TT&HĐ I - 11/l

                                                    Giáo trình Triết học Mác - Lênin - Chương 1

PHẦN I:     CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ

“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”

CHƯƠNG XI: GIẤC MỘNG NGÀN ĐỜI

                
                  "Linh hồn của con người vẫn cần lý tưởng hơn                           thực tế
                   Chúng ta tồn tại nhờ thực tế; nhưng chúng ta  sống
                   vì  lý tưởng."
                   Victor Hugo

                   "Tôi đã thấy đủ những người chết vì một lý tưởng.
                   Tôi không tin vào chủ nghĩa anh hùng; tôi biết nó 
                dễ dàng và tôi đã học được rằng nó có thể đẫm máu.                     Điều tôi mong muốn là sống và chết cho điều tôi 
                    yêu"    
                   Albert Camus

"Cái quí nhất của con người ta là đời sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời-sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người"                                                                                                                                               N. A. Ôxtơrốpxki

"Lý tưởng là ngọn đèn sáng chỉ đường. Không có lý tưởng thì không có phương hướng xác định; không có phương hướng thì không có cuộc sống".
Lev Tolstoy (Nga)
"Con người có vật chất mới có thể sinh tồn, có lý tưởng mới nói đến cuộc sống. Bạn muốn hiểu sự khác nhau giữa sinh tồn và sống? Động vật thì sinh tồn, con người thì sống".
Hugo (Pháp)
"Tuổi trẻ không có lý tưởng giống như buổi sáng không có mặt trời".
Belinsky (Nga)
"Mỗi người phải kiên trì đường đi mình đã mở ra, không bị quyền uy dọa ngã, không bị quan điểm đương thời khống chế, cũng không bị thời thượng cám dỗ".
Goethe (Đức)

 


(Tiếp theo)


                                     *** 


Có lần, vào buổi sáng, mới 9 giờ, đã nghe ông A ĐT:

-Chiều qua sớm nghe mày!...Nhà tao làm "tất niên"!

Nghe thế chúng ta nghĩ: chà, thế là đã 23 tháng chạp rồi, chẳng còn mấy ngày nữa là Tết! Năm nào ông A cũng làm tất niên vào ngày đó, vừa là để giỗ tổ (ông A từng làm thợ sắt, và 23 tháng chạp là ngày giỗ tổ nghề, ông A bảo thế), vừa là để tiễn ông Táo về Trời. Và năm nào chúng ta cũng dự, chỉ khi lên đường rồi thì thôi. Thấm thoát mà đã mấy năm rồi kể từ ngày "lên đường cứu nước", lẹ thật!

Đến chiều hôm đó, khoảng 3 giờ, nghe ồn ã, tưởng nhà ông A đã vào tiệc, không kìm nôn nao đợi chờ từ sáng (vì có sẵn "tâm hồn ăn nhậu"?) mà cũng sợ ông A rầy là "làm phách chó", chúng ta vội qua. Còn khí sớm, bạn bè ông A chưa ai tới cả. Hóa ra ồn là do lũ trẻ con! Nhưng lỡ qua rồi, không lẽ về, đành phụ ông A bày bát đũa cho đỡ quê độ!

-Thằng biết điều ghê! - Ông A buột miệng khen...trật lất!

Khoảng nửa tiếng sau khách ông A mới lục tục kéo đến. Năm nay ông A xắp tiệc 3 bàn, bà con họ hàng ông 2 bàn, bạn bè ông 1 bàn (bàn nhậu).

-Tao có rủ con Thảo nữa đấy, cho vui! -Ông A đột nhiên cười nói

-Tý nữa cũng đến á? -Tôi hỏi lại -Anh rắc rối quá! Không khéo người ta lại cho là đã già rồi còn hám gái!

Nghe thế, ông A hạ giọng như sợ vợ trong nhà nghe thấy, vừa nói vừa cười tế nhị:

-Ham gái rõ ràng chứ "cho" gì nữa! Chỉ có điều hồi trẻ ham kiểu khác, giờ già ham kiểu khác. Thế mày còn ham gái không?

Chúng ta cười khùng khục:

-Cò...ò...òn!

....

Chờ khoảng tiếng rưỡi thì vào tiệc. Ba bàn bày kín thức ăn và đầy đủ khách khứa. Thật là ồn ào, trẻ con nhốn nháo. Nhưng chỉ có bàn nhậu là vui nhất. Ở đó, thỉnh thoảng vang lên những lời nói bông đùa có hơi hướng tục tĩu và tiếp đó rộ lên những tràng cười hô hố. Ngồi cạnh Thảo là một cô gái mới. Chắc bạn Thảo. Đoán thế nhưng sau ly rượu thứ nhất, chúng ta vẫn hỏi:

-Bạn của Thảo à?

-Dạ, bạn cùng làm với em! Nó tên Đào!

-Có uống được rượu không đấy? Nếu không thì uống nước ngọt? -Hỏi xong không đợi trả lời, ông B đã nói lớn.- Thu lấy cho em nó lon Pepsi, mày!

Thảo vội can thiệp:

-Nó uống được rượu mà! Anh B đừng giỡn, chấp ba người như anh không lại nó đâu!

Chúng ta rụt cổ, nhăn mặt, lè lưỡi làm bộ khiếp đảm:

-Ghê quá!

Điệu bộ ấy khiến cả bàn nhậu hiểu theo nghĩa tục, cười nghiêng ngả. Thảo thấy vậy, nói chữa:

-Là em nói về tửu lượng của Đào!

Đào đỏ mặt, chúm chím cười ngượng ngịu. Lúc này chúng ta mới nhìn rõ cô nàng: da trắng ngần, đôi mắt to, lông mi dài cong vút, khuôn mặt trái xoan đầy đặn, trẻ măng, được trang điểm kỹ. Cô nàng thật đẹp, nhưng là cái đẹp đã sửa soạn, vẫn thua Thảo.

-Tụi em đang công tác ở đâu thế? -Một ông bụng phệ, quen cách nói "nhà nước", chắc là bạn ông A, cất tiếng hỏi Đào.

Đây là câu hỏi tế nhị, rất khó trả lời đối với cả Đào lẫn Thảo, nếu không muốn nói dối. Đào nhìn Thảo như chờ câu trả lời thay của Thảo. Rất nhanh, ông A đã lên tiếng:

-Chúng nó phụ bán quán "Hát cho nhau nghe" trên đường Phan Đăng Lưu gần đây.

Ông bụng phệ trợn mắt:

-Thế à? Đào cho tôi số ĐT đi, hôm nào tôi ra đó uống ủng hộ.

Ông A nghe thế xua tay:

-Uống ủng hộ thì cứ ra uống ủng hộ lúc nào chả được, cần gì phải xin số ĐT?! Ông này "phức tạp" quá! Có "âm mưu" gì không đây?

-Có gì đâu, để tỏ lòng ngưỡng mộ người đẹp thôi mà! -Ông bụng phệ đáp lại, cười hí hí.

-Vô đi anh em! Vô nào hai em gái! Mấy ảnh nói giỡn đấy! -Một ông cao ngòng, chắc cũng là bạn ông A, cầm ly bia đầy (ông này không uống được rượu), mời cụng, nói như phân trần có vẻ hơi bị ... thừa.

Bàn nhậu từ đó trở nên khí thế hẳn. Ông C thường ngày là ông già điềm đạm, ít nói, giờ với mái đầu bạc trắng, mô phạm, cũng tươm tướp:

-Anh A diễm phúc quá, quen hai em xinh như mộng! Nếu đi thi hoa hậu, chắc là phải đoạt giải!

-Anh nói quá! -Đào cất tiếng nhỏ nhẹ, làm bộ thẹn thùng.

-Ông ấy nịnh đấy, mấy em đừng tin! -Ông B nói xen vào, làm vui.

-Tối nay không bán quán, hả Thảo?-Chúng ta hỏi góp cho có chuyện

-Dạ có, anh! Ngồi đây chơi đến độ 8h thì chúng em xin phép đi. Thường giờ đó khách uống "tăng hai" mới đến đông. -Thảo đáp lại.

-Đông..., nhưng toàn đám "quá đát" mà còn ham hố chứ gì? Tôi còn lạ gì! -Ông B "phang".

Sợ động lòng Thảo và Đào, chúng ta vội bênh:

-Toàn khách già thì đã sao?...Miễn là có! Có cầu ắt có cung thôi. đúng không mấy em!?

Chúng ta hiểu vì sao giờ đó đông khách rồi, định nói thêm vài câu, nhưng nghĩ lại, thấy không tiện, đành thôi. Cuộc sống nhiều khi cần phải tế nhị!

......

Rồi bàn nhậu cũng chuyển sang canh tàn. Đám bạn ông A đã về hết, Thảo và Đào cũng đã đi, chỉ còn chúng ta, ông C, ông B, ông A (tất nhiên!) ngồi lại, lai rai.

-Anh A này, làm sao anh quen được cái Thảo, cái Đào thế? -Ông B đột nhiên nêu thắc mắc.

-Hồi xưa, khi chưa về hưu, hay uống quán đó, rồi quen, thế thôi! Lúc đầu chỉ quen con Thảo, sau quen luôn con Đào. Đào là bạn thân của Thảo. -Ông A rề rà trả lời.

-Thế anh có làm gì tụi nó chưa?-Ông B hỏi dồn.

Ông A ngồi thẳng lại, nói có vẻ giận:

-Làm gì là làm gì? Hỏi lãng nhách, vô duyên quá! Đến đó cho vui không được à?

Ông B cười trừ:

-Tò mò chút thôi, sao vội nóng thế? Mà có gì thì đã sao? Chuyện thường...

-Phải nói hai đứa đẹp thật, mà làm nghề ngồi bàn, kể cũng uổng! ...Xã hội hiện nay đẻ ra lắm nghề tếu quá chừng, ha? -Tôi nói và đặt một câu hỏi bâng quơ.

Đến lượt ông C lên tiếng:

-Làm nghề đó có đủ sống không ta? Chắc bấp bênh lắm!...

-Đừng có đùa! Khá lắm đấy! Chỉ có điều thời gian làm không được lâu và thiếu tương lai thôi. -Ông A nói có vẻ sôi nổi hơn.- Có lần con Thảo "khai" thật với tôi rằng bình quân hàng tháng, nếu được "mời" ngồi nhiều (đương nhiên là phải xinh, ăn nói có duyên rồi!), là khoảng 30 triệu/tháng. Tôi còn chứng kiến tận mắt chuyện này: có đứa con gái chạy bàn quê Quảng Trị. Khi tôi ghé quán đó lần đầu tiên, nó còn bé xíu, gọi tôi bằng chú. Mấy năm sau cô bé đó bỏ nghề chạy bàn, chuyển sang nghề ngồi bàn. Hả? Tất nhiên là nó có nhan sắc rồi...! Hả?... Không! Không bao giờ tôi ngồi với nó! Xưng chú cháu rồi, ngồi "lý lắt", kỳ lắm! Nhưng thỉnh thoảng tôi cũng cho nó vài chục. Có lẽ vì thế,con nhỏ thích tôi lắm! Bẵng đi một thời gian không thấy nó đâu, tôi hỏi, người ta chỉ nói nó nghỉ rồi. Một hôm tôi nhận được cuộc ĐT từ cô bé. Cô ta nói dọng tếu rằng đã được một đại gia "hốt" rồi. Té ra có một lão già giàu có nhận cô nàng làm vợ bé hờ, vì đã có vợ mà không có con. Thế rồi cô bé đẻ liền hai đứa con trai cho lão ta. Khỏi phải nói, lão kia mừng tới cỡ nào. Cuộc ĐT cuối cùng, cô nàng nói với tôi thế này (nguyên văn): "Chú ạ, đời cháu coi như gặp hên rồi. Dù là chồng người ta, dù vẫn phải dấu thì ông ấy cũng thương mẹ con cháu lắm. Nhà cháu nghèo, hàng tháng cháu vẫn gửi tiền về cho ba, mẹ. Thôi thì, được ngày nào hay ngày nấy! Chị Thảo ao ước như cháu mà không được. Âu cũng là số phận, phải không chú?".

-Bây giờ mà rủ con Đào hay Thảo vào khách sạn, chúng nó có đi không nhỉ? -Ông B lại hỏi một cách "lãng nhách".

Lần này ông A không tỏ ra giận dỗi, chỉ lườm một cái và nói gọn lỏn:

-Còn tùy!... Không dễ như anh tưởng đâu! Cỡ anh thì làm gì có "cửa"! Già chát rồi, còn gì nữa đâu, thôi đi!

-Xì, cứ tiền là xong tất! -Ông C xác quyết.

-Có thể là như thế, có thể là trong số chúng nó cũng có những đứa đáng khinh. Nhưng không phải tất cả! Như chúng ta đây, được gọi là tầng lớp "trí thức già", cũng vậy thôi, thử hỏi được mấy "lão" tôi luyện thành "cây đa cây đề", còn bao nhiêu "thằng" đổ đốn? Thực lòng, tôi vẫn quí trọng chúng nó. Ở gần, tiếp xúc nhiều, mới biết chúng cũng là những con người bình thường như chúng ta, những thực thể biết tư duy, có tâm hồn yêu-ghét, biết trân trọng, nâng niu cái đẹp, những thực thể cố gắng sống còn một cách đáng thương....-Ông A đột nhiên lên giọng triết học. Để phá vỡ câu chuyện có chiều hướng chẳng hay ho gì, chúng ta chớp cơ hội:

-A, "thực thể" là gì! Theo quan niệm của mình, anh A có thể giải thích được không?

Nghe hỏi thế, ông A nhìn chúng ta lom lom:

-Lại đố chữ! Lại thích chuyện triết học? Khốn nỗi say mất đất rồi, trả lời sao nổi? Để bữa khác đi! Thu à, chú mày thắc mắc nhiều chuyện thoạt nghe tưởng dễ, nhưng ngẫm lâu một tí thì hóa ra "điếc con ráy", thật khó trả lời...


***

Đầu buổi nhậu,ông A đã vào vấn đề như đã nung nấu trong lòng:

-Khái niệm "thực thể", thoạt nghe, tưởng chừng ai cũng hiểu, nhưng thực ra nếu nghĩ kỹ thì rất không "tỏ tường". Trên Wiktionary định nghĩa: thực thể là "Cái có sự tồn tại độc lập", và đưa ra ví dụ: "Con người là một thực thể xã hội". Muốn hiểu định nghĩa đó, thì trước hết phải hiểu "tồn tại"là gì. Nghĩa là trước sau gì, triết học cũng phải thấu đáo khái niệm "tồn tại".Vậy, tồn tại là gì? Anh C có biết không?

Sau hai phút lục tìm trong laptop, ông C mới trả lời:

-Theo Wiktionary thì khi là danh từ, tồn tại có nghĩa là "Thế giới bên ngoài có được một cách khách quan, độc lập với ý thức của con người", và khi là động từ, thì tồn tại có nghĩa là "Ở trạng thái có thật, con người có thể nhận biết bằng giác quan, không phải do tưởng tượng ra" và còn có nghĩa là "Còn lại, chưa mất đi, chưa được giải quyết"...

-Nói cho ngay, "tồn tại" chỉ đơn giản là "có". Đúng không nào? Vậy, "có" là gì? -Nãy giờ ngồi nghe, bây giờ ông B mới lên tiếng.

Ông C tìm kiếm trên laptop hồi lâu, rồi ngẩng đầu lên thông báo:

-Không tìm thấy trên "mạng". Thôi anh A thử giải thích xem!

-Có chứ anh! Đây này, ở trang "từ điển tiếng Việt"...-Chúng ta cãi.

-Có cũng như không. Ở đó giải thích "có" là "tồn tại". Xét ra, lẩn quẩn. -Ông C cãi lại.

-Theo tôi, có lẽ "có" là từ thốt ra miệng đầu tiên của ngôn ngữ loài người nhằm chỉ một vật nào đó, một hiện tượng nào đó xuất hiện, hiện diện trong tầm mắt. Về sau nó được mở rộng và hiểu như "tồn tại". "Tồn tại" là sự thể hiện, là "có" dù con người có thể không quan sát thấy hoặc không cảm giác được. Ví dụ: không gian là tồn tại, tiếng chó sủa cũng là tồn tại (nói chính xác hơn là thể hiện của Tồn Tại)...Nói chung, theo quan niệm của triết học duy tồn thì thế giới này không gì ngoài Tồn Tại (tồn tại tuyệt đối). Nói như thế có nghĩa là không thể có Hư Vô (hư vô tuyệt đối). Vì rõ ràng Hư Vô là "không có". Sao biết "không có"? Vì " không có" đã thể hiện, đã được xác định, nghĩa là phải "có" cái "không có". Nên rốt cuộc là phải "có", phải Tồn Tại! Nếu loại trừ hết các thiên thể, vạn vật-hiện tượng đi, thì cái còn lại là không gian Vũ Trụ, một Tồn Tại. Có mấy phương thức Tồn Tại? Vì sự thể hiện là duy nhất nên chỉ có duy nhất một phương thức Tồn Tại, một kiểu, một cách thức Tồn Tại. Suy ra các thiên thể, vạn vật- hiện tượng trong Vũ Trụ chỉ là những dạng khác nhau của Tồn Tại, còn gọi là tồn tại (tương đối). Nói đến hiện thực thì phải nói đến quan sát. Một "tồn tại" có thể không "hiện hữu", nhưng một "hiện hữu" thì nhất thiết phải tồn tại. Một tồn tại mất đi thì Tồn Tại vẫn còn đó và sẽ xuất hiện một tồn tại khác, nghĩa là vẫn không thể có Hư Vô mà có thể chỉ có hư vô (tương đối). Thế còn "thực tại"? Cũng là "tồn tại", nhưng nghĩa có lẽ hẹp hơn, nhằm chỉ cái có thực, "đang tồn tại", "hiện tồn", giống như "hiện thực khách quan" nhưng bao hàm hơn, khác với "tồn tại ảo" (ví dụ: hiện thực khách quan của quá khứ là một "tồn tại ảo", "đã từng" là "thực tại"). Có thể cho rằng "thực tại khách quan" là "hiện thực khách quan" không qua quan sát!

-Vậy rốt cục, "thực thể" là gì, anh A? Nó có nghĩa như "thực tại" không? -Chúng ta vọt miệng.

-Tôi quan niệm thế này: nếu "thực tại" là tên gọi chung các sự vật-hiện tượng (đã từng hoặc đang) có trong Vũ Trụ (là "tồn tại" hợp thành và kết quả vận động, tương tác lẫn nhau của "tồn tại"), thì "thực thể" chính là "vật chất" hợp thành.

-Còn "vật chất"? -Đến lượt ông B thắc mắc.

Ông C dò rất nhanh trên laptop:

-Đây rồi, theo Wikipedia định nghĩa thì: "Vật chất cùng với không gian và thời gian là những vấn đề cơ bản mà tôn giáo, triết học và vật lý học nghiên cứu. Vật lý học và các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu cấu tạo cũng như những thuộc tính cụ thể của các dạng thực thể vật chất khác nhau trong thế giới tự nhiên. Các thực thể vật chất có thể ở dạng trường (cấu tạo bởi các hạt trường, thường không có khối lượng nghỉ, nhưng vẫn có khối lượng toàn phần), hoặc dạng chất (cấu tạo bởi các hạt chất, thường có khối lượng nghỉ) và chúng đều chiếm không gian". Ở đoạn khác (nó) viết: "Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đi tìm một thực thể ban đầu nào đó và coi nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện tượng khác nhau của thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan biến trong đó. Tức là họ muốn tìm một thực thể chung, là cơ sở bất biến của toàn bộ tồn tại, là cái được bảo toàn trong sự vật dù trạng thái và thuộc tính của sự vật có biến đổi và được gọi là vật chất (tiếng Latin là materia). Trong lịch sử triết học cổ đại, các nhà triết học duy vật cũng quan niệm vật chất rất khác nhau. Ví dụ Thales (624-547 trước Công nguyên) coi vật chất là nước, Anaximenes (585-524 trước Công nguyên) coi vật chất là không khí, Heraclitus (540-480 trước Công nguyên) coi vật chất là lửa, Democritus (460-370 trước Công nguyên) coi vật chất là các nguyên tử,...

Nói chung các nhà triết học cổ đại quan niệm vật chất dưới dạng cảm tính và quy vật chất thành một thực thể cụ thể, cố định. Mặc dù có những hạn chế về mặt lịch sử, song những quan niệm trên lại có ý nghĩa tích cực trong việc đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm thời bấy giờ.

Đến thời kỳ cận đại, khoa học phát hiện ra sự tồn tại của nguyên tử, cho nên quan niệm của thuyết nguyên tử về cấu tạo của vật chất ngày càng được khẳng định. Quan niệm này tồn tại và được các nhà triết học duy vật cũng như các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng sử dụng cho đến tận cuối thế kỷ 19.

Trong giai đoạn thế kỷ 17 - thế kỷ 18, mặc dù đã có những bước phát triển, đã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan niệm về vật chất, song quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc với khối lượng. Quan niệm này chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi cơ học cổ điển của Newton, một lĩnh vực của vật lý được coi là phát triển hoàn thiện nhất thời bấy giờ.

Cơ học cổ điển coi khối lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và bất biến của vật chất; thế giới bao gồm những vật thể lớn nhỏ khác nhau, cái nhỏ nhất không thể phân chia nhỏ hơn là các nguyên tử; đặc trưng cơ bản của mọi vật thể là khối lượng; tính tất yếu khách quan trong hiện thực là tính tất yếu khách quan được thể hiện qua các định luật cơ học của Newton; vật chất, vận động, không gian và thời gian là những thực thể khác nhau cùng tồn tại chứ không có quan hệ ràng buộc nội tại với nhau.

Karl Marx và Friedrich Engels đã kế thừa những giá trị tích cực đồng thời vạch ra những hạn chế trong quan niệm về vật chất của các nhà duy vật trước đó, đã tổng kết những thành tựu của khoa học tự nhiên, khái quát và hình thành nên một quan niệm khoa học về phạm trù vật chất. Các ông nêu lên sự đối lập giữa vật chất với ý thức, về tính thống nhất vật chất của thế giới, về tính khái quát của phạm trù vật chất và sự tồn tại của vật chất dưới các dạng cụ thể...

Theo Ăng-ghen thì: Cần phân biệt các dạng tồn tại khách quan của vật chất và khái niệm về vật chất. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có tồn tại cảm tính. Khác với các đối tượng vật chất cụ thể. "Những từ như vật chất và vận động chỉ là sự tóm tắt trong đó chúng ta tập hợp theo những thuộc tính của chúng, rất nhiều sự vật khác nhau có thể cảm biết được bằng giác quan". Engels nhấn mạnh rằng cần phân biệt các dạng tồn tại khách quan của vật chất và khái niệm về vật chất. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có tồn tại cảm tính.

Marx và Engels phê phán quan điểm đem quy vật chất về nguyên tử về những hạt nhỏ đồng nhất hoàn toàn giống nhau về "chất" và chỉ khác nhau về "lượng", đó là những quan niệm mang tính siêu hình và cơ giới. Qua đó các ông nêu lên tính vô hạn và vô tận, tính không thể sáng tạo và không thể tiêu diệt được của vật chất cũng như các hình thức tồn tại của nó tức là vận động, không gian và thời gian... Trong đó Ph.Ăng-ghen đặc biệt nhấn mạnh phê phán quan điểm đem quy vật chất về nguyên tử, về những hạt nhỏ đồng nhất hoàn toàn giống nhau về chất, chỉ khác nhau về lượng, ông coi đó là siêu hình, mang tính cơ giới, qua đó ông nêu lên tính vô hạn và vô tận, tính không thể sáng tạo và không thể tiêu diệt được của vật chất và các hình thức tồn tại của nó là không gian và thời gian.

Ở đây cần phân biệt quan niệm vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với quan niệm của vật lý học và các khoa học khác về vật chất. Điều này giúp chúng ta nhận thức và hiểu đúng vật chất dưới dạng xã hội, ví dụ trong lịch sử xã hội loài người thì quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là có tính vật chất mặc dù nó không được cấu tạo nên từ bất kỳ một nguyên tử hay phân tử vật chất nào.

Phạm trù vật chất xuất hiện ngay từ khi triết học mới ra đời trong thời kỳ cổ đại, dưới chế độ chiếm hữu nô lệ. Tuy nhiên nội dung của phạm trù này không phải là bất biến mà luôn luôn biến đổi và phát triển.

"vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".”

— Lê Nin"

-Thật mơ hồ! -Ông B chép miệng. - Vũ trụ sờ sờ ở trước mắt, hình như rất trực giác đối với chúng ta mà lại hóa ra hư ảo quá xá!

-Phải chăng triết học Mác-lênin vẫn chưa quan niệm thỏa đáng về "vật chất"? -Tôi nêu ý kiến.

Ông A nói tiếp:

-Đúng vậy! Hơn nữa, khái niệm "vật chất" của Mác-Ăngghen mâu thuẫn với khái niệm "vật chất" của Lênin, một đàng có cảm tính, đàng thì không. Tuy nhiên chúng rất gần với quan niệm "tồn tại" (nhưng chưa phải là quan niệm ấy) của triết học duy tồn. Theo quan niệm của triết học duy tồn, Thế giới này chỉ duy nhất Tồn Tại và Tồn Tại mà thôi, không có gì ngoài Tồn Tại. Do đó, "vật chất" cũng phải có gốc xuất phát từ Tồn Tại! Mà Tồn Tại chính là không gian, nên "vật chất" cũng phải có nguồn gốc từ không gian. Cũng theo mường tượng của triết học duy tồn thì đường về phía vô cùng nhỏ của không gian phải có giới hạn, nghĩa là không gian là một khối hữu hạn (nhưng vô biên! "Vô biên" ở đây phải được hiểu như trường hợp mặt một phía của giải băng Môbiux!) vĩ đại được "lấp đầy", được hợp thành từ vô vàn những đơn vị có lượng thể tích nhỏ tuyệt đối gọi là "điểm không gian" hay "hạt không gian". Vì Tồn Tại là phải thể hiện và phân biệt được với chính nó, nên hạt không gian phải vận động và biến đổi không ngừng trong một khoảng thời gian nhỏ nhất tuyệt đối (vì thời gian là độ đo lâu mau, nhanh chậm của vận động, là một tồn tại ảo, có tính qui ước!). Vì không gian là hữu hạn, nên có sự "xáo trộn" trong vận động nội tại hạt không gian, tạo ra 2/5 (40%) số lượng hạt không gian có nội tại đạt trạng thái kích thích tột độ và tương phản nhau gọi là "âm" và "dương". Chúng kết hợp với nhau và chính là những thực thể vật chất đầu tiên, sơ khai, nguyên thủy, nền tảng, hợp thành đa dạng vạn vật trong Vũ Trụ tương tự như tế bào của sự sống vậy. Như thế "vật chất", bộ phận của Tồn Tại, là tồn tại, hay còn có thể hiểu là một phần của không gian. Tóm lại, thế giới này vốn dĩ Tồn Tại, rồi có tồn tại (vật chất), từ đó có mọi thực thể, và thế là Vũ Trụ hình thành, hay nói cách khác: lúc đầu là không gian, rổi đến vật chất, từ đó mà có đa dạng các thực thể (vạn vật-hiện tượng), tất cả chúng hợp thành Vũ Trụ...

Ông B giơ tay có ý "xin ý kiến" rồi nói:

-Anh A quan niệm về Vũ Trụ như thế cũng có lý, nhưng còn thiếu sự hiện diện của các "trường" (trường tĩnh điện, từ, điện từ , hấp dẫn) nữa. Vậy, theo anh A, "trường" là gì?

-"Trường" có phải là thực thể không? -Tôi hỏi bổ sung.

Như thuộc lòng, không nghĩ ngợi gì, ông A đáp luôn:

-Theo quan niệm của vật lý học ngày nay, "trường" là một dạng đặc biệt của vật chất, nhưng không có tính thực thể. Nó cũng hàm chứa năng lượng và...chỉ có thế! Nói chung nó là gì thì vẫn còn rất bí ẩn, chưa rõ ràng. Theo tôi nghĩ, vật lý học (và cả triết học nữa) cần phải quan niệm lại nhiều điều, thậm chí là phải quan niệm lại từ đầu tất cả các khái niệm của mình về những vấn đề cơ bản như "tồn tại", "thực tại", "thực thể", "vật chất"..., để làm mới lại mình! Nếu Tồn Tại là cái "có" thể hiện ra dưới hai dạng "có hình thù" và "phi hình thù", thì vật chất cũng là cái "có" thể hiện ra dưới hai dạng ấy (thí dụ: ánh sáng). Nếu đặc trưng chung nhất, cơ bản nhất của Tồn Tại là hàm chứa năng lượng (h.v, ẩn chứa khối lượng) thì đặc trưng chung nhất, cơ bản nhất của "vật chất" là hàm chứa rõ ràng khối lượng (m). Có thể cho rằng không gian là khối h.v (lượng tử) vĩ đại, vô biên nhưng không vô hạn. Vì có vật chất mới có thực thể nên phải cho rằng thực thể là vật chất "có hình thù", có thể cân, đong, đo, đếm được. Theo nhận định ngày nay thì trường là dạng vật chất "phi hình thù", không thể xác định được nên trường không phải là thực thể. Vả lại, vì không thể hiện rõ ràng khối lượng nên trường cũng không phải là vật chất. Vậy nó là gì? Có thể nói rằng, trường (chỉ) là hiện tượng, là kết quả của tương tác vật chất, thậm chí, theo khẳng định của triết học duy tồn, (các) trường như ngày nay ngộ nhận, là không tồn tại, mà chỉ tồn tại những "hiệu ứng" và chỉ tồn tại một trường duy nhất, đó là trường không gian. Cuối cùng chúng ta có thể định nghĩa: thực thể là một khoảng thể tích cực tiểu (khoảng không gian), được xác định trong Vũ Trụ, là thực thể nhỏ nhất chứa vật chất với tổng khối lượng là m và năng lượng toàn phần là mc². Từ thực thể đó mà có các thực thể khác. Thí dụ nguyên tử, các hành tinh, các thiên hà đều là các thực thể..., đều có năng lượng toàn phần là n.mc² (với n là số tự nhiên).

-Không thể tin được trường lại không tồn tại. Một sự thật rõ rành rành là nếu không tồn tại trường thì làm sao có ĐTDĐ được? Tôi không tin. Nói như anh A, trình độ triết-khoa của loài người ngày nay hình như mới bước qua giai đoạn sơ khai ấy! -Ông C cười, bày tỏ ý kiến.

Ông B tiếp nối:

-Nói theo kiểu "trà dư tửu hậu", thì như thế cũng "vui" đấy chứ!? Theo tôi thì anh A nói dù sao vẫn có lý. Biết đâu, anh A là người đầu tiên khơi gợi ra một cuộc cách mạng mới về nhận thức?

-Ừ! Tôi cũng thấy khó tin thật đấy! Thực chứng đã chỉ ra rằng, không thể không tồn tại trường. Nhưng sự tồn tại của trường lại làm xuất hiện nhiều điều phi lý hơn. Chẳng hạn vấn đề hàm chứa khối lượng.Trường có hàm chứa khối lượng không?Nếu có thì phải xác định được chứ? Đã xác định được khối lượng thì là thực thể mất rồi! Rất khó hình dung vật chất lại không có khối lượng, trường hàm chứa năng lượng như thế lại không có khối lượng! Không thể tưởng tượng được xung quanh một thực thể, dù lớn bé thế nào, lại duy trì một trường (chẳng hạn là trường hấp dẫn) có một năng lượng trải ra vô tận! -Ông A lập luận.

Chúng ta ngồi nghe, vẫn "điếc con ráy", không hiểu gì mấy, nhưng cũng cảm thấy ông A nói hay. Bất chợt chúng ta ngẩng lên trời. Chúng ta còn nhớ: bầu trời đêm đó đầy sao, lấp lánh. Hình như nó đang mỉm cười! Và trong sâu thẳm tiềm thức, chúng ta mường tượng thấy như có Nàng Thơ vụt qua, bay về nơi xa tít!

(Còn tiếp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32