KÝ ỨC CHÓI LỌI (Những anh hùng đặc công) 120/c/3
(ĐC sưu tầm trên NET)
1.316 (7). Trận chiến ngã ba Bà Chiêm; trận chi khu Bù Đốp và chiến trường K
N 1.316 (8). Những chiến công của D28 trên chiến trường K
1.316 (9) "Địch liều chết phá vây, tháo chạy"
Những đặc công nước tinh nhuệ huyền thoại của lịch sử Việt Nam
Trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và giành độc lập dân tộc, bằng trí thông minh, lòng quả cảm, người Việt đã dùng nhiều cách đánh sáng tạo, linh hoạt khiến cho quân giặc bất ngờ, kinh sợ. Một trong những cách đánh đó là sử dụng đội quân “đặc công nước” tinh nhuệ.
Văn hóa người Việt gắn bó với nước, với sông biển từ rất lâu đời và
trong lịch sử dựng nước và giữ nước của mình dân tộc ta đã sử dụng sở
trường giỏi thủy chiến để làm lên những chiến thắng vang dội, như trận
Bạch Đằng lần thứ nhất thời Ngô, trận Bạch Đằng lần thứ hai thời Tiền
Lê, trận Vân Đồn và trận Bạch Đằng lần thứ ba thời Trần…
Người Trung Quốc có câu: “Nam di chu, Bắc di mã” (Nghĩa là: Người phường Nam di chuyển bằng thuyền, người phương Bắc đi lại bằng ngựa) phần nào nói lên sở trường của từng vùng, từng dân tộc. Với lợi thế ấy, trong biên chế quân đội của các triều đại phong kiến Việt Nam, thủy quân có vai trò cực kỳ quan trọng.
Nghệ thuật “đặc công nước” ở đây là việc sử dụng những người lính thuỷ giỏi nghề bơi lặn, dùng dùi sắt nhọn đục thủng thuyền đối phương, hoặc dùng thuyền đặc chủng bí mật bất ngờ đánh hoả công. Trong sách “Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý”, tác giả Hoàng Xuân Hãn dẫn nội dung một tấu sớ của viên quan tên là Triệu Bổ Chi dâng lên vua Tống có viết: “Vả lại người Giao Chỉ giỏi thuỷ chiến. Từ xưa người Việt lặn xuống nước đội thuyền địch để lập úp. Đỗ Mục nói chúng có kẻ đi chìm dưới đáy bể 50 dặm mà không thở. Vả nay, thuyền buôn thường gặp giặc bể, bị chúng lặn dưới nước đục thuyền”.
Nội dung bản tấu đó phản ánh tâm trạng lo sợ của nhà Tống trước thủy quân của nước ta trong cuộc chiến tranh giữa Đại Việt với Tống triều năm Ất Mão (1075) - Bính Thìn (1076).
Một nhân vật nổi tiếng trong quân đội thời Trần về tài “lặn xuống nước đục chìm thuyền giặc” đó là Yết Kiêu, một gia nô của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Nhiều tư liệu ghi chép về Yết Kiêu, như trong sách Lĩnh Nam chích quái liệt truyện gọi ông là dị nhân và có viết về chiến công ấy như sau:
“Khi ấy giặc Bắc cưỡi mấy trăm chiếc thuyền vượt biển tới cửa Vạn Ninh, người trong nước rất sợ hãi, tìm kẻ có thể đánh lui giặc Bắc ở khắp trong ngoài để phong thưởng. Dị nhân bèn lặn vào trong biển, đến dưới thuyền dùng sắt nhọn mà đục, thuyền vỡ bị nước đánh chìm. Giặc Bắc sợ hãi không hiểu tại sao bèn lấy thủy tinh soi, từ cao nhìn xuống đáy biển thấy có người ngắm đục ở bên cạnh thuyền vội bủa lưới thép để bắt. Dị nhân bèn bị bắt sống. Giặc cởi trói rồi hỏi: Nước Nam có bao nhiêu đứa giỏi như mày? Đáp: Kẻ giỏi như ta rất nhiều, hiện nay đang ở dưới bể đục thuyền. Ta chẳng may bị bắt, Thượng quốc nếu dùng đến ta, ta sẽ dẫn đến chỗ bọn họ, thả sức mà bắt. Giặc Bắc tin lời sai đem thuyền nhẹ để đi. Dị nhân thừa cơ lúc sơ hở nhảy xuống nước trốn mất. Bọn giặc trong thuyền nhìn nhau không biết làm thế nào.
Khi ấy giặc Bắc thấy thuyền chìm rất nhiều, lại nghe nói nước ta nhiều người giỏi lặn nước bèn không dám ở lại, đưa toàn quân trở về phương Bắc”.
Nhiều người thường nghĩ chỉ có mỗi Yết Kiêu là có tài năng khác thường như vậy, tuy nhiên qua câu trả lời quân giặc của ông mà một số thư tịch đã ghi lại thì người đục thuyền giặc không chỉ có mình Yết Kiêu. Thực tế thì điều này hoàn toàn có cơ sở, mặc dù chính sử không chép nhưng giai thoại, thần tích tại đình, đền thờ phụng một số nhân vật thời Trần đã cho biết điều đó.
Hay như nhân vật Hoàng Tá Thốn quê ở Văn Tràng, (nay thuộc xã Long Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An). Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết ông là Nội thư gia đời Trần, có công đánh giặc Nguyên Mông nên được phong tước Minh Tự, khi mất được ban vị hiệu là Sát Hải đại tướng quân Hoàng Minh Tự đại liêu, được nhiều nơi ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh lập đền thờ. Ông là người rất giỏi bơi lặn, thường lặn xuống nước đục thuyền giặc với cách rất đặc biệt, đục xong lỗ nào lại lấy dẻ nút lại, được bốn năm lỗ rồi mới cùng lúc kéo các nút dẻ ra làm nước ộc nhanh vào thuyền, quân giặc không thể bịt lại được, thuyền đắm rất nhanh.
Do thiếu thốn về nguồn tư liệu và ít được nhắc đến trong sử sách nên hậu thế khó mà biết rõ từ triều Hồ trở về sau việc tổ chức cũng như hoạt động của lực lượng “đặc công nước” diễn ra như thế nào. Tuy nhiên có một điều chắc chắn rằng, chiến công của thủy quân nước Việt trong các cuộc chiến chống ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc, có phần đóng góp không nhỏ của những “kình ngư” dũng cảm, họ là những anh hùng ẩn danh trong lịch sử.
Theo Lê Hùng Phong (Kiến Thức)Người Trung Quốc có câu: “Nam di chu, Bắc di mã” (Nghĩa là: Người phường Nam di chuyển bằng thuyền, người phương Bắc đi lại bằng ngựa) phần nào nói lên sở trường của từng vùng, từng dân tộc. Với lợi thế ấy, trong biên chế quân đội của các triều đại phong kiến Việt Nam, thủy quân có vai trò cực kỳ quan trọng.
Đục chìm thuyền giặc. (Hình minh họa – Nguồn: truyentranhvn).
Bên cạnh đầu tư phát triển cho thuỷ quân nói chung, các vương triều
còn quan tâm đào tạo, huấn luyện, phát triển một lực lượng đặc biệt. Sử
sách không ghi chép nhiều về lực lượng này, không rõ lực lượng ấy xuất
hiện từ thời nào, nhưng muộn nhất cũng là vào thời nhà Lý. Có thể nói
thủy quân triều Lý hùng mạnh một phần cũng nhờ họ biết phát huy nghệ
thuật “đặc công nước”. Đây là hình thức có từ lâu đời và được kế thừa,
phát triển lên tầm cao mới.Nghệ thuật “đặc công nước” ở đây là việc sử dụng những người lính thuỷ giỏi nghề bơi lặn, dùng dùi sắt nhọn đục thủng thuyền đối phương, hoặc dùng thuyền đặc chủng bí mật bất ngờ đánh hoả công. Trong sách “Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý”, tác giả Hoàng Xuân Hãn dẫn nội dung một tấu sớ của viên quan tên là Triệu Bổ Chi dâng lên vua Tống có viết: “Vả lại người Giao Chỉ giỏi thuỷ chiến. Từ xưa người Việt lặn xuống nước đội thuyền địch để lập úp. Đỗ Mục nói chúng có kẻ đi chìm dưới đáy bể 50 dặm mà không thở. Vả nay, thuyền buôn thường gặp giặc bể, bị chúng lặn dưới nước đục thuyền”.
Nội dung bản tấu đó phản ánh tâm trạng lo sợ của nhà Tống trước thủy quân của nước ta trong cuộc chiến tranh giữa Đại Việt với Tống triều năm Ất Mão (1075) - Bính Thìn (1076).
Một nhân vật nổi tiếng trong quân đội thời Trần về tài “lặn xuống nước đục chìm thuyền giặc” đó là Yết Kiêu, một gia nô của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Nhiều tư liệu ghi chép về Yết Kiêu, như trong sách Lĩnh Nam chích quái liệt truyện gọi ông là dị nhân và có viết về chiến công ấy như sau:
“Khi ấy giặc Bắc cưỡi mấy trăm chiếc thuyền vượt biển tới cửa Vạn Ninh, người trong nước rất sợ hãi, tìm kẻ có thể đánh lui giặc Bắc ở khắp trong ngoài để phong thưởng. Dị nhân bèn lặn vào trong biển, đến dưới thuyền dùng sắt nhọn mà đục, thuyền vỡ bị nước đánh chìm. Giặc Bắc sợ hãi không hiểu tại sao bèn lấy thủy tinh soi, từ cao nhìn xuống đáy biển thấy có người ngắm đục ở bên cạnh thuyền vội bủa lưới thép để bắt. Dị nhân bèn bị bắt sống. Giặc cởi trói rồi hỏi: Nước Nam có bao nhiêu đứa giỏi như mày? Đáp: Kẻ giỏi như ta rất nhiều, hiện nay đang ở dưới bể đục thuyền. Ta chẳng may bị bắt, Thượng quốc nếu dùng đến ta, ta sẽ dẫn đến chỗ bọn họ, thả sức mà bắt. Giặc Bắc tin lời sai đem thuyền nhẹ để đi. Dị nhân thừa cơ lúc sơ hở nhảy xuống nước trốn mất. Bọn giặc trong thuyền nhìn nhau không biết làm thế nào.
Khi ấy giặc Bắc thấy thuyền chìm rất nhiều, lại nghe nói nước ta nhiều người giỏi lặn nước bèn không dám ở lại, đưa toàn quân trở về phương Bắc”.
Nhiều người thường nghĩ chỉ có mỗi Yết Kiêu là có tài năng khác thường như vậy, tuy nhiên qua câu trả lời quân giặc của ông mà một số thư tịch đã ghi lại thì người đục thuyền giặc không chỉ có mình Yết Kiêu. Thực tế thì điều này hoàn toàn có cơ sở, mặc dù chính sử không chép nhưng giai thoại, thần tích tại đình, đền thờ phụng một số nhân vật thời Trần đã cho biết điều đó.
Yết Kiêu mưu trí thoát khỏi tay giặ. (Hình minh họa – Nguồn: vscso.org).
Tại phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có ngôi đền
thờ Trương Long quê ở đây, nơi mà xưa kia gọi là phường thủy cơ Bố Hải
Khẩu, phủ Kiến Xương, xứ Sơn Nam Hạ. Truyền rằng ông là người có sức
khỏe, bơi lội giỏi, được sung vào thủy quân của triều đình; ông từng lập
một đội chuyên đục thuyền giặc và có đóng góp trong trận Bạch Đằng lịch
sử diễn ra vào tháng 3 năm Mậu Tý (1288), nhờ đó Trương Long được triều
đình phong làm Hiển Hựu hầu.Hay như nhân vật Hoàng Tá Thốn quê ở Văn Tràng, (nay thuộc xã Long Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An). Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết ông là Nội thư gia đời Trần, có công đánh giặc Nguyên Mông nên được phong tước Minh Tự, khi mất được ban vị hiệu là Sát Hải đại tướng quân Hoàng Minh Tự đại liêu, được nhiều nơi ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh lập đền thờ. Ông là người rất giỏi bơi lặn, thường lặn xuống nước đục thuyền giặc với cách rất đặc biệt, đục xong lỗ nào lại lấy dẻ nút lại, được bốn năm lỗ rồi mới cùng lúc kéo các nút dẻ ra làm nước ộc nhanh vào thuyền, quân giặc không thể bịt lại được, thuyền đắm rất nhanh.
Đội kình ngư tung hoành dưới mặt nước. (Hình minh họa – Nguồn: truyentranhvn).
Một số người khác cũng tài giỏi không kém, đó là Đỗ Hành, quê ở hương
Cổ Hoằng, lộ Thanh Hoa (nay là thôn Nhân Mỹ, xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng
Hóa, Thanh Hóa), người bắt sống hai tướng lĩnh cao cấp của của Nguyên
Mông là Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc. Hay như Hoàng Minh, quê ở trang Vạn
Phấn, huyện Thụy Anh, phủ Long Hưng (nay là thôn Phấn Vũ, xã Thụy Xuân,
huyện Thái Thụy, Thái Bình) chỉ huy một đội chuyên làm nhiệm vụ thám
thính và đục thuyền giặc. Ông đã lập công trong trận Đại Bàng (cửa biển
thuộc xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, Thái Bình ngày nay) vào ngày mồng
8 tháng giêng năm Mậu Tý (1288)…Do thiếu thốn về nguồn tư liệu và ít được nhắc đến trong sử sách nên hậu thế khó mà biết rõ từ triều Hồ trở về sau việc tổ chức cũng như hoạt động của lực lượng “đặc công nước” diễn ra như thế nào. Tuy nhiên có một điều chắc chắn rằng, chiến công của thủy quân nước Việt trong các cuộc chiến chống ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc, có phần đóng góp không nhỏ của những “kình ngư” dũng cảm, họ là những anh hùng ẩn danh trong lịch sử.
Có một người lính đặc công đã trở thành huyền thoại như thế
Trận đánh như huyền thoại đặc công tại ngã ba sông Vệ và sông Thoa
Ngày đăng: 21/09/2016 |
Lượt xem: 2394
Đến nay, nhiều CCB vẫn còn nhớ trận đánh như huyền thoại của 4
chiến sĩ đặc công tại ngã ba sông Vệ và sông Thoa, thuộc xã Đức Thọ (Mộ
Đức, Quảng Ngãi) năm 1964 mà chính quân địch hồi đó đã tuyên truyền “bị
một tiểu đoàn Việt Cộng tấn công”.
Tổ đặc công năm xưa gồm có Trà Thanh Lợi, Phạm Đình Nghiệp, Trần Cảm và Nguyễn Văn Ê, do Trà Thanh Lợi làm tổ trưởng. Người tổ trưởng ấy nay đã tròn 80 tuổi, hiện trú tại phường Hòa Cường Nam (Hải Châu-Đà Nẵng). Năm 1963, ông Lợi là Đội trưởng Đội đặc công 67 từ miền Bắc vào tăng cường cho chiến trường Quảng Ngãi, trú quân tại huyện miền núi Ba Tơ. Đầu năm 1964, ông Lợi được giao nhiệm vụ trực tiếp làm tổ trưởng, chỉ huy 3 chiến sĩ đặc công, luồn sâu vào hậu cứ địch ở huyện Mộ Đức để tổ chức tấn công địch.

Đại tá, CCB Trà Thanh Lợi
Giữa tháng 2-1964, tổ đặc công được giao liên dẫn đường, luồn lách qua nhiều bồn bốt địch, bí mật vào ém quân trong nhà bà Anh ở thôn Phú An, xã Đức Thọ. Bà Anh và cô con gái tên Hương đều là cơ sở cách mạng, nhà ở gần mục tiêu tấn công. Hằng ngày, 4 anh em đặc công ở trên trần nhà. Bọn địch đi tuần tiễu, vào nhà sục sạo. Bà Anh và Hương khéo léo ứng phó. Hương xinh đẹp lại mềm mỏng chuyện trò, hút hồn lính địch. Nhờ vậy, 4 anh em ban ngày ẩn nấp an toàn ở trên la phông, ban đêm đi đào hầm bí mật dưới lũy tre làng, bên bờ sông Thoa.
Mấy hôm sau, khi hầm bí mật đã làm xong, 4 anh em chuyển ra hầm trú ẩn, hai mẹ con bà Anh lại thay nhau tiếp tế cơm nước. Ông Lợi cùng các đồng chí của mình ban ngày ở hầm, ban đêm đi trinh sát chốt địch tại đập bến Thóc ở khu vực ngã ba sông Vệ và sông Thoa. Tại mục tiêu này, quân địch khá chủ quan vì nó nằm sâu trong vùng kiểm soát của chúng. Vì vậy, khi phát hiện một đại đội bảo an từ Nghĩa Hành xuống trú quân qua đêm trong khu nhà xây tại đập bến Thóc, tổ đặc công liền quyết định tấn công.
Ngay trong đêm ấy, tổ hợp đồng với cơ sở tiếp vận và khẩn trương làm mọi công tác chuẩn bị, rồi xuất phát lúc 0 giờ 45 phút ngày 27-2-1964. Từ phía đông, cách chốt địch khoảng vài trăm mét, 4 chiến sĩ nhanh chóng tiến đến mục tiêu. Đến 1 giờ 30 phút, toàn tổ đã áp sát địch. Đồng chí Trần Cảm nhẹ nhàng tiếp cận phía sau tên lính gác, nhưng còn cách 2 mét thì tên địch bất ngờ quay mặt lại. Cảm liền nổ súng tiêu diệt. Lập tức, cả tổ ném thủ pháo, quét AK vào bên trong mục tiêu. Hàng chục tên địch đền tội ngay từ phút đầu. Chúng kêu gào hoảng hốt. Nhiều tên vọt ra cửa, tháo chạy. Ông Lợi thét to: “Đại đội 1 vòng bên phải! Đại đội 2 vòng bên trái! Đại đội 3 chặn địch phía sau! Toàn tiểu đoàn kiên quyết tiêu diệt địch!”. Nghe thế, bọn địch càng thêm hoảng sợ, tháo chạy tán loạn. Nhiều tên liều chết nhảy xuống sông Vệ hòng bơi qua sông, có tên bị nước cuốn trôi. Các chiến sĩ đặc công vừa đánh, vừa liên tục hô to: “Hàng sống, chống chết! Hàng sống, chống chết!”. Quân địch kinh hoàng, kêu gào thảm thiết, một số chạy thoát. Hàng chục tên run rẩy buông súng đầu hàng.
Địch đầu hàng khá nhiều. Đề phòng chúng phát hiện quân ta ít sẽ chống trả, ông Lợi ra lệnh: “Giơ tay lên, quay mặt ra phía bờ sông! Tên nào trái lệnh, bắn chết ngay!”. Mấy chục tên địch cuống cuồng tuân lệnh. Các chiến sĩ ta liên tục nổ súng uy hiếp, khiến bọn chúng không tên nào dám quay lại nhìn. Ông Lợi bắn đạn lửa theo tín hiệu hợp đồng với cơ sở và tiếp tục hô “Đại đội 1…”, “Đại đội 2…”, “Toàn tiểu đoàn…”. Trong khi đó, 3 chiến sĩ đặc công nhanh nhẹn thu vũ khí. Lát sau, anh em cơ sở đã đến, cùng phối hợp thu chiến lợi phẩm và khẩn trương rời khỏi trận địa. “Trận đó, ta thu hơn 40 súng các loại và 2 máy thông tin vô tuyến điện, còn lại cho phá hủy, vì không đủ người vận chuyển”, vị nhân chứng lịch sử Trà Thanh Lợi hào hứng nói.
Sáng hôm sau, bọn địch hùng hổ càn quét, lùng sục, bắn phá khắp xã Đức Thọ và các vùng phụ cận. Chúng ầm ĩ kháo nhau: “Đêm qua, một tiểu đoàn Việt Cộng đã tấn công, làm thiệt hại nặng một đại đội Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tại đập bến Thóc”! Và, trong khi địch điên cuồng sục sạo khắp nơi, thì 4 anh em đặc công đã trở về trú ẩn an toàn trong hầm bí mật dưới rặng tre dày mà cửa hầm ở dưới mặt nước sông Thoa.
*Box: Hai đồng chí Trần Cảm và Nguyễn Văn Ê đã hy sinh trong các trận đánh sau đó. Chiến sĩ Phạm Đình Nghiệp lập nhiều chiến công xuất sắc, đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, hiện trú tại phường Nguyễn Nghiêm, Thành phố Quảng Ngãi. Còn ông Lợi tiếp tục chiến đấu, công tác trong quân đội, về hưu năm 1990 với quân hàm đại tá. Sau ngày đất nước thống nhất, ông Lợi và ông Nghiệp đã nhiều lần về thăm chiến trường xưa và thường đến Nghĩa trang liệt sĩ huyện Mộ Đức thắp hương tưởng niệm bà Anh, cô Hương cùng những đồng đội đã hy sinh.
Đại tá Trà Thanh Lợi (phải) và Trung tá, AHLLVTND Phạm Đình Nghiệp
Tổ đặc công năm xưa gồm có Trà Thanh Lợi, Phạm Đình Nghiệp, Trần Cảm và Nguyễn Văn Ê, do Trà Thanh Lợi làm tổ trưởng. Người tổ trưởng ấy nay đã tròn 80 tuổi, hiện trú tại phường Hòa Cường Nam (Hải Châu-Đà Nẵng). Năm 1963, ông Lợi là Đội trưởng Đội đặc công 67 từ miền Bắc vào tăng cường cho chiến trường Quảng Ngãi, trú quân tại huyện miền núi Ba Tơ. Đầu năm 1964, ông Lợi được giao nhiệm vụ trực tiếp làm tổ trưởng, chỉ huy 3 chiến sĩ đặc công, luồn sâu vào hậu cứ địch ở huyện Mộ Đức để tổ chức tấn công địch.
Đại tá, CCB Trà Thanh Lợi
Giữa tháng 2-1964, tổ đặc công được giao liên dẫn đường, luồn lách qua nhiều bồn bốt địch, bí mật vào ém quân trong nhà bà Anh ở thôn Phú An, xã Đức Thọ. Bà Anh và cô con gái tên Hương đều là cơ sở cách mạng, nhà ở gần mục tiêu tấn công. Hằng ngày, 4 anh em đặc công ở trên trần nhà. Bọn địch đi tuần tiễu, vào nhà sục sạo. Bà Anh và Hương khéo léo ứng phó. Hương xinh đẹp lại mềm mỏng chuyện trò, hút hồn lính địch. Nhờ vậy, 4 anh em ban ngày ẩn nấp an toàn ở trên la phông, ban đêm đi đào hầm bí mật dưới lũy tre làng, bên bờ sông Thoa.
Mấy hôm sau, khi hầm bí mật đã làm xong, 4 anh em chuyển ra hầm trú ẩn, hai mẹ con bà Anh lại thay nhau tiếp tế cơm nước. Ông Lợi cùng các đồng chí của mình ban ngày ở hầm, ban đêm đi trinh sát chốt địch tại đập bến Thóc ở khu vực ngã ba sông Vệ và sông Thoa. Tại mục tiêu này, quân địch khá chủ quan vì nó nằm sâu trong vùng kiểm soát của chúng. Vì vậy, khi phát hiện một đại đội bảo an từ Nghĩa Hành xuống trú quân qua đêm trong khu nhà xây tại đập bến Thóc, tổ đặc công liền quyết định tấn công.
Ngay trong đêm ấy, tổ hợp đồng với cơ sở tiếp vận và khẩn trương làm mọi công tác chuẩn bị, rồi xuất phát lúc 0 giờ 45 phút ngày 27-2-1964. Từ phía đông, cách chốt địch khoảng vài trăm mét, 4 chiến sĩ nhanh chóng tiến đến mục tiêu. Đến 1 giờ 30 phút, toàn tổ đã áp sát địch. Đồng chí Trần Cảm nhẹ nhàng tiếp cận phía sau tên lính gác, nhưng còn cách 2 mét thì tên địch bất ngờ quay mặt lại. Cảm liền nổ súng tiêu diệt. Lập tức, cả tổ ném thủ pháo, quét AK vào bên trong mục tiêu. Hàng chục tên địch đền tội ngay từ phút đầu. Chúng kêu gào hoảng hốt. Nhiều tên vọt ra cửa, tháo chạy. Ông Lợi thét to: “Đại đội 1 vòng bên phải! Đại đội 2 vòng bên trái! Đại đội 3 chặn địch phía sau! Toàn tiểu đoàn kiên quyết tiêu diệt địch!”. Nghe thế, bọn địch càng thêm hoảng sợ, tháo chạy tán loạn. Nhiều tên liều chết nhảy xuống sông Vệ hòng bơi qua sông, có tên bị nước cuốn trôi. Các chiến sĩ đặc công vừa đánh, vừa liên tục hô to: “Hàng sống, chống chết! Hàng sống, chống chết!”. Quân địch kinh hoàng, kêu gào thảm thiết, một số chạy thoát. Hàng chục tên run rẩy buông súng đầu hàng.
Địch đầu hàng khá nhiều. Đề phòng chúng phát hiện quân ta ít sẽ chống trả, ông Lợi ra lệnh: “Giơ tay lên, quay mặt ra phía bờ sông! Tên nào trái lệnh, bắn chết ngay!”. Mấy chục tên địch cuống cuồng tuân lệnh. Các chiến sĩ ta liên tục nổ súng uy hiếp, khiến bọn chúng không tên nào dám quay lại nhìn. Ông Lợi bắn đạn lửa theo tín hiệu hợp đồng với cơ sở và tiếp tục hô “Đại đội 1…”, “Đại đội 2…”, “Toàn tiểu đoàn…”. Trong khi đó, 3 chiến sĩ đặc công nhanh nhẹn thu vũ khí. Lát sau, anh em cơ sở đã đến, cùng phối hợp thu chiến lợi phẩm và khẩn trương rời khỏi trận địa. “Trận đó, ta thu hơn 40 súng các loại và 2 máy thông tin vô tuyến điện, còn lại cho phá hủy, vì không đủ người vận chuyển”, vị nhân chứng lịch sử Trà Thanh Lợi hào hứng nói.
Sáng hôm sau, bọn địch hùng hổ càn quét, lùng sục, bắn phá khắp xã Đức Thọ và các vùng phụ cận. Chúng ầm ĩ kháo nhau: “Đêm qua, một tiểu đoàn Việt Cộng đã tấn công, làm thiệt hại nặng một đại đội Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tại đập bến Thóc”! Và, trong khi địch điên cuồng sục sạo khắp nơi, thì 4 anh em đặc công đã trở về trú ẩn an toàn trong hầm bí mật dưới rặng tre dày mà cửa hầm ở dưới mặt nước sông Thoa.
*Box: Hai đồng chí Trần Cảm và Nguyễn Văn Ê đã hy sinh trong các trận đánh sau đó. Chiến sĩ Phạm Đình Nghiệp lập nhiều chiến công xuất sắc, đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, hiện trú tại phường Nguyễn Nghiêm, Thành phố Quảng Ngãi. Còn ông Lợi tiếp tục chiến đấu, công tác trong quân đội, về hưu năm 1990 với quân hàm đại tá. Sau ngày đất nước thống nhất, ông Lợi và ông Nghiệp đã nhiều lần về thăm chiến trường xưa và thường đến Nghĩa trang liệt sĩ huyện Mộ Đức thắp hương tưởng niệm bà Anh, cô Hương cùng những đồng đội đã hy sinh.
Đại tá Trà Thanh Lợi (phải) và Trung tá, AHLLVTND Phạm Đình Nghiệp
LÊ VĂN THƠM
(Viết theo lời kể của các CCB Trà Thanh Lợi và Trung tá, AHLLVTND Phạm Đình Nghiệp và Dựa theo tập sách “Lịch sử Bộ đội Đặc công tỉnh Quảng Ngãi (1959-1975)”, do Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ngãi ấn hành năm 1999).
(Viết theo lời kể của các CCB Trà Thanh Lợi và Trung tá, AHLLVTND Phạm Đình Nghiệp và Dựa theo tập sách “Lịch sử Bộ đội Đặc công tỉnh Quảng Ngãi (1959-1975)”, do Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ngãi ấn hành năm 1999).
Nhận xét
Đăng nhận xét