nhà của ngài ở
Banaras, bên cạnh Yogananda (tác giả tự truyện), vừa có mặt bên bờ sông
Hằng để gặp Kedar Nath. Đó là hiện tượng “phân thân” mà vật lý lượng tử
đã biết: một hạt lượng tử có thể đồng thời tồn tại ở hai vị trí cách
biệt trong không gian, và đang được các nhà vật lý nghiên cứu ứng dụng
để chuyển thông tin tức thời (viễn tải lượng tử, teleportation), như đã
trình bày ở mục bất định lượng tử ở đầu bài viết này. Thánh Phân thân
cho biết ngài có thể làm phép lạ thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông (nhìn
thấy các sư vật, nghe thấy các sự kiện ở xa, bị ngăn cách) mà ngày nay
ta gọi là “ngoại cảm”. Tự truyện cho biết tiến sĩ Calligaris nói rằng
khi một số vùng trên cơ thể người bị kích thích, họ có thể thấy các vật
thể ở bất kỳ khoảng cách nào. Nói cách khác, con người nếu được tu luyện
theo một phép tắc nào đó, hoặc được ban phát một năng lực siêu nhiên
nào đó, sẽ có thể vượt thoát cái vỏ maya để vươn tới một thế giới mà ở đó khái niệm không-thời-gian trở thành vô nghĩa.
Ở Chương 7, ta gặp thánh Khinh thân,
Bhaduri Mahasaya, ngài “đứng trên không, cách mặt đất cả thước”. Trong
chương này, tự truyện cho biết: “Năm 1928, giáo sư Jules-Bois ở Đại học
Sorbonne nói rằng các nhà tâm lý học Pháp đã nghiên cứu và công nhận
siêu thức, cái mà trong tầm vóc của nó, “là sự đối lập chính xác với
tiềm thức như Freud quan niệm; và là cái bao gồm các năng lực làm con
người thực sự là NGƯỜI mà không chỉ là một động vật bậc cao”. Đây là một
nhận định tuyệt vời cho thấy sự thô thiển của học thuyết tiến hóa
Darwin cũng như học thuyết vô thức của Freud. Quả thật nếu con người chỉ
có cái vô thức Eros và Thanatos như Freud nói mà không có siêu thức như
Jules-Bois mô tả thì con người gần với động vật hơn là sáng tạo của
Thần như kinh thư các chính giáo mô tả.
Bản thân tác giả của “Tự truyện”, Yogananda, cũng được chứng nghiệm sư phụ của mình, Sri Yukteswar, hiện ra trước mắt
tại Serampore, mặc dù thực tế sư phụ của ông đang ở Calcutta. Yogananda
tả lại cảm xúc đặc biệt của ông về sự kiện hi hữu này như sau: “Trong
thoáng chốc một làn sóng sợ hãi lạnh toát bỗng tràn qua tôi, vì sự kỳ lạ
không thể tin nổi trong điều tôi chứng nghiệm. Tôi cảm thấy cõi đời thế
kỷ 20 duy vật trôi xa mình; phải chăng tôi đã về lại những ngày xưa khi
Jesus hiện ra trước mặt Peter (Phêrô) bên bờ biển?”. Chứng kiến câu
chuyện về phép lạ hiện ra của Sri Yukteswar, một người bạn của Yogananda
thốt lên: “…mình thấy đại học nào trên đời này cũng chỉ là một nhà
trẻ”. Như để đỡ lời cho bạn mình, tác giả trích lại một câu nói bất hủ
của Thánh Thomas Aquinas: “Ta được soi rạng những thứ mà đến đỗi giờ đây
trong mắt ta những gì ta đã viết xem ra chẳng hơn gì rơm rạ”. Để thưởng
thức ý nghĩa sâu xa của câu nói này, tưởng cũng nên biết rằng Thánh
Thomas Aquinas được tôn là “ông hoàng của các triết gia kinh viện”.
Yogananda,
tác giả của “Tự truyện”, nhà yogi thần thông có sứ mệnh truyền bá Kriya
Yoga ra thế giới, có một trái tim thiêng liêng rộng mở. Ông đón nhận sự
thiêng liêng từ tất cả các nguồn thiêng trong vũ trụ, qua các bậc
thánh, như ông tự bày tỏ: “Như mọi khi, dù ở Đông hay Tây, tôi tha thiết
được gặp một bậc thánh”. Và trong dịp từ Mỹ qua Châu Âu để trở về Ấn
Độ, ông đã tìm gặp bằng được nữ thánh Therese Newmann ở Konnersreuth, Bavaria, Đức. Lý do vì trước đó ông đọc được một bài phóng sự lạ lùng về nữ thánh này như sau:
(1) Therese, sinh vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1898, bị thương trong một tai nạn năm hai mươi tuổi; cô trở nên mù lòa và liệt.
(2) Năm 1923 cô có lại thị lực một cách mầu nhiệm nhờ cầu nguyện. Sau đó chân tay Therese Newmann tức thì được chữa lành.
(3) Từ năm 1923 trở đi, Therese kiêng ăn uống hoàn toàn, chỉ nuốt một miếng bánh thánh nhỏ mỗi ngày.
(4) Được
sự cho phép của giáo hội, Therese đã đôi lần trải qua các cuộc theo dõi
khoa học kỹ lưỡng. Tiến sĩ Fritz Gerlich, biên tập một tờ báo Tin Lành
Đức, đã đến Konnersreuth để “vạch trần sự lừa lọc của Công giáo”, nhưng
cuối cùng lại cung kính viết tiểu sử của cô.
Khoa học
không thể giải thích được vì sao nữ thánh Therese chỉ ăn một miếng bánh
thánh nhỏ xíu mỗi ngày trong suốt 12 năm ròng mà vẫn khỏe mạnh, má đỏ
hồng, vui tươi. Nhưng chính nữ thánh giải thích: “Tôi sống bằng ánh sáng
của Chúa”, còn Yogananda giải thích bằng một lời trong Kinh Thánh:
“Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng
Thượng Đế phán ra”. Đó là điều người vô thần KHÔNG THỂ TIN, nhưng là SỰ
THẬT!
Hình
bên: Tiến sĩ Fritz Gerlich đến Konnersreuth để “vạch trần sự lừa lọc
của Công giáo” nhưng cuối cùng lại cung kính viết tiểu sử của nữ thánh
Therese Newmann
Những nhà khoa học có trực giác vươn tới sự thật đằng sau lý lẽ
Qua đó
có thể thấy Kurt Gödel không chỉ là một nhà toán học vĩ đại, mà còn là
một nhà tiên tri khi ông khẳng định “Chủ nghĩa duy vật là sai lầm!”
(Materialism is false). Vấn đề là ở chỗ, như Yogananda giải thích, rằng
“khoa học, … không thể đạt đến đích cuối; thực ra đủ sức để khám phá các
định luật của một vũ trụ đã tồn tại và vận hành nhưng lại bất lực không
thể phát hiện được Đấng Làm Luật và Đấng Vận hành Duy nhất”.
Đúng
thế, Isaac Newton khám phá ra lực hấp dẫn, và dùng nó để giải thích quỹ
đạo chuyển động của các hành tinh quanh Mặt Trời. Nhưng ông bị chất vấn,
nếu không có lực quán tính đẩy các hành tinh chuyển động theo phương
tiếp tuyến của quỹ đạo thì các hành tinh sẽ bị hút vào Mặt Trời, vậy lực
quán tính từ đâu mà ra? Newton đáp ngay: “Đó là cú hích ban đầu của
Chúa”. Giới vô thần kết tội Newton duy tâm, nhưng ngày nay, dưới ánh
sáng của tư tưởng về trực giác và tâm linh, ta thấy Newton đúng. Newton
không chỉ khám phá ra Định luật Vạn vật Hấp dẫn, mà còn tin rằng Đấng
Làm Luật và Đấng Vận hành Duy nhất đã tạo ra lực quán tính ban đầu cho
vũ trụ chuyển động. Đó là cái mà giới khoa học vô thần không hiểu.
Người vô thần là người bị nô lệ vào cái thế giới maya, thế giới nhị nguyên hư ảo, và do đó sẽ không bao giờ hiểu được sự thật, như Yogananda phân tích sau đây:
“Chừng nào mà con người còn bị lệ thuộc vào những huyễn hoặc nhị nguyên của thiên nhiên thì Maya
mang khuôn mặt Janus vẫn còn là nữ thần của anh ta; anh ta không thể
thấy Thượng đế đích thực duy nhất”. Nói cách khác, nếu bị nô lệ vào tính
nhị nguyên của thế giới maya, tức thế giới ta sống hàng ngày, thì không
thể có đức tin, và do đó sẽ không bao giờ giác ngộ. “Tự truyện” trích
lời Marconi, nhà phát minh nổi tiếng trong thế kỷ 20 như sau:
“Sự bất
lực của khoa học trong việc giải đáp sự sống là tuyệt đối. Sự thật này
quả thật đáng sợ nếu không nhờ có đức tin. Bí ẩn của sự sống nhất định
là vấn đề dai dẳng nhất từng được đặt ra cho tư tưởng của con người”.
Xin lưu
ý, Marconi là con người của thế kỷ 20, tức là khi Học thuyết Darwin đã
có ít nhất 100 tuổi. Phát biểu của Marconi cho thấy Học thuyết Darwin
hoàn toàn vô giá trị trong việc giải thích sự hình thành sự sống.
KẾT LUẬN
Khoa học
là một thành tựu vĩ đại trong nền văn minh nhân loại. Thành tựu vĩ đại
nhất của khoa học thế kỷ 20 là sự khám phá ra tính tương đối, tính bất
định và tính bất toàn của nhận thức bằng lý lẽ. Những khám phá này chỉ
ra tính hạn chế của tư duy lý lẽ. Để vượt quá tầm với của tư duy lý lẽ,
phải bổ sung vào kho tàng nhận thức những khám phá của tư duy trực giác
và tâm linh. Con đường nhận thức của nhân loại phải dựa trên sự phát
triển song song hai dạng tư duy: tư duy ngôn-ngư-lý-lẽ và tư duy
trực-giác-tâm-linh.
Thế giới chúng ta đang sống là thế giới maya,
thế giới nhị nguyên tương đối và hư ảo. Đó là quan niệm phổ biến của
nhiều tôn giáo và học thuyết lớn. Phật giáo cũng có quan điểm tương tự.
Trong một bài viết nhan đề “Nghiệp (Karma), Nguồn gốc của Hành vi” trên
PVHg’s Home ngày 16/07/2015, nhà nghiên cứu Phật học La Thiếu Bình viết
“Kết luận mà các nhà khoa học không thể chối cãi, là khoảng cách không
gian chỉ là tâm niệm không có thực thể. Không gian đã không có thật thì
thời gian cũng không có thật. Việc một photon có thể xuất hiện đồng thời
cùng lúc ở hai hoặc nhiều vị trí khác nhau trong không gian chứng tỏ số
lượng cũng chỉ là ảo, không có thật. Như vậy thuyết giảng của Phật giáo
rằng thế gian là huyễn ảo đã được khoa học chứng minh một cách rõ
ràng”. Dường như nhà vật lý nguyên tử lỗi lạc Niels Bohr đã “chạm” vào maya
khi ông tỏ ra nghi ngờ sự tồn tại của một hiện thực ở cấp độ hạ nguyên
tử. Có thể ông đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng Đông phương về maya, giống như ông đã chịu ảnh hưởng của Thái Cực Đồ để sáng tạo nên Nguyên lý Bổ sung.
Kitô
giáo cũng quan niệm cuộc sống của con người là “tạm”, khi trở về với
Chúa mới là cuộc sống vĩnh cửu. Trong cuốn “Đạo yêu thương”, do NXB Tôn
giáo xuất bản năm 2015, Đức Giám mục Phê-rô Nguyễn Văn Khảm viết : “Từ
rất lâu, truyền thống văn hóa Việt Nam đã nói: sinh ký, tử quy – sống là
gửi, thác mới là về… Nghĩa là chúng ta đã từ một nơi nào đó đến trần
gian này, rồi sẽ về lại nơi ấy và chỉ nơi ấy mới là nhà của mình, ngôi
nhà vĩnh cửu. Đó là câu trả lời theo văn hóa Việt Nam trước câu hỏi ở
sâu thẳm lòng người về ý nghĩa của hiện hữu và vận mệnh cuối cùng của
đời người. Quan niệm ấy rất gần gũi với đạo lý Công giáo, vì thế khi
nghe tin một người thân qua đời, người Công giáo bảo là họ ‘về nhà Cha’,
tức là về nhà của Cha ở trên trời. Chúng ta từ Thiên Chúa mà đến và sẽ
về lại với Thiên Chúa. Chân trời hy vọng của chúng ta không chỉ là những
thành đạt và hạnh phúc trong cuộc đời này, mà còn hướng đến hạnh phúc
vĩnh hằng, vượt qua cả biên giới của sự chết”.
Nữ Thánh Mary Mackillop, vị thánh Công giáo duy nhất của nước Úc, cũng nhắc nhở tín đồ Công giáo rằng: “Remember we are all but travelers here” (Hãy nhớ rằng tất cả chúng ta chỉ là những lữ khách trên đời này). Có nghĩa là nhà của chúng ta ở trên trời, khi ta về với Chúa, đó mới là nơi ta có cuộc sống vĩnh cửu.
Ý kiến bổ sung sau khi bài công bố trên mạng:
Ngay
sau khi bài này lên mạng, một độc giả đã gửi email cho tôi để nghị bổ
sung ý kiến sau đây: Cần nhấn mạnh để độc giả biết rằng 2 cuốn sách này,
“Nguyễn Đức Cần, nhà văn hóa tâm linh” và “Tự truyện của một Yogi” là
“người thực, việc thực” chứ không phải những tiểu thuyết giả tưởng hay
hư cấu. Năm 1977 chính phủ Ấn Độ đã phát hành con tem để vinh danh
Yogananda nhân dịp 25 NĂM ngày “thoát xác có chủ ý” để “nhận sứ mệnh mới
của Thượng Đế” CỦA ÔNG…
GHI CHÚ:
[1] La dernière démarche de la raison est de reconnaître qu’il y a une infinité de choses qui la surpassent.
[2] Bản dịch tiếng Việt của Phạm Việt Hưng, NXB Tri Thức 2011
[3] Xem “Đột phá trong vật lý lượng tử: Chuyển thông tin tức thời” trên VnExpress ngày 01/07/2002
[4] Xem “Từ xác định đến bất định” của David Peat, Chương 4 – Tính bất toàn và bất định của ngôn ngữ
Tác giả: Phạm Việt Hưng, viethungpham.com. Từng
giảng dạy các môn Toán Kinh tế; Cơ học Lý thuyết; Sức bền Vật liệu;
Toán luyện thi đại học. Hiện thỉnh giảng Toán cao cấp tại một đại học ở
VN.
2500 năm trước, Plato, nhà đại
hiền triết cổ Hy Lạp, đã ví tư duy của con người như người lái xe ngựa
đua song mã – một con ngựa là trực giác và con kia là lý trí. Vấn đề là
người lái xe ngựa phải điều khiển hai con ngựa của mình như thế nào để
chạy đến Chân Lý. Thật thú vị khi biết rằng ở phương Đông, một người
cùng thời với Plato là Khổng Tử cũng đã có những suy xét sâu sắc về trực
giác. Đó là những thảo luận hay nhất về trực giác mà tôi muốn chia sẻ
với độc giả…
Nói đến Khổng Tử, mọi người thường nghĩ ngay đến một nhà triết học
lớn của Trung Hoa cổ đại chuyên lo việc thuyết giảng các phép tắc về đạo
đức, lễ nghĩa, nhằm giữ cho xã hội được trật tự và ổn định. Điều đó
hoàn toàn đúng, nhưng sẽ là thiếu sót lớn nếu cho rằng Khổng Tử chỉ chăm
lo việc lễ nghĩa. Thực tế, di sản trí tuệ do Khổng Tử để lại phong phú
hơn rất nhiều, đặc biệt là những vấn đề thuộc phạm trù nhận thức. Tại
đây, ông tỏ ra là một người sắc sảo, hiểu thấu những bí mật trong quá
trình tư duy của con người.
Bất chấp việc một số người trong xã hội
hiện đại có một cái nhìn tiêu cực đối với di sản triết học của Khổng Tử,
ông vẫn được toàn thế giới xem như một trong những người thầy của muôn
đời, tương tự như Socrates, Plato, Aristotle ở Tây phương. Lời dạy của
Khổng Tử không chỉ được các học giả Á Đông coi như kinh điển, mà ngay cả
các học giả Tây phương cũng thường xuyên trích dẫn, như những chân lý
đã được đúc kết làm bài học cho đời sau.
Để có một bức chân dung chính xác và đầy đủ về Khổng Tử và về Đạo của ông, hãy đọc cuốn “NHO GIÁO” của Lệ Thần Trần Trọng Kim, do Trung Bắc Tân Văn xuất bản lần đầu tiên năm 1930, và NXB Văn hóa Thông tin tái bản năm 2001.
Đó là một kiệt tác triết học Đông phương
cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về thế giới quan và nhân
sinh quan Á Đông trong mấy ngàn năm qua. Toàn bộ ý kiến của Khổng Tử
trong tiểu luận này đều trích từ cuốn sách đó.
Đọc “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, tôi mới vỡ nhẽ ra rằng bao nhiêu
tri thức sách vở Tây phương mà mình đã tiếp thu sẽ trở nên khập khiễng
và thiếu hụt nếu không được bổ sung bởi triết học Đông phương mà cái học
của Khổng Tử là một phần cốt lõi.
Trong tiểu luận hôm nay, tôi không làm
gì nhiều hơn là trích dẫn những lời bàn về trực giác trong cuốn “Nho
giáo” này. Lời lẽ của tác giả vô cùng sáng rõ, khúc chiết đến mức không
cần phải bình luận gì thêm. Nếu tôi bình luận, ấy là vì tôi muốn thể
hiện sự tán thưởng ý kiến của tác giả, hoặc tôi muốn đối chiếu tư tưởng
của Khổng Tử với tư tưởng và việc làm của con người trong thời đại ngày
nay, qua đó có thể thấy con người ngày nay đúng hoặc sai như thế nào.
Nhưng trước hết, muốn biết Khổng Tử nghĩ gì về trực giác, phải biết
Khổng Tử nghĩ gì về con người.
Con người và trực giác
Trong những bí mật của vũ trụ, con người
là bí mật lớn nhất. Nói chính xác hơn, trong những bí mật của vũ trụ,
trực giác của con người là bí mật lớn nhất. Cái gì làm cho chúng ta hơn
hẳn và khác hẳn con vật? Đó là trực giác – cái tri giác sáng suốt giúp
cho ta hiểu được thế giới. Tại sao chúng ta có cái tri giác đó? Tại sao
chúng ta có khả năng nhận thức thế giới? Không ai biết. Khoa học không
trả lời được câu hỏi này, và đó là điều khó hiểu nhất đối với ngay cả
một người thông thái bậc nhất trong xã hội hiện đại như Albert Einstein.
Ông nói: “Điều khó hiểu nhất về thế giới là ở chỗ nó có thể hiểu được” (The most incomprehensible thing about the world is that it is comprehensible).
Nhưng Khổng Tử từ 2500 năm trước đã
không coi đó là điều khó hiểu, vì ngài coi con người là một tạo vật có
địa vị rất lớn trong vạn vật, được Trời phú cho khả năng trực giác để
hiểu được bản chất của mọi sự vật, hiểu được mọi lẽ phải trái và hiểu
được ý nghĩa của sự tồn tại. Trần Trọng Kim giải thích:
● Theo cái học của Khổng Tử, người
là cái đức của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ
thần, cái khí tinh tú của ngũ hành. (sách đã dẫn, trang 78)
Đó là một tiên đề trong học thuyết của
Khổng Tử. Khoa học vật chất không thể hiểu được tiên đề đó và không chấp
nhận tiên đề đó, do đó gặp khó khăn trong việc giải thích bản chất của
trực giác. Sai lầm của khoa học là ở chỗ muốn quy mọi hiện tượng về các
tương tác vật chất. Nhưng ý thức và tư tưởng không phải là vật chất, vì
thế khoa học không thể giải thích được trực giác là gì, và trực giác từ
đâu mà ra. Ngược lại, những người có trực giác tâm linh sẽ không có gì
khó khăn để hiểu được tiên đề nói trên, từ đó có thể giải thích được
nguồn gốc của trực giác, như tác giả Trần Trọng Kim đã viết:
● Trời đất sinh ra người, lại phú
cho người cái tính rất quý, tức là người chịu cái đức của trời đất.
Người lại bẩm thụ được hoàn toàn cả cái tinh thần linh diệu và cái khí
chất của tinh tú, cho nên mới nói là linh hơn cả vạn vật. Nhờ có cái
tinh thần và cái khí chất ấy người ta mới có cái sáng suốt để hiểu hết
các sự vật. (t.78)
Đối với nhiều người trong xã hội hiện
đại (vốn bị nhào nặn bởi nền văn hóa Tây phương lấy tư duy logic và thực
chứng làm tiêu chuẩn) thì những ý kiến nói trên là một thứ “logic mờ”
và khó hiểu. Nói cách khác, những người được nhào nặn bởi tư duy khoa
học dựa trên chủ nghĩa duy vật thô thiển sẽ cảm thấy khó tiếp thu tư
tưởng của các nhà hiền triết Đông phương cổ đại, vì nó không có cấu trúc
logic nhân quả rõ ràng như toán học hay vật lý.
Nhưng “Chủ nghĩa duy vật là sai lầm”
(Materialism is false), như Kurt Gödel đã nhắc nhở. Vậy, để mở rộng tầm
nhận thức, hãy cởi bỏ chiếc áo chật hẹp của chủ nghĩa duy vật, để cho tư
tưởng tự do bay bổng theo sự mách bảo của trực giác. Chỉ khi đó chúng
ta mới có thể cảm nhận được những “ngôn ngữ mờ” và “logic mờ” của các
nhà tư tưởng cổ đại. Nói cách khác, không thể hiểu tư tưởng của Khổng Tử
theo kiểu logic dò từng câu đếm từng chữ, mà phải tóm bắt cái thần
trong câu nói của ông. Nói một cách dễ hiểu, hãy dùng trực giác để hiểu
những điều Khổng Tử nói về trực giác. Bản thân tôi tiếp thu những thông
điệp của Trần Trọng Kim như sau:
Con người là một tạo vật đặc biệt do Ông
Trời tạo ra. Ông Trời ban cho con người một trực giác đặc biệt để nhận
thức thế giới, để thưởng thức Cái Đẹp và ý nghĩa của thế giới. Nếu
không, thế giới sẽ trở nên vô nghĩa, giống như một tuyệt tác âm nhạc hay
một tuyệt tác hội họa mà không có người thưởng thức.
Điều kiện tiên quyết để hiểu tư tưởng của Khổng Tử là phải tin rằng có Ông Trời, và tin rằng con người sinh ra không phải là vô tình, mà nằm trong ý Trời. Con người không tầm thường chỉ là kết quả của sự tiến hóa vật chất như Thuyết tiến hóa nói. Con người rõ ràng có một sứ mệnh độc đáo trong vũ trụ, đó là sứ mệnh thưởng thức và ca ngợi tác phẩm kỳ diệu và vĩ đại của Thần.
Những nhân vật lỗi lạc như Newton, Pascal, Pasteur, Poincaré, Einstein,
Godel,… Bach, Mozart, Beethoven, Chopin,… Monet, Rodin,… Chaplin… tất
cả đều là những người thưởng thức vũ trụ một cách sành sỏi, làm vừa ý
Thần. Vì thế con người phải hợp nhất với Thần thì mới có được
cái trực giác sáng suốt để thông tỏ mọi sự, bởi cái trực giác ấy chính
là mạch thông tin liên kết con người với Thần.
Albert
Einstein dường như cũng hiểu điều đó khi ông nói: “Trực giác là một quà
tặng thiêng liêng…”. Ông không nói rõ đó là quà tặng thiêng liêng của
Thần, ấy là vì ông sống trong thế kỉ 20 – thế kỉ thắng thế của chủ nghĩa
duy vật và vô thần. Nhưng dẫu sao, logic trong câu nói của ông tự nó
dẫn tới kết luận rằng trực giác là một quà tặng thiêng liêng của Thần.
Không thể khác được.
Xem thế thì thấy từ Khổng Tử cho tới
Einstein, trải qua khoảng 2500 năm, nhân loại đã tiến bộ vượt bậc trong
sự hiểu biết về thế giới vật chất, nhưng hầu như chẳng tiến bộ gì mấy
trong sự hiểu biết về thế giới tâm linh, nếu không muốn nói là còn thụt
lùi. Biểu hiện thụt lùi rõ nhất là sự hạ thấp các giá trị tâm linh và đề
cao các giá trị vật chất, hạ thấp tư duy trực giác và đề cao tư duy lý
lẽ, đúng như Einstein đã nói, rằng chúng ta đã tạo ra một xã hội vinh
danh “tên đầy tớ” (tư duy lý lẽ) và bỏ quên “món quà tặng” (tư duy trực
giác).
Bản thân tôi lấy làm tiếc rằng mình đã
không được tiếp thu tư tưởng triết học Đông phương sớm hơn. Nhiều lúc
tôi thầm nghĩ nếu không có những cuốn sách như cuốn “Nho giáo” của Lệ
Thần Trần Trọng Kim thì không biết mình còn dốt nát đến đâu. Đây, những
lời trong sách làm tôi thấm thía:
● Cái sáng suốt tự nhiên có sẵn
trong người ta là minh đức hay là lương tri, có thể gọi là trực giác,
tức là cái khiếu tri giác rất mẫn tiệp, xem xét cái gì có thể đạt ngay
đến cái tinh thần và cái chân lý của các sự vật. Cái khiếu tri giác ấy
do ở trong tâm người ta. Chữ tâm của Nho giáo phải hiểu nghĩa rộng là
làm chủ tể cả sự tư tưởng cùng sự hành vi của người ta. Hễ ta giữ được
cái tâm hư tĩnh, không để cho vật dục che tối mất cái sáng suốt tự
nhiên, thì khi có vật gì cảm đến là ứng ngay được, và biết rõ ngay các
lẽ. Tâm người ta mà tĩnh bao nhiêu thì cái trực giác lại càng mẫn nhuệ
bấy nhiêu.
Đọc những dòng trên, tôi giật mình nhận
ra rằng tư tưởng của Khổng Tử giống y như thuyết trực giác
(intuitionism) của Henri Bergson, triết gia người Pháp từng đoạt Giải
Nobel văn chương năm 1927. Nếu có gì khác thì chỉ là cách diễn đạt mà
thôi. Lối diễn đạt Tây phương thường mạnh hơn, trực diện hơn. Thật vậy,
Bergson từng khuyên chúng ta: “Hãy vứt hết những kiến thức mà nền giáo
dục đã nhồi nhét vào đầu bạn, hãy tin vào lương tri có sẵn nơi con người
bạn…”.
Hiện tượng các học giả Tây phương trong
thế kỷ 20 bỗng nhiên tái khám phá ra những chân lý mà Khổng Tử đã khẳng
định từ 2500 năm trước nói lên điều gì?
Nó nói lên rằng nền khoa học dựa trên
chủ nghĩa duy vật thô thiển đã lái cỗ xe song mã chạy sai đường! Chủ
nghĩa này đã thúc con ngựa lý lẽ chạy thật hăng, trong khi bỏ quên con
ngựa trực giác. Nay là lúc các nhà thông thái như Bergson, Einstein,…
phải lên tiếng nhắc nhở: Này, bác lái xe ngựa ơi, con ngựa trực giác mới
là con ngựa định hướng, hãy điều chỉnh lại việc cầm cương trước khi quá
muộn!
Tôi không rõ Bergson, Einstein, có bao giờ đọc Khổng Tử hay không, nhưng tôi mừng khi thấy rốt cuộc, “Tư tưởng lớn gặp nhau”
(Les grands esprits se rencontrent), như câu ngạn ngữ Tây phương đã
nói. Dù Bergson và Einstein phát biểu những chân lý muộn hơn Khổng Tử
2500 năm, nhưng “Muộn còn hơn không bao giờ” (Mieux vaut tard que jamais
/ Better late than never), và tôi vẫn cảm thấy vô cùng biết ơn những
người như Bergson, Einstein, Gödel, bởi nếu các ông không lên tiếng, thì
cái đám đông tự phụ và vô minh sẽ tiếp tục mê ngủ mà cứ tưởng mình là
giỏi, là hay.
Tác giả Trần Trọng Kim kết luận:
● Cái học của Khổng Tử là cốt khiến
người ta gắng hết sức, đem cái sáng suốt tự nhiên mà hiểu rõ cái nghĩa
tinh vi, vào cho đến cái thần diệu của các sự vật, thì sự biết mới thực
là xác thực, và việc làm mới thật là hay.
Có nghĩa là phải vận dụng trực giác để
nắm bắt bản chất của sự vật, thay vì chỉ nắm được cái vỏ bề ngoài của
nó. Điều này tưởng là dễ, nhưng trong thực tế, người ta thường nhầm lẫn,
vì không phân biệt được bản chất với bề ngoài. Đó là lý do để nền học
vấn ngày xưa sản sinh ra một loại nho sĩ được gọi là hủ nho – loại nhà
nho chỉ giỏi học thuộc kinh kệ sách vở để khua môi múa mép, khoe chữ,
khoe bằng cấp, nhưng tư tưởng thì rỗng tuếch.
Căn bệnh hủ nho
Ngày xưa dạy học, tôi vẫn luôn khuyến
khích học trò cách vận dụng trực giác, thay vì học thuộc những kỹ thuật
hoặc những mẹo mực làm toán. Tôi từng nói với các em rằng dù tính tích
phân giỏi, biết nhiều mẹo mực biến đổi, đi thi được 10 điểm, nhưng nếu
không hiểu bản chất của tích phân là gì, thì đó chính là cái học của lũ
hủ nho. Tôi từng chứng kiến một học trò giỏi tính tích hữu hướng của 2
vector bằng phương pháp định thức khá thành thạo, nhưng khi đặt 2 chiếc
bút làm 2 vector và yêu cầu học trò đó chỉ ra tích hữu hướng của chúng
thì học trò đó loay hoay mãi, cuối cùng chỉ ra vector tích sai hướng.
Tôi hỏi em đó tại sao em làm toán mà không hiểu bản chất của bài toán,
em hồn nhiên trả lời rằng em quen làm theo hướng dẫn của sách giáo khoa
và của thầy dạy trên lớp. Tôi nói với em rằng đó là lối dạy và lối học
hủ nho, chỉ thuộc lòng như cái máy mà không thấy bản chất của vấn đề.
Hình học là môn học dễ kích thích trực
giác nhất, vì thế tôi thường cho học trò làm những bài toán hình học
phẳng, rồi yêu cầu học sinh tự mở rộng thành bài toán không gian. Khi
các em phát biểu được bài toán không gian, tự chứng minh bài toán rồi
quy thành định lý, tôi nói với các em rằng: “Các em đã trở thành nhà
khoa học thực thụ rồi đấy”. Trong số những học trò đó, nay có nhiều em
đã trở thành những tiến sĩ, những nhà khoa học có uy tín, không chỉ ở
Việt Nam, mà ngay cả ở Úc hoặc ở Pháp, ở Mỹ. Đó là cái “học thật”, cái
học dựa trên trực giác, còn lối học để đi thi, đoạt danh hiệu rồi khoe
khoang, nhưng tư tưởng thì rỗng tuếch, là cái học hủ nho hoặc “học giả”.
Quan sát thực tế, tôi thấy lối học hủ
nho ngày nay rất phổ biến. Lỗi không phải của học trò, mà của chính
người dạy. Chẳng hạn, trong sách giáo khoa vật lý lớp 11, tôi từng thấy
có những công thức vật lý được chứng minh rất cao cấp, nhưng hậu quả là
học trò không hiểu. Cái bệnh toán học hóa vật lý một cách vô tội vạ là
một căn bệnh tệ hại của chủ nghĩa hình thức, vốn nẩy sinh trong toán học
đầu thế kỷ 20, rồi lan sang giới vật lý. Thực chất, đó là căn bệnh hủ
nho, mà con người dù ở Đông hay Tây, đều dễ mắc phải, nếu tư duy trực
giác kém, hoặc không coi trọng tư duy trực giác.
Từ Chủ nghĩa hình thức đến Định lý Gödel
Ngay cả vĩ nhân cũng có thể mắc sai lầm,
nếu người đó đề cao tư duy lý lẽ như công cụ chủ yếu của nhận thức.
Tiêu biểu cho kiểu tư duy này là David Hilbert, một trong những nhà toán
học lớn nhất cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hilbert giỏi toán bao nhiêu
thì kém về triết học bấy nhiêu, hoặc kém về trực giác bấy nhiêu. Ông
nhận định sai về bản chất của toán học. Ông coi toán học là một hệ thống
thuần túy logic hình thức, độc lập với thế giới hiện thực và độc lập
với tư duy của con người. Ông tin rằng với một phương pháp nghiên cứu
đúng đắn, các nhà toán học sẽ khám phá ra hệ thống chân lý toán học đầy
đủ và tuyệt đối phi mâu thuẫn. Để cổ vũ và hối thúc các nhà toán học đi
theo ông, ông lớn tiếng tuyên bố: “Chúng ta phải biết; Chúng ta sẽ
biết!” (We must know; We will know!).
Nhưng Định lý Bất toàn (Theorem of
Incompleteness) của Kurt Gödel ra đời năm 1931 đã đập tan giấc mộng của
Hilbert, chứng minh rằng chương trình Hilbert là một ảo tưởng. Ngày nay
không còn ai bênh vực chủ nghĩa hình thức nữa, trừ một vài nhà toán học
giỏi toán nhưng dốt về lịch sử và triết học toán học.
Tuy nhiên không bao giờ nên quên bài học
của chủ nghĩa hình thức trong toán học thế kỷ 20. Nó đã từng làm mưa
làm gió, khuynh đảo tư tưởng các nhà toán học trong thế kỷ này, ngay cả
khi Định lý Gödel đã ra đời. Niềm tin vào chủ nghĩa hình thức của
Hilbert lớn đến nỗi người ta không muốn tin vào Định lý Gödel. Đó là lý
do để trong một thời gian rất dài, từ 1931 mãi cho tới cuối thế kỷ 20,
Định lý Bất toàn không được nhắc đến. Cuối thế kỷ 20, Định lý Bất toàn
được “sống lại” nhờ khoa học computer – khoa học này chỉ ra những giới
hạn của khoa học tính toán. Khi ấy nhân loại mới bừng tỉnh nhận ra rằng
tính hạn chế của toán học đã được Định lý Gödel nói rõ từ năm 1931. Và
mãi cho tới gần đây, Stephen Hawking mới tiếp thu định lý này để áp dụng
vào vật lý, từ đó ông cho rằng khó có thể có một TOE – một lý thuyết về
mọi thứ. Nhưng bất chấp uy tín của Hawking, rất nhiều nhà vật lý cho
tới nay vẫn tin rằng TOE sẽ là một kết thúc tất yếu của vật lý. Lý
thuyết Dây từng được coi là một ứng cử viên sáng giá của TOE. Nhưng mấy
chục năm trôi qua, Lý thuyết Dây vẫn chỉ là một mớ lý thuyết thuần túy.
Nay người ta mới nhận ra rằng lý thuyết này thảo luận về một thế giới
nằm trong phạm vi vũ trụ không thể quan sát được. Bài báo mới đây của GS
Cao Chi, “Không đạt được nhất trí”, đã đăng trên PVHg’s Home ngày
09/03/2016, một lần nữa đặt dấu hỏi cho chúng ta về con đường của nhận
thức. Với những gì tôi hiểu, Lý thuyết Dây không dựa trên trực giác, mà
dựa trên những sáng tác toán học. Người ta ca ngợi nó đẹp, nhưng thú
thực, tôi không cảm nhận được cái đẹp đó. Cái Đẹp không nằm ở các phương
trình, mà nằm ở tư tưởng. Tôi cho rằng Lý thuyết Dây là một đỉnh cao
của chủ nghĩa hình thức toán học trong vật lý. Câu hỏi đặt ra là:
Tại sao bao nhiêu bộ óc thông minh không
sớm nhận ra sai lầm của chủ nghĩa hình thức trong thế kỷ 20? Tại sao
bao nhiêu bộ óc xuất sắc về toán học trong thế kỷ 20 bị đánh lừa? Cái gì
cản trở việc phổ biến Định lý Bất toàn để tiếp tục biểu dương chủ nghĩa
hình thức?
Câu trả lời: Sự kém cỏi về TRỰC GIÁC!
Sự thiếu hiểu biết về vai trò của trực giác trong nhận thức khoa học
Hilbert và trường phái hình thức không
thấy vai trò của trực giác trong toán học. Họ thúc con ngựa lý lẽ chạy
thật hăng, trong khi bỏ quên con ngựa trực giác, kết quả là chiếc xe
song mã mà họ cầm cương đi chệch khỏi mục tiêu Chân Lý.
Định lý Gödel là lời cảnh báo đối với cái vô minh trong khoa học,
nhưng Hilbert cho đến phút chót của cuộc đời vẫn không chịu thừa nhận
sai lầm của mình. Ông mất năm 1943, tức là có 12 năm để suy nghĩ về Định
lý Gödel. Cái gì làm cho một bộ não xuất sắc về toán học như ông từ
chối một chân lý toán học? Câu trả lời: Sự thiếu hiểu biết về vai trò
của TRỰC GIÁC trong toán học!
Tôi dám khẳng định điều đó, vì thực ra
không phải ai cũng suy nghĩ như Hilbert. Bằng chứng rõ nhất là Henri
Poincaré, ngay từ đầu nhà toán học lỗi lạc này đã quyết liệt chống đối
chủ nghĩa hình thức. Ông cho rằng dù toán học được hình thức hóa đến đâu
chăng nữa, trực giác vẫn luôn luôn đóng vai trò ánh sáng dẫn đường. Ông
tuyên bố: “Nhờ logic ta chứng minh; nhờ trực giác ta khám phá” (Avec la
logique nous démontrons; Avec l’intuition nous inventons).
Đó là chưa kể đến Luitzen Brower, một
nhà toán học xuất sắc người Hà Lan trong nửa đầu thế kỷ 20, cũng chống
đối Hilbert quyết liệt. Nếu Henri Bergson là người đề xướng Thuyết Trực
giác trong nhận thức nói chung, thì Brower là người khẳng định Thuyết
Trực giác trong toán học – mọi sáng tạo toán học đều xuất phát từ trực
giác.
Đáng tiếc là những nhà toán học có trực
giác thiên tài như Poincaré hoặc sắc sảo như Brower lại chiếm thiểu số,
trong khi trường phái hình thức của Hilbert lại chiếm đa số. Điều này
cũng tương tự như Thuyết Tiến hóa vẫn đóng vai trò chính thống trong
sinh học, trong khi những lý thuyết chống Darwin đóng vai trò phản biện.
Nhưng số đông không phải là thước đo của chân lý, như Galileo Galilei
từng nói: “Trong khoa học, thẩm quyền của hàng nghìn ý kiến không có giá
trị bằng một ý kiến hợp lẽ phải của một cá nhân” (for in the sciences
the authority of thousands of opinions is not worth as much as one tiny
spark of reason in an individual man).
Tóm lại, chân lý không thuộc về đám
đông, mà thuộc về những trực giác thiên tài – những tư tưởng được Thượng
đế soi sáng thông qua trực giác. Xin nhắc lại rằng chúng ta chỉ có thể
hiểu được bản chất của trực giác nếu thừa nhận có Thượng đế và thừa nhận
rằng trực giác là mối liên hệ giữa con người với Thượng đế, như tác giả
Trần Trọng Kim đã viết:
● Trời sinh ra người có phú tính
cho, tức là phú cho một phần thiên lý. Phần thiên lý ấy là cái tâm, là
cái tinh thần của người ta. Nhờ cái tinh thần ấy người ta mới biết cái
cỗi gốc của người là do ở Trời, và người với Trời có thể tương cảm tương
ứng với nhau. (t.27)
Nếu thấm nhuần quan điểm trên, chúng ta
sẽ không lấy làm đắc chí khoe khoang khi thấy mình có trí tuệ nổi trội
hơn người khác, mà khiêm tốn hiểu rằng ấy là nhờ ở sự tương cảm tương
ứng với Trời mà có. Dường như Einstein cũng hiểu điều đó nên ông có một
cái nhìn rất khiêm tốn về bản thân mình. Ông viết: “Tôi có nhu cầu sống
giản tiện và thường cảm thấy dằn vặt, rằng mình đòi hỏi nhiều hơn mức
cần thiết từ lao động của đồng loại”. Chẳng phải ông là một vĩ nhân sao?
Chẳng phải ông có quyền đòi hỏi được trọng vọng tôn sùng ư? Cái gì làm
cho ông không có những đòi hỏi thường thấy ở những kẻ may mắn thành
công?
Thay lời kết
Như ta đã thấy, cái học của Khổng Tử chủ
ở sự trực giác. Vậy đối với Khổng Tử, lý trí đóng vai trò gì trong sự
nhận thức? Tác giả Trần Trọng Kim cho biết:
● Lý trí là cái năng lực để suy luận
mà biết mọi việc. Song lý trí chỉ hiểu biết được tính chất và hình thể ở
bề ngoài của các sự vật mà thôi… Thường những điều ta nói ra được, hoặc
vẽ ra được, lại không phải là cái tinh thần nữa. Vậy nếu ta bỏ trực
giác là cái biết của tâm, mà chỉ chuyên dùng lý trí, thì thường hay làm
cho ta sai lầm. (t.33-34)
Tư tưởng nói trên đối lập 100% với chủ
nghĩa hình thức của David Hilbert. Xem thế thì thấy học giả Trần Trọng
Kim sâu sắc hơn rất nhiều nhà toán học, mặc dù ở đây ông chỉ làm công
việc diễn tả tư tưởng của Khổng Tử. Đừng quên rằng những lời nói trên
được viết ra từ những năm 1930. Ngay từ hồi ấy mà đã suy nghĩ như thế
thì thật đáng khâm phục! Tác giả Trần Trọng Kim viết tiếp:
● Lý trí của người ta dẫu minh mẫn thế nào cũng có giới hạn, không hiểu biết được nhanh và sâu xa như trực giác… (t.34)
Đọc câu trên, tôi có cảm giác bàng hoàng
thích thú, vì đó chính là tư tưởng của Định lý Gödel. Định lý này chỉ
ra rằng toán học, một hệ thống lý lẽ logic nhất, cũng có giới hạn – tồn
tại những mệnh đề toán học không thể quyết định được. Toán học không bao
giờ đầy đủ. Muốn đầy đủ thì phải chấp nhận mâu thuẫn. Các nhà toán học
rất sợ mâu thuẫn, vì thế thà không đầy đủ còn hơn mâu thuẫn.
Vậy để tiếp cận tới chân lý, phải vận dụng chiếc ăng-ten trực giác
mà Thần đã cho chúng ta. Chiếc ăng-ten đó sẽ giúp chúng ta định vị sự
thật nằm ở đâu. Lý trí lúc ấy đóng vai trò kiểm tra xem định hướng đó có
đúng hay không. Nếu sai thì lại xoay ăng-ten về phía mà trực giác mách
bảo, lý trí lại hỗ trợ,… Đó là quá trình cầm cương điều khiển hai con
ngựa trong cỗ xe song mã của Plato. Tác giả Trần Trọng Kim chỉ ra vai
trò tương hỗ giữa hai con ngựa đó rất rõ ràng:
● … những sự biết mẫn tiệp và sâu xa
là thường do trực giác, chứ không phải do lý trí. Song khi đã biết điều
gì rồi, tất phải dùng lý trí mà kiểm soát lại, để biết cho rõ những
điều đã do trực giác mà biết… (t.35)
Rồi ông kết luận:
● Vậy thì nay ta phải dùng cả trực giác và lý trí. Trực giác là để biết, mà lý trí là để kiểm soát. (t.37)
Tôi thực sự choáng váng, vì kết luận của
Trần Trọng Kim giống y như ý kiến của Henri Poincaré, rằng “Nhờ logic
ta chứng minh; nhờ trực giác ta khám phá”. Poincaré mất năm 1912. Có lẽ
Lệ Thần Trần Trọng Kim cũng đã từng đọc sách của Poincaré, nhưng tôi
không nghĩ ông chịu ảnh hưởng của Poincaré để nói ra một lời tương tự.
Một lần nữa, tôi cho rằng đây là hiện tượng tư tưởng lớn gặp nhau!
Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đại Kỷ Nguyên.
Dường như Einstein không tìm
thấy ai hiểu mình hơn Gödel, đến nỗi có lần ông nói với mọi người rằng
ông đến văn phòng của ông trong Đại học Princeton “chỉ để có cái đặc ân
được cùng đi bộ với Gödel về nhà”. (Ảnh: Internet)
Gottfried Leibniz có
lần nói: “Không có toán học chúng ta không thể đi sâu vào triết học.
Không có triết học chúng ta không thể đi sâu vào toán học. Không có cả
hai chúng ta không thể đi sâu vào bất cứ thứ gì”. Dẫn lời Leibniz, Perry Marshall
đưa chúng ta vào thế giới của Toán học và Triết học, ở đó chúng ta có
thể thấy rõ hơn chân lý, biết đâu là sự thật. Đó là mục đích bài giảng
của ông: “Định lý Bất toàn của Gödel: Khám phá Toán học số 1 của thế kỷ 20”….
“Định lý Bất toàn của Gödel: Khám phá Toán học số 1 trong thế kỷ 20” là một bài giảng của Perry Marshall. Dưới đây là bản lược dịch của Phạm Việt Hưng.
ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN CỦA GÖDEL: KHÁM PHÁ TOÁN HỌC SỐ I CỦA THẾ KỶ XX
Bài giảng của Perry Marshall
Gottfried Leibniz: “Không có toán học chúng ta không thể đi sâu vào triết học. Không có
triết học chúng ta không thể đi sâu vào toán học. Không có cả hai chúng
ta không thể đi sâu vào bất cứ thứ gì”.
Galileo Galilei: “Toán học là ngôn ngữ Chúa [1] viết trong vũ trụ”
Năm 1931, Kurt Gödel giáng cho các nhà toán học trong thời của ông một đòn nặng nề
Năm 1931, nhà toán học trẻ Kurt Gödel có
một khám phá mang tính bước ngoặt, gây ra những chấn động lớn như những
gì Albert Einstein đã làm.
Khám phá của Gödel không chỉ áp dụng cho
toán học, mà thực ra áp dụng cho tất cả các ngành của khoa học, logic
và hiểu biết của con người nói chung. Nó thực sự làm rung chuyển trái
đất.
Nhưng trớ trêu thay, không mấy ai biết về nó. Vậy hãy cho phép tôi nói với các bạn câu chuyện về định lý này.
Các nhà toán học vốn thích chứng minh
mọi thứ. Vì thế họ nóng lòng và băn khoăn trong suốt nhiều thế kỷ vì có
một số định đề toán học họ nghĩ là đúng nhưng không thể CHỨNG
MINH. Chẳng hạn nếu bạn đã từng học Hình học ở trường trung học, hẳn là
bạn đã làm những bài tập chứng minh các tính chất của tam giác dựa trên
một số định lý cơ bản.
Môn hình học đó được xây dựng trên 5
tiên đề của Euclid. Mọi người đều thấy những tiên đề đó là đúng, nhưng
sau 2500 năm vẫn không có ai tìm ra cách chứng minh chúng. Vâng, dường
như hoàn toàn hợp lý khi cho rằng một đường thẳng có thể kéo dài vô tận
về hai phía, nhưng không ai có thể CHỨNG TỎ điều đó. Chúng ta chỉ có thể
bầy tỏ rằng đó là một tập hợp 5 tiên đề hợp lý, và thực tế là cần
thiết.
Những thiên tài toán học cao chót vót đã
thất vọng trong hơn 2000 năm bởi vì họ không thể chứng minh tất cả các
định lý của họ. Có rất nhiều điều “rõ ràng” là đúng nhưng không ai có
thể tìm ra cách chứng minh.
Tuy nhiên, vào những năm đầu của thập
niên 1900, một niềm lạc quan to lớn bắt đầu phát triển trong giới toán
học. Các nhà toán học xuất sắc nhất thế giới lúc đó (như Bertrand
Russell, David Hilbert và Ludwig Wittgenstein) tin rằng họ đang nhanh
chóng tiến gần tới một phương pháp tổng hợp cuối cùng.
(Họ tin rằng) một sự thống nhất “Lý
thuyết về mọi thứ” rốt cuộc sẽ thít chặt các đầu mối lỏng lẻo. Toán học
sẽ kiện toàn, đạn bắn không thủng, không có kẽ hở cho không khí lọt vào,
và toán học sẽ đắc thắng. (Nhưng) năm 1931, nhà toán học trẻ người Áo,
Kurt Gödel, đã công bố một công trình CHỨNG MINH một lần và mãi mãi rằng
một Lý thuyết Duy nhất về Mọi thứ thực ra là không thể có (impossible,
bất khả).
Khám phá của Gödel được gọi là “Định lý Bất toàn”.
Nếu bạn dành cho tôi vài phút, thì tôi
sẽ giải thích với bạn định lý đó nói gì, Gödel đã khám phá ra định lý đó
như thế nào, và định lý đó có ý nghĩa gì – tôi nói bằng một ngôn ngữ
mộc mạc, đơn giản đến nỗi ai cũng hiểu.
Định lý Bất toàn của Gödel nói rằng:
“Bất cứ điều gì mà bạn có thể vẽ
một vòng tròn bao quanh nó sẽ không thể tự giải thích về bản thân nó mà
không tham chiếu đến một cái gì đó ở bên ngoài vòng tròn – một cái gì
đó mà bạn phải thừa nhận là đúng nhưng không thể chứng minh.”
Xin nhắc lại điều nói trên bằng ngôn ngữ chính thức của khoa học:
Định lý Gödel nói rằng: “Bất kỳ lý
thuyết nào được tạo ra một cách hiệu quả đủ khả năng biểu diễn số học sơ
cấp đều không thể vừa nhất quán vừa đầy đủ. Đặc biệt, đối với bất kỳ lý
thuyết hình thức nào nhất quán, được tạo ra một cách hiệu quả cho phép
chứng minh một số chân lý số học căn bản, sẽ có một mệnh đề số học đúng
nhưng không thể chứng minh trong lý thuyết ấy.”
Luận đề Church-Turing nói rằng một hệ
vật lý có thể biểu diễn số học sơ cấp y như con người, và rằng số học
của Máy Turing (computer) không thể chứng minh được bên trong hệ thống
đó và do đó computer cũng bất toàn.
Bất kỳ hệ vật lý nào có thể đo lường đều
có khả năng biểu diễn số học sơ cấp (Nói cách khác, trẻ em có thể làm
toán bằng cách đếm ngón tay, nước chảy vào thùng sẽ tạo nên một lượng
nước đếm được, và các hệ vật lý luôn luôn đua ra câu trả lời rõ ràng).
Do đó vũ trụ (thế giới vật lý) có khả
năng biểu diễn được bằng số học sơ cấp và giống như bản thân toán học và
computer, vũ trụ ấy là bất toàn.
Lý luận trên có thể tóm tắt bằng tam đoạn luận sau đây:
1. Mọi hệ thống đủ phức tạp có thể tính toán được đều bất toàn.
2. Vũ trụ là một hệ đủ phức tạp có thể tính toán được.
3. Do đó vũ trụ là bất toàn.
Bạn có thể vẽ một vòng tròn xung quanh
tất cả các khái niệm trong cuốn sách hình học trung học của bạn. Nhưng
tất cả chúng được xây dựng trên 5 tiên đề của Euclid, những tiên đề này
rõ ràng là đúng nhưng không thể chứng minh. 5 tiên đề đó nằm ngoài cuốn
sách, tức là bên ngoài vòng tròn bạn vừa vẽ.
Bạn cũng có thể vẽ một vòng tròn xung
quanh một chiếc xe đạp nhưng sự tồn tại của chiếc xe đạp đó dựa vào một
nhà máy ở bên ngoài vòng tròn đó. Chiếc xe đạp không thể tự giải thích
sự tồn tại của bản thân nó.
Gödel chứng minh rằng LUÔN LUÔN có nhiều
cái đúng hơn là cái bạn có thể chứng minh. Trong bất kỳ hệ thống logic
hay hệ thống số nào mà các nhà toán học đã từng xây dựng được đều luôn
luôn tồn tại ít nhất một vài giả định không thể chứng minh.
Định lý bất toàn của Gödel không chỉ áp
dụng cho toán học, mà cho mọi đối tượng tuân thủ các định luật của
logic. Bất toàn đúng trong toán học; nó cũng đúng trong khoa học hay
ngôn ngữ hoặc triết học.
Và: Nếu vũ trụ mang tính chất toán học và logic thì tính bất toàn cũng áp dụng cho vũ trụ.
(Ảnh: Internet)
Gödel sáng tạo ra chứng minh của mình bằng cách khởi đầu với “Nghịch lý Kẻ nói dối” (The Liar’s Paradox) – đó là mệnh đề: “Tôi đang nói dối.” (I am lying)
Mệnh đề “Tôi đang nói dối” là một mệnh
đề tự mâu thuẫn, bởi nếu mệnh đề ấy phản ánh đúng sự thật, rằng tôi là
một kẻ nói dối, thì suy ra mệnh đề vừa nói không đáng tin cậy, tức là
mệnh đề ấy mâu thuẫn với chính nó; nếu mệnh đề ấy sai, lập luận tương tự
cũng đi đến mâu thuẫn .
Tương tự như vậy, bằng một trong những
biến đổi khéo léo nhất trong lịch sử toán học, Gödel đã chuyển Nghịch lý
Kẻ Nói Dối thành một công thức toán học. Ông đã chứng minh rằng bất kỳ
một mệnh đề nào cũng đòi hỏi một quan sát viên bên ngoài.
Không có mệnh đề nào (một sự trình bày nào) có thể một mình nó tự chứng minh nó đúng.
Định lý bất toàn của Gödel là một đòn
nặng nề giáng vào “chủ nghĩa thực chứng” trong thời đại đó. Gödel chứng
minh định lý của ông một cách rõ ràng trắng đen đến nỗi không ai có thể
tranh cãi với logic của ông.
Tuy nhiên một số đồng nghiệp toán học
của ông đến lúc ra đi về bên kia thế giới vẫn phủ nhận ông, tin rằng
bằng cách này hay cách khác, trước sau Gödel chắc chắn phải sai.
Nhưng ông không sai. Định lý của ông
thực sự đúng. Có nhiều cái đúng hơn là cái bạn có thể chứng minh. Một
“lý thuyết về mọi thứ” – dù trong toán học hay vật lý, triết học – sẽ
không bao giờ tìm thấy. Đơn giản vì nó không thể tồn tại (impossible,
bất khả).
OK, vậy điều này thực ra có ý nghĩa gì?
Tại sao vấn đề này lại là vô cùng quan trọng, thay vì chỉ là một chuyện
phiếm để mua vui?
Đây là ý nghĩa của định lý:
● Đức tin và Lý lẽ không phải là kẻ thù của nhau.
Thực ra điều ngược lại mới đúng! Cái này nhất thiết cần cái kia để tồn
tại. Mọi lý lẽ rốt cuộc đều quay trở lại niềm tin vào một cái gì đó mà
bạn không thể chứng minh.
● Mọi hệ thống đóng kín đều phụ thuộc vào một cái gì đó ở bên ngoài hệ thống.
● Bạn luôn luôn có thể vẽ một vòng tròn lớn hơn nhưng sẽ luôn luôn tồn tại một cái gì đó bên ngoài vòng tròn.
● Lý lẽ hướng từ một vòng tròn lớn hơn vào một vòng tròn nhỏ hơn là “lý lẽ suy diễn”(deductive reasoning). Thí dụ:
1. Mọi người đều sẽ chết.
2. Socrates là một con người.
3. Vậy Socrates sẽ chết.
● Lý lẽ hướng từ một vòng tròn nhỏ hơn ra một vòng tròn lớn hơn là “lý lẽ quy nạp”. Thí dụ:
1. Khi tôi thả đồ vật ra, chúng sẽ rơi.
2. Do đó tồn tại một định luật về hấp dẫn chi phối mọi vật thể rơi.
Chú ý rằng khi bạn chuyển từ vòng tròn nhỏ hơn ra vòng tròn lớn hơn, bạn phải thừa nhận rằng bạn không thể chứng minh 100%.
Chẳng hạn bạn không thể CHỨNG MINH lực
hấp dẫn luôn luôn tồn tại vào mọi lúc. Bạn chỉ có thể nhận thấy lực hấp
dẫn tồn tại vào mỗi lúcc bạn quan sát. Bạn không thể CHỨNG MINH vũ trụ
là hợp lý (rational, tuân thủ những quy luật nhất định). Bạn chỉ có thể
nhận thấy các công thức toán học, như E = mc2 chẳng hạn, dường như mô tả
một cách hoàn hảo cái mà vũ trụ tiến hành.
Gần như mọi định luật khoa học đều dựa
trên lý lẽ quy nạp. Những định luật này đều dựa trên một giả định cho
rằng vũ trụ là logic và dựa trên những định luật cố định có thể khám phá
ra. Bạn không thể CHỨNG MINH giả định đó ( Bạn không thể chứng minh mặt
trời sẽ mọc vào buổi sớm mai). Thực ra bạn phải chấp nhận điều đó bằng
niềm tin. Khoa học được xây dựng trên những giả định triết học mà bạn
không thể chứng minh bằng khoa học. Thật vậy, phương pháp khoa học không
thể chứng minh, nó chỉ có thể gợi ý, phỏng đoán (Khoa học xuất phát từ
tư tưởng nguyên thủy rằng Thần [2] tạo ra một vũ trụ có trật tự tuân thủ các định luật cố định có thể khám phá được).
Bây giờ hãy xem xét điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta vẽ vòng tròn lớn nhất có thể có – vòng tròn bao quanh toàn thể vũ trụ (nếu có đa vũ trụ thì vẽ môt vòng tròn chứa tất cả những vũ trụ đó):
● Phải có một cái gì đó bên ngoài vòng tròn đó. Một cái gì đó mà chúng ta phải thừa nhận là không thể chứng minh được.
● Vũ trụ mà chúng ta biết là hữu hạn – hữu hạn vật chất, hữu hạn năng lượng, không gian hữu hạn và thời gian là 13.7 tỷ năm tuổi.
● Vũ trụ ấy mang tính chất toán học.
Bất kỳ hệ vật lý nào có thể đo đạc đều có thể biểu diễn bởi số học (Bạn
không cần biết toán học để làm phép cộng – bạn có thể sử dụng bàn tính
gẩy tay để tìm câu trả lời vào mọi lúc).
● Vũ trụ (tất cả mọi vật chất, năng lượng, không gian, thời gian) không thể tự giải thích cho nó.
● Bất kể cái gì ở bên ngoài vòng tròn lớn nhất đều là vô hạn. Theo định nghĩa, không thể vẽ một vòng tròn bao quanh nó .
● Nếu chúng ta vẽ một vòng tròn bao
quanh mọi vật chất, năng lượng, không gian và thời gian và áp dụng định
lý Gödel, chúng ta sẽ thấy cái gì ở ngoài vòng tròn đó sẽ không phải là
vật chất, không phải năng lượng, không phải không gian và cũng không
phải thời gian. Đó là thế giới phi vật chất.
● Bất kể cái gì ở bên ngoài vòng tròn lớn nhất đều không phải là một hệ thống
– nghĩa là không phải một tập hợp bao gồm các thành phần. Nói cách
khác, nếu chúng ta có thể vẽ một vòng tròn bao quanh vật chất, năng
lượng, không-thời-gian thì cái nằm ngoài vòng tròn ấy là không thể phân
chia được.
● Bất kể cái gì ở bên ngoài vòng tròn lớn nhất đều là nguyên nhân không có nguyên nhân, bởi vì bạn luôn luôn có thể vẽ một vòng tròn bao quanh một kết quả.
Chúng ta có thể áp dụng lý lẽ quy nạp tương tự cho nguồn gốc của thông tin:
● Trong lịch sử vũ trụ, chúng ta cũng đã biết sự xuất hiện của thông tin, vào khoảng 3.5 tỷ năm trước. Nó xuất phát từ mã của Hệ Di truyền (Genetic code), một thứ phi vật chất mang tính biểu tượng .
● Thông tin phải xuất phát từ bên ngoài, bởi vì thông tin được biết không phải là một đặc trưng vốn thuộc về vật chất, năng lượng và không gian hoặc thời gian.
● Mọi mã mà chúng ta biết nguồn gốc đều được thiết kế bởi những thực thể có ý thức.
● Do đó bất kể cái gì ở bên ngoài vòng tròn lớn nhất cũng phải là một thực thể có ý thức.
Nói cách khác, khi chúng ta bổ sung
thông tin vào trong phương trình, chúng ta có thể kết luận rằng cái ở
bên ngoài vòng tròn lớn nhất không chỉ vô hạn và phi vật chất, mà còn có
ý thức.
Chẳng phải thú vị hay sao khi những vấn
đề này nghe có vẻ đáng ngờ vực như những gì mà các nhà thần học đã mô tả
Thần trong hàng ngàn năm nay?
Vì thế sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên
khi thấy 80-90% dân chúng trên thế giới đều có tín ngưỡng vào Thần theo
một cách nào đó. Thật vậy, đó là trực giác đối với phần lớn các dân tộc.
Nhưng định lý Gödel chỉ ra rằng đó cũng là logic tối cao. Thực ra đó là
lập trường duy nhất mà người ta có thể nắm lấy và đứng trên đó trong
vương quốc của lý lẽ và logic.
Người nào tự phụ tuyên bố “Bạn là người
của đức tin, còn tôi là người của khoa học” thì người ấy không hiểu gốc
rễ của khoa học hoặc bản chất của tri thức!
Một khía cạnh thú vị khác…
Nếu bạn có dịp thăm một trang mạng vô
thần lớn nhất thế giới có tên là Infidels, bạn sẽ thấy trên trang chủ
lời tuyên bố sau đây:
“Chủ nghĩa duy tự nhiên
(naturalism) là giả thuyết cho rằng thế giới tự nhiên là một hệ đóng,
ngụ ý rằng không có cái gì không phải là thành phần của thế giới tự
nhiên mà lại ảnh hưởng lên nó” Nếu
bạn biết định lý Gödel, bạn sẽ thấy rằng mọi hệ logic phải phụ thuộc
vào một cái gì đó ở bên ngoài hệ thống. Vậy theo định lý bất toàn của
Gödel, tuyên bố của trang mạng Infidels không thể chính xác. Nếu vũ trụ
là logic, nó phải có một nguyên nhân bên ngoài.
Do đó chủ nghĩa vô thần vi phạm các định luật của lý lẽ và logic.
Định lý Bất toàn của Gödel chứng minh
một cách dứt khoát rằng khoa học không bao giờ có thể lấp kín những lỗ
hổng của chính nó. Chúng ta không có lựa chọn nào khác là nhìn ra bên
ngoài khoa học để tìm câu trả lời.
Tính Bất toàn của vũ trụ không phải là
chứng minh cho việc Thần tồn tại. Nhưng… đó LÀ chứng minh cho nhận định
rằng để kiến tạo nên một mô hình vũ trụ hợp lý thì niềm tin vào
Thần không chỉ logic 100%… mà đó là điều cần thiết.
5 tiên đề của Euclid không thể chứng
minh một cách hình thức và Thần cũng không thể chứng minh một cách hình
thức . Nhưng… giống như bạn không thể xây dựng một hệ thống hình học
chặt chẽ mà không có 5 tiên đề của Euclid, bạn cũng không thể xây dựng
một lý thuyết mô tả vũ trụ chặt chẽ mà không có Nguyên nhân Ban đầu và
một Cội Nguồn của trật tự.
Do đó đức tin và khoa học không phải là
kẻ thù của nhau, mà liên minh với nhau. Điều đó đã đúng trong hàng trăm
năm, nhưng đến năm 1931 thì nhà toán học trẻ gầy ốm Kurt Gödel đã chứng
minh điều đó.
Không có thời kỳ nào trong lịch sử nhân
loại đức tin vào Thần lại trở nên có lý hơn, logic hơn, hoặc hoàn hảo
hơn bằng khi nó được hỗ trợ bởi khoa học và toán học.
Và để kết bài, xin trích dẫn một câu nói của Einstein:
Chú thích:
[1] God (Chúa): God là một từ tiếng Anh
ám chỉ một vị Thần nói chung theo định nghĩa ở chú thích [1]. Tuy nhiên,
vì Ki-tô giáo là tôn giáo chính yếu ở Tây Phương, nên khi nhắc đến God,
người ta thường mặc định ám chỉ đến Chúa trong tín ngưỡng Ki-tô Giáo.
Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, trừ trong các trường hợp cụ thể,
chúng ta nên hiểu rộng nghĩa của từ God theo chú thích [2].
[2] Thần: Một lực lượng siêu tự nhiên mà
nhân loại từng sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi tên, như Phật,
Đạo, Đại Giác Giả, Thượng đế, Đấng Tối cao, Chúa, Đấng Sáng tạo,
Jehovah, Allah,, , Bà Mẹ Tự nhiên, Nhà thiết kế vĩ đại…
Tác giả: Perry Marshall
Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đại Kỷ Nguyên.
Người dịch: Phạm Việt Hưng, viethungpham.com. Từng
giảng dạy các môn Toán Kinh tế; Cơ học Lý thuyết; Sức bền Vật liệu;
Toán luyện thi đại học. Hiện thỉnh giảng Toán cao cấp tại một đại học ở
VN.
Mặc dù tên tuổi của Louis
Pasteur và Charles Darwin đã trở nên quá quen thuộc đối với tôi từ xa
xưa, nhưng mãi cho tới gần đây tôi mới giật mình nhận ra rằng hai nhân
vật nổi tiếng ở hai bên bờ biển Manches này mặc dù cùng thọ 73 tuổi,
cùng là những nhân vật trung tâm của thế kỷ 19 có ảnh hưởng sâu rộng đối
với tư tưởng nhân loại từ đó tới nay, nhưng hai người đi theo hai con
đường hoàn toàn trái ngược nhau như âm với dương. Nếu coi dương (+) là
tích cực (positive) và âm (–) là tiêu cực (negative) thì Pasteur là
dương và Darwin là âm.
Tuy
nhiên so sánh nói trên thực ra là khập khiễng, vì âm và dương tuy trái
ngược nhưng bổ sung cho nhau để tạo nên một thế giới hài hòa cân bằng –
dương không thể thiếu âm và âm cũng không thể thiếu dương, chúng cần
nhau để cùng tồn tại. Trong khi đó lý thuyết của Pasteur không thể dung
hòa với học thuyết Darwin được – các định luật cơ bản do Pasteur khám phá sẽ tự động loại bỏ thuyết tiến hóa của Darwin, như độc giả sẽ thấy trong bài này.
Đại ân nhân của loài người
Louis Pasteur (27/12/1822 – 28/9/1895) là nhà bác học kiệt xuất của nhân loại. Liệt
kê các khám phá của ông, ta sẽ có một danh sách gạch đầu dòng kín đặc
một trang giấy, toàn những khám phá vĩ đại, với tầm vóc của những nguyên
lý bao trùm lên khoa học và triết học, đồng thời có ý nghĩa thiết thực
đến mức có thể nói rằng tất cả chúng ta đều đã mắc nợ Pasteur rất nhiều.
Không
thể tưởng tượng nổi xã hội hiện đại sẽ ra sao nếu không có những hiểu
biết về vi trùng, về tẩy trùng, về tiêm chủng, miễn dịch,… Không có số
liệu thống kê trực tiếp để chỉ ra rằng những thành tựu khoa học của
Pasteur từ giữa thế kỷ 19 tới nay đã cứu sống bao nhiêu người, nhưng
không ai nghi ngờ rằng những thành tựu ấy là một trong những nguyên nhân
chủ yếu dẫn tới sự tăng dân số ở mức nhảy vọt trong thế kỷ 20 cho tới
bây giờ, nâng tuổi thọ trung bình của con người từ 55 lên tới 70 như
hiện nay…
Tượng Louis Pasteur trước tiền sảnh một viện nghiên cứu mang tên ngài
Trong
các bản danh sách những nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại, người ta
không bao giờ quên nhắc đến Louis Pasteur. Nhưng để lựa chọn ra người số
1, thì tiêu chí nên là gì?
Nhà khoa học vĩ đại nhất của mọi
thời đại phải là người có những công trình khoa học vĩ đại mang tầm vóc
của những nguyên lý phổ quát về vũ trụ, đồng thời những nguyên lý ấy
phải mang lại những ứng dụng thực tiễn vĩ đại, phục vụ trực tiếp lợi ích
của nhân loại, nâng cao đời sống của con người, cứu được nhiều mạng
sống, được mọi người yêu mến, tôn kính và biết ơn.
Với tiêu chí ấy, Louis Pasteur phải đứng đầu mọi danh sách!
Định luật
bất đối xứng của sự sống và Định luật sự sống chỉ nảy sinh từ sự sống là
những nguyên lý phổ quát trong vũ trụ, chẳng khác gì Định luật vạn vật
hấp dẫn hoặc Thuyết Tương đối tổng quát,…
Lý thuyết
vi trùng là lý thuyết mang lại những ứng dụng khổng lồ, tạo nên một cuộc
cách mạng trong y học và đem lại những hiệu quả kinh tế và đời sống
không sao kể hết.
Một nhân
vật vĩ đại như Pasteur hiển nhiên phải được tôn vinh ngay từ khi còn
đang sống. Cuối đời, ông sống trong những cơn mưa rào của các giải
thưởng và những tôn vinh rực rỡ ánh hào quang. Hồi đó chưa có Giải
Nobel. Nếu có, không biết ông sẽ đoạt giải bao nhiêu lần?
Khám phá
về tính bất đối xứng của sự sống có đáng Giải Nobel không? Nó chỉ ra
ranh giới giữa thế giới sống và thế giới không sống đấy!
Khám phá
ra nguyên lý cơ bản rằng sự sống chỉ có thể nảy sinh từ sự sống có đáng
Giải Nobel không? Nó chỉ ra một nguyên lý đụng chạm đến nguồn gốc của sự
sống đấy!
Lý thuyết
về mầm bệnh với hàng loạt ứng dụng to lớn, cứu được hàng triệu người
(tính đến nay phải hàng tỷ người) đáng bao nhiêu Giải Nobel y học?
Có đáng
tặng một Giải Nobel y khoa cho 2 người là Louis Pasteur và Joseph Lister
vì tìm ra quy trình tẩy trùng trong phẫu thuật, giảm thiểu tới 80% bệnh
nhận chết sau phẫu thuật không?
Pasteur
không nên đứng trong bất cứ một danh sách xếp hạng danh nhân khoa học
nào cả. Bởi lẽ, tầm vóc của ông thực sự đã vượt lên trên tất cả những
danh sách đó.
Louis
Pasteur mất ngày 28/9/1895 tại Marne Coquette (Pháp). Chính phủ Pháp đã
tổ chức quốc tang. Trên đường, khi linh cữu của ông đi qua, từng đám
đông người quỳ xuống bên đường chan hòa nước mắt. Để thành kính khắc ghi
công ơn ông, mọi người trên thế giới gọi ông là “Đại ân nhân của nhân loại”. Ngày 28/9/1995, toàn thế giới đã kỷ niệm 100 ngày mất của Louis Pasteur.
Định luật về tính bất đối xứng của sự sống
Ngoài
những thành tựu khổng lồ kể trên, Louis Pasteur còn để lại cho đời
nguyên tắc nghiên cứu khoa học vô cùng quý báu mà nhờ đó vô số những
phát minh giúp ích cho toàn nhân loại đã ra đời. Nguyên tắc vàng đó là: Tự do sáng tạo nhất thiết phải đi đôi với thực nghiệm nghiêm ngặt.
Tất cả các phát minh của Louis Pasteur đều được nghiên cứu và trải qua
quá trình thực nghiệm kỹ lưỡng. Ông thậm chí thường tiến hành thực
nghiệm đến quên cả ăn ngủ. Tầm quan trọng của thực nghiệm thể hiện rõ
trong lời dạy của ông:
Ông luôn dạy các học trò của mình: “Đừng đưa ra điều gì mà các vị không thể chứng minh bằng thực nghiệm”.
Chính dựa trên nguyên tắc thực nghiệm nghiêm ngặt này, Louis Pasteur đã phát hiện ra 2 định luật phổ quát của Tự Nhiên, đó là định luật “Sự sống bất đối xứng” và định luật “Sự sống chỉ ra đời từ sự sống”.
Ngay từ
năm 1815, các nhà khoa học đã khám phá ra hiện tượng ánh sáng phân cực
bị quay khi cho đi qua một số dung dịch hợp chất hữu cơ. Đó là một hiện
tượng kỳ lạ, một câu hỏi thách đố, làm đau đầu giới khoa học đương thời.
Suốt hơn 30 năm nghiên cứu, giới khoa học vẫn hoàn toàn bó tay, không
thể hiểu nổi nguyên nhân của hiện tượng này là gì.
Một bài toán thậm chí còn lớn hơn đã bùng nổ, khi nhà hóa học người Đức Eilhard Mitscherlich cho công bố một công trình nghiên cứu về acid tartaric và acid paratartaric, nói rằng
hai hợp chất hữu cơ này có thành phần hóa học hoàn toàn giống nhau,
nhưng tác động đối với ánh sáng phân cực khác nhau: acid tartaric làm
quay ánh sáng nhưng acid paratartaric thi không!
Chú ý
rằng acid tartaric là một hợp chất hữu cơ tự nhiên, chiết xuất từ nho,
trong khi acid paratartaric là một phó phẩm (sản phẩm phụ) trong công
nghiệp sản xuất acid tartaric, hoặc có thể tổng hợp trong phòng thí
nghiệm.
Ngay từ
năm 1844, Pasteur đã có dịp đọc công trình của Mitscherlich, trong đó
khẳng định acid tartaric và paratartaric không những có thành phần hóa
học giống nhau, mà cấu trúc phân tử cũng giống nhau, khúc xạ như nhau,
trọng lượng riêng như nhau. Tóm lại, hai loại hợp chất hữu cơ này có
những đặc trưng vật lý và hóa học hoàn toàn như nhau, được xác định hoàn
toàn bởi những nguyên tử giống nhau và cấu trúc sắp xếp của các nguyên
tử trong phân tử cũng giống nhau. Nhưng Pasteur không tin điều đó. Trong
óc ông dấy lên câu hỏi: làm thế nào mà hai thứ vật chất hoàn
toàn giống nhau có thể ứng xử khác nhau đối với ánh sáng – acid tartaric
làm quay mặt phẳng ánh sáng trong khi acid paratartaric thì không?
Chính
nỗi băn khoăn đó đã đưa Louis Pasteur bước vào sự nghiệp nghiên cứu. Năm
1846, chàng sinh viên Louis Pasteur 24 tuổi, sau những thành tích học
tập xuất sắc, đã được bổ nhiệm làm trợ giảng môn hóa học cho nhà hóa học
Antoine Jérome Balard, giáo sư tại École Normale Supérieure ở Paris,
một trong những đại học danh tiếng nhất nước Pháp. Trong phòng thí
nghiệm của Balard tại đại học này, Pasteur bắt tay vào nghiên cứu tinh
thể acid tartaric và acid paratartaric như một đề tài cho luận án tiến sĩ hóa học.
Nho, nguồn cung cấp acid tartaric.
Một nhà máy sản xuất acid tartaric ở Úc, ở đó nhận được phó phẩm là acid paratartaric.
Trực
giác thiên tài mách bảo ông rằng ắt phải có gì đó khác nhau giữa hai hợp
chất này, và nếu thành phần hóa học của chúng hoàn toàn như nhau thì
chỉ còn có khả năng chúng khác nhau về cấu trúc phân tử, mặc dù
Mitscherlich khẳng định cấu trúc phân tử của chúng cũng giống nhau. Trực
giác ấy hối thúc Pasteur lao vào nghiên cứu say mê đến nỗi quên hết mệt
mỏi. Ông kiên trì soi kính hiển vi vào từng tinh thể của hai hợp chất
đó. Cuối cùng, một sự thật chưa từng biết đã lộ ra: trong khi
các tinh thể của acid tartaric tự nhiên hoàn toàn giống nhau, thì tinh
thể của acid tartaric tổng hợp (acid paratartaric) bao gồm 2 loại, mặc
dù thoạt nhìn rất giống nhau, nhưng thực ra chúng khác nhau – tinh thể
loại này là ảnh gương của tinh thể loại kia, tương tự như bàn tay trái
là ảnh gương của bàn tay phải; hơn nữa, 2 loại tinh thể đó có số lượng
tương đương với nhau, tỷ lệ 50-50.
Trong
hai loại, có một loại giống y như tinh thể của acid tartaric, loại còn
lại không giống nhưng đối xứng gương với tinh thể acid tartaric. Tương
tự như hai bàn tay có một trái một phải, hai loại tinh thể của acid
paratartaric cũng có một trái một phải. Loại giống acid tartaric được
gọi là trái hoặc “thuận tay trái” (left-handed), loại còn lại là phải hoặc “thuận tay phải” (right-handed).
Nhiều
nhà khoa học khác cũng tiến hành những nghiên cứu tương tự, nhưng không
ai phát hiện ra sự khác biệt giữa hai loại tinh thể này. Tại sao vậy? Vì
họ không có cái trực giác như Pasteur – cái trực giác mách bảo Pasteur
rằng nhất định các tinh thể của hai loại acid đó phải có gì đó khác
nhau. Con người hơn nhau chính ở trực giác!
Nhưng
tại sao sự khác biệt về cấu trúc tinh thể lại làm cho acid paratartaric
không tác động tới ánh sáng? Phải trả lời được câu hỏi này mới giải
quyết xong bài toán thách đố.
Vì một
trong hai loại tinh thể giống hệt tinh thể của acid tartaric nên Pasteur
nghĩ ngay đến việc tách riêng hai loại tinh thể đó ra để kiểm tra phản
ứng của từng loại đối với ánh sáng. Với một chiếc kim và kính hiển vi,
ông kiên trì tách chúng thành hai đống riêng biệt, rồi cho ánh sáng phân
cực đi qua dung dịch của từng loại. Kết quả thật kỳ diệu: mỗi
loại tinh thể riêng biệt đều có tác động đối với ánh sáng phân cực,
nhưng theo hai chiều trái ngược nhau, đối xứng nhau – một loại làm ánh
sáng quay trái, một loại làm ánh sáng quay phải.
Vì số lượng hai loại tinh thể đó
trong acid paratartaric là tương đương nên tác động đối với ánh sáng của
chúng triệt tiêu lẫn nhau, và do đó acid paratartaric không tác động
đối với ánh sáng!
Pasteur đã trả lời được một thách đố vô cùng lớn của tự nhiên!
Năm
1848, với sự giới thiệu của giáo sư Balard, nhà khoa học trẻ 26 tuổi
Louis Pasteur đã chính thức công bố công trình của mình trước Viện Hàn
lâm Khoa học Pháp.
Như thế
đã quá đủ để nói lên tầm vóc trí tuệ của Pasteur. Nhưng ông không thỏa
mãn với kết quả của một bài toán cụ thể. Ông muốn đi xa hơn – đi tới tận
cùng bản chất của sự vật, khái quát hóa sự thật vừa khám phá thành một
quy luật phổ quát của tự nhiên. Đó là khát vọng biểu lộ tính cách của
một nhà tư tưởng, thay vì một nhà khoa học thuần túy.
Thật vậy, ông chỉ ra sự khác nhau về bản chất giữa acid tartaric và acid paratartaric:
Phân tử acid tartaric là phân tử của sự sống (chiết xuất trực tiếp từ nho), và thuận tay trái, tức là bất đối xứng (chỉ thuận tay trái).
Phân tử acid paratartaric là phân tử không sống (phó phẩm trong sản xuất công nghiệp hoặc tổng hợp trong phòng thí nghiệm) là đối xứng (chứa hai loại phân tử đối xứng gương với nhau).
Pasteur đã khái quát hóa thành một định luật vô cùng quan trọng: hợp
chất hữu cơ chiết xuất từ sinh vật chỉ chứa một loại phân tử thuận tay
trái, tức là bất đối xứng, trong khi hợp chất hữu cơ tổng hợp, tức hợp
chất hữu cơ không sống chứa 2 loại phân tử đối xứng gương với nhau.
Từ đó Pasteur rút ra một kết luận vô cùng táo bạo:
Tính chất thuận tay trái, tức là tính chất bất đối xứng, chính
là đặc trưng của sự sống – sự sống là bất đối xứng và thuận tay trái!
Ranh giới phân biệt sự sống với cái không sống chính là tính bất đối xứng!
Ở đâu có sự sống, ở đó tồn tại những
phân tử thuận tay trái, tức những phân tử bất đối xứng; ngược lại ở đâu
tồn tại những phân tử thuận tay trái, tức những phân tử bất đối xứng, ở
đó có sự sống.
Nhiều nhà lịch sử khoa học sau này nhận định đó là đóng góp sâu sắc nhất và độc đáo nhất của Pasteur cho khoa học, và là khám phá khoa học vĩ đại nhất của ông! Đây
là một trong những công trình khoa học có ý nghĩa nền tảng về tự nhiên,
sánh ngang với những định luật nền tảng khác như định luật vạn vật hấp
dẫn, định luật bảo toàn vật chất,…
Đó là Định luật đầu tiên của Pasteur – Định luật về tính bất đối xứng của sự sống, hoặc Định luật sự sống thuận tay trái.
Tất cả mọi sinh vật đều được cấu thành từ các phân tử thuận tay trái
Điều vô cùng kinh ngạc là cho đến nay
người ta không tìm thấy ở đâu sự sống thuận tay phải, mặc dù về lý
thuyết, xác suất để một phân tử thuận tay trái hoặc tay phải là như
nhau!
Đến nay,
khi độc giả đang đọc bài viết này, định luật về sự sống bất đối xứng
hoặc sự sống thuận tay trái đã chịu đựng sự thử thách qua 167 năm. Các
nhà khoa học khác đã ra sức kiểm nghiệm định luật này và phải thừa nhận
rằng nó tuyệt đối đúng. Họ không tìm được bất cứ một trường hợp nào trái
với định luật này.
Tại sao sự sống lại bất đối xứng? Tại
sao sự sống chỉ “thuận tay trái”, trong khi xác suất để thuận tay trái
hoặc tay phải là hoàn toàn như nhau?
Cho đến tận hôm nay vẫn không có ai trả lời được câu hỏi này – một thách đố vĩ đại đối với khoa học!
Cần nhấn
mạnh ngay rằng vấn đề bất đối xứng nói trên không chỉ có ý nghĩa triết
học như chúng ta vừa thấy, mà còn có ý nghĩa rất thiết thực trong đời
sống.
Thật
vậy, chúng ta vừa nói rằng đặc trưng của sự sống là những phân tử bất
đối xứng có khả năng tác động tới ánh sáng (làm quay mặt phẳng ánh sáng
phân cực). Vậy nếu một hợp chất hữu cơ biểu lộ khả năng tác động tới ánh
sáng thì đó chính là dấu hiệu có sự sống. Pasteur đã áp dụng nguyên lý
đó để tìm ra nguyên nhân lên men rượu, và từ đó xây dựng nên một lý
thuyết vĩ đại khác, đó là lý thuyết về mầm bệnh (theory of germ), hay còn gọi là lý thuyết về vi trùng.
Khoảng
giữa thế kỷ 19, ngành công nghiệp và thị trường rượu của Pháp lâm vào
khủng hoảng trầm trọng vì tình trạng rượu lên men, bị chua, đắng, mất
hương vị, gây nên thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể. Các nhà khoa học
đều cho rằng đó là quá trình biến đổi hóa học của rượu, và không ai tìm
ra cách cứu chữa. Tình hình nghiêm trọng đến nỗi đích thân hoàng đế
Pháp đương thời là Napoléon III phải nhờ Pasteur cứu nguy.
Sau khi
tiến hành những thí nghiệm cẩn thận, Pasteur khám phá ra rằng dung dịch
rượu lên men chứa đựng những hợp chất có khả năng tác động tới ánh sáng,
tức là chứa đựng những phân tử bất đối xứng. Theo định luật về tính bất
đối xứng do chính ông tìm ra, Pasteur cho rằng rượu ắt phải chứa đựng
vi sinh vật. Đó là thời điểm đánh dấu sự ra đời của lý thuyết về vi trùng,
rằng trong không khí vốn sẵn có vi trùng, và vi trùng đó tiếp xúc với
rượu, gây ra sự lên men làm hỏng rượu. Một loạt thí nghiệm lập tức được
tiến hành để kiểm chứng giả thuyết của Pasteur. Kết quả xác nhận tiên đoán ấy hoàn toàn đúng.
Chưa
hết, Pasteur còn chỉ ra phương pháp bảo vệ rượu: chỉ cần đun nóng rượu
tới khoảng 55 – 60 độ, vi khuẩn bị tiêu diệt, nhưng rượu vẫn giữ nguyên
hương vị, rồi đóng chai hoặc đóng thùng đảm bảo kín, rượu sẽ giữ được
rất lâu không hỏng. Ngày nay chúng ta được uống rượu ngon, đó là nhờ
công ơn của Pasteur, trong đó định luật về tính bất đối xứng của sự sống
đóng vai trò nền tảng! Kết thúc cuộc khủng hoảng rượu, Pasteur có một
tuyên bố bất hủ: “Một chai rượu chứa đựng nhiều triết học hơn tất cả các sách vở trên thế giới!”.
Trong
những năm cuối đời, Pasteur thể hiện một nỗi hối tiếc vì đã bỏ dở những
nghiên cứu lý thuyết về tinh thể học, mà theo ông, có thể dẫn tới việc
khám phá ra một lực nền tảng bất đối xứng trong vũ trụ, từ đó sẽ vén lên
bức màn bí mật của sự sống. Ông nói: “Vũ trụ là bất đối xứng
và tôi bị thuyết phục rằng sự sống, như chúng ta đã biết, là kết quả
trực tiếp của tính bất đối xứng của vũ trụ hoặc hệ quả gián tiếp của nó.
Vũ trụ là bất đối xứng”.
Xem thế
đủ thấy khát vọng hiểu biết sự sống của Pasteur lớn đến nhường nào.
Dường như định luật về tính bất đối xứng của sự sống đối với ông vẫn
chưa đủ. Ông còn muốn biết sự sống hình thành từ đâu. Phải chăng sự sống
hình thành một cách ngẫu nhiên do sự kết hợp tình cờ của các nguyên tử
trong tự nhiên? Câu hỏi lớn đó dằn vặt ông, dẫn ông tới một khám phá vĩ
đại khác: định luật sự sống chỉ có thể ra đời từ sự sống!
Định luật hình thành sự sống của Louis Pasteur
Nguồn gốc sự sống vốn là một trong những câu hỏi triết học sâu xa nhất của nhân loại.
Ít nhất
ta có thể biết chắc chắn rằng ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, thậm chí có
thể trước đó rất lâu, từ dân thường cho tới các triết gia đều tin rằng
sự sống có thể nảy sinh từ các chất liệu không sống. Con người từng ngây
thơ tưởng tượng rằng các sinh vật nhỏ li ti như giòi, bọ, ruồi,… dường
như xuất hiện một cách thần kỳ từ hư không. Tưởng tượng này xuất phát từ
những quan sát thông thường: nhìn vào một góc nào đó, một xó xỉnh nào
đó, một chỗ ao tù nước đọng nào đó, một xác động vật đã chết và thối rữa
nào đó,… ban đầu chẳng hề thấy một sinh vật nào ở đó, nhưng chẳng bao
lâu sau bỗng thấy lúc nhúc giòi bọ xuất hiện. Rõ ràng là sinh vật xuất
hiện một cách “tự phát”! Nhiều người có thể sẽ rất ngạc nhiên khi biết
một nhà đại thông thái cổ Hy Lạp như Aristotle cũng đã từng cho rằng rệp
sinh ra từ những hạt sương rơi trên cây cối, bọ chét sinh ra từ những
vật thối rữa, chuột sinh ra từ rơm rạ,… Chúng ta có thể thấy buồn cười
trước những suy nghĩ ngây thơ đó, ấy là vì chúng ta đang sống ở thế kỷ
21.
Trong
thời đại ngày nay, câu chuyện hoang đường về sự ra đời của sự sống một
cách tự phát và ngẫu nhiên bị coi là ngu xuẩn, nhưng đừng quên rằng nó
đã từng là một ý nghĩ phổ biến trong một giai đoạn lịch sử kéo dài ít
nhất hơn 2.000 năm, kể từ thời Aristotle mãi cho đến giữa thế kỷ 19, tức
là tới thời đại của Pasteur. Đến lúc ấy người ta vẫn tin rằng vi sinh
vật nảy sinh từ vật chất không sống; một mặt, chúng có vẻ sinh sôi nảy
nở nhanh chóng ngay cả trong chất lỏng được chưng cất; mặt khác, có rất
nhiều biến thể, chúng có vẻ hầu như hỗn độn và không thể phân loại được.
Rốt cuộc, thật dễ dàng để tưởng tượng chúng xuất hiện mà không cần có
một tác động nào cả; có thể có một “lực sống” (vital force) nào đó đã
làm cho chúng hình thành. Mặc dù cũng có một số người phản đối, nhưng
những thí nghiệm trên cả hai phía trong cuộc tranh luận này đều mang lại
kết quả không rõ ràng.
Thiết
tưởng sẽ không thừa khi lưu ý rằng đến giữa thế kỷ 19, các khoa học khác
như toán học, vật lý học, thiên văn,… đều đã phát triển tới trình độ
rất cao. Vậy mà hiểu biết về sự sống còn ngây thơ như thế (!). Nói như
vậy để thấy rõ công lao khai sáng của Pasteur về bí mật của sự sống lớn
đến chừng nào.
Đúng vào
lúc cuộc tranh cãi về sự hình thành sự sống rơi vào tình trạng nhập
nhằng thì Pasteur quyết định nhập cuộc, bất chấp lời khuyên của các đồng
nghiệp rằng sẽ lãng phí thời gian; nhưng một lần nữa, niềm đam mê khám
phá và trực giác thiên tài đã dẫn ông tới một thí nghiệm vô cùng đơn
giản những rất tài tình, làm sáng tỏ sự thât. Ông đã công bố thí nghiệm
của mình với một tuyên bố đắc thắng: “Không bao giờ học
thuyết sinh vật hình thành tự phát có thể hồi phục lại được nữa từ cú
đòn chết người mà thí nghiệm đơn giản này đã giáng lên nó”.
Thí nghiệm đó đến nay vẫn được xem như một mô hình mẫu mực của phương pháp khoa học chính xác.
Trước hết, quan sát thực tế cho thấy một lọ kín tuyệt đối đựng nước dinh dưỡng (nước thịt đã luộc chín) sẽ không tạo ra sự sống. Nhưng nếu lọ mở, nước dinh dưỡng sẽ tiếp xúc với không khí, sinh vật sẽ hình thành.
Sinh vật
ấy từ đâu mà ra? Đối thủ của Pasteur nghĩ rằng đó là những sinh vật
hình thành một cách tự phát từ không khí – họ phỏng đoán rằng trong
không khí có chứa một thành phần tạo ra sự sống (vital ingredient).
Nhưng Pasteur bác bỏ quan điểm đó, ông cho rằng vi khuẩn bám trên bụi
lẫn trong không khí là nguồn gốc tạo ra các sinh vật trong bình, thay vì
bản thân không khí.
Để chứng
minh điều đó, ông phải tạo ra một môi trường mở đối với không khí,
nhưng ngăn chặn được vi khuẩn – không cho vi khuẩn bám trên bụi trong
không khí có thể xâm nhập được vào bên trong bình để tiếp xúc với nước
dinh dưỡng . Từ đó sẽ kiểm tra không khí trong bình có thể tạo ra sự
sống được hay không.
Ý tưởng đó dẫn ông đến thí nghiệm nổi tiếng – thí nghiệm với chiếc bình thủy tinh có cổ cong giống cổ con thiên nga.
Ông đổ
một chất nước dinh dưỡng vào một chiếc bình có cổ thiên nga – cổ vòi
cong hình chữ S nằm ngang để mở với không khí, tức là không khí bên
ngoài có thể lọt vào bên trong bình, nhưng vi khuẩn không vào được, vì
chúng bị kẹt lại cùng với bụi tại các đoạn uốn cong. Trước hết, ông đun
sôi nước dinh dưỡng trong bình để đảm bảo trong bình lúc đầu không hề có
sinh vật, rồi đợi một thời gian xem sinh vật có xuất hiện trong bình
hay không. Nếu có thì nước dinh dưỡng sẽ bị biến dạng, thay đổi mầu sắc.
Kết quả thật mỹ mãn: sau một thời gian chờ đợi đủ lâu, nước dinh dưỡng
không hề thay đổi mầu sắc, không hề có sinh vật mới xuất hiện trong
bình! Pasteur đã chỉ cho các nhà phê bình và những người hoài nghi rằng
trong trường hợp này, nước dinh dưỡng trong bình cổ cong vẫn vô trùng
(không có sự sống trong đó). Trong khi đó, bình thủy tinh bình thường,
tức là bình không có cổ thiên nga, xuất hiện rất nhiều vi sinh vật tụ
tập. Điều này chứng tỏ giả thiết tồn tại một thành phần tạo ra sự sống
trong không khí chỉ là một ảo tưởng!
Tuy
nhiên, một số kẻ ngoan cố vẫn chống đối. Họ cho rằng, nếu không khí bị
nhiễm vi khuẩn, nó sẽ tạo thành một lớp sương mù dày đặc (ý nói không
thể có vi khuẩn trong không khí). Pasteur đã đáp trả bằng một loạt thí
nghiệm trong các môi trường khác nhau, trong thành phố, trong nước, và
thậm chí lên tận núi cao Mont Blanc (nơi ông đã phải chịu đựng một đêm
lạnh trong một nhà trọ khốn khổ). Các bình trong thành phố trở nên u ám
với vi khuẩn, nhưng tất cả những bình trên núi cao là vô trùng. Ông kết
luận rằng các hạt bụi chứa vi khuẩn thay đổi theo độ cao và tùy theo mức
độ ô nhiễm môi trường, nhưng các thí nghiệm đều cho thấy rõ ràng là vi
khuẩn bám trên bụi trong không khí là nguồn gốc tạo ra sinh vật trong
bình, thay vì bản thân không khí. Ông công khai thách thức các đối thủ
của mình bằng cách tiến hành các thí nghiệm nghiêm ngặt loại trừ bụi
trong không khí, và đưa họ tới chỗ không thể chống đỡ được nữa.
Cuối
cùng Viện Hàn lâm Khoa học Pháp đã đánh giá các thí nghiệm của Pasteur
là “sự chính xác hoàn hảo nhất”, và đã đến lúc ngay cả những kẻ chỉ
trích ông cay đắng nhất và những người ủng hộ nhiệt thành nhất của
thuyết sinh vật hình thành tự phát cũng phải đồng ý với kết luận của
ông. Pasteur tuyên bố mạnh mẽ: “Không! Hôm nay không còn một trường hợp nào có thể xác nhận vi sinh vật nảy sinh từ một thế giới không có vi trùng.
Những người cố duy trì quan điểm này là nạn nhân của một ảo tưởng, nạn
nhân của những thí nghiệm cẩu thả, bị làm hỏng bởi những sai lầm mà họ
không thể nhận ra hoặc không thể tránh khỏi”.
Cho đến hôm nay, khi bạn đang đọc
những dòng này, định luật hình thành sự sống của Pasteur, rằng chỉ có sự
sống mới sinh ra sự sống, vẫn đứng vững như nó đã đứng vững từ năm
1862.
Ngày
nay, các tín đồ của học thuyết sinh vật hình thành tự phát đang quay trở
lại. Họ được gọi là nhà sinh học vũ trụ (astrobiologists) và tiến hóa
hóa học. Quan điểm của họ là hiện tượng sinh vật hình thành tự
phát không xảy ra một cách nhanh chóng, nhưng có thể diễn ra trong quá
trình kéo dài hàng triệu năm, không phải từ nước dinh dưỡng, mà từ nước
canh nguyên thủy (primordial-soup) –
một loại chất hữu cơ hình thành một cách tự nhiên, như một số axit
amin. Họ tin rằng, nếu có đủ thời gian và hoàn cảnh thích hợp, cuộc sống
phát sinh từ các phân tử đơn giản rồi phát triển thành mọi loài sinh
vật như ngày nay ta thấy, từ cá ngựa cho tới hươu cao cổ, khủng long,
hoa hồng, và con người. Nhưng rốt cuộc họ có tìm được bằng chứng thực
nghiệm nào không? Tuyệt đối không!
Câu
chuyện này làm tôi nhớ đến một kỷ niệm ngót 55 năm trước, khi thầy dạy
sinh vật của tôi hùng hồn giảng Thuyết Tiến hóa của Darwin, rằng sinh
vật đơn bào tiến hóa thành sinh vật đa bào dưới nước, rồi thành nòng
nọc, cá, ếch nhái, rồi lên bờ biến thành động vật bò sát, bò sát tiến
hóa theo hai nhánh, một nhánh bay lên trời thành chim, một nhánh dưới
đất thành động vật có vú, động vật có vú cao cấp nhất là khỉ, rồi khỉ
tiến hóa thành người,… Thầy cho biết, động vật đầu tiên đơn giản nhất là
con amip, vì nó chỉ có đúng một tế bào. Tôi giơ tay hỏi thầy: “Thưa thầy, vậy con amip từ đâu mà ra ạ?”.
Thay vì được thầy trả lời, tôi bị thầy mắng cho một trận. Tôi mang nỗi
ấm ức ấy mãi cho đến sau này, khi biết rằng câu hỏi của tôi thực ra là
câu hỏi thách đố các nhà Tiến hóa luận, những người si mê học thuyết
Darwin. Những người này chính là những đối thủ của Pasteur trong câu
chuyện vừa kể ở trên. Họ tin rằng sự sống nảy sinh tự phát, tức là hình
thành một cách ngẫu nhiên từ những thực thể không sống (non-living
things) – vào một ngày đẹp trời nào đó, dưới một tác nhân sấm sét nào đó
trong quá khứ hàng triệu, hàng tỷ năm trước, đã xảy ra một sự kết hợp
ngẫu nhiên các hạt cơ bản, các nguyên tử, các phân tử nào đó, theo một
cách nào đó để ngẫu nhiên sự sống ra đời. Hiện nay họ đang cố áp dụng
mọi kỹ thuật hiện đại để tái tạo ra cái ngày đẹp trời đó, nhưng thời
gian trôi qua hàng chục năm nay cho thấy cái ngày đẹp trời đó vẫn không
xảy ra. Có những lúc họ đã reo lên “Eureka, tìm thấy rồi”, nhưng khảo
sát kỹ lại thì vẫn chưa ổn, vẫn chưa thấy cái ngày đẹp trời đó đâu cả.
Từ xưa tới nay chỉ có một định luật đúng đắn về nguồn gốc sự sống và đã được cả thế giới khoa học công nhận. Đó là Định luật hình thành sự sống của ngài Louis Pasteur: “Sự sống phải sinh ra từ sự sống”.
Định luật sự sống bất đối xứng là vật cản rất lớn đối với thuyết tiến hóa
Định luật đầu tiên của Pasteur nói
rằng sự sống là bất đối xứng – phân tử của vật chất sống thuận tay trái.
Tại sao? Đó là một trong những câu hỏi vĩ đại nhất thách thức học
thuyết Darwin. Nếu không trả lời được câu hỏi này, thuyết tiến hóa sẽ
không giải thích được sự hình thành sự sống đầu tiên. Do đó nó không
đáng tin cậy.
Ngay cả
những người theo thuyết tiến hóa Darwin, vốn chẳng thích thú gì với bản
chất “trêu ngươi” của hiện tượng sự sống thuận tay trái, cũng phải thừa
nhận đây là một trong những định luật trụ cột của sự sống. Do đó họ phải
tìm mọi cách chống đỡ, vì định luật này dồn họ tới bước đường cùng
trong việc giải thích sự hình thành sự sống đầu tiên trong cây tiến hóa.
Nếu quả
thật có tiến hóa, thì thuyết tiến hóa phải chỉ rõ sinh vật đầu tiên là
cái gì, và nó từ đâu mà ra, tại sao nó thuận tay trái…
Theo
thuyết tiến hóa, sự sống đầu tiên hình thành một cách ngẫu nhiên do sự
kết hợp tình cờ của các nguyên tử, phân tử trong một điều kiện môi
trường đặc biệt nào đó cách đây một thời gian vô cùng xa xôi nào đó. Sự
tình cờ ấy xẩy ra như thế nào, trong điều kiện môi trường như thế nào,
vào thời điểm nào,… tất cả vẫn chỉ là những tưởng tượng, những giả
thuyết mù mờ. Một số người đã cố gắng tiến hành những thí nghiệm để tạo
ra sự sống đầu tiên, rồi tuyên bố rùm beng là họ đã thành công, gây chấn
động toàn cầu, để rồi lại trở về với im lặng, tiếp tục những nghiên cứu
bất tận. Đơn giản vì cái họ tìm thấy vẫn chưa phải sự sống. Điển hình
là thí nghiệm của Miller-Urey ở Đại học Chicago năm 1953 từng gây xôn
xao dư luận. Nếu nó đúng, chắc chắn đó là khởi đầu một cuộc cách mạng vĩ
đại. Nhưng rốt cục đã không có cuộc cách mạng nào cả. Còn quá xa để nó
dám tuyên bố là đã chế tạo ra sự sống đầu tiên, và đó là lý do để đến
nay không mấy ai còn để ý tới thí nghiệm này nữa, ngoài những người theo
đuổi giấc mộng Darwin.
Đến nay, việc giải thích vì sao sự
sống thuận tay trái vẫn hoàn toàn bế tắc, các nhà tiến hóa luận đành
giương ống kính lên bầu trời, hy vọng tìm kiếm được lời giải đáp từ vũ
trụ. Đó là lý do hình thành nên một tập hợp các nhà khoa học mang danh “nhà sinh học vũ trụ” (astrobiologists).
“Chúng tôi không có những chứng cớ trên trái đất, vậy chúng tôi tìm kiếm ở các thiên thạch”, nhà sinh học vũ trụ của NASA Daniel Glavin tuyên bố như thế. Và quả thật họ cũng tìm được một vài “sự kiện an ủi”. Đây:
Trong
một bài báo nhan đề “Why Life on Earth is Left-Handed” (Tại sao sự sống
trên Trái Đất thuận tay trái) trên trang mạng Space.com, Jeremy Hsu loan
báo một “tin mừng” cho các nhà khoa học tiến hóa: các nhà sinh học vũ
trụ (astrobiologists) ở NASA đã tìm thấy những thiên thạch có độ tuổi
4,5 tỷ năm trước rơi xuống trái đất có chứa phân tử acid amin thuận tay
trái. Điều này làm dấy lên niềm hy vọng chạy thoát khỏi nan đề “Tại sao
sự sống lại thuận tay trái?” vốn ám ảnh các nhà tiến hóa bấy lâu nay.
Họ lập luận đại ý rằng về nguyên tắc, phân tử acid amin có thể thuận tay trái hoặc thuận tay phải. Nhưng vì những lý do đặc biệt nào đó
trong vũ trụ nên phân tử thuận tay trái vượt trội hơn, và do đó thiên
thạch mang những phân tử thuận tay trái ấy đến trái đất, từ đó sự sống
sinh sôi nảy nở trên trái đất. Tuy nhiên, những lý do đặc biệt nào đó mà họ nói đều chỉ là phỏng đoán, giả thuyết, chứ không phải những chứng minh rõ ràng, thuyết phục. Việc
phỏng đoán và nêu giả thuyết quả thật là một truyền thống nổi bật của
học thuyết tiến hóa, kể từ ngày ra đời đến nay. Các nhà sinh học vũ trụ
theo thuyết tiến hóa quả thật là các đệ tử trung thành của Darwin, đặc
biệt về khả năng bịa đặt giả thuyết. Những cái gọi là “bằng chứng” họ
trưng ra chỉ chứng tỏ rằng họ bế tắc trong việc giải thích Định luật sự
sống thuận tay trái. Họ không tìm được lý do chính đáng trên trái đất,
và phải bịa ra những lý do từ vũ trụ. Chỉ có những kẻ nhẹ dạ cả tin mới
tin vào những thứ khoa học quanh co đó.
Phải nói
rõ hơn một chút. Thuyết tiến hóa không chấp nhận sự sáng tạo của đấng
Tạo Hóa hoặc của nhà thiết kế vĩ đại, nên họ đã phải nỗ lực hết mình để
tạo ra sự sống ban đầu từ thế giới không sống. Nhưng Định luật của Pasteur đã thách đố họ: muốn tạo ra sự sống, họ phải tạo ra những phân tử hữu cơ chỉ thuận tay trái. Nhưng họ KHÔNG THỂ làm được điều đó, vì họ không phải là… đấng Tạo Hóa!
Họ đã thất bại thảm hại! Bài báo “Life: It is All Left-Handed, and We Don’t Know Why”
(Sự sống: Tất cả đều thuận tay trái, và chúng ta không biết tại sao),
của Joshua Filmeron, ngày 16/06/2014, trên trang mạng from Quarks to
Quasars, đã thừa nhận sự thất bại đó:
“Về
lý thuyết, rất dễ dàng tạo ra acid amin thuận tay phải cũng như thuận
tay trái, nhưng khi nhìn vào sự sống trên Trái Đất, chúng ta thấy rõ xu
thế thuận tay trái. Vấn đề là TẠI SAO? Những thí nghiệm trong lĩnh vực
tạo ra sự sống từ thế giới phi sinh học (abiogenesis) đã mô phỏng những
điều kiện trên Trái Đất thủa sơ khai và đã tạo ra những acid amin thuận
tay phải và tay trái với số lượng ngang bằng nhau”
Có nghĩa là đã THẤT BẠI ! (chỉ khi nào toàn bộ acid amin được tạo ra đều thuận tay trái thì mới có dấu hiệu của sự sống!). Bài báo viết tiếp:
“Kết
quả đó là một trong những lý do chủ yếu ngăn cản các nhà khoa học (theo
thuyết tiến hóa) tuyên bố đã khám phá ra sự sống bắt đầu trên Trái Đất
như thế nào – tất cả vì acid amin được tạo ra trong thí nghiệm không
cùng loại và cùng thuận tay với acid amin mà chúng ta thấy ở mọi thứ
xung quanh“.
Độc giả
nào không thích đọc những bài báo tiếng Anh nói trên, có thể tìm được
thông tin tương tự trong một bài báo tiếng Việt, nhan đề “Nhà máy vũ trụ chế tạo các vật liệu cơ bản của sự sống” trên trang mạng Khoahoc.tv… Bạn hãy đọc kỹ bài báo này, và hãy suy ngẫm về bản tin với những chữ “có thể” thế này, “có thể” thế nọ.
Vâng,
những thông tin hoang tưởng giật gân kiểu như thế đã được loan báo trên
báo chí rất nhiều lần, nhưng rồi lại chìm vào trong quên lãng, bởi sự
thật cuối cùng là số không rỗng tuếch. Tất cả vẫn chỉ là “có
thể” và “có thể”, tức là những tưởng tượng, những giả thuyết, thay vì
một sự thật khoa học đã được chứng minh, kiểm chứng.
Những
người thiếu bản lĩnh dễ bị hù dọa bởi những giá trị “ảo” trong bản tin,
chẳng hạn: các nhà khoa học ở NASA, các nhà khoa học Anh, Mỹ,… Quả thật,
danh hiệu khoa học của những vị này làm người đời dễ lóa mắt, và cứ thế
tin những lời họ nói, vì đấy là “khoa học”. Nhưng tất cả những giá trị
“ảo” đó là vô giá trị, nếu không trưng ra được những bằng chứng thuyết
phục, hoặc những thí nghiệm chứng minh một cách cụ thể, rõ ràng.
Cách nói
phân tử sự sống đầu tiên đến từ vũ trụ thực chất là một cách chạy trốn,
một bước đường cùng của thuyết tiến hóa Darwin. Một khoa học chân chính
sẽ không phải khổ sở tìm cách chạy trốn sự thật như thế.
Vả lại, nếu
sự sống thuận tay trái hình thành từ trong vũ trụ, thì vấn đề cơ bản
vẫn chưa được trả lời – tại sao sự sống lại chỉ thuận tay trái?
Xác suất để một phân tử acid tartaric thuận tay trái hoặc tay phải là
hoàn toàn như nhau, vậy cớ gì acid tartaric tự nhiên lại chỉ thuận tay
trái, nếu đó không phải là sự lựa chọn của nhà thiết kế thông minh, tác
giả của sự sống đó?
Tóm lại, việc “đổ thừa” cho vũ trụ là nguồn gốc sự sống cũng không hề giải quyết được thách đố của câu hỏi tại sao sự sống thuận tay trái.
Xem ra các nhà sinh học tiến hóa ngoan cố hơn các nhà vật lý. Bởi vì đa
số các nhà vật lý thừa nhận lý thuyết big bang chứng tỏ Thượng Đế sáng
tạo ra thế giới. Để thấy rõ điều này, xin đọc bài “Nan đề Sáng thế” tại đây.
Kết
Theo thiển nghĩ của tôi, một trong các lý do để sự sống thuận tay
trái là ở chỗ nếu tất cả các phân tử đều thuận tay trái thì sẽ tiện lợi
cho việc móc nối các phân tử với nhau để tạo thành chuỗi DNA dài vô tận.
Nếu lẫn lộn trái, phải thì sự móc nối sẽ không thể tạo thành chuỗi,
giống như khi hai người bắt tay nhau, thường cùng bắt tay bằng bàn tay
phải, hoặc cùng bàn tay trái, không thể một trái một phải. Nói
cách khác, để tạo nên một chuỗi dây dích dài vô tận, các mắt xích phải
có cùng một hình dạng, để sao cho việc nối kết chúng với nhau tuân thủ
một quy luật xác định, chẳng hạn đầu mắt này đối với đuôi của mắt kia.
Điều này tương tự như việc lát gạch trên nền nhà – một bài toán nổi
tiếng mà Roger Penrose đã từng thảo luận. Không phải bất cứ hình gạch
lát nào cũng cho phép lát rộng vô hạn. Chẳng hạn nếu viên gạch là một
hình vuông, chữ nhật, tam giác đều,… sẽ cho phép lát rộng tùy ý, nhưng
tứ giác lõm sẽ không cho phép điều đó (lát phải kín sàn, không được hở).
Có nghĩa là nhà thiết kế biết rõ gạch lát phải có hình như thế nào mới
tiện lợi cho việc lát sàn rộng tùy ý. Tôi
phỏng đoán rằng nhà thiết kế phân tử DNA cũng biết cách thiết kế phân
tử cơ bản của nó như thế nào để chuỗi DNA có thể kéo dài vô tận. Một
trong đặc trưng của thiết kế đó là tất cả các phân tử đều phải cùng một
kiểu, cụ thể là đều thuận tay trái.
Các phân tử của vật chất không sống không cần tạo thành những chuỗi
DNA dài vô tận nên không cần cùng một kiểu. Đó là lý do để vật chất sống
và không sống khác hẳn nhau về thiết kế.
Nhưng làm thế nào để tất cả các phân tử sự sống đều thuận tay trái thì không ai biết.
Đó là ý tưởng thiết kế của Nhà Thiết Kế vĩ đại, đó là “ý của Thượng Đế”
như cách nói của Einstein, hoặc “ngôn ngữ của đấng Tạo Hóa” (The
Language of God) như cách nói của Francis Collins (một trong hai tác giả
chính của công trình khám phá ra Bản đồ gene người năm 2000).
Thiết kế
đó được lưu giữ trong thông tin của DNA và được truyền từ đời này sang
đời khác, mà đến nay khoa học vẫn chưa biết thông tin đó nằm ở đâu, do
gene nào quyết định. Nhưng dù có khám phá ra điều này thì kết quả đó
thay vì ủng hộ thuyết tiến hóa, nó lại càng phủ nhận thuyết tiến hóa, vì
nó sẽ chứng minh rằng ắt phải có Nhà Lập trình Vĩ đại đã viết những lệnh đó trong chương trình. Nhà Lập trình đó là Thượng Đế mà Pasteur, Einstein, Collins,… và hầu hết các nhà khoa học bậc nhất đều thừa nhận!
Thuyết
tiến hóa của Darwin mở đầu bằng những giả thuyết, phỏng đoán, tưởng
tượng, để rồi đến hôm nay vẫn đang tiếp tục bằng những giả thuyết mới,
tưởng tượng mới, phỏng đoán mới. Đã đến lúc thuyết tiến hóa hãy đưa ra
một thực nghiệm, đừng nêu giả thuyết mãi như thế nữa! Từ khi ông tổ tiến
hóa là Darwin công bố cuốn “Về nguồn gốc các loài” tới nay đã 157 năm
rồi, vẫn không có một bằng chứng thực nghiệm, một chứng cứ thuyết phục
nào cả. Đó là nguyên do vì sao nó mãi vẫn chỉ là một thuyết chứ không
phải là một định luật.
Tại sao thuyết tiến hóa Darwin (không có bằng chứng thực nghiệm vững vàng, không có khả năng tiên đoán) cùng với Định luật phát sinh sinh vật bịa đặt của Haeckel
(đã bị vạch trần từ hàng trăm năm trước) không ngừng được rao giảng
trong các trường học và các phương tiện truyền thông đại chúng khắp thế
giới? Trong khi đó 2 Định luật vĩ đại của ngài Louis Pasteur
(đã được khoa học thực nghiệm xác nhận 100% hàng trăm năm nay) không
bao giờ được nhắc đến trong sách giáo khoa phổ thông và trên các phương
tiện truyền thông. Chuyện gì đang xảy ra vậy?
Tác giả: Phạm Việt Hưng, viethungpham.com. Từng
giảng dạy các môn Toán Kinh tế; Cơ học Lý thuyết; Sức bền Vật liệu;
Toán luyện thi đại học. Hiện thỉnh giảng Toán cao cấp tại một đại học ở
VN.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét