KÝ ỨC CHÓI LỌI (Những anh hùnh đặc công) 120/c/4
(ĐC sưu tầm trên NET)
1.316 (10). Tiêu diệt căn cứ Tec Ních: Trận thành công điển hình của Đặc công
1. 316. (11) Lũy thép đường 13: 155 ngày đêm chốt chặn.
Những trận đánh huyền thoại
20/10/2017 - 07:34
Đại úy Nguyễn Phương Bình (Bộ CHQS tỉnh Bến Tre)
Huyền thoại đặc công nước Quảng Đà
Cập nhật: Thứ ba, 22/12/2015 - 9h55'
* Kỳ 1: Giải mã "biệt đội người nhái"
(Cadn.com.vn) - Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, hoàn toàn bí mật mà ngay cả trong quân đội cũng không nhiều người biết đến-đó là lực lượng đặc công nước (còn gọi là người nhái - P.V). Tại chiến trường Quảng Đà, từ những năm 1966 đến ngày giải phóng, với cách đánh xuất quỷ nhập thần, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, những trận đánh vang dội của đặc công nước đã trở thành huyền thoại, đóng góp và làm phong phú thêm kho tàng lịch sử "nghệ thuật quân sự" Việt Nam anh hùng. Nhân kỷ niệm 71 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22-12, P.V Báo Công an TP Đà Nẵng đã tìm gặp các chiến sĩ đặc công nước năm xưa, được nghe họ kể những chiến công kiêu hùng...
Đặc công nước - họ là ai?
Căn nhà nhỏ, bình dị của "Đại tá 3 sao" Phạm Xuân Sanh (Đội trưởng Đội 3 đặc công nước Quảng Đà từ năm 1970 đến 1975) nằm trên đường Trưng Nữ Vương (Đà Nẵng) trong nhiều năm nay trở thành địa chỉ quen thuộc của đồng đội ông mỗi dịp gặp mặt. Năm nay đã bước sang tuổi 75 nhưng trông ông vẫn còn tráng kiện, hào sảng lắm. Cái tố chất của người lính, lại là lính đặc công nước trong ông như chưa hề mai một: nhanh nhẹn, hoạt bát, trí nhớ thâm sâu, đặc biệt là thể chất được tôi rèn qua những tháng năm lặn lội sông nước vẫn còn hiển hiện trên từng cử chỉ…
Tôi hỏi ông, đặc công nước cần có những tố chất gì? Ông khái quát bằng một câu cực kỳ đơn giản nhưng lại hội đủ hết câu trả lời: Là những người mà lúc họ ở dưới nước có thể bằng hoặc nhanh nhẹn hơn trên cạn! "Đó là về thể chất. Còn khi đã bước vào cuộc chiến, cái đầu và con tim của họ phải hết sức tỉnh táo, quyết đoán, xử lý tình huống nhạy bén và nhất là phải biết… hy sinh", ông Sanh nói. Ví như ông, sinh ra và lớn lên tại vùng sông nước Quảng Bình, ông đã tự trang bị cho mình kỹ năng bơi lội tuyệt đỉnh, có thể nổi trên mặt sông, mặt biển cả ngày. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Thể dục thể thao và trường Đại học Hàng hải, năm 1964, ông được tuyển chọn vào Trung đoàn 170 Hải quân và huấn luyện tại Tiên Yên (Quảng Ninh). Tiếp đó, ông về nhận nhiệm vụ tại Đội 3, Đoàn 126 đặc công nước Hải quân để chuẩn bị vào Nam chiến đấu.
Hay như trường hợp của Đại úy Nguyễn Xuân Thành (1948), quê ở Tiên Lãng (Hải Phòng). Khi đang còn học cấp 3, được cử sang du học tại Đức. Do tình hình thay đổi, yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra, ông được cử sang học tại Trường Kỹ thuật quân sự Quảng Châu (Trung Quốc) trong thời gian 7 năm. Năm 1966 ông về nước và công tác tại Đội xe vận tải xây dựng các công trình quốc phòng ở Hải Phòng. Đến năm 1969, khi có thông tin Đoàn 126 về tuyển quân bổ sung cho đơn vị đặc công nước, ông làm đơn tình nguyện tham gia và trúng tuyển. Ông Trần Sông Thao (1953), người con của vùng biển Cẩm Thành, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) cũng là một ví dụ điển hình. Vốn nổi tiếng về bơi lội, được ví như "con rái cá" của quê hương núi Hồng sông La, mới 19 tuổi ông đã được tuyển chọn và huấn luyện đặc công nước tại Cát Hải (Hải Phòng)…"Là đơn vị đặc biệt tinh nhuệ nên việc tuyển chọn và huấn luyện đặc công nước cực kỳ kỹ lưỡng, từ lý lịch gia đình, khả năng bơi lội giỏi, sức chịu đựng cao, có kiến thức chuyên sâu về các loại vũ khí, chất nổ, kỹ năng cận chiến… thì tinh thần quả cảm, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thậm chí khi ngã xuống cũng phải hoàn thành nhiệm vụ", ông Phạm Xuân Sanh nhấn mạnh. "Cũng vì thế mà tất cả lính đặc công nước đều phải tuyển mộ từ các địa phương ven biển (từ Quảng Ninh đến Quảng Bình), là "hạt giống đỏ" trong các đơn vị Hải quân lúc bấy giờ", ông Sanh cho biết thêm.
"Thao trường đổ mồ hôi"…
Những năm 1965-1966, từ chiếc nôi Quảng Yên với Lục Đầu giang và dòng sông Bạch Đằng - nơi ghi dấu những trận thủy chiến oai hùng của cha ông thuở trước, giờ đây, những người lính đặc công nước như ông Sanh, ông Thành… và lớp con cháu lại lấy đó làm thao trường tập luyện, chờ ngày đối mặt chiến đấu với kẻ thù. Sau khi ổn định về biên chế, tổ chức và nơi ăn chốn ở, các đội bước vào huấn luyện. Từ những bài tập cơ bản về bơi, lặn từ thấp lên cao. Tập các kiểu bơi, ban đầu bơi vài cây số, dần nâng cao bằng cách bơi qua lại Phà Rừng hàng chục vòng (tương đương với 10km). Rồi bơi đường dài trên biển về đêm với cự ly từ 15 đến 30km đến mục tiêu giả định. Tập lặn tại chỗ, lặn đến mục tiêu, tập ngậm ống thở đi chìm dưới nước hàng giờ liền, bảo đảm đúng hướng, đúng vị trí đặt khí tài theo kế hoạch trận đánh, tập nhận dạng các loại tàu, tập đo cự ly giãn cách đến mục tiêu, tập thiết kế sử dụng các loại khối nổ, tập võ thuật đánh bắt tù binh bằng các đòn cực hiểm, tập phá dỡ các vật cản, chướng ngại vật, rào thép gai dưới nước… "Phần nhiều thời gian tập về ban đêm, từ 19 giờ đến 3 hoặc 4 giờ sáng hôm sau. Vừa tập nhuần nhuyễn về kỹ chiến thuật, vừa tập rèn luyện sức chịu đựng ngâm mình dưới nước cả đêm để chống chọi với cái lạnh. Đây là thử thách gay go nhất của những người lính đặc công nước thuở ban đầu ấy", Đại tá Phạm Xuân Sanh nhớ lại. Ngoài ra ông còn tiết lộ, lính đặc công nước cũng phải huấn luyện hành quân đường dài, mang vác nặng, vượt qua địa hình dốc đèo khe suối… với vất vả, gian khổ không kém.
"Trong thời gian này, Bộ Tư lệnh Hải quân xác định, tại miền Nam có 4 cảng biển quan trọng nhất, cần đưa vào mỗi nơi một đội đặc công nước làm nòng cốt để phát triển dần lên. Cuối năm 1966, lực lượng đặc công nước thuộc Đoàn 126 được chia làm 4 đội và lần lượt có mặt trên các chiến trường miền Nam và lập nên nhiều chiến công đã đi vào huyền thoại như: Đặc công nước Cửa Việt (Quảng Trị), Đặc công rừng Sác (Nam Bộ), Đặc công nước Quảng Đà (chiến trường Khu V) và đặc công nước ở Khánh Hòa", ông Phạm Xuân Sanh cho biết. Cuối năm 1966, sau thời gian huấn luyện khắc nghiệt, những người lính đặc công nước tạm gác lại những mối tình đẹp, mái trường thân yêu và nơi chôn nhau cắt rốn, họ lên đường đánh Mỹ mà lòng thanh thản không một chút ưu tư! Họ là những Dã Tượng, Yết Kiêu thời hiện đại của dân tộc.
(Cadn.com.vn) - Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, hoàn toàn bí mật mà ngay cả trong quân đội cũng không nhiều người biết đến-đó là lực lượng đặc công nước (còn gọi là người nhái - P.V). Tại chiến trường Quảng Đà, từ những năm 1966 đến ngày giải phóng, với cách đánh xuất quỷ nhập thần, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, những trận đánh vang dội của đặc công nước đã trở thành huyền thoại, đóng góp và làm phong phú thêm kho tàng lịch sử "nghệ thuật quân sự" Việt Nam anh hùng. Nhân kỷ niệm 71 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22-12, P.V Báo Công an TP Đà Nẵng đã tìm gặp các chiến sĩ đặc công nước năm xưa, được nghe họ kể những chiến công kiêu hùng...
| "Thủ lĩnh" Đội 170 Đặc công nước Quảng Đà, ông Phạm Xuân Sanh. |
Căn nhà nhỏ, bình dị của "Đại tá 3 sao" Phạm Xuân Sanh (Đội trưởng Đội 3 đặc công nước Quảng Đà từ năm 1970 đến 1975) nằm trên đường Trưng Nữ Vương (Đà Nẵng) trong nhiều năm nay trở thành địa chỉ quen thuộc của đồng đội ông mỗi dịp gặp mặt. Năm nay đã bước sang tuổi 75 nhưng trông ông vẫn còn tráng kiện, hào sảng lắm. Cái tố chất của người lính, lại là lính đặc công nước trong ông như chưa hề mai một: nhanh nhẹn, hoạt bát, trí nhớ thâm sâu, đặc biệt là thể chất được tôi rèn qua những tháng năm lặn lội sông nước vẫn còn hiển hiện trên từng cử chỉ…
Tôi hỏi ông, đặc công nước cần có những tố chất gì? Ông khái quát bằng một câu cực kỳ đơn giản nhưng lại hội đủ hết câu trả lời: Là những người mà lúc họ ở dưới nước có thể bằng hoặc nhanh nhẹn hơn trên cạn! "Đó là về thể chất. Còn khi đã bước vào cuộc chiến, cái đầu và con tim của họ phải hết sức tỉnh táo, quyết đoán, xử lý tình huống nhạy bén và nhất là phải biết… hy sinh", ông Sanh nói. Ví như ông, sinh ra và lớn lên tại vùng sông nước Quảng Bình, ông đã tự trang bị cho mình kỹ năng bơi lội tuyệt đỉnh, có thể nổi trên mặt sông, mặt biển cả ngày. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Thể dục thể thao và trường Đại học Hàng hải, năm 1964, ông được tuyển chọn vào Trung đoàn 170 Hải quân và huấn luyện tại Tiên Yên (Quảng Ninh). Tiếp đó, ông về nhận nhiệm vụ tại Đội 3, Đoàn 126 đặc công nước Hải quân để chuẩn bị vào Nam chiến đấu.
Hay như trường hợp của Đại úy Nguyễn Xuân Thành (1948), quê ở Tiên Lãng (Hải Phòng). Khi đang còn học cấp 3, được cử sang du học tại Đức. Do tình hình thay đổi, yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra, ông được cử sang học tại Trường Kỹ thuật quân sự Quảng Châu (Trung Quốc) trong thời gian 7 năm. Năm 1966 ông về nước và công tác tại Đội xe vận tải xây dựng các công trình quốc phòng ở Hải Phòng. Đến năm 1969, khi có thông tin Đoàn 126 về tuyển quân bổ sung cho đơn vị đặc công nước, ông làm đơn tình nguyện tham gia và trúng tuyển. Ông Trần Sông Thao (1953), người con của vùng biển Cẩm Thành, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) cũng là một ví dụ điển hình. Vốn nổi tiếng về bơi lội, được ví như "con rái cá" của quê hương núi Hồng sông La, mới 19 tuổi ông đã được tuyển chọn và huấn luyện đặc công nước tại Cát Hải (Hải Phòng)…"Là đơn vị đặc biệt tinh nhuệ nên việc tuyển chọn và huấn luyện đặc công nước cực kỳ kỹ lưỡng, từ lý lịch gia đình, khả năng bơi lội giỏi, sức chịu đựng cao, có kiến thức chuyên sâu về các loại vũ khí, chất nổ, kỹ năng cận chiến… thì tinh thần quả cảm, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thậm chí khi ngã xuống cũng phải hoàn thành nhiệm vụ", ông Phạm Xuân Sanh nhấn mạnh. "Cũng vì thế mà tất cả lính đặc công nước đều phải tuyển mộ từ các địa phương ven biển (từ Quảng Ninh đến Quảng Bình), là "hạt giống đỏ" trong các đơn vị Hải quân lúc bấy giờ", ông Sanh cho biết thêm.
| Đội 170 Đặc công nước Quảng Đà tại hậu cứ Hòn Tàu năm 1970. |
Những năm 1965-1966, từ chiếc nôi Quảng Yên với Lục Đầu giang và dòng sông Bạch Đằng - nơi ghi dấu những trận thủy chiến oai hùng của cha ông thuở trước, giờ đây, những người lính đặc công nước như ông Sanh, ông Thành… và lớp con cháu lại lấy đó làm thao trường tập luyện, chờ ngày đối mặt chiến đấu với kẻ thù. Sau khi ổn định về biên chế, tổ chức và nơi ăn chốn ở, các đội bước vào huấn luyện. Từ những bài tập cơ bản về bơi, lặn từ thấp lên cao. Tập các kiểu bơi, ban đầu bơi vài cây số, dần nâng cao bằng cách bơi qua lại Phà Rừng hàng chục vòng (tương đương với 10km). Rồi bơi đường dài trên biển về đêm với cự ly từ 15 đến 30km đến mục tiêu giả định. Tập lặn tại chỗ, lặn đến mục tiêu, tập ngậm ống thở đi chìm dưới nước hàng giờ liền, bảo đảm đúng hướng, đúng vị trí đặt khí tài theo kế hoạch trận đánh, tập nhận dạng các loại tàu, tập đo cự ly giãn cách đến mục tiêu, tập thiết kế sử dụng các loại khối nổ, tập võ thuật đánh bắt tù binh bằng các đòn cực hiểm, tập phá dỡ các vật cản, chướng ngại vật, rào thép gai dưới nước… "Phần nhiều thời gian tập về ban đêm, từ 19 giờ đến 3 hoặc 4 giờ sáng hôm sau. Vừa tập nhuần nhuyễn về kỹ chiến thuật, vừa tập rèn luyện sức chịu đựng ngâm mình dưới nước cả đêm để chống chọi với cái lạnh. Đây là thử thách gay go nhất của những người lính đặc công nước thuở ban đầu ấy", Đại tá Phạm Xuân Sanh nhớ lại. Ngoài ra ông còn tiết lộ, lính đặc công nước cũng phải huấn luyện hành quân đường dài, mang vác nặng, vượt qua địa hình dốc đèo khe suối… với vất vả, gian khổ không kém.
"Trong thời gian này, Bộ Tư lệnh Hải quân xác định, tại miền Nam có 4 cảng biển quan trọng nhất, cần đưa vào mỗi nơi một đội đặc công nước làm nòng cốt để phát triển dần lên. Cuối năm 1966, lực lượng đặc công nước thuộc Đoàn 126 được chia làm 4 đội và lần lượt có mặt trên các chiến trường miền Nam và lập nên nhiều chiến công đã đi vào huyền thoại như: Đặc công nước Cửa Việt (Quảng Trị), Đặc công rừng Sác (Nam Bộ), Đặc công nước Quảng Đà (chiến trường Khu V) và đặc công nước ở Khánh Hòa", ông Phạm Xuân Sanh cho biết. Cuối năm 1966, sau thời gian huấn luyện khắc nghiệt, những người lính đặc công nước tạm gác lại những mối tình đẹp, mái trường thân yêu và nơi chôn nhau cắt rốn, họ lên đường đánh Mỹ mà lòng thanh thản không một chút ưu tư! Họ là những Dã Tượng, Yết Kiêu thời hiện đại của dân tộc.
Doãn Hùng
(còn nữa)
(còn nữa)
Huyền thoại đặc công nước Quảng Đà (2)
Cập nhật: Thứ tư, 23/12/2015 - 9h50'
* KỲ 2: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”…
(Cadn.com.vn) - Tập luyện ở hậu phương đã khó nhọc, song khi vào thực tế “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, những người lính đặc công phải trèo đèo lội suối, đi bộ, mang vác nặng trên vai và phải đi trong mưa bom bão đạn, gần 3 tháng mới vào đến chiến trường Khu V...
Nhớ
về một thời băng rừng vượt núi, ăn gió nằm sương, Đại tá
Phạm Xuân Sanh không khỏi bồi hồi, xúc động. Ông kể: Ngày
27-10-1966, Đội 3 (Đặc công nước Quảng Đà) làm lễ xuất quân tại
thôn Tiền An (Quảng Yên, Quảng Ninh). Toàn đội như bừng lên khí
thế sôi nổi, vui vẻ lạ thường. Tuy nhiên, trong tâm thức của mỗi
người như có điều gì suy tư sâu lắng. Cũng dễ hiểu thôi, vì
ngày mai lên đường xa miền Bắc thân yêu, giã từ những người
ruột thịt mà không hẹn ngày về song để đảm bảo bí mật, không
ai được phép gặp gia đình. Buổi liên hoan cuốn hút mọi người
trong cái sôi động, âm vang hào hùng của những bài đồng ca,
những khúc quân hành mạnh mẽ như đánh tan đi nỗi niềm đang ẩn
chứa trong lòng mỗi người. Bài hát “Hành quân xa” của Đỗ
Nhuận, lúc bình thường hát lên chỉ cảm nhận được giai điệu
mạnh mẽ của nhịp quân hành nhưng lúc này chợt có ý nghĩa như
một lời thề: “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi”; lại thêm
bài “Đoàn giải phóng quân” của Phan Huỳnh Điểu như giục giã
mọi người: “Ra đi ra đi, bảo toàn sông núi; ra đi ra đi thà chết
chớ lui…”. “Cũng bài ca ấy, lớp cha anh thuở trước ra đi từ
cách mạng tháng Tám từng làm nên những chiến công chấn động
địa cầu, giờ đây đối với chúng tôi, nó thiêng liêng và ý nghĩa
biết chừng nào”, ông Phạm Xuân Sanh hồi tưởng.
Cũng tại buổi xuất quân này, Tư lệnh Quân chủng Hải quân Nguyễn Bá Phát đã dặn dò, nhắn nhủ: “Đội 3 vào Mặt trận Quảng Đà, nơi ấy chính là quê hương tôi đang bị Mỹ - ngụy bạo tàn dìm trong máu lửa! Thực lòng, tôi muốn trở về chiến đấu góp phần giải phóng quê hương nhưng vì nhiệm vụ của Đảng phân công nên chưa thể đi cùng. Các đồng chí yên tâm, phấn khởi lên đường, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sẽ theo dõi từng bước đi và chờ đợi những chiến công của các đồng chí làm vẻ vang cho Quân chủng chúng ta”. Đội 3 tạm biệt Tiền An vào một buổi chiều cuối thu đầy lưu luyến như thế!
Hành quân ròng rã 2 tháng 14 ngày, đơn vị mới đặt chân đến thượng nguồn sông A Vương, miền tây Quảng Nam. Chừng ấy thời gian trèo đèo lội suối, ăn đói ngủ rét, những chiến sỹ đặc công vốn được tôi rèn, kiên trường như vậy nhưng cũng đến lúc mỏi mệt, gục ngã bởi những cơn sốt rét rừng, đặc biệt là cái đói dai dẳng làm họ kiệt sức. “Thế nhưng vượt qua tất cả, khi đối mặt với kẻ thù, chúng tôi như có một sức mạnh vô hình nào đó thôi thúc, xung trận chiến đấu và giành được nhiều chiến công vô cùng oanh liệt”, ông Phạm Xuân Sanh nhấn mạnh.
Tôi hỏi Đại tá Phạm Xuân Sanh, khi hành quân qua quê hương Quảng Bình, bác nghĩ gì? “Lúc ấy, thực lòng tôi rất muốn ghé lại thăm nhà, nơi ấy có ba mẹ, anh chị em tôi sinh sống, chờ đợi tin tôi nhưng đã mấy năm rồi biệt vô âm tín. Tuy nhiên, lòng muốn là như vậy nhưng vì nhiệm vụ, vì Tổ quốc, tôi không thể nào làm khác được. Đặc biệt là, 3 năm trước và sau khi vào chiến trường, gia đình không hề nhận được bất cứ thư từ, thông tin gì từ tôi (do yêu cầu bí mật tuyệt đối), nhưng lại nhận được bằng Tổ quốc ghi công, cũng đồng nghĩa là tôi đã hy sinh. Bố tôi lúc ấy suy sụp, ông ốm liệt giường mấy năm trời. Tất nhiên sau hòa bình, khi có dịp về thăm quê tôi mới biết. Khi ấy thấy tôi trở về, như có thuốc tiên, bố tôi khỏe mạnh trở lại”, Đại tá Sanh bùi ngùi.
Quảng Đà–một trong những chiến trường trọng điểm, là vị trí chiến lược then chốt của Mỹ, ngụy, nơi những tên lính thủy đánh bộ Mỹ đầu tiên đặt chân đến xâm lược nước ta, để thực hiện cái gọi là “chiến tranh cục bộ”, nơi mà từng giờ, từng phút cái chết đến với con người chỉ trong gang tấc. Nơi ấy chính là vùng tác chiến mà Đội 3 đặc công nước gồm 60 đồng chí (được chia thành 3 phân đội phụ trách các cánh bắc, trung và đông của Đà Nẵng) do Đại úy Lương Xuân Lan, Chính trị viên và Đại úy Võ Tấn Mễ, Đội trưởng chỉ huy; Thiếu úy Phạm Xuân Sanh lúc bấy giờ được phân công làm trợ lý tác chiến, quân lực. Nhiệm vụ được giao cho Đội 3 đặc công nước là đánh các tàu thuyền quân sự, kho tàng, bến cảng và đặc biệt là đánh sập các cầu cống, cắt đứt chi viện bằng đường bộ của địch trên chiến trường, đồng thời phục vụ cho các chiến dịch của quân ta. “Lúc bấy giờ, các phân đội nằm sâu trong vùng địch, phần lớn nhân dân bị chúng tập trung vào các khu dồn, anh em phải sống cùng du kích địa phương, ngày lánh địch càn, đêm về hoạt động và chiến đấu, gian khổ khó khăn không sao kể xiết”, Đại tá Phạm Xuân Sanh hồi tưởng. Cũng theo Đại tá Sanh, chính vì điều này mà tỷ lệ thương vong tổn thất trong các trận chiến đấu không nhiều mà phần lớn do trụ bám trong vùng địch kiểm soát gắt gao, càn quét liên miên, chà đi xát lại với nhiều thủ đoạn xảo quyệt nên không thể nào tránh khỏi những hy sinh, mất mát.
Trong điều kiện vô cùng khó khăn hiểm ác ấy, từ năm 1966 đến 1970, Đội 3 và Đội 170 (sau này) đặc công nước đã chiến đấu lập nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc, tiêu diệt hàng trăm tên địch, hàng chục chiến thuyền, hải thuyền và cầu đường, kho xăng, kho bom đạn của địch trên chiến trường Quảng Đà. “Chiến công nhiều nhưng tổn thất cũng không kém”, giọng Đại tá Sanh chùng xuống khi nhớ về những trận đánh mà đơn vị phải chịu mất mát, hy sinh. Đó là trận đánh tại cầu “Trịnh Minh Thế” Đà Nẵng. Đội 3 đã tổ chức đánh 2 lần nhưng không thành, đặc biệt trong lần thứ 2, do bị lộ nên địch đã bao vây. 7 chiến sỹ đặc công nước và 2 du kích địa phương quyết chiến với kẻ thù, tiêu diệt hơn 40 tên trước khi người cuối cùng ngã xuống. Đến năm 1970, các phân đội 1 (cánh bắc Đà Nẵng) và phân đội 2 (cánh trung Đà Nẵng) gần hết quân, Bộ Tư lệnh Hải quân không bổ sung kịp, phân đội 3 còn lại 5 CBCS tổ chức đánh kho xăng Liên Chiểu lần 2, tuy nhiên do không có thời gian chuẩn bị nên 4 CBCS hy sinh. Đầu năm 1970, trong thời gian xây dựng, củng cố lực lượng, Đoàn đặc công Hải quân 126 tăng cường cho mặt trận 44 Quảng Đà 60 CBCS. Tháng 1-1970, Đội đặc công nước phiên hiệu Đội 170 được thành lập, đồng chí Phạm Xuân Sanh (cán bộ của Đội 3 còn lại) làm Đội trưởng. Từ đây, Đội 170 đặc công nước cùng các đơn vị đặc công khác đã liên tiếp tiến công địch, lập nên nhiều chiến công vang dội, làm cho Mỹ, ngụy phải kinh hồn bạt vía.
(Cadn.com.vn) - Tập luyện ở hậu phương đã khó nhọc, song khi vào thực tế “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, những người lính đặc công phải trèo đèo lội suối, đi bộ, mang vác nặng trên vai và phải đi trong mưa bom bão đạn, gần 3 tháng mới vào đến chiến trường Khu V...
| 3 chiến sỹ đặc công nước thuộc đội 170 hiện đang sinh sống tại Đà Nẵng (Trần Song Thao, Phạm Xuân Sanh và Nguyễn Xuân Thành, từ trái qua). |
Cũng tại buổi xuất quân này, Tư lệnh Quân chủng Hải quân Nguyễn Bá Phát đã dặn dò, nhắn nhủ: “Đội 3 vào Mặt trận Quảng Đà, nơi ấy chính là quê hương tôi đang bị Mỹ - ngụy bạo tàn dìm trong máu lửa! Thực lòng, tôi muốn trở về chiến đấu góp phần giải phóng quê hương nhưng vì nhiệm vụ của Đảng phân công nên chưa thể đi cùng. Các đồng chí yên tâm, phấn khởi lên đường, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sẽ theo dõi từng bước đi và chờ đợi những chiến công của các đồng chí làm vẻ vang cho Quân chủng chúng ta”. Đội 3 tạm biệt Tiền An vào một buổi chiều cuối thu đầy lưu luyến như thế!
Hành quân ròng rã 2 tháng 14 ngày, đơn vị mới đặt chân đến thượng nguồn sông A Vương, miền tây Quảng Nam. Chừng ấy thời gian trèo đèo lội suối, ăn đói ngủ rét, những chiến sỹ đặc công vốn được tôi rèn, kiên trường như vậy nhưng cũng đến lúc mỏi mệt, gục ngã bởi những cơn sốt rét rừng, đặc biệt là cái đói dai dẳng làm họ kiệt sức. “Thế nhưng vượt qua tất cả, khi đối mặt với kẻ thù, chúng tôi như có một sức mạnh vô hình nào đó thôi thúc, xung trận chiến đấu và giành được nhiều chiến công vô cùng oanh liệt”, ông Phạm Xuân Sanh nhấn mạnh.
Tôi hỏi Đại tá Phạm Xuân Sanh, khi hành quân qua quê hương Quảng Bình, bác nghĩ gì? “Lúc ấy, thực lòng tôi rất muốn ghé lại thăm nhà, nơi ấy có ba mẹ, anh chị em tôi sinh sống, chờ đợi tin tôi nhưng đã mấy năm rồi biệt vô âm tín. Tuy nhiên, lòng muốn là như vậy nhưng vì nhiệm vụ, vì Tổ quốc, tôi không thể nào làm khác được. Đặc biệt là, 3 năm trước và sau khi vào chiến trường, gia đình không hề nhận được bất cứ thư từ, thông tin gì từ tôi (do yêu cầu bí mật tuyệt đối), nhưng lại nhận được bằng Tổ quốc ghi công, cũng đồng nghĩa là tôi đã hy sinh. Bố tôi lúc ấy suy sụp, ông ốm liệt giường mấy năm trời. Tất nhiên sau hòa bình, khi có dịp về thăm quê tôi mới biết. Khi ấy thấy tôi trở về, như có thuốc tiên, bố tôi khỏe mạnh trở lại”, Đại tá Sanh bùi ngùi.
Quảng Đà–một trong những chiến trường trọng điểm, là vị trí chiến lược then chốt của Mỹ, ngụy, nơi những tên lính thủy đánh bộ Mỹ đầu tiên đặt chân đến xâm lược nước ta, để thực hiện cái gọi là “chiến tranh cục bộ”, nơi mà từng giờ, từng phút cái chết đến với con người chỉ trong gang tấc. Nơi ấy chính là vùng tác chiến mà Đội 3 đặc công nước gồm 60 đồng chí (được chia thành 3 phân đội phụ trách các cánh bắc, trung và đông của Đà Nẵng) do Đại úy Lương Xuân Lan, Chính trị viên và Đại úy Võ Tấn Mễ, Đội trưởng chỉ huy; Thiếu úy Phạm Xuân Sanh lúc bấy giờ được phân công làm trợ lý tác chiến, quân lực. Nhiệm vụ được giao cho Đội 3 đặc công nước là đánh các tàu thuyền quân sự, kho tàng, bến cảng và đặc biệt là đánh sập các cầu cống, cắt đứt chi viện bằng đường bộ của địch trên chiến trường, đồng thời phục vụ cho các chiến dịch của quân ta. “Lúc bấy giờ, các phân đội nằm sâu trong vùng địch, phần lớn nhân dân bị chúng tập trung vào các khu dồn, anh em phải sống cùng du kích địa phương, ngày lánh địch càn, đêm về hoạt động và chiến đấu, gian khổ khó khăn không sao kể xiết”, Đại tá Phạm Xuân Sanh hồi tưởng. Cũng theo Đại tá Sanh, chính vì điều này mà tỷ lệ thương vong tổn thất trong các trận chiến đấu không nhiều mà phần lớn do trụ bám trong vùng địch kiểm soát gắt gao, càn quét liên miên, chà đi xát lại với nhiều thủ đoạn xảo quyệt nên không thể nào tránh khỏi những hy sinh, mất mát.
Trong điều kiện vô cùng khó khăn hiểm ác ấy, từ năm 1966 đến 1970, Đội 3 và Đội 170 (sau này) đặc công nước đã chiến đấu lập nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc, tiêu diệt hàng trăm tên địch, hàng chục chiến thuyền, hải thuyền và cầu đường, kho xăng, kho bom đạn của địch trên chiến trường Quảng Đà. “Chiến công nhiều nhưng tổn thất cũng không kém”, giọng Đại tá Sanh chùng xuống khi nhớ về những trận đánh mà đơn vị phải chịu mất mát, hy sinh. Đó là trận đánh tại cầu “Trịnh Minh Thế” Đà Nẵng. Đội 3 đã tổ chức đánh 2 lần nhưng không thành, đặc biệt trong lần thứ 2, do bị lộ nên địch đã bao vây. 7 chiến sỹ đặc công nước và 2 du kích địa phương quyết chiến với kẻ thù, tiêu diệt hơn 40 tên trước khi người cuối cùng ngã xuống. Đến năm 1970, các phân đội 1 (cánh bắc Đà Nẵng) và phân đội 2 (cánh trung Đà Nẵng) gần hết quân, Bộ Tư lệnh Hải quân không bổ sung kịp, phân đội 3 còn lại 5 CBCS tổ chức đánh kho xăng Liên Chiểu lần 2, tuy nhiên do không có thời gian chuẩn bị nên 4 CBCS hy sinh. Đầu năm 1970, trong thời gian xây dựng, củng cố lực lượng, Đoàn đặc công Hải quân 126 tăng cường cho mặt trận 44 Quảng Đà 60 CBCS. Tháng 1-1970, Đội đặc công nước phiên hiệu Đội 170 được thành lập, đồng chí Phạm Xuân Sanh (cán bộ của Đội 3 còn lại) làm Đội trưởng. Từ đây, Đội 170 đặc công nước cùng các đơn vị đặc công khác đã liên tiếp tiến công địch, lập nên nhiều chiến công vang dội, làm cho Mỹ, ngụy phải kinh hồn bạt vía.
Doãn Hùng
(còn nữa)
(còn nữa)
Huyền thoại đặc công nước Quảng Đà (3)
Cập nhật: Thứ năm, 24/12/2015 - 10h40'
* Kỳ 3: "Phép thử" đầu tiên
(Cadn.com.vn) - Phép thử đầu tiên khi Đội 3 đặc công nước vừa đặt chân đến chiến trường Quảng Đà là bằng mọi giá phải đánh sập cầu Thủy Tú-mạch máu giao thông chi viện của địch trên 2 chiến trường Quảng Nam- Đà Nẵng và Bình Trị Thiên. Vì cầu Thủy Tú có vị trí chiến lược quan trọng như vậy nên địch đã bố trí phòng bị cực kỳ kiên cố, đến nỗi còn dõng dạc tuyên bố rằng: Nếu Việt cộng đánh sập cầu Thủy Tú thì nước ở tất cả các sông đều chảy ngược!
Đầu
năm 1967, khi vừa đặt chân đến chiến trường Quảng Đà, tinh thần
ai nấy đều phấn chấn. Trước những lời thách thức ngạo mạn
của địch, ai cũng muốn xung phong lên tuyến đầu để nhanh chóng
lập công. Sau khi họp bàn, Ban chỉ huy Đội 3 giao nhiệm vụ đánh
cầu cho phân đội 1, do đồng chí Huỳnh Tửu làm Chính trị viên,
đồng chí Huỳnh Thế Tâm làm Phân đội trưởng. Ngay sau khi nhận
nhiệm vụ, phân đội triển khai họp chi bộ, họp phân đội xác
định quyết tâm, quán triệt yêu cầu và khẩn trương chuẩn bị cho
trận đánh. Đồng chí Nguyễn Sự, Đội phó, đồng chí Sơn, phụ
trách khí tài cùng giao liên lập tức lên đường ra cánh bắc,
hợp đồng chiến đấu với khu đội 1 Hòa Vang.
Tổ chiến đấu tiến hành công tác nghiên cứu địa hình, địa lợi. Đứng trên núi cao nhìn xuống Đà Nẵng, khu hậu cần của Mỹ chiếm hết vòng cung từ Xuân Thiều đến Bàu Mạc, mái tôn trắng xóa phản chiếu ánh mặt trời đến nhức mắt. Ngoài vịnh Đà Nẵng, tàu bè đi lại như những chấm đen di động, trên quốc lộ, ô-tô các loại ngược xuôi như mắc cửi. Cầu Thủy Tú song song với cầu đường sắt, bắc qua sông Cu Đê như dải lụa mềm uốn lượn từ thượng nguồn trải dài ra cửa biển Nam Ô. Phân đội triển khai trinh sát nắm tình hình. Một mặt thu thập tin tức về tình hình cấu trúc, bố phòng và quy luật hoạt động của địch trên cầu Thủy Tú, mặt khác, phân đội cử 3 trinh sát thực tế từ xa đến gần, từ ngoài vào trong mục tiêu; nắm chắc luồng lạch trên sông, quy luật thủy triều, xác định đường vào và đường rút khỏi mục tiêu sau khi điểm hỏa; theo dõi việc tuần tra, canh gác, bố phòng trên cầu và dưới nước. Qua 4 đêm liền, tổ trinh sát bí mật tiếp cận cách cầu gần 300m để quan sát tình hình. Hai ngày tiếp theo, tổ trinh sát vùi mình trong cát, nằm lại quan sát mục tiêu ban ngày. Sau đó, liên tiếp phân đội mật tập vào mục tiêu, cắt dây thép gai, mở lối để khi đánh đưa khối nổ vào trụ cầu...
Hoàn thành công tác, anh em trinh sát đi đến kết luận: Cầu Thủy Tú dài 320m, cấu tạo xi-măng cốt thép, 12 trụ bê-tông đúc đặc hình hạt xoài (một kết cấu trụ cầu rất khó đánh của đặc công nước). Cách mỗi trụ cầu có 2 bóng đèn công suất lớn, đầu cầu bờ nam có lô cốt boong ke hai tầng. Tầng trên từ mặt đường trở lên có lỗ châu mai đặt súng đại liên bắn quét mặt cầu; tầng dưới đặt đại liên bắn quét ngang mặt nước, đầu cầu bờ bắc có lô cốt chất bằng bao cát và đặt đại liên. Mục đích của địch là khi có động, đại liên hai bên cầu bắn chéo cánh sẻ trên mặt cầu và dưới mặt sông. Cầu do một đại đội lính ngụy canh giữ; về đêm, địch thay nhau tuần tra qua lại trên cầu, thỉnh thoảng bắn và ném lựu đạn xuống gần các trụ cầu đề phòng "người nhái" đột nhập. "Cách bố phòng nói trên cho thấy lời tuyên bố của địch là có cơ sở, đến cả con cá cũng không thoát được nếu phát ra tiếng động trên sông. Tuy nhiên không vì thế mà chúng ta chùn bước", Đại tá Phạm Xuân Sanh nhìn nhận.
Đúng 20 giờ ngày 2-4-1967, trận chiến đấu bắt đầu. Sau khi làm lễ "truy điệu sống", đồng chí Nguyễn Sự, lúc đó là đội phó xung phong làm tổ trưởng, cùng hai tổ viên ra trước hàng quân nhận lệnh và hứa quyết thắng. Không khí trước giờ xung trận thật thiêng liêng. Họ ôm choàng ba đồng chí của tổ chiến đấu, mình trần chân đất như để tiếp thêm sinh lực của phân đội và gửi gắm niềm tin thắng lợi trở về. Tổ chiến đấu vẫy tay chào tạm biệt, dìu khối thuốc nổ TNT 100kg ra giữa dòng sông và khuất dần trong màn đêm lạnh. Lúc này, trên quốc lộ, đoàn xe kéo pháo của địch nối đuôi nhau lần lượt qua cầu. Bánh xích sắt xe kéo pháo nghiến xuống mặt cầu phát ra âm thanh rầm rầm rờn rợn hòa trong tiếng nổ động cơ vang động. Toán địch tuần tra đang cụm lại với nhau, tựa vào lan can theo dõi đoàn xe di chuyển, dưới sông, tổ chiến đấu chớp thời cơ, mật tập mục tiêu, bình tĩnh, nhẹ nhàng mở lớp rào dây thép gai đã cắt sẵn, đưa khối nổ vào cố định ở trụ cầu. Tổ trưởng Nguyễn Sự ra hiệu cho 2 tổ viên rút ra trước, còn mình điểm hỏa xong sẽ rút ra sau. Kíp nổ hẹn 30 phút, 2 tổ viên xuôi về phía cửa sông, gặp bộ phận đón và chờ sẵn trên bờ.
"Thời gian như dừng lại. Gần 30 phút trôi qua nhưng chưa thấy đồng chí Sự về. Bỗng một ánh chớp sáng lòa kèm theo là tiếng nổ lớn. Chiếc cầu như dải lụa bỗng chốc đổ sập xuống. Tiếng la hét om sòm, còi báo động rú lên từng hồi như tiếng kêu cấp cứu. Pháo sáng từ các vị trí của Mỹ gần đó thi nhau bắn lên trời, có lẽ chúng sợ bóng đêm sẽ đem cái chết bất ngờ đến với chúng bất cứ lúc nào",... Đại tá Phạm Xuân Sanh nhớ lại. Rạng sáng hôm sau, nghe tin cầu Thủy Tú bị đánh sập, tên trung tá chỉ huy Liên đoàn 10 công binh ngụy đến kiểm tra. Y đứng ngắm nghía hồi lâu, rồi như thất kinh hoảng sợ, trượt chân lộn cổ xuống sông chết chìm theo số phận chiếc cầu và cả tiểu đội tuần tra ngụy lúc cầu đổ sập. Sau trận đánh, đài và báo chí Sài Gòn cũng như phương Tây đưa tin về cầu Thủy Tú, chúng phê phán cả quân lực Việt Nam cộng hòa lẫn lực lượng quân sự Hoa Kỳ, đồng thời tuyên bố: "Miền Trung bị gãy xương sống!".
Trận đánh này của lực lượng đặc công nước đã được Quân khu V biểu dương, khen ngợi là "trận đánh xuất sắc, mở đầu của đội đặc công nước trên chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng". "Tuy nhiên, đây cũng là trận đánh cuối cùng của người chỉ huy mẫn cán Nguyễn Sự. Máu của anh đã hòa vào dòng sông, như tiếp thêm nguồn sức mạnh cho đặc công nước Quảng Đà lập thêm nhiều chiến công trên chặng đường phía trước", Đại tá Phạm Xuân Sanh bùi ngùi xúc động.
(Cadn.com.vn) - Phép thử đầu tiên khi Đội 3 đặc công nước vừa đặt chân đến chiến trường Quảng Đà là bằng mọi giá phải đánh sập cầu Thủy Tú-mạch máu giao thông chi viện của địch trên 2 chiến trường Quảng Nam- Đà Nẵng và Bình Trị Thiên. Vì cầu Thủy Tú có vị trí chiến lược quan trọng như vậy nên địch đã bố trí phòng bị cực kỳ kiên cố, đến nỗi còn dõng dạc tuyên bố rằng: Nếu Việt cộng đánh sập cầu Thủy Tú thì nước ở tất cả các sông đều chảy ngược!
| Cầu Thủy Tú bị đánh sập năm 1967. |
Tổ chiến đấu tiến hành công tác nghiên cứu địa hình, địa lợi. Đứng trên núi cao nhìn xuống Đà Nẵng, khu hậu cần của Mỹ chiếm hết vòng cung từ Xuân Thiều đến Bàu Mạc, mái tôn trắng xóa phản chiếu ánh mặt trời đến nhức mắt. Ngoài vịnh Đà Nẵng, tàu bè đi lại như những chấm đen di động, trên quốc lộ, ô-tô các loại ngược xuôi như mắc cửi. Cầu Thủy Tú song song với cầu đường sắt, bắc qua sông Cu Đê như dải lụa mềm uốn lượn từ thượng nguồn trải dài ra cửa biển Nam Ô. Phân đội triển khai trinh sát nắm tình hình. Một mặt thu thập tin tức về tình hình cấu trúc, bố phòng và quy luật hoạt động của địch trên cầu Thủy Tú, mặt khác, phân đội cử 3 trinh sát thực tế từ xa đến gần, từ ngoài vào trong mục tiêu; nắm chắc luồng lạch trên sông, quy luật thủy triều, xác định đường vào và đường rút khỏi mục tiêu sau khi điểm hỏa; theo dõi việc tuần tra, canh gác, bố phòng trên cầu và dưới nước. Qua 4 đêm liền, tổ trinh sát bí mật tiếp cận cách cầu gần 300m để quan sát tình hình. Hai ngày tiếp theo, tổ trinh sát vùi mình trong cát, nằm lại quan sát mục tiêu ban ngày. Sau đó, liên tiếp phân đội mật tập vào mục tiêu, cắt dây thép gai, mở lối để khi đánh đưa khối nổ vào trụ cầu...
Hoàn thành công tác, anh em trinh sát đi đến kết luận: Cầu Thủy Tú dài 320m, cấu tạo xi-măng cốt thép, 12 trụ bê-tông đúc đặc hình hạt xoài (một kết cấu trụ cầu rất khó đánh của đặc công nước). Cách mỗi trụ cầu có 2 bóng đèn công suất lớn, đầu cầu bờ nam có lô cốt boong ke hai tầng. Tầng trên từ mặt đường trở lên có lỗ châu mai đặt súng đại liên bắn quét mặt cầu; tầng dưới đặt đại liên bắn quét ngang mặt nước, đầu cầu bờ bắc có lô cốt chất bằng bao cát và đặt đại liên. Mục đích của địch là khi có động, đại liên hai bên cầu bắn chéo cánh sẻ trên mặt cầu và dưới mặt sông. Cầu do một đại đội lính ngụy canh giữ; về đêm, địch thay nhau tuần tra qua lại trên cầu, thỉnh thoảng bắn và ném lựu đạn xuống gần các trụ cầu đề phòng "người nhái" đột nhập. "Cách bố phòng nói trên cho thấy lời tuyên bố của địch là có cơ sở, đến cả con cá cũng không thoát được nếu phát ra tiếng động trên sông. Tuy nhiên không vì thế mà chúng ta chùn bước", Đại tá Phạm Xuân Sanh nhìn nhận.
Đúng 20 giờ ngày 2-4-1967, trận chiến đấu bắt đầu. Sau khi làm lễ "truy điệu sống", đồng chí Nguyễn Sự, lúc đó là đội phó xung phong làm tổ trưởng, cùng hai tổ viên ra trước hàng quân nhận lệnh và hứa quyết thắng. Không khí trước giờ xung trận thật thiêng liêng. Họ ôm choàng ba đồng chí của tổ chiến đấu, mình trần chân đất như để tiếp thêm sinh lực của phân đội và gửi gắm niềm tin thắng lợi trở về. Tổ chiến đấu vẫy tay chào tạm biệt, dìu khối thuốc nổ TNT 100kg ra giữa dòng sông và khuất dần trong màn đêm lạnh. Lúc này, trên quốc lộ, đoàn xe kéo pháo của địch nối đuôi nhau lần lượt qua cầu. Bánh xích sắt xe kéo pháo nghiến xuống mặt cầu phát ra âm thanh rầm rầm rờn rợn hòa trong tiếng nổ động cơ vang động. Toán địch tuần tra đang cụm lại với nhau, tựa vào lan can theo dõi đoàn xe di chuyển, dưới sông, tổ chiến đấu chớp thời cơ, mật tập mục tiêu, bình tĩnh, nhẹ nhàng mở lớp rào dây thép gai đã cắt sẵn, đưa khối nổ vào cố định ở trụ cầu. Tổ trưởng Nguyễn Sự ra hiệu cho 2 tổ viên rút ra trước, còn mình điểm hỏa xong sẽ rút ra sau. Kíp nổ hẹn 30 phút, 2 tổ viên xuôi về phía cửa sông, gặp bộ phận đón và chờ sẵn trên bờ.
"Thời gian như dừng lại. Gần 30 phút trôi qua nhưng chưa thấy đồng chí Sự về. Bỗng một ánh chớp sáng lòa kèm theo là tiếng nổ lớn. Chiếc cầu như dải lụa bỗng chốc đổ sập xuống. Tiếng la hét om sòm, còi báo động rú lên từng hồi như tiếng kêu cấp cứu. Pháo sáng từ các vị trí của Mỹ gần đó thi nhau bắn lên trời, có lẽ chúng sợ bóng đêm sẽ đem cái chết bất ngờ đến với chúng bất cứ lúc nào",... Đại tá Phạm Xuân Sanh nhớ lại. Rạng sáng hôm sau, nghe tin cầu Thủy Tú bị đánh sập, tên trung tá chỉ huy Liên đoàn 10 công binh ngụy đến kiểm tra. Y đứng ngắm nghía hồi lâu, rồi như thất kinh hoảng sợ, trượt chân lộn cổ xuống sông chết chìm theo số phận chiếc cầu và cả tiểu đội tuần tra ngụy lúc cầu đổ sập. Sau trận đánh, đài và báo chí Sài Gòn cũng như phương Tây đưa tin về cầu Thủy Tú, chúng phê phán cả quân lực Việt Nam cộng hòa lẫn lực lượng quân sự Hoa Kỳ, đồng thời tuyên bố: "Miền Trung bị gãy xương sống!".
Trận đánh này của lực lượng đặc công nước đã được Quân khu V biểu dương, khen ngợi là "trận đánh xuất sắc, mở đầu của đội đặc công nước trên chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng". "Tuy nhiên, đây cũng là trận đánh cuối cùng của người chỉ huy mẫn cán Nguyễn Sự. Máu của anh đã hòa vào dòng sông, như tiếp thêm nguồn sức mạnh cho đặc công nước Quảng Đà lập thêm nhiều chiến công trên chặng đường phía trước", Đại tá Phạm Xuân Sanh bùi ngùi xúc động.
Doãn Hùng
(còn nữa)
(còn nữa)
Huyền thoại đặc công nước Quảng Đà (4)
Cập nhật: Thứ sáu, 25/12/2015 - 10h31'
* Kỳ 4: Diệt pháo hạm thuộc Hạm đội 7 Mỹ
(Cadn.com.vn) - 3 năm sau khi vào chiến trường, chiến công của Đội 3 đặc công nước Quảng Đà ngày càng dày thêm. Hàng chục trận đánh bất ngờ, bí mật vào các căn cứ trọng yếu đã làm cho địch hết sức hoang mang, lo lắng và đặt câu hỏi: Liệu có phải Việt cộng chui từ dưới nước lên? Trong khi đó, các chiến sĩ đặc công nước vẫn chưa bằng lòng khi mà các mục tiêu di động, nhất là pháo hạm thuộc Hạm đội 7 của Mỹ ngoài biển hàng ngày nã pháo vào đất liền, gây tổn thất cho ta vẫn chưa có cách nào chế ngự, tiêu diệt được. Tuy nhiên, thời cơ có một không hai bất ngờ xuất hiện...
Đại
tá Phạm Xuân Sanh nhớ lại: Từ những năm 1966 đến 1968, tình
hình chiến sự trên chiến trường Quảng Đà ngày càng khốc liệt.
Liên tiếp thua đau trong chiến dịch mùa khô thứ 2, cay cú, địch
đã tăng cường pháo hạm yểm trợ để cho bộ binh mở các trận
càn quét quy mô lớn. Trước mỗi trận càn quét, các trận địa
pháo trên đất liền cùng với pháo trên các chiến hạm tập trung
bắn phá, dọn bãi cho bộ binh càn quét. Những trận càn quét
dài ngày, từ sáng đến chiều, mức độ “bom chồng lên bom, đạn
cày lên đạn” khiến nhiều vùng quê trở thành bình địa, không
còn một dấu vết nào để khẳng định trước kia nơi đây nhà cửa,
dân cư đông đúc, làng quê đẹp đẽ, thanh bình.
Trước tình thế này, ta đã tập trung đánh vào các trận địa pháo của địch như Cẩm Hà, Lai Nghi, Cồn Khe, Hòa Cầm, Thanh Vinh, Vĩnh Điện... gây cho địch tổn thất nặng nề. Riêng pháo hạm trên biển thì chưa có cách nào trừng trị được. Anh em đặc công nước luôn để tâm theo dõi, nghiên cứu. Có lần, Đội 3 đặc công nước bố trí trinh sát theo thuyền đánh cá của ngư dân Duy Hải, Bình Dương ra Cù Lao Chàm điều tra nghiên cứu và biết được loại pháo hạm này là của Hạm đội 7 Mỹ, chuyên làm nhiệm vụ cơ động dọc theo bờ biển, đánh phá các mục tiêu trên bộ của ta và yểm trợ cho các cuộc hành quân của Mỹ. Đánh xong chúng lại rút ra khơi về hạm đội. Vì thế, kế hoạch đánh tiêu diệt pháo hạm địch của đặc công nước không thực hiện được.
Cả
chiến dịch mùa Thu năm 1969, Phân đội 1 đặc công nước phụ trách
cánh Bắc Đà Nẵng chưa lập được chiến công lớn. Mãi đến tháng
10-1969, tình huống ngoài dự kiến xuất hiện, đó là lúc anh em
đặc công nước phát hiện tàu chiến cỡ lớn của địch vào neo
đậu đơn độc ngoài cửa vịnh Đà Nẵng, phía trong hòn Sơn Trà
nhỏ, cách chân núi chừng 300m. Quan sát bằng ống nhòm, anh em
thấy trên boong tàu rất nhiều ụ pháo, xác định đây đích thị
là “hung thần pháo hạm”. Câu hỏi đặt ra là tại sao nó lại vào
neo đậu ở đây? Tìm hiểu thêm, trinh sát xác định pháo hạm bị
trục trặc kỹ thuật, neo lại để sửa chữa. Và đây chính là
thời cơ tốt để tiêu diệt chúng!
Trận đánh kho xăng Liên Chiểu trước đó ít ngày làm cho quân số bị giảm sút, sức khỏe chưa bình phục. Trong 7 người còn lại, từ ngày phân đội trưởng Huỳnh Thế hy sinh, Chính trị viên Huỳnh Tửu chỉ huy chung, còn 6 người thì hết 3 người sốt rét liên tục. Vả lại, không có chỉ thị nào của Mặt trận 44 lệnh cho anh em phải đánh mục tiêu này nên hoàn toàn có thể bỏ qua. Tuy nhiên, Chính trị viên Huỳnh Tửu luôn dằn vặt bởi câu hỏi: Loại pháo hạm này đã gây bao nhiêu tai họa, chết chóc đau thương cho đồng bào, đồng chí và người thân yêu ruột thịt của ta, chưa có cách nào diệt nó, nay nó dẫn xác vào đây chẳng lẽ để nó thoát? Thế là anh bàn với các đảng viên còn lại và hạ quyết tâm phải diệt bằng được! Để khắc phục tình trạng thiếu thuốc nổ, phân đội nhờ đội công binh Hải Vân hỗ trợ, thiếu người phục vụ, nhờ Khu đội I – Hòa Vang hỗ trợ vài ba giao liên, trinh sát, thành lập 1 tổ chiến đấu 3 người, do đích thân Huỳnh Tửu làm tổ trưởng chỉ huy. Tất cả mọi người khẩn trương vào cuộc.
Chạy đua với thời gian, từng người từng việc được phân công nhanh chóng hoàn thành. Lúc 14 giờ ngày 30-10-1969, từ hậu cứ Nam Hải Vân, những người lính đặc công nước cắt rừng đi về hướng Đông tiếp cận đường đèo Hải Vân, chờ sẩm tối vượt qua “tử lộ” vì địch đặt vọng gác dày đặc trên đường, có quân đi tuần tiễu và quân mai phục ở những nơi hiểm yếu. Từng giây từng phút trôi qua nặng nề, căng thẳng. 21 giờ ngày 30-10, sau khi tổ chức lễ “truy điệu sống”, tổ chiến đấu xuất phát. Một cuộc vật lộn với sóng nước biển khơi và rút ngắn dần khoảng cách dẫn đến mục tiêu. Thông thường, vượt một hai cây số đầu tiên, ai nấy đều mệt mỏi rã rời, tuy nhiên, khi vượt qua được ngưỡng ấy, mọi người sẽ cảm thấy đỡ mệt hơn. Quãng đường hành tiến tiếp cận mục tiêu hơn 5km nhưng chỉ gặp một vài bãi cạn rồi tiếp tục tiến lên vì thời gian không chờ đợi. Khi tiếp cận mục tiêu chừng 100m, tất cả chuyển sang kỹ thuật lặn áp sát mạn tàu. Ngước nhìn lên boong tàu, thấy rất nhiều ụ pháo các cỡ. Trên nóc đài chỉ huy, ra-đa vẫn vận hành đều các hướng. Thỉnh thoảng vài ba tên thủy thủ đi lại trên boong. Tổ chiến đấu bình tĩnh cố định khối nổ (60kg thuốc nổ C4) vào thân tàu. Huỳnh Tửu kiểm tra lần cuối, bấm kíp nổ hẹn 40 phút và lệnh cho anh em rút lui. Thời gian bắt đầu chuyển qua ngày mới cũng là lúc bắt đầu triều cường theo quy luật bán nhật triều của ngày kế tiếp.
Trên
quãng đường quay lại đất liền, anh em ai nấy đều dùng kỹ
thuật bơi ngửa, vừa bơi vừa hướng về phía mục tiêu chờ đợi.
Giây phút quân thù đền tội ác đã đến khi một cột khói dựng
lên như chiếc nấm khổng lồ, chiến hạm Mỹ bị ngọn lửa nuốt
trọn và chìm dần. Bị giáng một đòn đau, lập tức pháo sáng
từ các căn cứ địch trên các điểm cao như Núm Chiêng, Đồn Nhất,
Bãi Chuối bắn tới tấp lên trời. Nhiều tốp trực thăng vũ trang
xuất hiện. Từng tốp 3 chiếc, chiếc đi giữa soi đèn, 2 chiếc đi
kèm nã rốc két tới tấp xuống mặt biển, bìa rừng. Các tốp
trực thăng lồng lộn rà sát mặt biển, sát ngọn cây trên triền
núi, tiếng động cơ trực thăng gầm vang, tiếng nổ rốc két liên
tục hòa cùng tiếng còi thất thanh của các loại tàu chạy
loạn, náo động không gian vùng vịnh.
Tình thế hiểm nghèo, Tổ trưởng Huỳnh Tửu tháo dây liên kết, truyền đạt cho các tổ viên tản ra xa nhau, tự do hành động đối phó với kẻ thù và rút về khu xuất phát. Trực thăng lượn vòng rà soát, có lúc đèn pha chiếu thẳng vào người, anh em phải nhanh chóng lặn sâu dưới nước để tránh thương vong. Căn cứ sân bay trực thăng Nước Mặn ở gần nên chúng thay nhau tốp này về, tốp sau thay thế soi tìm bắn phá thâu đêm...
“Trận đánh diệt pháo hạm Mỹ của phân đội đặc công nước do Huỳnh Tửu chỉ huy được xếp vào một trong những chiến công xuất sắc nhất trong nhiều trận đánh “diệt tàu chiến Mỹ” tại chiến trường Quảng Đà”, ông Phạm Xuân Sanh nhìn nhận. Tuy nhiên, do phân đội nhỏ, chiến đấu độc lập trong vùng địch, lại là thời điểm chiến trường hết sức ác liệt, “vì vậy, sau trận đánh này không lâu, số anh em ít ỏi còn lại của phân đội được lệnh của Mặt trận 44 đánh tiếp kho xăng Liên Chiểu lần 2. Trận đánh không thành, Huỳnh Tửu và tổ chiến đấu hy sinh”, giọng ông Sanh chùng xuống, bùi ngùi xúc động.
(Cadn.com.vn) - 3 năm sau khi vào chiến trường, chiến công của Đội 3 đặc công nước Quảng Đà ngày càng dày thêm. Hàng chục trận đánh bất ngờ, bí mật vào các căn cứ trọng yếu đã làm cho địch hết sức hoang mang, lo lắng và đặt câu hỏi: Liệu có phải Việt cộng chui từ dưới nước lên? Trong khi đó, các chiến sĩ đặc công nước vẫn chưa bằng lòng khi mà các mục tiêu di động, nhất là pháo hạm thuộc Hạm đội 7 của Mỹ ngoài biển hàng ngày nã pháo vào đất liền, gây tổn thất cho ta vẫn chưa có cách nào chế ngự, tiêu diệt được. Tuy nhiên, thời cơ có một không hai bất ngờ xuất hiện...
| Ba chiến sĩ đặc công nước có mặt đầu tiên tại chiến trường Quảng Đà (Phạm Xuân Sanh, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Tấn Minh, từ trái qua). |
Trước tình thế này, ta đã tập trung đánh vào các trận địa pháo của địch như Cẩm Hà, Lai Nghi, Cồn Khe, Hòa Cầm, Thanh Vinh, Vĩnh Điện... gây cho địch tổn thất nặng nề. Riêng pháo hạm trên biển thì chưa có cách nào trừng trị được. Anh em đặc công nước luôn để tâm theo dõi, nghiên cứu. Có lần, Đội 3 đặc công nước bố trí trinh sát theo thuyền đánh cá của ngư dân Duy Hải, Bình Dương ra Cù Lao Chàm điều tra nghiên cứu và biết được loại pháo hạm này là của Hạm đội 7 Mỹ, chuyên làm nhiệm vụ cơ động dọc theo bờ biển, đánh phá các mục tiêu trên bộ của ta và yểm trợ cho các cuộc hành quân của Mỹ. Đánh xong chúng lại rút ra khơi về hạm đội. Vì thế, kế hoạch đánh tiêu diệt pháo hạm địch của đặc công nước không thực hiện được.
| Một trong 3 hải thuyền của địch bị đánh chìm tại Cửa Đại – Hội An ngày 2-10-1967. |
Trận đánh kho xăng Liên Chiểu trước đó ít ngày làm cho quân số bị giảm sút, sức khỏe chưa bình phục. Trong 7 người còn lại, từ ngày phân đội trưởng Huỳnh Thế hy sinh, Chính trị viên Huỳnh Tửu chỉ huy chung, còn 6 người thì hết 3 người sốt rét liên tục. Vả lại, không có chỉ thị nào của Mặt trận 44 lệnh cho anh em phải đánh mục tiêu này nên hoàn toàn có thể bỏ qua. Tuy nhiên, Chính trị viên Huỳnh Tửu luôn dằn vặt bởi câu hỏi: Loại pháo hạm này đã gây bao nhiêu tai họa, chết chóc đau thương cho đồng bào, đồng chí và người thân yêu ruột thịt của ta, chưa có cách nào diệt nó, nay nó dẫn xác vào đây chẳng lẽ để nó thoát? Thế là anh bàn với các đảng viên còn lại và hạ quyết tâm phải diệt bằng được! Để khắc phục tình trạng thiếu thuốc nổ, phân đội nhờ đội công binh Hải Vân hỗ trợ, thiếu người phục vụ, nhờ Khu đội I – Hòa Vang hỗ trợ vài ba giao liên, trinh sát, thành lập 1 tổ chiến đấu 3 người, do đích thân Huỳnh Tửu làm tổ trưởng chỉ huy. Tất cả mọi người khẩn trương vào cuộc.
Chạy đua với thời gian, từng người từng việc được phân công nhanh chóng hoàn thành. Lúc 14 giờ ngày 30-10-1969, từ hậu cứ Nam Hải Vân, những người lính đặc công nước cắt rừng đi về hướng Đông tiếp cận đường đèo Hải Vân, chờ sẩm tối vượt qua “tử lộ” vì địch đặt vọng gác dày đặc trên đường, có quân đi tuần tiễu và quân mai phục ở những nơi hiểm yếu. Từng giây từng phút trôi qua nặng nề, căng thẳng. 21 giờ ngày 30-10, sau khi tổ chức lễ “truy điệu sống”, tổ chiến đấu xuất phát. Một cuộc vật lộn với sóng nước biển khơi và rút ngắn dần khoảng cách dẫn đến mục tiêu. Thông thường, vượt một hai cây số đầu tiên, ai nấy đều mệt mỏi rã rời, tuy nhiên, khi vượt qua được ngưỡng ấy, mọi người sẽ cảm thấy đỡ mệt hơn. Quãng đường hành tiến tiếp cận mục tiêu hơn 5km nhưng chỉ gặp một vài bãi cạn rồi tiếp tục tiến lên vì thời gian không chờ đợi. Khi tiếp cận mục tiêu chừng 100m, tất cả chuyển sang kỹ thuật lặn áp sát mạn tàu. Ngước nhìn lên boong tàu, thấy rất nhiều ụ pháo các cỡ. Trên nóc đài chỉ huy, ra-đa vẫn vận hành đều các hướng. Thỉnh thoảng vài ba tên thủy thủ đi lại trên boong. Tổ chiến đấu bình tĩnh cố định khối nổ (60kg thuốc nổ C4) vào thân tàu. Huỳnh Tửu kiểm tra lần cuối, bấm kíp nổ hẹn 40 phút và lệnh cho anh em rút lui. Thời gian bắt đầu chuyển qua ngày mới cũng là lúc bắt đầu triều cường theo quy luật bán nhật triều của ngày kế tiếp.
| Kho xăng Liên Chiểu bị đặc công nước đánh gây cháy lớn. |
Tình thế hiểm nghèo, Tổ trưởng Huỳnh Tửu tháo dây liên kết, truyền đạt cho các tổ viên tản ra xa nhau, tự do hành động đối phó với kẻ thù và rút về khu xuất phát. Trực thăng lượn vòng rà soát, có lúc đèn pha chiếu thẳng vào người, anh em phải nhanh chóng lặn sâu dưới nước để tránh thương vong. Căn cứ sân bay trực thăng Nước Mặn ở gần nên chúng thay nhau tốp này về, tốp sau thay thế soi tìm bắn phá thâu đêm...
“Trận đánh diệt pháo hạm Mỹ của phân đội đặc công nước do Huỳnh Tửu chỉ huy được xếp vào một trong những chiến công xuất sắc nhất trong nhiều trận đánh “diệt tàu chiến Mỹ” tại chiến trường Quảng Đà”, ông Phạm Xuân Sanh nhìn nhận. Tuy nhiên, do phân đội nhỏ, chiến đấu độc lập trong vùng địch, lại là thời điểm chiến trường hết sức ác liệt, “vì vậy, sau trận đánh này không lâu, số anh em ít ỏi còn lại của phân đội được lệnh của Mặt trận 44 đánh tiếp kho xăng Liên Chiểu lần 2. Trận đánh không thành, Huỳnh Tửu và tổ chiến đấu hy sinh”, giọng ông Sanh chùng xuống, bùi ngùi xúc động.
Doãn Hùng
(còn nữa)
(còn nữa)
Huyền thoại đặc công nước Quảng Đà (5)
Cập nhật: Thứ bảy, 26/12/2015 - 10h11'
* Kỳ 5: Cắt đứt “mạch máu” chi viện của địch
(Cadn.com.vn) - Sau khi Đội 170 được thành lập, dưới sự chỉ huy tài tình của Đội trưởng Phạm Xuân Sanh, liên tiếp các trận đánh lớn được triển khai và thu về kết quả, trong đó có 2 trận đánh sập cầu Câu Lâu, Bà Rén trên QL1A trong đêm 31-3-1970. Riêng cầu Vĩnh Điện, do địa thế chiến lược quan trọng nên địch đã bố phòng rất nghiêm ngặt. Nhiệm vụ đặt ra cho Đội 170 là bằng mọi giá phải đánh sập, cắt đứt mạch máu giao thông chi viện của địch từ Đà Nẵng vào...
Cầu Vĩnh Điện nằm trên
QL1A, cửa ngõ phía bắc, từ Đà Nẵng vào trung tâm hành chính
H. Điện Bàn. Ngoài đại đội lính ngụy giữ cầu, tại đây còn có
hệ thống đồn bót liên hoàn và khu ấp tân sinh, nhiều đơn vị
địa phương quân canh phòng cẩn mật. Về phía thượng nguồn chừng
500m – khu vực tháp An Bằng dọc theo đường tỉnh lộ 609 còn có
các đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ chốt giữ. Ở địa thế hiểm
yếu đó, việc đánh cầu Vĩnh Điện là bài toán nan giải đối
với đặc công nước. “Trước đó, trong đợt 1 chiến dịch hè 1970,
đội đặc công nước biệt phái phân đội 3 về huyện đội Điện Bàn
để phối hợp đánh cầu nhưng chưa đánh được thì một đồng chí
đã hy sinh trong khi trinh sát mục tiêu”, Đại tá Phạm Xuân Sanh
nhớ lại.
Đầu tháng 5-1970, đợt 2 của chiến dịch hè, các đơn vị chiến đấu của ta đã liên tục đánh bồi vào các quận lỵ, thị xã, thị trấn của địch trên khắp chiến trường Quảng Đà. Bộ chỉ huy Mặt trận 44 lệnh cho Đội 170 phải phối hợp với huyện đội Điện Bàn “đánh sập bằng được cầu Vĩnh Điện”! Mặc dù đơn vị mới vừa đánh xong 2 cầu Câu Lâu, Bà Rén, song Đội vẫn quyết tâm vào cuộc. Xác định đây là mục tiêu khó đánh nên đội trưởng Phạm Xuân Sanh trực tiếp chỉ huy và tổ chức chiến đấu. Là một trong số đồng chí hiếm hoi của Đội 3 còn lại, Phạm Xuân Sanh khá dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Vốn tính tình cởi mở nhưng sau khi nhận nhiệm vụ đánh mục tiêu hóc búa này, nỗi lo lắng hiện rõ trên nét mặt người chỉ huy. Tuy nhiên, để đảm bảo chắc thắng, anh lần lượt phân công nhiệm vụ cho từng chiến sỹ; đồng thời, trực tiếp làm việc với huyện đội Điện Bàn để bàn bạc, thống nhất kế hoạch.
Được sự phối hợp, giúp đỡ của huyện đội, sự bao bọc, che chở và cung cấp thông tin của nhân dân, Phạm Xuân Sanh xác định: Nhìn bề ngoài quân Mỹ, ngụy đông đúc, đóng rải khắp nơi, đi đâu cũng đụng đầu nhưng thực chất chúng rất sợ Việt Cộng và đa số chán nản, lao vào cờ bạc rượu chè, thanh lâu tửu quán, một số giải sầu với cần sa ma túy... Trên con đường độc đạo với lưu lượng xe cộ vào Nam ra Bắc, nội ngoại tỉnh đều phải qua đây. Bọn lính giữ cầu lợi dụng việc soát xét Việt Cộng để hạch sách, nhũng nhiễu, ức hiếp hành khách kiếm tiền đút túi; việc canh giữ cầu có nhiều sơ hở, nhất là từ đầu hôm đến khoảng gần nửa đêm tình trạng trên càng nhốn nháo. Đêm 1-5, tối trời nhưng thị trấn Vĩnh Điện và các vị trí địch đóng quân vẫn sáng rõ dưới ánh sáng đèn điện. Từ vị trí trú quân tại Điện An, tổ trinh sát đặc công nước theo chân giao liên và du kích địa phương băng qua cánh đồng đầy cỏ dại, sình lầy, gai góc... tiến đến gần đường tỉnh lộ. Chừng 20 phút sau, bắt được tín hiệu, Tổ chiến đấu vượt qua các trạm canh của địch và tiếp cận bờ sông Vĩnh Điện, cách cầu gần 2km về phía thượng lưu.
Tổ trinh sát nhanh chóng hạ thủy. Dòng sông trôi nhẹ, tổ trinh sát lúc nổi, lúc chìm trong dòng nước êm xuôi, dùng kỹ thuật mật tập vào trụ cầu giữa sông, nhẹ nhàng dùng kìm chuyên dụng cắt lưới thép gai bao quanh trụ cầu, mở lối vào sát trụ cầu để kiểm tra, nghiên cứu. Một vài tốp lính ngụy qua lại tuần tra trong cái ồn ã của xe cộ qua lại, mà không biết rằng phía dưới cầu đang có chuyện gì xảy ra. Mọi việc nhanh chóng hoàn tất, tổ trinh sát rút xuôi về phía hạ lưu bí mật, an toàn. Nhiệm vụ coi như đã hoàn thành một nửa. Tổng hợp kết quả trinh sát, Đội trưởng Phạm Xuân Sanh lập phương án chiến đấu, quyết định đánh cầu với khối nổ 100kg gồm TNT và C4 hỗn hợp. Cái khó nhất của việc lắp ghép khối nổ là 100kg thuốc nổ làm thành 4 khối để dễ dàng vận chuyển, nhưng khi xuất phát chiến đấu thì ghép 4 khối nhỏ thành một khối lớn, làm sao phải đảm bảo kỹ thuật tốt, không để xảy ra tình huống trục trặc khó xử lý cho tổ chiến đấu là một yêu cầu không đơn giản song với quyết tâm cao, anh em đã làm được.
Theo hợp đồng chiến đấu với huyện đội Điện Bàn, lúc 0 giờ 5 phút ngày 4-5-1970, các đơn vị bộ đội địa phương và một số đơn vị phối hợp sẽ đồng loạt nổ súng đánh vào các quận lỵ, các cơ quan hội đồng tề ngụy và một số đồn bót của bọn bảo an trong thị trấn. Ngay lúc đó, đặc công nước sẽ đánh sập cầu Vĩnh Điện, không cho cơ giới chuyển quân ứng cứu.
Đêm
4-5-1970, Đội trưởng Phạm Xuân Sanh đưa phân đội do Tổ trưởng
Nguyễn Văn Tùy và tổ phó Giang Hồng Mão cùng 2 chiến sỹ tổ
viên lên đường vào trận. Đoàn quân đi trong đêm mờ ảo qua những
làng xóm chỉ còn dấu vết các bờ tre cháy đen, những khu vườn
hoang vắng, qua cánh đồng đầy cỏ dại, lỗ chỗ các hố đại bác
đào xới, những vệt dài của bánh xích xe tăng, bọc thép qua
các trận chà đi xát lại... Đúng 22 giờ 30 phút, Đội trưởng
Sanh ra lệnh xuất quân. Tổ chiến đấu dìu khối nổ ra sông, anh em
trên bờ vẫy tay đưa tiễn đến khi họ lẩn khuất trong dòng nước.
Đoạn sông phía thượng lưu và hạ lưu cầu Vĩnh Điện không rộng
nhưng nước sâu, lưu tốc dòng chảy đã tạo thuận lợi cho kỹ
thuật đi chìm, nhờ sức đẩy của nước đã nhanh chóng đưa anh em
vào mục tiêu. Theo sự phân công, từng tổ viên thao tác cố định
khối nổ vào trụ cầu rồi lần lượt rút ra, tổ trưởng điểm hỏa
kíp hẹn giờ 30 phút, rút ra sau cùng rồi xuôi về hạ lưu
khoảng 1,5km, nơi có đồng đội đang chờ đón lên bờ.
Tiếng súng tấn công của bộ đội và du kích địa phương nổ ran trong thị trấn. Pháo sáng từ các đồn bót, cứ điểm của địch dồn dập bắn lên trời bung ra những đám sáng màu huyết dụ, nhoáng nhoàng trên bầu trời Vĩnh Điện. Tổ chiến đấu lên bờ cùng bộ phận đón hướng về phía cầu chờ đợi! Đúng 1 giờ kém 5 phút, khối nổ ở cầu Vĩnh Điện phát hỏa bằng ánh chớp sáng lóe lên, tiếp theo là tiếng nổ âm vang rung chuyển cả một vùng thị trấn. Trụ cầu đổ nghiêng, thân cầu vặn vỏ đỗ chênh vênh. Đầu cầu phía Bắc, xe cộ các loại ùn tắc. Du kích xã Điện An và Điện Phước phục sẵn, 2 tiểu đội đồng loạt nổ súng vào đoàn xe quân sự, một số tên chết, số khác hoảng sợ bỏ xe chạy tán loạn tháo thân.
Trận chiến đấu nhiều khó khăn nhưng với quyết tâm chiến đấu cao, Đội 170 đã làm nên chiến thắng và trở về trọn vẹn, là niềm phấn khởi hân hoan của toàn đơn vị. Cùng với trận đánh cầu Vĩnh Điện, Chính trị viên Đinh Văn Rơi đưa 1 phân đội về Hội An, phối hợp với thị đội đánh thành công cầu Phước Trạch, góp thêm một chiến công nữa cho Đội 170.
(Cadn.com.vn) - Sau khi Đội 170 được thành lập, dưới sự chỉ huy tài tình của Đội trưởng Phạm Xuân Sanh, liên tiếp các trận đánh lớn được triển khai và thu về kết quả, trong đó có 2 trận đánh sập cầu Câu Lâu, Bà Rén trên QL1A trong đêm 31-3-1970. Riêng cầu Vĩnh Điện, do địa thế chiến lược quan trọng nên địch đã bố phòng rất nghiêm ngặt. Nhiệm vụ đặt ra cho Đội 170 là bằng mọi giá phải đánh sập, cắt đứt mạch máu giao thông chi viện của địch từ Đà Nẵng vào...
| “Thủ lĩnh” đặc công nước 170 Quảng Đà, Phạm Xuân Sanh và đồng đội ôn lại kỷ niệm những ngày chiến đấu tại chiến trường Quảng Đà. |
Đầu tháng 5-1970, đợt 2 của chiến dịch hè, các đơn vị chiến đấu của ta đã liên tục đánh bồi vào các quận lỵ, thị xã, thị trấn của địch trên khắp chiến trường Quảng Đà. Bộ chỉ huy Mặt trận 44 lệnh cho Đội 170 phải phối hợp với huyện đội Điện Bàn “đánh sập bằng được cầu Vĩnh Điện”! Mặc dù đơn vị mới vừa đánh xong 2 cầu Câu Lâu, Bà Rén, song Đội vẫn quyết tâm vào cuộc. Xác định đây là mục tiêu khó đánh nên đội trưởng Phạm Xuân Sanh trực tiếp chỉ huy và tổ chức chiến đấu. Là một trong số đồng chí hiếm hoi của Đội 3 còn lại, Phạm Xuân Sanh khá dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Vốn tính tình cởi mở nhưng sau khi nhận nhiệm vụ đánh mục tiêu hóc búa này, nỗi lo lắng hiện rõ trên nét mặt người chỉ huy. Tuy nhiên, để đảm bảo chắc thắng, anh lần lượt phân công nhiệm vụ cho từng chiến sỹ; đồng thời, trực tiếp làm việc với huyện đội Điện Bàn để bàn bạc, thống nhất kế hoạch.
Được sự phối hợp, giúp đỡ của huyện đội, sự bao bọc, che chở và cung cấp thông tin của nhân dân, Phạm Xuân Sanh xác định: Nhìn bề ngoài quân Mỹ, ngụy đông đúc, đóng rải khắp nơi, đi đâu cũng đụng đầu nhưng thực chất chúng rất sợ Việt Cộng và đa số chán nản, lao vào cờ bạc rượu chè, thanh lâu tửu quán, một số giải sầu với cần sa ma túy... Trên con đường độc đạo với lưu lượng xe cộ vào Nam ra Bắc, nội ngoại tỉnh đều phải qua đây. Bọn lính giữ cầu lợi dụng việc soát xét Việt Cộng để hạch sách, nhũng nhiễu, ức hiếp hành khách kiếm tiền đút túi; việc canh giữ cầu có nhiều sơ hở, nhất là từ đầu hôm đến khoảng gần nửa đêm tình trạng trên càng nhốn nháo. Đêm 1-5, tối trời nhưng thị trấn Vĩnh Điện và các vị trí địch đóng quân vẫn sáng rõ dưới ánh sáng đèn điện. Từ vị trí trú quân tại Điện An, tổ trinh sát đặc công nước theo chân giao liên và du kích địa phương băng qua cánh đồng đầy cỏ dại, sình lầy, gai góc... tiến đến gần đường tỉnh lộ. Chừng 20 phút sau, bắt được tín hiệu, Tổ chiến đấu vượt qua các trạm canh của địch và tiếp cận bờ sông Vĩnh Điện, cách cầu gần 2km về phía thượng lưu.
Tổ trinh sát nhanh chóng hạ thủy. Dòng sông trôi nhẹ, tổ trinh sát lúc nổi, lúc chìm trong dòng nước êm xuôi, dùng kỹ thuật mật tập vào trụ cầu giữa sông, nhẹ nhàng dùng kìm chuyên dụng cắt lưới thép gai bao quanh trụ cầu, mở lối vào sát trụ cầu để kiểm tra, nghiên cứu. Một vài tốp lính ngụy qua lại tuần tra trong cái ồn ã của xe cộ qua lại, mà không biết rằng phía dưới cầu đang có chuyện gì xảy ra. Mọi việc nhanh chóng hoàn tất, tổ trinh sát rút xuôi về phía hạ lưu bí mật, an toàn. Nhiệm vụ coi như đã hoàn thành một nửa. Tổng hợp kết quả trinh sát, Đội trưởng Phạm Xuân Sanh lập phương án chiến đấu, quyết định đánh cầu với khối nổ 100kg gồm TNT và C4 hỗn hợp. Cái khó nhất của việc lắp ghép khối nổ là 100kg thuốc nổ làm thành 4 khối để dễ dàng vận chuyển, nhưng khi xuất phát chiến đấu thì ghép 4 khối nhỏ thành một khối lớn, làm sao phải đảm bảo kỹ thuật tốt, không để xảy ra tình huống trục trặc khó xử lý cho tổ chiến đấu là một yêu cầu không đơn giản song với quyết tâm cao, anh em đã làm được.
Theo hợp đồng chiến đấu với huyện đội Điện Bàn, lúc 0 giờ 5 phút ngày 4-5-1970, các đơn vị bộ đội địa phương và một số đơn vị phối hợp sẽ đồng loạt nổ súng đánh vào các quận lỵ, các cơ quan hội đồng tề ngụy và một số đồn bót của bọn bảo an trong thị trấn. Ngay lúc đó, đặc công nước sẽ đánh sập cầu Vĩnh Điện, không cho cơ giới chuyển quân ứng cứu.
| Cầu Vĩnh Điện ngày nay. |
Tiếng súng tấn công của bộ đội và du kích địa phương nổ ran trong thị trấn. Pháo sáng từ các đồn bót, cứ điểm của địch dồn dập bắn lên trời bung ra những đám sáng màu huyết dụ, nhoáng nhoàng trên bầu trời Vĩnh Điện. Tổ chiến đấu lên bờ cùng bộ phận đón hướng về phía cầu chờ đợi! Đúng 1 giờ kém 5 phút, khối nổ ở cầu Vĩnh Điện phát hỏa bằng ánh chớp sáng lóe lên, tiếp theo là tiếng nổ âm vang rung chuyển cả một vùng thị trấn. Trụ cầu đổ nghiêng, thân cầu vặn vỏ đỗ chênh vênh. Đầu cầu phía Bắc, xe cộ các loại ùn tắc. Du kích xã Điện An và Điện Phước phục sẵn, 2 tiểu đội đồng loạt nổ súng vào đoàn xe quân sự, một số tên chết, số khác hoảng sợ bỏ xe chạy tán loạn tháo thân.
Trận chiến đấu nhiều khó khăn nhưng với quyết tâm chiến đấu cao, Đội 170 đã làm nên chiến thắng và trở về trọn vẹn, là niềm phấn khởi hân hoan của toàn đơn vị. Cùng với trận đánh cầu Vĩnh Điện, Chính trị viên Đinh Văn Rơi đưa 1 phân đội về Hội An, phối hợp với thị đội đánh thành công cầu Phước Trạch, góp thêm một chiến công nữa cho Đội 170.
Doãn Hùng
(Còn nữa)
(Còn nữa)
Huyền thoại đặc công nước Quảng Đà (6)
Cập nhật: Thứ hai, 28/12/2015 - 10h5'
* Kỳ cuối: "Đội trưởng người nhái" giá 100 ngàn USD!
(Cadn.com.vn) - Sau khi thành lập và chỉ huy Đội 170 đánh hàng loạt trận vào các cứ điểm quan trọng của địch tại chiến trường Quảng Đà làm cho Mỹ, ngụy hết sức cay cú, Phạm Xuân Sanh đã bị Mỹ, ngụy đưa vào diện "đặc biệt nguy hiểm" cần tiêu diệt. Chúng đưa ra tuyên bố: "Ai bắt được Quách Sanh (biệt danh của Phạm Xuân Sanh - PV), Đội trưởng người nhái Bắc Việt sẽ được thưởng 100 ngàn USD!". Để đáp trả lời tuyên bố ấy, Phạm Xuân Sanh quyết định đánh cầu Giao Thủy giữa ban ngày "cho chúng biết mặt".
Cầu
Giao Thủy được xem là mạch máu giao thông quan trọng của địch
nối Đại Lộc qua miền Tây Duy Xuyên, nơi có 2 sư đoàn lính thủy
đánh bộ Mỹ đóng tại đây. Do vị trí cầu ở nơi xung yếu, tiếp
giáp với vùng B Đại Lộc, là vùng giải phóng của ta nên chúng
canh phòng rất cẩn mật. Tuy vậy, từ những năm 1966 đến 1971,
Đội 3 đặc công nước (sau này là đội 170) đã 3 lần đánh sập
cầu. Khi không thể sửa chữa được nữa, Mỹ phải bỏ hẳn cầu này
làm cầu sắt mới cách cầu cũ chừng 100m về phía thượng
nguồn.
Tại chiến trường Quảng Đà lúc này đang là chiến dịch Xuân Hè 1972, quân ta tiến công các căn cứ, chốt điểm của địch, đánh mạnh vào các cơ quan ngụy quyền, các tổ chức bình định... trên hầu hết các huyện Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hòa Vang, cả nội thành Đà Nẵng và thu được nhiều thắng lợi. Hòa chung với khí thế đó, trong tháng 5-1972, Đội 170 do Phạm Xuân Sanh chỉ huy đã quyết định phân công các tổ tổ chức đánh cầu Thanh Quýt trên quốc lộ 1A và đánh sập cầu Giao Thủy trong cùng một đêm...
Sau khi bị đánh sập lần thứ 3, xác định đây là mạch máu nối liền hai vùng chiến thuật của Tây Duy Xuyên và Đại Lộc nên chúng quyết định xây cầu mới, vững chắc hơn. Chúng điều đến 1 tiểu đoàn công binh ngụy, dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ khẩn trương xây dựng, hình thành một công trường làm cầu ngổn ngang các loại vật tư, xe tải, xe cẩu, xe chuyên dụng... Lính tráng đi lại xen lẫn với những nhóm lính công binh đang làm việc trên mặt cầu và cả hai bên đầu cầu rất nhộn nhịp. Trước tình thế đó, Đội trưởng Phạm Xuân Sanh nghĩ ra một kế hoạch hết sức táo bạo: "Cần phải đánh bồi một trận bất ngờ giữa lúc địch đang xây cầu!". Anh nhanh chóng họp phân đội, nói rõ ý định và động viên đồng đội suy nghĩ hiến kế. Có người cho rằng đánh giữa ban trưa khi bọn địch chui vào lều bạt nghỉ, ăn uống, không chú ý đề phòng. Có ý kiến lại bảo nên đánh lúc chập choạng tối. Ý kiến nào cũng có lý lẽ phân tích thuận lợi và khó khăn. Nhưng cuối cùng, phương án của đội trưởng đưa ra, cả phân đội đều tán thành và cho là tối ưu nhất là: Tranh thủ thời cơ lúc thời gian kết thúc đêm canh gác tuần tra bảo vệ cầu và chuẩn bị bắt đầu một ngày triển khai công tác làm cầu của bọn lính công binh. Thời gian này khoảng 1 giờ đồng hồ từ hơn 5 giờ đến 7 giờ sáng.
Kế hoạch đưa ra là tổ chiến đấu có thể xuất phát từ 5 giờ sáng, tiếp cận mục tiêu đặt khối nổ, điểm hỏa rồi rút khỏi mục tiêu khoảng 6 giờ sáng, lúc trời chưa sáng tỏ. Đặt kíp hẹn giờ nổ 2 tiếng, như vậy khối nổ sẽ phát hỏa lúc 8 giờ, đúng lúc địch đang tập trung làm việc. Phân đội tán đồng và trở thành nghị quyết thực hiện. Ai nấy đều tin tưởng phương án "táo bạo và bất ngờ" này sẽ là yếu tố làm nên chiến thắng. Đội trưởng Sanh họp toàn phân đội phân công nhiệm vụ. Để gọn nhẹ, cơ động tốt, tổ chiến đấu chỉ cần 2 người nhưng cả phân đội đều xung phong. Đội trưởng Sanh hoan nghênh tinh thần tự nguyện của mọi người nhưng trận này chỉ cần 2 đồng chí, ai chưa được đi lần này thì sẵn sàng nhận nhiệm vụ những trận tiếp theo. Trận này 2 đồng chí Hồ Phi Thiện và Giang Hồng Mão trực tiếp tham gia. Mang theo khối nổ 40kg C4 và một quả mìn rùa (nam châm), 2 chiến sỹ xuất phát từ địa điểm cách cầu khoảng 1,5km, tính toán lưu tốc nước, thời gian tiếp cận mục tiêu...
Thiện và Mão rất tự tin vì mục tiêu không có vật cản rào thép gai, chỉ cần đảm bảo kỹ thuật hành tiến bí mật tiếp cận mục tiêu, đảm bảo thời gian là chắc thắng. Lúc 5 giờ 45 phút ngày 19-5-1972, tổ chiến đấu đã vào mục tiêu nhận chìm khối nổ áp vào trụ cầu, điểm hỏa rồi rút khỏi mục tiêu lúc 6 giờ kém 5, khi trời chưa sáng tỏ.
7 giờ 15 phút, tiếng nổ ầm vang làm trụ cầu gãy đổ, văng cả 2 nhịp cùng 32 tên lính công binh và một số máy móc xuống sông. Lúc này, người dân đã đi làm trên cánh đồng Quảng Huế phía Đại Lộc và rất nhiều bà con đi làm, đi chợ Mỹ Lược bên phía Duy Xuyên đã kéo về phía cầu với tinh thần hết sức hồ hởi, phấn khởi. Họ bàn tán, kháo nhau: "Bọn địch cứ rêu rao Việt Cộng chỉ là thổ phỉ ở trên núi, đói khát, bệnh tật, gầy ốm đến nỗi 7 Việt Cộng đeo không gãy một cọng đu đủ, làm sao thắng được quốc gia, rứa mà hàng trăm tên Mỹ, ngụy bị Việt Cộng đánh chết nhăn răng, chìm dưới sông làm mồi cho cá, lũ còn sống sót sợ mất mật như gà sợ quạ. Hết đời quân khoác lác, huênh hoang!".
Sau trận đánh, Mỹ, ngụy vốn cay cú với cách đánh "xuất quỷ nhập thần" của đặc công nước, nay nhận thêm một cú trời giáng nữa nên lại càng cay cú hơn. Chúng lồng lộn như con thú điên, tổ chức lùng sục, kiểm soát gắt gao hơn hòng tìm cho ra "Đội trưởng người nhái Bắc Việt" Quách Sanh, tuy nhiên mọi nỗ lực, kể cả dùng rất nhiều tiền để mua tin về người đội trưởng và chiến sỹ của ông nhưng vẫn không thu được kết quả. Thay vào đó, kết cục chúng nhận được lại là hàng chục trận đánh của đặc công nước vào "yếu huyệt" và chịu tổn thất nặng nề...
Vĩ thanh
Với nhiều chiến công đánh Mỹ vang dội, lực lượng đặc công nước Quảng Đà được tặng thưởng hàng chục Huân chương Quân công, Huân chương Giải phóng hạng Nhất đến hạng Ba; 45 cá nhân được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng từ hạng Nhất đến hạng Ba, 60 cá nhân đạt danh hiệu Dũng sỹ đánh giao thông. Đặc biệt, trong chiến tranh chống Mỹ, có 2 đồng chí là Giang Hồng Mão (cán bộ phân đội 1) và Phạm Xuân Sanh (cán bộ Đội 3, Đội trưởng Đội 170) đạt danh hiệu Chiến sỹ Thi đua toàn miền Nam và được báo cáo điển hình trong toàn quân vào năm 1974. Đó là chưa kể đến thành tích của Tiểu đoàn 471 đặc công nước (có mặt tại chiến trường Quảng Đà từ tháng 2-1971 đến tháng 4-1975) cũng ghi dấu những chiến công vang dội, góp phần quan trọng vào chiến thắng của quân và dân ta trong thời kỳ chống Mỹ, thống nhất đất nước.
Sinh thời, đồng chí Nguyễn Bá Thanh (cố Bí thư Thành ủy Đà Nẵng) đã dành sự ưu ái đặc biệt cho lực lượng đặc công, nhất là lực lượng đặc công nước và biệt động thành Đà Nẵng. Trong thời gian giữ cương vị lãnh đạo cao nhất thành phố, ông đã đưa ra chủ trương, quán triệt và tổ chức thực hiện việc gặp mặt các lực lượng này 2 năm một lần. Đây là nghĩa cử cao đẹp, thể hiện sự tri ân, trân trọng của thành phố đối với những chiến công, đóng góp, hy sinh lớn lao của lực lượng đặc công nước và biệt động thành trong quá khứ...
(Cadn.com.vn) - Sau khi thành lập và chỉ huy Đội 170 đánh hàng loạt trận vào các cứ điểm quan trọng của địch tại chiến trường Quảng Đà làm cho Mỹ, ngụy hết sức cay cú, Phạm Xuân Sanh đã bị Mỹ, ngụy đưa vào diện "đặc biệt nguy hiểm" cần tiêu diệt. Chúng đưa ra tuyên bố: "Ai bắt được Quách Sanh (biệt danh của Phạm Xuân Sanh - PV), Đội trưởng người nhái Bắc Việt sẽ được thưởng 100 ngàn USD!". Để đáp trả lời tuyên bố ấy, Phạm Xuân Sanh quyết định đánh cầu Giao Thủy giữa ban ngày "cho chúng biết mặt".
| Đội trưởng Phạm Xuân Sanh gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong dịp đi báo cáo điển hình toàn quân năm 1974. |
Tại chiến trường Quảng Đà lúc này đang là chiến dịch Xuân Hè 1972, quân ta tiến công các căn cứ, chốt điểm của địch, đánh mạnh vào các cơ quan ngụy quyền, các tổ chức bình định... trên hầu hết các huyện Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hòa Vang, cả nội thành Đà Nẵng và thu được nhiều thắng lợi. Hòa chung với khí thế đó, trong tháng 5-1972, Đội 170 do Phạm Xuân Sanh chỉ huy đã quyết định phân công các tổ tổ chức đánh cầu Thanh Quýt trên quốc lộ 1A và đánh sập cầu Giao Thủy trong cùng một đêm...
Sau khi bị đánh sập lần thứ 3, xác định đây là mạch máu nối liền hai vùng chiến thuật của Tây Duy Xuyên và Đại Lộc nên chúng quyết định xây cầu mới, vững chắc hơn. Chúng điều đến 1 tiểu đoàn công binh ngụy, dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ khẩn trương xây dựng, hình thành một công trường làm cầu ngổn ngang các loại vật tư, xe tải, xe cẩu, xe chuyên dụng... Lính tráng đi lại xen lẫn với những nhóm lính công binh đang làm việc trên mặt cầu và cả hai bên đầu cầu rất nhộn nhịp. Trước tình thế đó, Đội trưởng Phạm Xuân Sanh nghĩ ra một kế hoạch hết sức táo bạo: "Cần phải đánh bồi một trận bất ngờ giữa lúc địch đang xây cầu!". Anh nhanh chóng họp phân đội, nói rõ ý định và động viên đồng đội suy nghĩ hiến kế. Có người cho rằng đánh giữa ban trưa khi bọn địch chui vào lều bạt nghỉ, ăn uống, không chú ý đề phòng. Có ý kiến lại bảo nên đánh lúc chập choạng tối. Ý kiến nào cũng có lý lẽ phân tích thuận lợi và khó khăn. Nhưng cuối cùng, phương án của đội trưởng đưa ra, cả phân đội đều tán thành và cho là tối ưu nhất là: Tranh thủ thời cơ lúc thời gian kết thúc đêm canh gác tuần tra bảo vệ cầu và chuẩn bị bắt đầu một ngày triển khai công tác làm cầu của bọn lính công binh. Thời gian này khoảng 1 giờ đồng hồ từ hơn 5 giờ đến 7 giờ sáng.
Kế hoạch đưa ra là tổ chiến đấu có thể xuất phát từ 5 giờ sáng, tiếp cận mục tiêu đặt khối nổ, điểm hỏa rồi rút khỏi mục tiêu khoảng 6 giờ sáng, lúc trời chưa sáng tỏ. Đặt kíp hẹn giờ nổ 2 tiếng, như vậy khối nổ sẽ phát hỏa lúc 8 giờ, đúng lúc địch đang tập trung làm việc. Phân đội tán đồng và trở thành nghị quyết thực hiện. Ai nấy đều tin tưởng phương án "táo bạo và bất ngờ" này sẽ là yếu tố làm nên chiến thắng. Đội trưởng Sanh họp toàn phân đội phân công nhiệm vụ. Để gọn nhẹ, cơ động tốt, tổ chiến đấu chỉ cần 2 người nhưng cả phân đội đều xung phong. Đội trưởng Sanh hoan nghênh tinh thần tự nguyện của mọi người nhưng trận này chỉ cần 2 đồng chí, ai chưa được đi lần này thì sẵn sàng nhận nhiệm vụ những trận tiếp theo. Trận này 2 đồng chí Hồ Phi Thiện và Giang Hồng Mão trực tiếp tham gia. Mang theo khối nổ 40kg C4 và một quả mìn rùa (nam châm), 2 chiến sỹ xuất phát từ địa điểm cách cầu khoảng 1,5km, tính toán lưu tốc nước, thời gian tiếp cận mục tiêu...
Thiện và Mão rất tự tin vì mục tiêu không có vật cản rào thép gai, chỉ cần đảm bảo kỹ thuật hành tiến bí mật tiếp cận mục tiêu, đảm bảo thời gian là chắc thắng. Lúc 5 giờ 45 phút ngày 19-5-1972, tổ chiến đấu đã vào mục tiêu nhận chìm khối nổ áp vào trụ cầu, điểm hỏa rồi rút khỏi mục tiêu lúc 6 giờ kém 5, khi trời chưa sáng tỏ.
7 giờ 15 phút, tiếng nổ ầm vang làm trụ cầu gãy đổ, văng cả 2 nhịp cùng 32 tên lính công binh và một số máy móc xuống sông. Lúc này, người dân đã đi làm trên cánh đồng Quảng Huế phía Đại Lộc và rất nhiều bà con đi làm, đi chợ Mỹ Lược bên phía Duy Xuyên đã kéo về phía cầu với tinh thần hết sức hồ hởi, phấn khởi. Họ bàn tán, kháo nhau: "Bọn địch cứ rêu rao Việt Cộng chỉ là thổ phỉ ở trên núi, đói khát, bệnh tật, gầy ốm đến nỗi 7 Việt Cộng đeo không gãy một cọng đu đủ, làm sao thắng được quốc gia, rứa mà hàng trăm tên Mỹ, ngụy bị Việt Cộng đánh chết nhăn răng, chìm dưới sông làm mồi cho cá, lũ còn sống sót sợ mất mật như gà sợ quạ. Hết đời quân khoác lác, huênh hoang!".
Sau trận đánh, Mỹ, ngụy vốn cay cú với cách đánh "xuất quỷ nhập thần" của đặc công nước, nay nhận thêm một cú trời giáng nữa nên lại càng cay cú hơn. Chúng lồng lộn như con thú điên, tổ chức lùng sục, kiểm soát gắt gao hơn hòng tìm cho ra "Đội trưởng người nhái Bắc Việt" Quách Sanh, tuy nhiên mọi nỗ lực, kể cả dùng rất nhiều tiền để mua tin về người đội trưởng và chiến sỹ của ông nhưng vẫn không thu được kết quả. Thay vào đó, kết cục chúng nhận được lại là hàng chục trận đánh của đặc công nước vào "yếu huyệt" và chịu tổn thất nặng nề...
| Đội 170 Đặc công nước gặp mặt thân mật nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng Đà Nẵng. |
Với nhiều chiến công đánh Mỹ vang dội, lực lượng đặc công nước Quảng Đà được tặng thưởng hàng chục Huân chương Quân công, Huân chương Giải phóng hạng Nhất đến hạng Ba; 45 cá nhân được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng từ hạng Nhất đến hạng Ba, 60 cá nhân đạt danh hiệu Dũng sỹ đánh giao thông. Đặc biệt, trong chiến tranh chống Mỹ, có 2 đồng chí là Giang Hồng Mão (cán bộ phân đội 1) và Phạm Xuân Sanh (cán bộ Đội 3, Đội trưởng Đội 170) đạt danh hiệu Chiến sỹ Thi đua toàn miền Nam và được báo cáo điển hình trong toàn quân vào năm 1974. Đó là chưa kể đến thành tích của Tiểu đoàn 471 đặc công nước (có mặt tại chiến trường Quảng Đà từ tháng 2-1971 đến tháng 4-1975) cũng ghi dấu những chiến công vang dội, góp phần quan trọng vào chiến thắng của quân và dân ta trong thời kỳ chống Mỹ, thống nhất đất nước.
Sinh thời, đồng chí Nguyễn Bá Thanh (cố Bí thư Thành ủy Đà Nẵng) đã dành sự ưu ái đặc biệt cho lực lượng đặc công, nhất là lực lượng đặc công nước và biệt động thành Đà Nẵng. Trong thời gian giữ cương vị lãnh đạo cao nhất thành phố, ông đã đưa ra chủ trương, quán triệt và tổ chức thực hiện việc gặp mặt các lực lượng này 2 năm một lần. Đây là nghĩa cử cao đẹp, thể hiện sự tri ân, trân trọng của thành phố đối với những chiến công, đóng góp, hy sinh lớn lao của lực lượng đặc công nước và biệt động thành trong quá khứ...
Doãn Hùng
Nhận xét
Đăng nhận xét