QUÁI KIỆT LÀNG CỜ 15
(ĐC sưu tầm trên NET)

Quân Mã, hay Ngựa, còn gọi là quân Kỵ, ở trong Cờ Tướng online
hay Cờ Vua, thường được nhắc tới như là một quân chủng đặc biệt tượng
trưng cho một vẻ đẹp hào hùng, mang dáng dấp hiệp sĩ cứu khổn phò nguy,
xuất hiện đúng lúc và ra tay trừ gian diệt bạo không ngại gian khó, hiểm
nghèo.

Ở đây xin được có một vài lời bàn vui về quân Mã trong cuộc cờ, qua đó, phác họa nên chân dung của những “kỵ binh Mã” giàu lòng nghiã hiệp và nhân ái, đang sống giữa cuộc đời, âm thầm hành hiệp và lắm phen bị ngã ngựa thương đau, mà dù cho có bị cuộc đời dày xéo và vùi dập, nhưng vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu không chịu khuất phục, không hề thay lòng đổi dạ, luôn gìn giữ khí tiết và lòng tự trọng. Xin được gửi đến những kỵ sĩ kiệt xuất đó một niềm hàm ân, tình thương mến và lòng kính trọng.
Nguyên Hồng đến thăm Nguyễn Tuân. Hai cụ bày
rượu ra uống, bày bàn cờ ra chơi. Ngồi cả buổi, hai cụ bàn về chuyện
thời thế, chuyện văn chương rất tâm đắc nhưng cả hai không ai đụng đến
quân cờ.
Nậm rượu ngon đã cạn, thức nhắm đã vơi, bỗng Nguyên Hồng cầm quân cờ
đánh chát một cái xuống bàn, thét to: - Chiếu tướng! Nguyễn Tuân giơ cả
hai tay lên trời: - Thua! Xuân Hoàng quên con.
Nhà thơ Xuân Hoàng đưa con đến bệnh viện khám bệnh. Khi cháu vào phòng khám, anh lững thững tản bộ trước sân. Bất chợt có người bạn đi qua trông thấy, rủ anh nhảy lên xe đạp về nhà mình uống rượu đọc thơ, anh đi liền.
Tàn bữa rượu, ra về đã quá trưa, Xuân Hoàng thấy mình quên quên một cái gì. Thò tay vào túi thấy chìa khóa xe, anh nhớ mình để xe ở bệnh viện. Đến bệnh viện, anh thản nhiên lấy xe đạp về nhà. Thấy vợ ở nhà, anh nghĩ: “Sao bà ấy về sớm nhỉ?”. Bà vợ thấy anh về, liền hỏi: - Con đâu? Anh đưa nó đi khám bệnh cơ mà! Xuân Hoàng chợt tỉnh: - Ồ nhỉ! Chết cha. Có ông bạn rủ đi đọc thơ, thế là quên biến! Trở lại bệnh viện không thấy con đâu, anh hốt hoảng đạp xe đi khắp thị xã tìm con, chiều mới về. Đến nhà, thấy con đang nằm ngủ. Thì ra khám bệnh xong, không thấy bố, nó đã khôn ngoan nhờ bác sĩ gọi điện cho mẹ ở Tỉnh hội Phụ nữ sang đón. Bà vợ giấu kín việc này để cho ông chồng đãng trí một bài học.
Biên tập là cái gì?
Nhà văn Nguyễn Quỳnh là biên tập viên NXB Kim Đồng đi thăm bạn ở Vĩnh Phúc. Bất ngờ có chuyện gấp, ông phải về lúc gần nửa đêm. Đến bến Chèm vừa nửa đêm. Bến vắng tanh vắng ngắt. May quá, gặp một ông cụ giữ ngô, nhà văn hỏi đường đến nhà người chèo đò của hợp tác xã. Nghe gọi, mắt nhắm mắt mở, ông lái đò dậy thắp đèn rồi đòi xem giấy công tác. Thấy giấy ghi: “Đồng chí Nguyễn Quỳnh, biên tập viên nhà xuất bản Kim Đồng”, ông càu nhàu:
- Biên tập là cái đ... gì mà đêm phải sang sông?
Nguyễn Quỳnh nghiêm mặt: - Sao ông lại nói thế? Ông không đọc thơ Tố Hữu: “Nửa đêm biên tập diệt đồn à?” (Thực ra là: “nửa đêm bôn tập...”).
Ông lái đò vui vẻ: - Em ít đọc thơ. Vâng, mời bác xuống bến. Thơ tặng tổ thơ.
Năm ấy tổ thơ báo Văn Nghệ chỉ có nhà thơ Vĩnh Mai và Xuân Quỳnh. Xuân Quỳnh gọi Vĩnh Mai là “bố” xưng “con”. Ít lâu sau, nhà thơ Phạm Hổ được bổ sung vào tổ thơ. Phạm Hổ bị bệnh hen. Tổ thơ xem ra yếu. Chế Lan Viên không tiện nói thẳng ra điều đó, ông tặng tổ thơ mấy vần lục bát nghịch ngợm:
Tổ thơ một bố một con Bố già lẩn thẩn, con còn ngô nghê Lại thêm Phạm Hổ mới về Hổ gì... hổ giấy khò khè cả đêm!
Anh em văn nghệ sĩ, sau đợt chỉnh huấn, viết bản tự kiểm thảo. Nhà văn Nguyên Hồng sau khi viết được vài trang, nghỉ tay rít một hơi thuốc lào. Ông đến sau lưng nhà văn Nguyễn Công Hoan nhìn vào tập giấy trắng của bạn. Ngoài mấy chữ “Bản tự kiểm thảo” viết nắn nót, ngồi nửa buổi sáng, Nguyễn Công Hoan chưa viết được chữ nào.
Nguyên Hồng cười khà khà: - Người ta bảo mỗi tối ông viết được vài ba chục trang tiểu thuyết, sao lần này ông viết chậm thế? Nguyễn Công Hoan hóm hỉnh: - Viết tiểu thuyết là bịa như thật cho nên nó nhanh. Còn thứ này muốn viết nhanh thì phải viết thật như bịa cho nên khó ơi là khó!
(Theo 101 Truyện vui Nhà văn VN hiện đại của Nguyễn Bùi Vợi)
Chẳng hạn: Người nóng nảy thì thích tấn công, đánh nhanh, vội vàng hấp
tấp, muốn kết thúc cuộc chơi sớm nên thường sử dụng các chiến lược tấn
công. Trong khi đó người kiên nhẫn thì thích thủ hơn công và hay triển
khai các chiến lược phòng thủ phản công như Bình phong mã, Đơn đề mã, Pháo giăng;
họ chịu khó tính toán, suy nghĩ liên tục, đợi khi đối phương sơ hở mới
tấn công. Còn kẻ kiêu ngạo háo thắng thì bộc lộ sự hân hoan ngay khi ăn
một quân hay đi một nước có lợi, lấy sự hơn người làm thích thú, luôn
cho mình hơn người. Ai linh hoạt thì tính toán nhanh, thông minh xử lý
ngay mọi tình huống, nghĩ ra được nhiều thế đánh hay, nước đi của họ lả
lướt đẹp mắt, có nhiều sáng tạo. Phường ích kỷ hẹp hòi thì ưa hoãn, bất
tài mà lại muốn thắng. Người lơ đễnh thường bỏ sót nước, sơ xuất dễ bị
mất quân, dẫn đến thua cuộc, không tập trung tư duy liên tục thậm chí có
khi giống như lãng trí đem Xe đi vào chân Ngựa đối
phương. Và người trầm tĩnh dù thua quân vẫn từ tốn chống đỡ, tính toán
cẩn thận, đánh chậm mà thắng nước, ít nói, không ồn ào, họ đi con cờ nhẹ
nhàng không có tiếng động. Có lẽ thật là khổ sở cho những ai gặp phải
kẻ hiếu thắng, bởi hắn luôn muốn hơn người khác, càng thua càng muốn
đánh đễ gỡ, đến khi nào thắng được một vài ván mới… hả dạ!
Không chỉ có giới văn nhân, thi sĩ, vua quan, thần tiên mới hâm mộ cờ
tướng mà đến nhân dân lao động chân lấm tay bùn cũng thích thú cờ tướng
cho nên dân gian ta có câu ca dao đố cờ: “Hai ông mà chẳng có bà/
Sinh con đẻ cháu đến ba mươi người/ Mười người sinh nở tốt tươi/ Bốn
người đi học lại đòi làm quan/ Tám người xa pháo nghênh ngang/ Tám người
voi ngựa rộn ràng hơn xưa”. Đó cũng là nét phác hoạ thô sơ mà hoàn
mĩ về bàn cơ vậy. Trong lịch sử chơi cờ Việt Nam không thiếu các bậc nữ
lưu, danh nhân nữ sĩ như Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm… đều là
những tay cao thủ cờ tướng chứ không riêng gì bậc quân tử.
Những Ván Cờ Hay Nhất Của Các Đại Kiện Tướng
Những giai thoại trong làng cờ tướng
Cách
đây nửa thế kỷ, làng cờ Nha Trang xuất hiện chàng thanh niên tên Nguyễn
Xí (Bảy Xí) với tài nghệ “siêu quần”, đánh đâu thắng đó khiến giới cờ tướng
khắp 7 tỉnh miền Trung không đâu không nghe danh tiếng. Ngay từ khi còn
nhỏ, cậu bé này đã thích thú với bàn cờ. Hễ thấy cha và các chú, bác
chơi cờ là cậu bé tìm cách lân la vào xem. Thế rồi, cậu béù bắt đầu học
hỏi và với năng khiếu trời cho, cậu nhanh chóng nắm bắt được yếu lĩnh
của các con cờ. Đến tuổi thanh niên, Bảy Xí đã trở thành nhà vô địch và
bắt đầu lân la vào làng cờ quốc gia với tuyệt chiêu là cặp uyên ương
pháo cực kỳ lợi hại. Kể từ khi Bảy Xí xuất hiện, cái tên làng cờ Nha
Trang mới trở nên nổi tiếng và được giới cờ trong cả nước biết đến. Một
thời gian dài, Bảy Xí gần như vô địch ở miền Trung. Vì thế, lâu lâu ông
lại khăn gói vào Sài Gòn kiếm “độ”, và lần nào trở về ông cũng trúng
quả.

Cờ tướng có sức hấp dẫn kỳ lạ.
Đến
những năm 70-80 của thế kỷ XX, các đối trọng của Bảy Xí mới xuất hiện.
Lúc đó, ở Nha Trang chỉ có 3 người có khả năng chơi ngang ngửa với Bảy
Xí, lập nên bộ tứ: Xí – Đường – Cảnh – Oanh. Bộ tứ này tiếp tục thống
lĩnh làng cờ một thời gian dài trước khi những tay cờ trẻ khác bắt đầu
xuất hiện. Tuy tài năng của các tay cờ về sau không phải tồi (có những
người đã lọt vào tốp đầu của giải vô địch cờ tướng toàn quốc), nhưng để
hạ được “tứ trụ” không phải chuyện đơn giản. Cuối thập niên 90, làng co tuong xuất
hiện một vị bác sĩ có kỳ nghệ rất khá, có thể liệt vào hàng cao thủ, đó
là bác sĩ Trần Cẩm Long – người chuyên bình luận cho các giải cờ người
thường được tổ chức vào các ngày lễ lớn tại Quảng trường 2-4. Bác sĩ
Long vốn là cao thủ của làng cờ tướng Đà Nẵng. Thế nhưng, kể từ khi
chuyển vào Nha Trang, sức cờ của anh đã có những bước tiến vượt bậc. Anh
đủ sức đánh thắng các kỳ thủ ở Nha Trang và đến nay vẫn duy trì được
phong độ ấy, dù rằng có nhiều cao thủ trẻ trình độ gần bằng anh.
Tuy có
một quá trình phát triển khá lâu dài nhưng có thể nói, cờ tướng Nha
Trang rất ít phát triển. Hiện nay, xét về lực cờ, làng cờ Nha Trang vẫn
còn kém hơn giới cờ tướng TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và thậm chí
cả các tỉnh miền Trung như Đà Nẵng, Bình Định. Chẳng thế mới có chuyện
vài năm trước, anh Nguyễn Thành Bảo đã từng khuấy đảo làng cờ Nha Trang.
Ngày đó, anh Bảo mới vô địch U20 thế giới và đến Nha Trang “săn nai”
(thuật ngữ giới cờ độ dùng để ám chỉ những tay cờ độ có trình độ thấp)
để “xẻ thịt”. Do lúc đó chưa biết Bảo là ai nên giới cờ Nha Trang đổ xô
vào “tỷ thí” với anh nhưng đều bị khuất phục. Đến khi thấy lực cờ của
anh cao quá, các tay cờ Nha Trang bắt chấp, Bảo cũng có thể chấp hẳn các
cao thủ 1 con mã khiến làng cờ Nha Trang “khiếp” phục.
Các cao thủ bậc nhất ở Nha Trang đang so tài.
Sau
này, nối tiếp Nguyễn Thành Bảo, nhiều vị cao thủ ở TP. Hồ Chí Minh cũng
ra Nha Trang “săn” và hầu hết là đều trở về “thắng lợi” vì trình độ của
họ quá cao. Lúc này, làng cờ Nha Trang mới biết trình độ của mình còn
kém. Nói đâu xa, chuyện xảy ra mới đây tại kỳ đài cờ tướng Gà Ri (Ri
Chicken, ở đường Bạch Đằng, phường Tân Lập, Nha Trang). Trong chốn “ngọa
hổ tàng long” toàn các cao thủ, bỗng xuất hiện một chàng thanh niên tên
Chương, đến từ Vạn Ninh. Chương đề nghị thách đấu với… bất kỳ ai. Phải
biết rằng, nếu nói về cao thủ cờ ở Vạn Ninh, làng cờ Nha Trang có chăng
chỉ nể “Bình xe ngựa”. Vì thế, khi Chương đề nghị, lập tức các cao thủ
vào bàn tỷ thí với anh. Thế nhưng thật ngạc nhiên, Chương “qua 5 ải chém
5 tướng”, hạ luôn một lúc 5 cao thủ bậc nhất của Nha Trang. Lúc này chỉ
còn 2 người có thể đấu với Chương là tay cờ gốc Đồng Tháp – Đức Trí, và
bác sĩ Trần Cẩm Long. Bác sĩ Long đã “rửa tay gác kiếm” từ lâu nên cuối
cùng tay cờ Đức Trí chấp nhận tỷ thí với Chương. Thật ra, lực cờ của
Chương không phải quá cao, nhưng anh này có lối đánh rất khó chịu, một
nước đi anh ta suy nghĩ đến vài chục phút khiến đối thủ bải hoải cả
người, mất tập trung. Với 5 cao thủ trước đó, Chương đều thành công với
“chiêu” này. Thế nhưng trong ván đấu với tay cờ Đức Trí, ngón đòn này bị
“hóa giải” dễ dàng. Trong ván này, Trí dùng hết sở học, đi cờ như bay.
Khi đối phương “cù nhây”, anh vẫn nhẫn nại chờ đợi, luôn giữ tỉnh táo
không nhụt chí và kết quả là đã hạ tay cờ Vạn Ninh, lấy lại thể diện cho
làng cờ Nha Trang trong một ván cờ kéo dài đến… 6 tiếng đồng hồ.
Quân Mã trong cuộc cờ tướng và cuộc đời
Quân Mã trong cuộc cờ tướng và cuộc đời
Nói tới Mã, là nói tới một sự biến hoá kỳ ảo của những nước đi nhảy
nhót thần kỳ, một phép Lăng Ba Vi Bộ (!) độc đáo, đầy sự bất ngờ, và
hành tung thì bí ẩn, ý đồ kín đáo. Nếu trên bàn cờ mà không có Mã, hoặc
đúng hơn là không còn Mã, thì dường như cuộc chơi trở nên bớt sôi động,
bớt gay cấn và giảm đi ít nhiều hào khí, trầm lắng hẳn vì không còn nghe
tiếng nhạc ngựa reo vui, tiếng vó câu rộn rịp. Mã đã đem lại sự bình ổn
vững vàng và cân bằng trong những thế trận thiên về phòng ngự, thì Mã
cũng đã nổi bật lên như là một kỵ sĩ bách chiến bách thắng không hề biết
đến chiến bại khi tràn sang phòng tuyến đối phương, với vẻ oai phong
lẫm liệt, hào khí ngất trời. Không thể nói khác được, rằng chính kỵ binh
Mã, đã góp phần lớn vào những đường nét tạo nên vẻ huyền bí của kỳ
nghệ, những gì được gọi là phần cốt lõi, tinh hoa, tinh túy nhất, của bộ
môn thể thao trí tuệ Cờ Tướng vốn được nhiều người yêu thích. Người đời
đôi khi cũng tự ví von, cho mình như là quân Mã trong
một VÁN CỜ ĐỜI đầy dẫy những bất công, hàm oan, nghiệt ngã. Đó là hình
ảnh tượng trưng của những người can đảm, anh hùng, mang trong tâm bầu
nhiệt huyết sục sôi, sẵn sàng lên yên dấn thân một-mình-một-ngựa đi vào
cuộc đời, tả xung hữu đột giữa vòng trùng vi thù địch, để dẹp tan những
trở ngại, xô đổ những vướng mắc, vung gươm tráng sĩ trả nợ núi sông, sẵn
sàng da ngựa bọc thây không mong ngày trở về. Hình ảnh đẹp thay mà cũng
cao quý thay!Ở đây xin được có một vài lời bàn vui về quân Mã trong cuộc cờ, qua đó, phác họa nên chân dung của những “kỵ binh Mã” giàu lòng nghiã hiệp và nhân ái, đang sống giữa cuộc đời, âm thầm hành hiệp và lắm phen bị ngã ngựa thương đau, mà dù cho có bị cuộc đời dày xéo và vùi dập, nhưng vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu không chịu khuất phục, không hề thay lòng đổi dạ, luôn gìn giữ khí tiết và lòng tự trọng. Xin được gửi đến những kỵ sĩ kiệt xuất đó một niềm hàm ân, tình thương mến và lòng kính trọng.
Giai thoại làng văn: Nguyễn Tuân & Nguyên Hồng đánh cờ
Nhà thơ Xuân Hoàng đưa con đến bệnh viện khám bệnh. Khi cháu vào phòng khám, anh lững thững tản bộ trước sân. Bất chợt có người bạn đi qua trông thấy, rủ anh nhảy lên xe đạp về nhà mình uống rượu đọc thơ, anh đi liền.
Tàn bữa rượu, ra về đã quá trưa, Xuân Hoàng thấy mình quên quên một cái gì. Thò tay vào túi thấy chìa khóa xe, anh nhớ mình để xe ở bệnh viện. Đến bệnh viện, anh thản nhiên lấy xe đạp về nhà. Thấy vợ ở nhà, anh nghĩ: “Sao bà ấy về sớm nhỉ?”. Bà vợ thấy anh về, liền hỏi: - Con đâu? Anh đưa nó đi khám bệnh cơ mà! Xuân Hoàng chợt tỉnh: - Ồ nhỉ! Chết cha. Có ông bạn rủ đi đọc thơ, thế là quên biến! Trở lại bệnh viện không thấy con đâu, anh hốt hoảng đạp xe đi khắp thị xã tìm con, chiều mới về. Đến nhà, thấy con đang nằm ngủ. Thì ra khám bệnh xong, không thấy bố, nó đã khôn ngoan nhờ bác sĩ gọi điện cho mẹ ở Tỉnh hội Phụ nữ sang đón. Bà vợ giấu kín việc này để cho ông chồng đãng trí một bài học.
Biên tập là cái gì?
Nhà văn Nguyễn Quỳnh là biên tập viên NXB Kim Đồng đi thăm bạn ở Vĩnh Phúc. Bất ngờ có chuyện gấp, ông phải về lúc gần nửa đêm. Đến bến Chèm vừa nửa đêm. Bến vắng tanh vắng ngắt. May quá, gặp một ông cụ giữ ngô, nhà văn hỏi đường đến nhà người chèo đò của hợp tác xã. Nghe gọi, mắt nhắm mắt mở, ông lái đò dậy thắp đèn rồi đòi xem giấy công tác. Thấy giấy ghi: “Đồng chí Nguyễn Quỳnh, biên tập viên nhà xuất bản Kim Đồng”, ông càu nhàu:
- Biên tập là cái đ... gì mà đêm phải sang sông?
Nguyễn Quỳnh nghiêm mặt: - Sao ông lại nói thế? Ông không đọc thơ Tố Hữu: “Nửa đêm biên tập diệt đồn à?” (Thực ra là: “nửa đêm bôn tập...”).
Ông lái đò vui vẻ: - Em ít đọc thơ. Vâng, mời bác xuống bến. Thơ tặng tổ thơ.
Năm ấy tổ thơ báo Văn Nghệ chỉ có nhà thơ Vĩnh Mai và Xuân Quỳnh. Xuân Quỳnh gọi Vĩnh Mai là “bố” xưng “con”. Ít lâu sau, nhà thơ Phạm Hổ được bổ sung vào tổ thơ. Phạm Hổ bị bệnh hen. Tổ thơ xem ra yếu. Chế Lan Viên không tiện nói thẳng ra điều đó, ông tặng tổ thơ mấy vần lục bát nghịch ngợm:
Tổ thơ một bố một con Bố già lẩn thẩn, con còn ngô nghê Lại thêm Phạm Hổ mới về Hổ gì... hổ giấy khò khè cả đêm!
Anh em văn nghệ sĩ, sau đợt chỉnh huấn, viết bản tự kiểm thảo. Nhà văn Nguyên Hồng sau khi viết được vài trang, nghỉ tay rít một hơi thuốc lào. Ông đến sau lưng nhà văn Nguyễn Công Hoan nhìn vào tập giấy trắng của bạn. Ngoài mấy chữ “Bản tự kiểm thảo” viết nắn nót, ngồi nửa buổi sáng, Nguyễn Công Hoan chưa viết được chữ nào.
Nguyên Hồng cười khà khà: - Người ta bảo mỗi tối ông viết được vài ba chục trang tiểu thuyết, sao lần này ông viết chậm thế? Nguyễn Công Hoan hóm hỉnh: - Viết tiểu thuyết là bịa như thật cho nên nó nhanh. Còn thứ này muốn viết nhanh thì phải viết thật như bịa cho nên khó ơi là khó!
(Theo 101 Truyện vui Nhà văn VN hiện đại của Nguyễn Bùi Vợi)
VIỆT SỬ GIAI THOẠI: Rượu Hoàng Mơ, cờ Mộ Trạch
13/03/2009
Xã
Hoàng Mơ (nay thuộc Hà Nội) là xã nổi tiếng với nghề nấu rượu. Xã Mộ
Trạch (nay thuộc Hải Dương) có Vũ Huyên là người lừng danh cao cờ, vì
thế, dân gian có câu rằng : Rượu Hoàng Mơ, cờ Mộ Trạch. Chuyện về tài đánh cờ của Vũ Huyên từng được Lê Quý Đôn chép lại trong Kiến văn Tiểu Lục như sau:
"Tục
truyền rằng, Vũ Huyên là người Mộ Trạch, hương Đường An(1), cháu của
Tiến sỹ Vũ Đôn. Giữa trán của Vũ Huyên có một cái xương nhô lên tựa như
hình một quân cờ. Ông có biệt tài đánh cờ tướng.
Bấy
giờ, có sứ thần Trung Quốc sang nước ta, rất tự phụ là tay cao cờ, xin
được đánh cờ với Hoàng đế ta. Hoàng đế muốn trị tật ba hoa của viên sứ
thần kia, bèn sai người bí mật tìm người cao cờ. Đình thần tâu là có Vũ
Huyên giỏi đánh cờ. Hoàng đế bèn sai chọn những người cao cờ khác cùng
đánh cờ với Vũ Huyên, nhưng không ai cao cờ bằng Vũ Huyên cả.
Thế
rồi Hoàng đế giao hẹn cùng sứ thần Trung Quốc đấu cờ ở giữa sân rồng
vào đúng lúc giữa trưa. Vào cuộc, mỗi bên chỉ để một người cầm dù đứng
che, còn mọi người phải đi nơi khác. Cái dù che cho Hoàng đế được chọc
thủng một lổ nhỏ ở trên từ trước, cốt cho ánh nắng xuyên qua. Hoàng đế
sai Vũ Huyên cầm dù đứng hầu, thấy nước cờ nào lợi thế, Vũ Huyên liền
cầm nghiêng dù, dùng giọt nắng xuyên qua dù để chỉ cách cho Hoàng đế đi.
Nhờ đó, Hoàng đế thắng luôn mấy ván, khiến sứ thần Trung Quốc vừa sợ
vừa phục. Hoàng đế khen ngợi tài đánh cờ của Vũ Huyên, ban cho danh hiệu
là Trạng Cờ. (Vũ Huyên) nhờ vậy được cả nước suy tôn là bậc cao cờ
nhất, tục ngữ cũng vì vậy mà có câu Rượu Hoàng Mơ, cờ Mộ Trạch".
Lời bàn: Chép
xong chuyện này, Lê Quý Đôn đã nêu lên hai câu thắc mắc. Một là sứ thần
sao dám cả gan thách đấu cờ với Hoàng đế ta. Hai là giả thử có viên sứ
thần ngông nghênh như vậy, Hoàng đế hà cớ gì lại nhận lời? Lê Quý Đôn
đoán rằng, chỉ có thể là Vũ Huyên được sung vào một phái bộ sứ giả sang
Trung Quốc, hoặc giả là sứ giả Trung Quốc sang nước ta, rồi Vũ Huyên nhờ
có dịp tiếp xúc và đánh cờ với người Trung Quốc, thắng cờ mà nổi danh
thôi.
Lê Quý Đôn dùng cặp mắt am tường điển lễ của mình để xét chuyện, song le, lời tục truyền đông tây kim cổ bao giờ cũng có lối diễn đạt riêng. Thời mà sứ giả dám coi khinh cả triều đình, thì người có khả năng giữ gìn quốc thể tất nhiên chẳng phải là Hoàng đế nữa. Vũ Huyên soi đường cho Hoàng đế đi, ắt không phải chỉ có trong việc đánh cờ. Ôi, thương hại thay những kẻ suốt đời dựa dẫm vào cái đầu của người khác. Làm Hoàng đế kiểu ấy, dễ làm lắm thay!
Lê Quý Đôn dùng cặp mắt am tường điển lễ của mình để xét chuyện, song le, lời tục truyền đông tây kim cổ bao giờ cũng có lối diễn đạt riêng. Thời mà sứ giả dám coi khinh cả triều đình, thì người có khả năng giữ gìn quốc thể tất nhiên chẳng phải là Hoàng đế nữa. Vũ Huyên soi đường cho Hoàng đế đi, ắt không phải chỉ có trong việc đánh cờ. Ôi, thương hại thay những kẻ suốt đời dựa dẫm vào cái đầu của người khác. Làm Hoàng đế kiểu ấy, dễ làm lắm thay!
(1). Nay thuộc tỉnh Hải Dương
Nguyễn Khắc Thuần
Giai thoại đánh cờ của Vua Tự Đức và Cao Bá Quát
Nhớ xưa kia Cao Bá Quát vs Tự đức hoàng đế chơi cờ, Tự Đức hứng mà đọc:
"Lưỡng mã tri khu thiên lý địa"
(Đôi ngựa- của nhà vua - đuổi riết tận ngàn dặm đất),
Cao Bá Quát đã đối ngay:
"Song xa truy kích cửu trùng thiên"
(Đôi xe - của họ Cao - đánh đến 9 thầng trời), thật là hào hùng và dũng mãnh.

Tự Đức thì cho cặp ngựa phóng như bay dưới đất, còn đôi xe của thánh Quát thì lại chạy băng trên trời. 1 bên là vua, 1 bên là thần, 2 bên vốn quý trọng nhau nhưng cứ như nước với lửa, tựa như Gia Cát vs Chu Du, nhưng cuối cùng 1 bên chết và bên kia sống - dẫu sau cũng thất bại bởi kẻ khác. Cũng có thể đem so sánh giữa Tào Tháo với Tuân Úc, hay Tào Tháo vs Tư Mã Ý. Ai cũng có chí hướng, và chí hướng mỗi người đều cao và rộng, cơ hồ là cả 9 châu nhà Hán đấy chứ. Nhưng đây ko nói đến cặp Du - Lượng, hãy bàn tới cặp Tháo - Úc. Cả Tào Tháo lẫn Tự Đức đều có những điểm chung: ỷ mình giỏi, có tài, ngồi ngôi cao nhưng lại chẳng thắng được thời. Tự Đức giỏi thơ văn, nhưng ông ta lại thất bại trước Pháp. Tháo giỏi binh pháp, nhưng lại đại bại Xích Bích, đến chết vẫn ko hạ được Lưu Bị và Tôn Quyền. Thánh Quát tài cao, ứng đối trôi chảy, dẫu bị vua hỏi xoắn đáp xoăn vẫn đối đáp được, lại muốn đem tài giúp dân, tuy ông đã chống lại vua nhưng thật ra là tại Tự Đức mà ra, Tự Đức quá hợm tài (thứ cho tại hạ nói thẳng), lại chỉ biết nghĩ ít, còn thánh Quát thì vì lê dân nước Việt hồi đó, và bản thân ông cũng muốn nhà Nguyễn tiếp tục, chỉ là vua phải có trách nhiệm với đất nước hơn. Còn Úc, cũng là vì nhà Hán, vì dân chúng lầm than đang chịu cảnh loạn ly quần hùng cát cứ, vẫn mong cảnh nhất thống, yên bình và nhà Hán được tiếp tục. Nếu đem so, thật ra cũng khá là khập khiễng. Tuân Úc hay thánh Quát đều đem tài ra giúp người mình phò trợ, dẫu biết sau cùng mình tất bị người đó hại, nhưng vẫn cam lòng, vì cả 2 đều muốn đem tài ra giúp dân, vì dân chúng mà chấp nhận. Có lẽ có vị tự hỏi: sao Úc ko theo Lưu Bị, vì Bị ta đang muốn khôi phục lại nhà Hán, tại sao lại chấp nhận theo Tháo? 1 phần là do Úc nghĩ Bị không làm nổi, vs nữa là Úc ko tin Bị thật sự là con cháu nhà Hán, nên ko phò trợ. Và tất nhiên, Úc đến chết vẫn đâu có hối hận là đã ko theo Bị?
Còn nữa, Tự Đức từng cao hứng đọc 2 câu thơ, bị thánh Quát bảo là 2 câu đó ko phải vua nghĩ ra mà nằm trong 1 bài thơ mà ông thuộc từ nhỏ, và đã đọc ra cả bài (thật ra là thánh Quát đã chế thêm 6 câu). 2 câu đó là :
"Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ,
dã ngọa đào hoa lấm tấm khai"
(Trong vườn khề khà tiếng oanh hót
Ngoài đồng lấm tấm hoa đào rơi)
Cũng là chê nhà vua chỉ biết ham thích thơ văn, ko màng thế sự chuyển luân thất thường. Úc cũng lắm lần chê Tháo, công khai hay ko công khai, dẫu là thành thơ hay ko thành thơ. Tài hoa bạc mệnh, tiếc thay! Cả Tuân Úc lẫn thánh Quát đều phải ngậm ngùi nơi 9 suối!
Lần khác, Tự Đức viết:
"Thần khả báo quân ân, tử năng thừa phụ nghiệp"
cũng được thánh Quát sửa lại trật tự chữ nghĩa
"Quân ân thần khả báo, phụ nghiệp tử năng thừa".
Câu thứ 2 có thể xứng với Tôn Quyền, Tào Phi, Tào Tuấn, Tư Mã Chiêu, Tư Mã Sư và cả Tư Mã Viêm, nhưng tại hạ ko bàn câu đó, mà bàn câu trên, "Quân ân thần khả báo".

Nói ra, Tháo rất trọng dụng Úc, quý Úc, xem Úc là bề tôi tốt, là 1 mưu sĩ tài giỏi, xứng đáng là nhắc tới Tào Tháo là phải nhắc tới Úc. Gia sống không lâu, nên Tháo trông cậy vào Úc, dẫu biết Ú thật ra chẳng theo mình mà lại vẫn nặng lòng với Hán. Tháo đối đãi tốt vs Úc, tuy ko làm vua nhưng Tháo lại 1 tay che trời, hoàng đế ko ngai, cũng xứng đáng lên ngôi vua thế cho Hiến đế. Nhưng "thần" Tuân Úc lại chẳng xem ơn đức của Tháo là "quân ân", mà vs Úc "quân ân" là đối vs nhà Hán, Úc chỉ mượn Tháo để thống nhất thiên hạ, giữ cho nhà Hán được tiếp tục. Úc bày kế cho Tháo mà thật ra là cho nhà Hán. Úc ko dự tiệc mừng đài Đồng tước của Tháo, cũng chứng tỏ Úc quý Tháo nhưng lại chẳng coi Tháo là chủ công, dù kẻ nào xem Tháo mới là vua vẫn mặc kệ. Với nhà Hán, Úc đã làm trọn câu "Quân ân thần khả báo" 1 cách gián tiếp (trực tiếp thì Úc đã đi đời lâu rồi). Nhưng với Tháo, Úc lại là "nhĩ ân ngã kính báo" (ơn của ngài tôi báo đáp 1 cách tôn kính) chỉ vậy thôi.
Đó là đôi lời tại hạ muốn bàn luận thêm về Tuân Úc. Xin các chư vị chỉ giáo thêm.
(Sưu tầm)
"Lưỡng mã tri khu thiên lý địa"
(Đôi ngựa- của nhà vua - đuổi riết tận ngàn dặm đất),
Cao Bá Quát đã đối ngay:
"Song xa truy kích cửu trùng thiên"
(Đôi xe - của họ Cao - đánh đến 9 thầng trời), thật là hào hùng và dũng mãnh.
Tự Đức thì cho cặp ngựa phóng như bay dưới đất, còn đôi xe của thánh Quát thì lại chạy băng trên trời. 1 bên là vua, 1 bên là thần, 2 bên vốn quý trọng nhau nhưng cứ như nước với lửa, tựa như Gia Cát vs Chu Du, nhưng cuối cùng 1 bên chết và bên kia sống - dẫu sau cũng thất bại bởi kẻ khác. Cũng có thể đem so sánh giữa Tào Tháo với Tuân Úc, hay Tào Tháo vs Tư Mã Ý. Ai cũng có chí hướng, và chí hướng mỗi người đều cao và rộng, cơ hồ là cả 9 châu nhà Hán đấy chứ. Nhưng đây ko nói đến cặp Du - Lượng, hãy bàn tới cặp Tháo - Úc. Cả Tào Tháo lẫn Tự Đức đều có những điểm chung: ỷ mình giỏi, có tài, ngồi ngôi cao nhưng lại chẳng thắng được thời. Tự Đức giỏi thơ văn, nhưng ông ta lại thất bại trước Pháp. Tháo giỏi binh pháp, nhưng lại đại bại Xích Bích, đến chết vẫn ko hạ được Lưu Bị và Tôn Quyền. Thánh Quát tài cao, ứng đối trôi chảy, dẫu bị vua hỏi xoắn đáp xoăn vẫn đối đáp được, lại muốn đem tài giúp dân, tuy ông đã chống lại vua nhưng thật ra là tại Tự Đức mà ra, Tự Đức quá hợm tài (thứ cho tại hạ nói thẳng), lại chỉ biết nghĩ ít, còn thánh Quát thì vì lê dân nước Việt hồi đó, và bản thân ông cũng muốn nhà Nguyễn tiếp tục, chỉ là vua phải có trách nhiệm với đất nước hơn. Còn Úc, cũng là vì nhà Hán, vì dân chúng lầm than đang chịu cảnh loạn ly quần hùng cát cứ, vẫn mong cảnh nhất thống, yên bình và nhà Hán được tiếp tục. Nếu đem so, thật ra cũng khá là khập khiễng. Tuân Úc hay thánh Quát đều đem tài ra giúp người mình phò trợ, dẫu biết sau cùng mình tất bị người đó hại, nhưng vẫn cam lòng, vì cả 2 đều muốn đem tài ra giúp dân, vì dân chúng mà chấp nhận. Có lẽ có vị tự hỏi: sao Úc ko theo Lưu Bị, vì Bị ta đang muốn khôi phục lại nhà Hán, tại sao lại chấp nhận theo Tháo? 1 phần là do Úc nghĩ Bị không làm nổi, vs nữa là Úc ko tin Bị thật sự là con cháu nhà Hán, nên ko phò trợ. Và tất nhiên, Úc đến chết vẫn đâu có hối hận là đã ko theo Bị?
Còn nữa, Tự Đức từng cao hứng đọc 2 câu thơ, bị thánh Quát bảo là 2 câu đó ko phải vua nghĩ ra mà nằm trong 1 bài thơ mà ông thuộc từ nhỏ, và đã đọc ra cả bài (thật ra là thánh Quát đã chế thêm 6 câu). 2 câu đó là :
"Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ,
dã ngọa đào hoa lấm tấm khai"
(Trong vườn khề khà tiếng oanh hót
Ngoài đồng lấm tấm hoa đào rơi)
Cũng là chê nhà vua chỉ biết ham thích thơ văn, ko màng thế sự chuyển luân thất thường. Úc cũng lắm lần chê Tháo, công khai hay ko công khai, dẫu là thành thơ hay ko thành thơ. Tài hoa bạc mệnh, tiếc thay! Cả Tuân Úc lẫn thánh Quát đều phải ngậm ngùi nơi 9 suối!
Lần khác, Tự Đức viết:
"Thần khả báo quân ân, tử năng thừa phụ nghiệp"
cũng được thánh Quát sửa lại trật tự chữ nghĩa
"Quân ân thần khả báo, phụ nghiệp tử năng thừa".
Câu thứ 2 có thể xứng với Tôn Quyền, Tào Phi, Tào Tuấn, Tư Mã Chiêu, Tư Mã Sư và cả Tư Mã Viêm, nhưng tại hạ ko bàn câu đó, mà bàn câu trên, "Quân ân thần khả báo".
Nói ra, Tháo rất trọng dụng Úc, quý Úc, xem Úc là bề tôi tốt, là 1 mưu sĩ tài giỏi, xứng đáng là nhắc tới Tào Tháo là phải nhắc tới Úc. Gia sống không lâu, nên Tháo trông cậy vào Úc, dẫu biết Ú thật ra chẳng theo mình mà lại vẫn nặng lòng với Hán. Tháo đối đãi tốt vs Úc, tuy ko làm vua nhưng Tháo lại 1 tay che trời, hoàng đế ko ngai, cũng xứng đáng lên ngôi vua thế cho Hiến đế. Nhưng "thần" Tuân Úc lại chẳng xem ơn đức của Tháo là "quân ân", mà vs Úc "quân ân" là đối vs nhà Hán, Úc chỉ mượn Tháo để thống nhất thiên hạ, giữ cho nhà Hán được tiếp tục. Úc bày kế cho Tháo mà thật ra là cho nhà Hán. Úc ko dự tiệc mừng đài Đồng tước của Tháo, cũng chứng tỏ Úc quý Tháo nhưng lại chẳng coi Tháo là chủ công, dù kẻ nào xem Tháo mới là vua vẫn mặc kệ. Với nhà Hán, Úc đã làm trọn câu "Quân ân thần khả báo" 1 cách gián tiếp (trực tiếp thì Úc đã đi đời lâu rồi). Nhưng với Tháo, Úc lại là "nhĩ ân ngã kính báo" (ơn của ngài tôi báo đáp 1 cách tôn kính) chỉ vậy thôi.
Đó là đôi lời tại hạ muốn bàn luận thêm về Tuân Úc. Xin các chư vị chỉ giáo thêm.
(Sưu tầm)
Mùa Xuân đàm đạo cờ tướng
Khá nhiều người đã lầm khi
cho rằng cờ tướng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Thực ra cờ tướng ra đời
từ loại cờ cổ của người Ấn Độ là Saturanga. Khi đó loại cờ này đi về
phía tây và trở thành cờ vua, về phía đông trở thành cờ tướng. Tuy nhiên
chính người Trung Quốc đã có công rất lớn trong việc hoàn thiện cờ
tướng như ngày nay về hình hài quân cờ cũng như luật chơi.
Theo quan niệm người xưa (và có lẽ ngày nay ít nhiều còn tồn tại), người được coi là Văn võ song toàn thì phải am hiểu tận tường Cầm, kỳ, thi, hoạ. Và trong bốn tiêu chuẩn này thì cờ tướng đứng thứ hai sau Cầm, cho nên “ông ngất ngưỡng” Nguyễn Công Trứ đã viết: “Cầm kỳ thi tửu/ Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay/ Đàn năm cây réo rắt tình tình đây/ Cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó”. Thông qua ván cờ, nhìn cách dùng quân của người chơi, chúng ta ít nhiều đoán được phần nào tính cách của họ.
Cho nên cờ tướng thật sự là thú tao nhã khi người sử dụng nó để thanh lọc tâm hồn chứ không phải chuyện thắng thua: “Đàn trước gió, rượu bên hoa/ Câu thơ trong tuyết, cuộc cờ dưới hoa” (Khuyết danh – Nhị độ mai), hay: “Cờ tiên, rượu thánh ai đong/ Lưu linh, Đế Thích là phường tri âm” (Nguyễn Gia Thiều). Cũng vì thế mà cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã mong tìm bạn qua bàn cờ: “Đem cờ vua Thích vui tìm bạn/ Mượn chén ông Lưu học tỉnh say”. Người ta còn nhỡ mãi nét thanh tao của ván cờ trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du: "Đôi phen nét vẽ câu thơ/ Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa” và "Khi chén rượu, khi cuộc cờ/ Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”.
![]() |
Có thể nói việc khai cuộc
thế cờ rất có ý nghĩa trong việc quyết định đến chiến thắng của người
chơi. Điều này thật sự sáng tỏ vào đầu thế kỷ XX, khi hầu hết các danh
thủ đều khẳng định khai cuộc có tầm quan trọng đặc biệt. Những ai chơi
cờ theo ngẫu hứng trong khai cuộc đều không thể chống cự lại những người
có học tập, nghiên cứu. Chính từ thực tiễn thi đấu các danh thủ đã rút
ra kết luận đó. Nhưng rồi lại có những quan điểm lệch lạc khác khi có
một số người lại đề cao quá mức giai đoạn này. Cho nên đã có lúc nổi lên
những cuộc tranh lụân xung quanh nhận định, đánh giá lại vị trí và tầm
quan trọng của khai cuộc. Và họ thấy rằng cả ba giai đoạn khai - trung - tàn cuộc đều có ý nghĩa và tầm quan trọng nhất định, và các giai đoạn đều có mối quan hệt khăng khít với nhau. Nếu khai cuộc tốt thì có trung cuộc thuận lợi để dẫn đến tàn cuộc thắng lợi. Tuy nhiên trong khai cuộc có khá nhiều cạm bẫy mà người chơi dễ sơ ý mắc phải khi đã Hạ thủ bất hoàn, do đó cần phải nghiên cứu kĩ nó để tránh thất bại không đáng vì “Lạc nước hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời một tốt cũng thành công” (Hồ Chí Minh).
Vì thế nên người Trung Quốc có những quy định khắt khe trong chơi cờ như Chiếu bất quá tam,
vì đánh người là hành vi xấu nên đánh tướng đến ba lần thì càng không
ra thể thống gì nữa, đánh cờ nếu đã chiếu tướng đến ba lần mà không bắt
được tướng thì phải biết xấu hổ và hãy thôi chiếu. Số ba trong cờ tướng
còn có ý nghĩa triết lý là: Trời có ba cái quý: Nhật - Nguyệt - Tinh (Mặt trời, Mặt trăng, và Sao). Người có ba cái quý Thiên - Địa - Nhân
(Trời, Đất, Người) bao trùm hết cả muôn loài vạn vật. Nếu ba cái quý ấy
mà hết thì tất bị hư hoại. Cho nên nếu một quân cờ chiếu tướng đến ba
lần mà không bắt được tướng là coi như đã hết thế rồi, nếu tiếp tục nữa
là trái với đạo lý. Quân xe không chiếu hậu vì xe tượng trưng cho
người Quân tử mà bậc quân tử thì không bao giờ đánh sau lưng người khác
hoặc là ví kẻ cùng đường cho nên quân xe không chiếu hậu. Dân gian còn
truyền tai nhau câu chuyện của Quan Công qua bốn câu thơ: "Tào Man
thua chạy đến Hoa Dung/ Khéo đâu đường hẻm gặp Quan Công/ Chỉ vì tình
nghĩa còn ghi tạc/ Nên để rồng ra thoát xuống sông”.
Xung quanh bàn cờ tướng có khá nhiều giai thoại hấp dẫn như Thua cờ mất Hoa Sơn giữa hai kỳ thủ là Triệu Khuông Dẫn và Hy di Đạo sỹ Trần Đoàn; câu chuyện cao thủ trứ danh Chu Tấn Trinh đánh cờ với vị sư trụ trì ngôi chùa cổ ở Trung Quốc. Nước ta cũng có Chuyện ở Bích Mai Trang với ván cờ giữ chủ ngôi biệt thự này với một nữ kỳ thủ trẻ. Ván cờ giữa Cao Bá Quát và vua Tự Đức hay câu chuyện đánh cờ của Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu…
Là môn giải trí mang tính
trí tuệ và đượm vẻ tao nhã, không những rèn luyện trí óc cho người chơi
cờ mà còn dạy người chơi cờ cách đối nhân xử thế, dạy cho họ biết Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí – Tín. Ngày xuân, ván cờ càng thêm thanh tao: “Trải
Hạ Thu Đông gặp tiết Xuân về càng phấn chấn/ So Cầm Thi Họa thêm bàn Cờ
nữa mới thanh cao - Tiểu liệt, Đại liệt giao tranh kịch liệt/ Bình xa,
Hoành xa chiến lược cao xa”./.
Xuân Khánh
Sứ thần nào của nước ta từng đánh bại thần cờ Trung Quốc?
Khi đi sứ sang Trung Quốc, bằng tài
năng và bản lĩnh hơn người, nhiều sứ thần nước ta đã góp phần làm vẻ
vang đất nước, để lại câu đối để đời, những áng văn hay khiến các nước
lân bang phải khâm phục.
Câu 1: Sứ thần nào của nước ta thà chết chứ không để nhục mệnh vua?
A.Nguyễn Sư Mạnh
B.Hồ Tông Thốc
C.Giang Văn Minh
Đáp án chính xác là Giang Văn Minh.
Giang
Văn Minh (1573-1638), quê ở tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ (Hà Nội ngày
nay), năm 1628, ông thi đỗ Thám hoa. Vì khoa thi này không có trạng
nguyên, bảng nhãn nên ông là người đỗ đầu. Giang Văn Minh cũng là người
đỗ Thám hoa cao tuổi nhất trong lịch sử khoa cử phong kiến Việt Nam.
Năm
1637, ông được cử đi sứ sang Trung Quốc, trong chuyến đi này, ông đã
đối đáp yêu cầu vua Minh Tư Tông xóa bỏ lệ cống người vàng Liễu Thăng.
Ông cũng thẳng thắn đối đáp với vua Minh để bảo vệ danh dự cho dân tộc.
Bị
sứ thần Đại Việt làm cho bẽ mặt, vua Minh đã ra lệnh hãm hại ông. Khi
thi hài được mang về nước, đích thân vua Lê, chúa Trịnh đến viếng linh
cửu và truy tặng câu đối "Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh
hùng" (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng
thiên cổ).
Câu 2. Sứ thần nào của nước ta nổi tiếng với giai thoại viết tên 100 danh thần Trung Quốc chỉ bằng hai câu thơ?
A.Nguyễn Quốc Trinh
Đáp án chính xác là Nguyễn Quốc Trinh.
Trong
cuộc thi với sứ thần Triều Tiên do vua Minh đề xuất: bảo hai sứ thần
viết tên 100 danh thần của Trung Quốc, ai viết xong trước sẽ được phong
làm “lưỡng quốc danh thần”, còn không sẽ bị cho là kẻ ngu dốt. Trong khi
sứ Cao Ly cặm cụi viết thì Nguyễn Quốc Trinh vẫn ung dung ngồi cười,
chờ sứ thần nước bạn viết gần xong, ông mới cầm thẻ tre viết 2 câu thơ:
Khổng Môn thất thập nhị hiền / Vân Đài nhị thập bát tướng. Nghĩa là “Cửa
Khổng có bảy mươi hai hiền nhân / Vân Đài ghi hai mươi tám tướng giỏi”.
Ý
hai câu thơ trên đều dẫn theo tích của Trung Quốc, thời Xuân Thu, Khổng
Tử có 72 học trò nổi tiếng giỏi. Còn Vân Đài là đài cao được xây vào
thời vua Hán Vũ Đế, trên đó có khắc ghi 28 danh tướng dũng lược của
triều Hán. Như vậy, qua hai câu thơ là đủ 100 người tài giỏi của Trung
Quốc.
Tài năng của Nguyễn Quốc Trinh khiến vua tôi Trung Quốc khen ông hết lời, phong làm lưỡng quốc danh thần.
B.Nguyễn Giản Thanh
C.Nguyễn Cư Trinh
Câu 3. Sứ thần nước Việt nào có công mang nghề in về cho nước ta?
A.Nguyễn Khoái
B.Lương Nhữ Hộc
Đáp án chính xác là Lương Nhữ Hộc.
Lương
Nhữ Hộc quê ở xã Hồng Liễu, huyện Trường Tân (Hải Dương ngày nay), đỗ
Thám hoa năm 1442. Nhờ tài năng hơn người, năm 1659, ông được triều đình
cử đi sứ phương Bắc. Trong chuyến đi này, ông đã đóng giả thành thương
khách và học được nghề in sách. Đây chính là nghề mà người Trung Quốc đã
có công phát minh ra. Sau chuyến đi sứ trở về, ông truyền lại nghề cho
nhân dân quê ông, từ đây kỹ thuật in ấn phát triển lan sang những vùng
khác. Về sau, Lương Nhữ Hộc được suy tôn là ông tổ của nghề in ở nước
ta.
C.Nguyễn Nghiêu Tư
Câu 4. Sứ thần nào từng giúp vua Minh cầu mưa, giải hạn?
A.Phùng Khắc Khoan
B.Phan Công Hành
C.Nguyễn Nghiêu Tư
Đáp án chính xác là Nguyễn Nghiêu Tư.
Nguyễn
Nghiêu Tư, người huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh là trạng nguyên đời vua Lê
Nhân Tông, gia đình ông có bố làm nghề mổ lợn nên còn được gọi là
“trạng Lợn”. Theo sách Sứ thần Việt Nam, ngày ấy, ở Trung Quốc hạn hán
kéo dài, nhân có "trạng Lợn" sang thăm, vua Minh mời trạng cầu đảo để
thử tài. Trạng nhận lời, yêu cầu dựng đàn uy nghiêm để ông cầu đảo. Khi
thấy cỏ gà lang xuất hiện, biết sắp có mưa, trạng bèn lên đàn làm lễ,
ông khấn theo cách nói lái: "Hường binh, hòa binh, tam tinh, kẹo tinh,
bát tinh, linh tinh tinh...".Vua Minh nghe thấy khiếp đảm, bái phục
trạng uyên thâm, tỏ tường thiên văn, thuộc hết ngôi thứ các vị tinh tú
trên trời. Khóa lễ vừa xong, lập tức mưa như trút nước, khiến vua Minh
đã phục lại càng phục hơn.
Câu 5. Sứ thần nào của nước ta từng đánh bại thần cờ Trung Quốc?
A.Mạc Đĩnh Chi
Đáp án chính xác là Mạc Đĩnh Chi.
Mạc
Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, Hải Đông (tỉnh Hải
Dương hiện nay). Năm 1304 đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ
12, triều đình mở khoa thi ông đỗ Trạng nguyên. Năm 1322, Mạc Đĩnh Chi
được đi sứ sang nhà Nguyên lần thứ 2. Một lần cưỡi ngựa dạo phố, ông đi
qua một ngôi nhà trước có đề bảng “trạng cờ xứ Hoa”. Vốn cũng là người
mê cờ, Mạc Đĩnh Chi vào nhà cùng đánh cờ. Do tài nghệ đều siêu quần nên
ván cờ kéo dài đến 3 ngày. Tối ngày thứ 3, Mạc Đĩnh Chi thấy cờ của mình
núng thế, cũng đã tới giờ nghỉ nên ông xin ngừng ván cờ để sáng hôm sau
đánh tiếp. Đêm đó, Mạc Đĩnh Chi miên man suy nghĩ để tìm cách thoát
khỏi thế khó. Ông dựng lại bàn cờ trong óc và cuối cùng chợt phát hiện
ra nước thí xe đánh tốt quyết định. Sáng hôm sau, Mạc Đĩnh Chi đi nước
cờ quyết định, khiến chủ nhà thốt lên rằng: “Đúng là nước cờ thần, xin
chịu thua ngài”.
B.Nguyễn Hiền
C.Lương Thế Vinh
Câu 6. Sứ thần nào đã có công mang nghề thêu về cho nước ta?
A.Phạm Đôn Lễ
B.Lê Công Hành
Đáp án chính xác là Lê Công Hành.
Lê
Công Hành (1606-1661) là trạng nguyên nhà Hậu Lê. Năm 1646, ông được cử
đi sứ sang Trung Quốc. Trong chuyến đi sứ này ông đã học được nghề
thêu, mang về truyền lại cho người dân. Nhờ đó, ông được suy tôn là ông
tổ của nghề thêu.
C.Trịnh Tuệ
Tiểu Uyên







Nhận xét
Đăng nhận xét