Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 285
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Những "Bóng Hồng" Tình Báo VN Siêu Đẳng Làm Điên Đảo Nội Các VNCH
Điệp viên hai mang huyền thoại trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 - Kỳ 1
Thùy Dương |
3
Câu chuyện cuộc đời phi thường của Juan Pujol Garcia
giống như kịch bản một bộ phim bom tấn của Hollywood, chỉ có điều mọi
chi tiết trong câu chuyện gần như không thể tin được lại là sự thật.
Juan
Pujob Garcia là một gián điệp và điệp viên hai mang có biệt danh Garbo,
đóng vai trò rất lớn trong việc giúp quân Đồng minh giành chiến thắng
Chiến tranh Thế giới thứ hai. Ông giành nhiều giải thưởng từ cả Chính
phủ Anh và Đức quốc xã.
Juan Pujob Garcia. Ảnh: warhistoryonline
Theo
trang warhistoryonline, Garcia là người đàn ông duy nhất trong lịch sử
được trao cả huân chương Chữ thập Sắt (huân chương cao quý nhất của quân
đội Đức quốc xã) và MBE (huân chương vinh dự nhất của Đế chế Anh dành
cho người có lòng dũng cảm).
Mặc dù Garcia đóng vai trò
quan trọng trong cuộc chiến nhưng vai trò và danh tính của ông được giữ
bí mật suốt nhiều chục năm sau đó. Trong phần còn lại cuộc đời sau chiến
tranh, ông sống ẩn danh ở Venezuela.
Xuất thân bình thường
Một
trong những điều truyền cảm hứng nhất trong câu chuyện cuộc đời của
điệp viên Garcia là mọi thứ về ông dường như đều rất bình thường ở
phương diện đào tạo, xuất thân, kỹ năng.
Ông không phải
là James Bond cũng không phải là một siêu điệp viên như trong phim
Hollywood. Ông chỉ là một người đàn ông nhỏ bé, vẻ ngoài khiêm tốn, sinh
ra ở Barcelona (Tây Ban Nha) năm 1912, lớn lên trong một gia đình bình
thường.
Binh lính phe Chủ nghĩa dân tộc đột kích khu vực ngoại ô Madrid trong Nội chiến Tây Ban Nha năm 1937. Ảnh: warhistoryonline
Garcia
không xuất sắc bất kỳ điều gì, nhưng xét những thành công ông đạt được
khi là điệp viên hai mang sau này, rõ ràng Garcia hẳn phải có một trí
tưởng tượng rất siêu phàm.
Sau khi học xong, Garcia tập
sự trong một thời gian tại một cửa hàng kim khí và bắt đầu nghiên cứu về
chăn nuôi. Ông chuyển hết nghề này tới nghề khác nhưng đều không thành
công, kể cả khi làm quản lý rạp chiếu phim. Sau đó, ông bị gọi nhập ngũ
năm 1931 và phục vụ trong một đơn vị kỵ binh Cộng hòa Tây Ban Nha.
Khi
được giải ngũ sau 6 tháng phục vụ bắt buộc trong quân đội, Garcia quay
trở lại làm việc. Vị hôn phu của em gái ông bị quân Cộng hòa bắt và bị
cáo buộc tội phản cách mạng.
Về sau, em gái và mẹ công
cũng bị bắt với cáo buộc tương tự. May mắn là một họ hàng trong nghiệp
đoàn đã giúp họ được thả tự do. Dù vậy, sự cố này đã khiến Garcia có mối
hận thù sâu sắc với người Cộng hòa và lý tưởng của họ.
Khi
Nội chiến Tây Ban Nha nổ ra năm 1936, Garcia đang quản lý một trang
trại gia cầm. Ông được triệu tập để chiến đấu cho phe Cộng hòa. Ông
không muốn theo phe những người đã ngược đãi gia đình mình nên đã trốn
trong nhà bạn gái. Sau đó, ông bị cảnh sát bắt trong một cuộc đột kích
và bị tống giam trong một thời gian ngắn.
Sau này, để trả
thù những người Cộng hòa, Garcia đã dùng giấy tờ giả để gia nhập phe
này với ý định sau đó đào ngũ và chiến đấu với những người theo phe Chủ
nghĩa dân tộc.
Tuy
nhiên, Garcia cũng bị phe Chủ nghĩa dân tộc đối xử tệ bạc. Họ đánh đập
và tống ông vào nhà tù quân đội sau khi ông bày tỏ ủng hộ nền quân chủ
Tây Ban Nha. Những gì ông trải qua ở đây đã khiến ông căm ghét chủ nghĩa
Phát xít.
Quyết tâm làm gián điệp
Garcia năm 1931. Ảnh: warhistoryonline
Khi
Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra năm 1939, Garcia quyết tâm làm bất
kỳ điều gì mình có thể để chống chế độ Đức quốc xã. Nhìn thấy Anh là lực
lượng lớn duy nhất phản kháng trùm Phát xít Adolf Hitler, Garcia đã
quyết định tiếp cận Mật vụ Anh ở Madrid và đề nghị làm gián điệp cho họ.
Ông đã làm gián điệp cho Anh từ năm 1941.
Có một số vấn
đề khi Garcia đề nghị làm gián điệp. Thứ nhất, ông không có kinh nghiệm
làm gián điệp và cũng chưa làm bất kỳ công việc tình báo nào.
Thứ
hai, ông có một số lần kinh doanh thất bại và chỉ làm quản lý khách sạn
1 sao lụp xụp lúc bây giờ. Do đó, ông không có điều kiện thuận lợi để
có bất kỳ trải nghiệm tình báo nào. Thứ ba, Garcia không nói được một từ
tiếng Anh.
Không ngạc nhiên khi phía Anh bác bỏ đề xuất
của Garcia – người không có gì ngoài quyết tâm. Ông đã thử thêm hai lần
xin phía Anh cho làm gián điệp những vẫn bị từ chối. Vẫn không nản chí,
Garcia quyết định tự mình chống người Đức.
Ông đã tiếp
cận các đặc vụ tình báo Đức ở Madrid và tự nhận là một nhân viên Chính
phủ Tây Ban Nha thường xuyên có các chuyến đi ngoại giao tới London.
Ông
giả vờ là người yêu thích lý tưởng của Đức quốc xã và nói với các đặc
vụ Đức rằng ông sẵn sàng do thám người Anh vì lợi ích thúc đẩy sự nghiệp
Đức quốc xã. Tại thời điểm đó, Chính phủ Tây Ban Nha ủng hộ Chính phủ
Đức quốc xã nhưng không kết đồng minh nên Garcia rất dễ liên hệ với quân
đội Đức.
Người Đức đã bị Garcia lừa, nhất là sau khi xem
hộ chiếu ngoại giao giả mà ông làm tại một cửa hàng in ấn. Họ đã để ông
làm gián điệp cho mình dù hơi nghi ngờ.
Các đặc vụ Đức
đã dạy Garcia một khóa học tăng cường về nghệ thuật gián điệp, hướng dẫn
ông thiết lập mạng lưới gián điệp trên đất Anh, cấp cho ông 600 bảng
Anh chi phí làm nhiệm vụ (tương đương 42.000 USD ngày nay). Sau đó, họ
cử ông đi làm việc. Như vậy, Garcia đã bước đầu chiếm được lòng tin của
người Đức.
Điệp viên hai mang huyền thoại trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 - Kỳ cuối
Thùy Dương |
0
Đóng góp lớn nhất của điệp viên mật danh Garbo diễn ra trước cuộc đổ bộ D-Day của quân Đồng minh.
Kỳ cuối: Đóng góp lớn của Garbo
Garcia
rời Tây Ban Nha và thông báo với các đặc vụ Đức rằng ông đã tới London
thành công, nhưng thực tế, ông đã ở rất gần quê nhà vì ông đã di chuyển
tới Lisbon (Bồ Đào Nha).
Đây là nơi mà sự sáng tạo và trí tưởng
tượng của Garci thực sự được phát huy. Sử dụng sách hướng dẫn bằng tiếng
Tây Ban Nha dành cho khách du lịch, tạp chí và lịch trình tàu chạy,
Garcia đã vẽ ra toàn bộ cuộc đời của mình ở Anh.
Không chỉ Đức quốc xã mắc mưu mà cả người Anh (sau khi chặn được một số báo cáo của Garcia) cũng bắt đầu truy lùng điệp viên này ở Anh khi mà ông còn thậm chí không ở đó.
Tomás Harris, người phụ trách Garcia ở MI5. Ảnh: warhistoryonline
Người Anh sớm nhận ra Garcia không thể nào ở nước mình và các báo cáo này do ông bịa ra.
Trong
các báo cáo, Garcia mô tả những đơn vị quân đội, những động thái của
binh lính và kế hoạch quân sự không hề tồn tại. Ông cũng mắc vô số lỗi
cơ bản về cuộc sống ở Anh.
Tuy nhiên, người Đức tin rằng Garcia
nói thật. Garcia giải thích lý do thư từ của mình đều được đóng dấu ở Bồ
Đào Nha là vì một trong 27 điệp viên của ông là một phi công thường
xuyên bay qua lại giữa London và Lisbon và phi công này sẽ lén mang thư
của Garcia và gửi chứng từ Bồ Đào Nha.
Ngoài ra, Garcia cũng dùng
tin tức trên báo để bổ sung thêm thông tin thật vào thư gửi người Đức.
Người Anh sớm nhận ra Garcia có thể đóng một vai trò rất giá trị trong
chiến tranh, đặc biệt là khi Garcia thông báo cho người Đức rằng có một
hạm đội tàu Anh đang ở Malta trong khi hạm đội tàu này không hề tồn tại.
Phía
Đức đã huy động lực lượng lớn để đối phó với hạm tàu tưởng tượng trên.
Khi họ phát hiện ra không có dấu vết tàu Anh nào ở đó, Garcia đã giải
thích thuyết phục và vẫn được người Đức tin cậy.
Sau sự việc này,
người Anh đã đưa Garcia và gia đình tới Anh, cấp cho ông một số tiền hào
phóng và cử một đặc vụ tình báo nói tiếng Tây Ban Nha hỗ trợ ông thực
hiện nhiệm vụ. Khi đã ở trong tình báo quân đội Anh, Garcia đã có thể
tận dụng tối đa trí tưởng tượng. Người Anh cung cấp thông tin giả cho
Garcia chuyển tới người Đức.
Cơ quan tình báo Anh MI5 đã hỗ trợ để
giúp báo cáo của Garcia đáng tin cậy hơn. Khi người Đức bắt đầu nghi
ngờ về những thông tin do Garcia cung cấp vì chúng thường sai hoàn toàn
hoặc gửi quá muộn, ông sẽ giải thích là một điệp viên của mình bị MI5
bắt hoặc ám sát.
MI5 sau đó sẽ cho đăng cáo phó của các điệp viên giả này trên báo chí Anh để khiến người Đức tin tưởng Garcia.
Công
việc đáng giá nhất mà Garcia đã làm là trước sự kiện D-Day, ngày quân
Đồng minh đổ bộ vào bờ biển Normandy của Pháp để tấn công quân Đức. Là
một nhân tố chính trong chiến dịch tình báo Fortitude, Garcia tìm cách
thuyết phục Bộ Chỉ huy tối cao Đức rằng đa số lực lượng Đồng minh sẽ
không đổ bộ vào Normandy mà đổ bộ vào Pas de Calais.
Binh
lính, xe tăng và thiết bị tham gia cuộc lật đổ Đức quốc xã ở châu Âu
tới bờ biển Normandy sau ngày D-Day. Ảnh: Wikimedia Commons
Để
khiến người Đức tin tưởng, Garcia nói với họ chờ một tin nhắn quan
trọng lúc 3 giờ sáng. Tin nhắn này được thiết kế để cung cấp cho quân
Đức về mục tiêu thực sự của quân Đồng minh nhưng thời điểm cung cấp
thông tin sẽ là muộn nên người Đức không thể ngăn chặn cuộc đổ bộ.
May
mắn với Garcia là phía Đức không có ai tới để tiếp nhận thông tin lúc 3
giờ sáng và mãi tới sáng muộn hôm đó mới phản ứng. Garcia đã chỉ trích
phía Đức vì bỏ lỡ thông tin quan trọng. Ông nói: “Tôi không thể chấp
nhận lời viện cớ hoặc tắc trách. Nếu không vì lý tưởng, tôi sẽ bỏ công
việc này”.
Sau sự việc, Garcia càng được người Đức tin cậy. Nhờ
đó, ông đã thành công khi thuyết phục quân Đức tin vào sự tồn tại của
“Tập đoàn Quân đội Mỹ số 1” – một đội quân tưởng tượng gồm 150.000 binh
lính mà Garcia nói là sẽ do Tướng Patton chỉ huy.
Không thể tưởng
tượng được là Hitler lại tin vào những gì Garcia bịa đặt. Một lý do
khiến Hitler tin ngay là do MI5 đã tung tin giả mạo qua sóng vô tuyến,
nói về một lực lượng Mỹ khổng lồ đang đồn trú ở miền Nam nước Anh.
Do
đó, Hitler đã không huy động toàn lực lượng tại bờ biển Normandy để đối
phó với quân Đồng minh vì theo lời Garcia, cuộc đổ bộ ở Normandy chỉ là
đánh lạc hướng.
Ngay
cả sau khi lực lượng Đồng minh đổ bộ vào Normandy, Garcia vẫn tiếp tục
cung cấp tin giả cho Đức quốc xã về cuộc đổ bộ chính dự kiến diễn ra ở
Pas de Calais.
Cách cung cấp thông tin giả chuyên nghiệp của
Garcia cho quân Đức đã đóng vai trò quan trọng khó tin trong thành công
của cuộc đổ bộ. Cuộc đổ bộ này cuối cùng đã lật ngược thế cờ trong cuộc
chiến.
Quân Đức vẫn tin tưởng danh tính của Garcia và ông đã được
trao huân chương Chữ Thập sắt vì phục vụ người Đức. Trong khi đó, người
Anh vừa trao cho Garcia huân chương MBE. Nhờ đó, Garcia là người duy
nhất từng nhận được cả hai phần thưởng cao quý này.
Sau chiến
tranh, sợ người Đức trả thù, Garcia đã giả chết năm 1949 và chuyển tới
Venezuela sống. Tại đây, ông sống một cuộc đời ẩn danh yên bình và mở
một cửa hàng sách. Những gì ông làm vẫn được giữ bí mật suốt nhiều năm.
Trong những năm 1980, ông được mời tới London và được gặp Hoàng tử
Phillip. Ông qua đời trong bình yên năm 1988.
Nếu câu chuyện của
điệp viên Garcia có thể dạy cho chúng ta một điều gì đó, thì đó chính là
bài học rằng bất kỳ cá nhân nào nếu nhiệt huyết thì cho dù xuất thân
bình thường, không tài năng đặc biệt, họ cũng có thể thay đổi bánh xe
lịch sử, miễn là họ tận tâm với sự nghiệp mình theo đuổi và không bao
giờ bỏ cuộc.
https://baotintuc.vn/ho-so/diep-vien-hai-mang-huyen-thoai-trong-chien-tranh-the-gioi-thu-2-ky-cuoi-20190730110121453.htm
theo Báo tin tức
Bên trong cỗ máy phát hiện nói dối của CIA
Nguyễn Thanh Hải |
0
Các cơ quan liên bang Mỹ đã nắm lấy máy phát hiện nói dối ngay
từ thập niên 1950 nhằm trấn an dư luận rằng họ có thể vạch mặt các điệp
viên. Ông Francis Gary Powers đã có lần trải nghiệm đầu tiên với máy
phát hiện nói dối ngay sau khi đăng ký làm phi công cho chương trình U-2
của CIA vào tháng Giêng năm 1956.
Trong cuốn hồi ký do mình viết, cựu phi công Powers đã mô tả
việc ông bị đưa vào một căn phòng nơi chạm trán với nhiều câu hỏi hóc
búa. Dưới đây là bài viết của tác giả John Baesler, ông là Giáo sư Sử
học tại Đại học công Saginaw Valley (tiểu bang Michigan) và là tác giả
của cuốn sách “Sự thật hiển nhiên: Máy phát hiện nói dối và Cuộc nội
chiến Hoa Kỳ”. Vụ trao trả phi công Mỹ trên đất Liên Xô
Phi
công Powers từng trải qua một bài kiểm tra phát hiện nói dối với khoản
đặt cược cao hơn. Trường hợp của ông Powers không phải là phổ biến nhưng
máy phát hiện nói dối được đánh giá là công cụ hữu ích vào thời kỳ đó,
xuất phát từ nhiều lý do cần phải tìm ra sự thật.
Sự ra đời của
máy phát hiện nói dối là nhằm trả lời cho một bài toán hóc búa của thời
kỳ Chiến tranh Lạnh: làm thế nào người Mỹ có thể hoàn thành các cam kết
của mình nhằm chống lại một kẻ thù chuyên chế mà không tự biến bản thân
mình rơi vào chuyên chế?
Phi
công Francis Gary Powers cầm mô hình máy bay gián điệp U-2 khi ông ra
làm chứng tại Ủy ban dịch vụ vũ trang thượng viện (SASC). Ảnh nguồn:
Bettmann/Getty Images.
Để hình thành vòng tròn đặc biệt này, các cơ quan liên bang mà trước tiên và trên hết phải kể đến CIA,
khi họ bắt đầu sử dụng công nghệ gây tranh cãi được phát triển bởi các
nhà tâm lý học vào đầu thế kỷ 20, sau đó cỗ máy tiếp tục được tinh chỉnh
và sử dụng bởi lực lượng cảnh sát và các doanh nghiệp tư nhân kể từ
thập niên 1920.
Các biện pháp đo lường trong cỗ máy phát hiện nói
dối thường xuất phát từ những thay đổi trong huyết áp, độ sâu hơi thở và
độ dẫn điện của da.. nhưng các phép đo này chưa từng chứng minh ra
những chỉ dấu đáng tin cậy của sự lừa dối.
Không chỉ các rối loạn
cảm xúc gây khó trong các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, mà còn những
cảm xúc như vậy lại không đồng nhất ở mỗi con người và có thể bị bắt
chước bằng những biện pháp đối phó (chẳng hạn như tự véo/nhéo mình trước
khi đưa ra phản hồi).
Trong những thử nghiệm sàng lọc lớn thì
không thể không tránh khỏi những “kết quả dương tính giả” (người vô tội
bị “chụp mũ” là lừa đảo). Thêm nữa, câu hỏi về sự dối trá trong suốt một
thử nghiệm phát hiện nói dối có thể hiện việc người đó không phù hợp
với các vấn đề kỹ thuật đơn thuần hay không?
Trong những phân tích
cuối cùng, các cơ quan an ninh Hoa Kỳ chưa bao giờ đi đến những định
nghĩa rõ ràng về những đặc điểm cá nhân mà một người kiểu mẫu phải nên
có. Thay vào đó, máy phát hiện nói dối sẽ cung cấp các lý do nhằm bác bỏ
rủi ro an ninh hay phủ nhận sự tham gia của anh ta/cô ta.
Tính
hữu dụng - xem ra mạnh hơn bất kỳ giá trị khoa học nào – đã đi một chặng
đường dài nhằm giải thích lý do tại sao máy phát hiện nói dối lại trở
thành một công cụ tiêu chuẩn của trạng thái an ninh quốc gia Hoa Kỳ.
Câu
chuyện về phi công Gary Powers và lịch sử với máy phát hiện nói dối đã
mang tính giáo dục sâu sắc. Từ năm 1956 đến năm 1960 đã có 24 chuyến bay
U-2 bay trên không phận Liên Xô và đã gặt hái được nhiều thông tin tình
báo chiến lược vô giá đối với các khả năng quân sự của Liên Xô.
Nhưng
đến ngày 1 tháng 5 năm 1960, thảm họa đã xảy ra khi chiếc máy bay do
phi công Powers lái đã bị bắn rơi trên bầu trời Sverdlovsk (ngày nay là
Yekaterinburg). Chính quyền Hoa Kỳ đã kể câu chuyện về một quả bong bóng
thời tiết bay lạc và nó diễn ra vào thời điểm lãnh tụ Nikita Khrushchev
đang trình bày với thế giới về tàn tích của chiếc máy bay bị bắn rơi,
và sau đó đã quyết định số phận của viên phi công Mỹ.
Gary Powers đã sống sót kỳ diệu rồi bị điệu ra phiên xét xử ở Moscow và nhận án tù 10 năm vì tội làm gián điệp.
Đến
tháng 2 năm 1962, Gary Powers được đại tá KGB là Vilyam Fisher (bí danh
Rudolf Ivanovich Abel) trao trả về Mỹ. Hồi hương, cựu phi công Gary
Powers được xem như anh hùng (nhưng vẫn bị nghi ngờ).
Nửa tin nửa
ngờ với sự trao trả của người Liên Xô và sự ngờ vực từ công luận Hoa Kỳ,
ngay cả Cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ (NSA) cũng tỏ ra bán tín bán
nghi về sự can thiệp của người Liên Xô đối với các chuyến bay U-2. Máy phát hiện nói dối của CIA
Các
tín hiệu do radar theo dõi đã chỉ ra rằng máy bay của phi công Gary
Powers đã hạ xuống độ cao 19.812m. Độ cao này khiến cho máy bay dễ bị
tấn công bởi tên lửa đất đối không. Nhưng phi công Powers khăng khăng
phủ nhận rằng mình chưa hề hạ thấp độ cao của máy bay.
Máy phát hiện nói dối trong một bài kiểm tra hồi thập niên 1970. Ảnh nguồn:Federal Bureau of Investigation/Wikimedia Commons.
CIA
– vì lo sợ cho danh tiếng của mình trước sức ép của công luận Mỹ - đã
khăng khăng đòi sự vô tội cho Gary Powers. Giám đốc CIA-John McCone đã
thành lập một ủy ban điều tra dưới quyền của thẩm phán liên bang E.
Barrett Prettyman, nhằm chuẩn bị một tuyên bố trước dư luận.
Tài
liệu đã nhấn mạnh đến các xét nghiệm y tế, kiểm tra tổng quát, một buổi
thẩm vấn được xác nhận bởi cựu phi công Gary Powers “xuất hiện với vẻ
trung thực, thẳng thắn…”. Dù chán ngán với sự rườm rà của tiến trình
phát hiện nói dối, nhưng Gary Powers cũng nôn nóng muốn tự mình kiểm tra
xem nó như thế nào. Thử nghiệm được thực hiện bởi một chuyên gia.
Tham gia vào buổi thẩm vấn, Gary Powers đã không thể hiện bất kỳ chỉ dấu sai lệch nào trong suốt quá trình kiểm tra.
Về
lần thẩm vấn thử nghiệm này, phi công Gary Powers nhớ lại trong hồi ký:
“Bực bội vì bị hoài nghi đối với những phản ứng của tôi, cực chẳng đã
tôi hết sức tức giận, hét to:
“Nếu mấy người không tin tôi, tôi
sẵn sàng thử nghiệm với máy phát hiện nói dối!”… Lời vừa tuôn ra khỏi
miệng, tôi bỗng chốc hối hận khi nói như vậy. Ai mà đủ dũng cảm để có
thể làm chứng rằng mình vô tội trước máy phát hiện nói dối? Tôi như lọt
xuống cái bẫy”.
Kể từ khi được thành lập vào năm 1947, CIA đã sử
dụng máy phát hiện nói dối như là một phần của thủ tục bảo mật nhân sự
nhằm xác định độ trung thực của ứng viên xin việc và nhân viên, cũng như
xác nhận thiện ý của các điệp viên.
Vào lúc đỉnh cao của học
thuyết McCarthy, CIA đã tăng cường dùng máy phát hiện nói dối nhằm tăng
độ chuẩn mực của lực lượng này trước công luận. Với những người đề xuất
cỗ máy này thì máy phát hiện nói dối được hứa hẹn sẽ đảm bảo tính khách
quan và công bằng cùng với việc răn đe các điệp viên và những kẻ phản
bội.
Một báo cáo của thanh tra CIA hồi năm 1963 đã nhấn mạnh rằng:
“Chúng ta không thể nào đạt được chế độ an ninh toàn diện được. Xã hội
mở của chúng ta luôn có sự kháng trở với những biện pháp của cảnh sát
nhà nước”.
Khi bị quốc hội Hoa Kỳ lên tiếng thách thức, việc điều
tra bằng máy phát hiện nói dối đã bắt đầu vào giữa thập niên 1960, CIA
đã bảo vệ công cụ này theo một cách tích cực.
Năm 1980, Ủy ban an
ninh tình báo trung ương (CISC) đã nhấn mạnh: “Tiện ích của những buổi
phỏng vấn bằng máy phát hiện nói dối là một phần của xử lý bảo mật và đã
được chứng minh bằng những phương tiện thực nghiệm…
Những kết quả
thực tế này cộng với hơn 30 năm kinh nghiệm đã khẳng định rằng việc
dùng máy trong sàng lọc an ninh là độc đáo và không thể thiếu”.
Mặc
dầu vậy ngay trong nội bộ CIA cũng có ý kiến thừa nhận rằng việc tìm
kiếm các ứng viên và nhân viên dựa trên các kết quả thử nghiệm của họ là
tốt nhất. Thậm chí sau hàng thập kỷ sử dụng máy phát hiện nói dối, CIA
vẫn chưa thể định nghĩa chính xác các thuật ngữ khó nắm bắt cụ thể như
“thông lệ” và “tình nguyện” trong chương trình phát hiện nói dối.
Năm
1974, một danh sách các câu hỏi từ những người kiểm tra máy phát hiện
nói dối đã đi đến một số câu hỏi khó nhằn, đại loại như: “Liệu cỗ máy
này có giúp tôi vượt qua vòng thẩm vấn để được CIA nhận vào làm hay
không?” hay “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không vượt qua?”.
Cũng
không mấy rõ ràng về sự liên quan từ bằng chứng được tạo ra trong các
kiểm tra bằng máy phát hiện nói dối. Năm 1973, CIA đã thừa nhận về sự
khó nắm bắt các tình huống này. Cho mãi đến khi qua đời vì một tai nạn
trực thăng vào năm 1977, phi công Gary Powers đã thừa nhận rằng ông là
một người Mỹ trung thành cho các kiểm tra về độ trung thực. Vấn đề an ninh quốc gia
Và
trong một báo cáo được giải mật cho thấy rằng chính quyền Kennedy nhận
thấy rằng nên đảm bảo cho công luận hiểu về tính trung thực của Gary
Powers, và loan tin rằng ông Powers đã vượt qua được bài kiểm tra bằng
máy phát hiện nói dối, việc này nằm trong chiến lược truyền thông của
Kennedy.
Cảnh sát Mỹ áp dụng máy phát hiện nói dối để kiểm tra nghi phạm. Ảnh nguồn: Yahoo Finance.
Kinh
nghiệm của ông Gary Powers đã nhấn mạnh tới 3 đặc điểm của máy phát
hiện nói dối được sử dụng cho các mục đích “an ninh quốc gia” của CIA.
Trước
hết là tuyên bố của những người đề xuất dùng cỗ máy rằng bài kiểm tra
có thể là chứng nhân để bào chữa, miễn tội cho các công dân trung thành
và hóa ra có vẻ ít trung thực hơn;
Thứ hai là, trong khi cỗ máy
dựa trên sự tự nguyện hùng biện thì trong thực tế dưới áp lực của bài
kiểm tra cũng nói lên rằng người ta bị mất quyền tự do; thứ ba là, các
bài kiểm tra do máy thường là phương tiện dùng để che đậy hơn là tiết lộ
ra sự thật của các sự kiện.
Máy phát hiện nói dối cũng dùng những
câu hỏi gây ám ảnh trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, và những trải
nghiệm đau thương trong bài kiểm tra đã vấp phải làn sóng biểu tình dữ
dội từ các dòng tư tưởng Mỹ.
Hai nhà báo Joseph và Stewart Alsop,
đã ví von cỗ máy phát hiện nói dối như việc ôm lấy một con bạch tuộc với
các xúc tu điện tạo ra xung lực gây áp đảo để xoa dịu cỗ máy bạch tuộc.
Ngay
cả cựu giám đốc phản gián của CIA - James Olson cũng gọi những kỳ thi
có dùng máy phát hiện nói dối là “rất khủng khiếp nhưng cần thiết.
Chúng
mang đến cảm giác thô lỗ, khó chịu và đôi khi nhục nhã. Một quá trình
rất tàn khốc”. Một câu hỏi đau đáu khác: Có bao giờ máy phát hiện nói
dối bóc trần một điệp viên Liên Xô hay không?
Chắc chắn rằng không
có điệp viên nào bị cỗ máy tóm được, và trường hợp tàn phá nhất liên
quan đến điệp viên Aldrich Ames, khi người này đã vượt qua 2 vòng kiểm
tra do máy khi ông chuyển giao thông tin “tử thần” về các hoạt động của
Hoa Kỳ ở Liên Xô cho những người xử lý thông tin.
Trong khi trường
hợp của điệp viên Aldrich Ames gần như đã làm tồn tại đến danh tiếng
của cỗ máy phát hiện nói dối, thì thứ công nghệ này đột nhiên lại được
chú ý sau khi xảy ra sự kiện 11-9 và những cuộc chiến tranh tiếp nối sau
đó ở Afghanistan và Iraq.
Một lần nữa cỗ máy phát hiện nói dối
lại xuất hiện như là một cách để chứng minh các giá trị khó nắm bắt như
lòng trung thành khi thực hiện các nhiệm vụ đầy tính rủi ro trong sàng
lọc nhân viên và công tác phản gián.
Ngay khi mà lịch sử của máy
phát hiện nói dối đã trở nên rõ ràng hơn thì các nhà lập chính sách Hoa
Kỳ đang đặt sự tin tưởng vào công nghệ này để xử lý các vấn đề chính trị
gai góc, mặc dù chính họ đặt ra những câu hỏi về việc sửa chữa theo một
cách riêng tư.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét