KÝ ỨC CHÓI LỌI 91/a
(ĐC sưu tầm trên NET)
Mũ
sắt, áo giáp là trang phục lính xe của tôi trong những ngày đầu tiên
được biên chế về Trung đoàn 13 ô tô vận tải Anh hùng Bộ đội Trường Sơn.
Giấy
chứng nhận “Hiến tặng kỷ vật kháng chiến” do Tổng cục Hậu cần QĐND Việt
Nam cấp cho tôi trong lần tặng kỷ vật cho Bảo tàng ngày 28/4/2016.
Dù hai người không có con, nhưng Trần Thị Kim Dung và Carl W. Greifzu đã sống hạnh phúc bên nhau 45 năm. “Lá rụng về cội”, những năm cuối đời, bà Dung luôn có một khát khao cháy bỏng là được một lần được về Việt Nam để thăm lại miền quê Quan họ Bắc Ninh, nơi bà đã sinh ra và lớn lên. Những đáng tiếc là ước nguyện cuối đời ấy bà đã không thực hiện được. Bà Dung đã mất tại Mỹ năm 2015, hưởng thọ 85 tuổi!
Tới thăm Việt Nam lần này, Greifzu mang theo một sứ mệnh thiêng liêng là thực hiện di nguyện của bà Dung về thăm quê hương, với tư cách là con rể của Bắc Ninh! Theo gợi ý của tôi, Greifzu đã nhờ người phóng to một bức chân dung đẹp nhất của vợ mình khi còn sống để cựu binh Mỹ Carl W. Greifzu sẽ mang theo di ảnh chân dung của bà Trần Thị Kim Dung cùng về Bắc Ninh. Ông tin rằng linh hồn vợ mình sẽ cùng về thăm quê với ông. Mỗi bước đi của ông tại Bắc Ninh, đều như có bà vợ đã chung sống hạnh phúc với ông gần nửa thế kỷ đi cùng.
Bắc Ninh trong tâm tưởng của Greifzu là vùng đất cổ, cũ kỹ, nghèo khó và dân cư thưa thớt của những năm 30 – 40 của thế kỷ trước, trong lời kể của bà Kim Dung…
Bởi thế, khi xe đưa ông đến thành phố của những điệu dân ca Quan họ nổi tiếng đã được UNESCO vinh danh là di sản phi vật thể, ông thốt lên: Sao nhiều nhà cao tầng đẹp thế! Nhiều con gái xinh thế! Mà người và xe cũng thoáng hơn Hà Nội rất nhiều!

“Hãy yêu thương nhau khi còn sống”!
Có lẽ Chủ Nhật (27/3) là một trong những ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời cựu binh Carl W. Greifzu – Người giữ cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” hơn 20 năm và cùng vợ ông dịch nó ra tiếng Anh từ gần 40 năm trước.
Carl W. Greifzu dậy từ rất sớm, nhờ cô phiên dịch đưa ra Nhà thờ Lớn Hà Nội, nhân ngày Lễ Phục sinh. Ông ngạc nhiên khi ở Việt Nam cũng có những nhà thờ đã hàng trăm năm tuổi như thế.
Năm nay đã 92 tuổi, lại bị chứng bệnh đau chân, nên người mẹ của người nữ Anh hùng liệt sĩ phải ngồi đợi trên lầu. Khi người cựu binh Mỹ vừa bước lên, bà cụ đứng dậy nói những câu chào hỏi bằng tiếng Pháp:
- Cảm ơn ông đã đến. Cảm ơn anh đã giữ gìn cuốn sổ tay nhật ký của con gái tôi và dịch nó ra tiếng Anh. Chúng tôi đợi anh đã lâu lắm rồi! Mấy lần trước, khi Fredric Whitehurst sang thăm Việt Nam, mỗi lần đến nhà tôi chơi, đều có nhắc đến anh…
Carl W. Greifzu lúng túng cảm động chào lại, rồi hai người ôm nhau nghẹn ngào không nói nên lời.
Chị Kim Trâm đưa ra bản photo cuốn số tay nhật ký được đóng bìa cứng cho Carl W. Greifzu và hỏi:
- Anh có nhận ra những dòng chữ viết này không? Bút tích của chị Thùy Trâm tôi viết đó!
Người cựu binh Mỹ gật đầu và xúc động:
- Nhận ra chứ. Nhờ bản dịch của Kim Dung mà tôi đã hiểu đến thuộc lòng nội dung nhiều trang. Nhưng tôi nhớ cuốn sổ gốc kia cỡ chữ nhỏ hơn nhiều...
- Vâng, bản chính cuốn của cuốn sổ tay nhật ký gia đình đang nhờ lưu giữ bên Mỹ. Đây là bản sao, chúng tôi đã phóng to cỡ chữ lên cho dễ đọc.
Ngày Chủ nhật, Nghĩa trang Liệt sĩ Từ Liêm không đông lắm. Tôi thấy Carl W. Greifzu bước xuống xe với tâm trạng rất lạ.
Ra khỏi Nghĩa trang Liệt sĩ Từ Liêm, Carl W. Greifzu cứ nhắc mãi câu nói nổi tiếng có trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, nay đã được khắc nổi trên mộ của chị: “Hãy yêu thương nhau khi còn sống”!

Hà Nội, 29/3/2016
Nhà văn Đặng Vương Hưng
(*) Quý vị bạn đọc biết thông tin gì về gia đình bà Trần Thị Kim Dung, xin làm ơn cung cấp cho chúng tôi biết để bổ sung tư liệu thêm đầy đủ.
Hồi ký: Trung đoàn Một thời chiến trận 1 + 2 + 3
TRUNG ĐOÀN - MỘT THỜI CHIẾN TRẬN: LỜI GIỚI THIỆU
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với biết bao địa danh
kiên cường của Tổ quốc, dải đất Trị Thiên một chiến trường đầy ác liệt, gian
khổ và chói lọi vinh quang. Trải qua hàng chục năm chiến đấu quyết liệt, trên
dải đất này đã hun đúc, đào luyện nên nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu xuất
sắc, trong đó có Trung đoàn 3/ Sư đoàn 324 là một tập thể anh hùng; đồng chí Hồ
Hữu Lạn là một cán bộ chỉ huy chiến đấu xuất sắc.
Từ năm 1970 đến ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ hoàn toàn thắng lợi, tôi
đảm nhiệm cương vị Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Trị Thiên, rồi Chủ nhiệm
Chính trị Quân đoàn 2. Chính trong thời kỳ đó, tôi biết đồng chí Hồ Hữu Lạn là
Tiểu đoàn trưởng, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3/ Sư đoàn 324. Qua trực tiếp
chỉ đạo, theo dõi quá trình tham gia chiến đấu, tôi nhận thấy đồng chí Lạn là
một cán bộ chỉ huy chiến đấu dũng cảm, mưu trí, chủ động, sáng tạo, lập được
nhiều chiến công. Bằng năng lực, phẩm chất và công tích trên từng nhiệm vụ,
đồng chí Lạn luôn được cấp trên tin tưởng, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị quý
trọng.
Đồng chí Hồ Hữu Lạn đã từng tham gia chiến đấu ở chiến trường Lào,
chiến trường Bắc Quảng Trị, chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân
(1968) ở thành phố Huế. Trong Chiến dịch phản công
Đường 9 - Nam Lào (1971), đồng chí Lạn là Tiểu
doàn trưởng chỉ huy đơn vị đánh thắng nhiều trận, góp phần vào chiến thắng
chung của Sư đoàn 324 cũng như của toàn Mặt trận. Năm 1972 trên cương vị là
Trung đoàn phó, đồng chí Lạn đã cùng các đồng chí chỉ huy Trung đoàn 3 Sư đoàn
324, tổ chức chỉ huy đánh địch trên đường 12- Động Tranh thắng lớn. Đặc biệt là
tháng 5 năm 1974, Trung đoàn 3/ Sư đoàn 324 được giao nhiệm vụ vào Tây Nguyên
tham gia chiến dịch tiến công giải phóng Quận lỵ Đắc Pét (Kon Tum). Tiếp đến,
từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1974, Trung đoàn 3/ Sư đoàn 324/ Quân đoàn 2 phối
hợp với Sư đoàn 304/ Quân đoàn 2 tiến công giải phóng Chi khu quân sự và Quận
lỵ Thượng Đức (Quảng Nam). Rồi kiên cường phòng ngự bảo vệ vùng giải phóng
Thượng Đức trước sự phản kích điên cuồng, quyết liệt của Sư đoàn dù quân ngụy.
Trên cương vị là Trung đoàn trưởng, đồng chí Hồ Hữu Lạn đã có công lớn cùng tập
thể Đảng ủy, Thủ trưởng Trung đoàn 3 chỉ huy đơn vị vượt qua mọi khó khăn, ác
liệt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chiến công xuất sắc của Trung đoàn 3 mà
đồng chí Lạn làm Trung đoàn trưởng trong Chiến dịch Đắc Pét và Chiến dịch
Thượng Đức có ý nghĩa rất lớn cả về chiến thuật, chiến dịch trong bước phát
triển mới của cuộc chiến - tạo đà, tạo thế, tạo tiền đề và tạo niềm tin vững
chắc cho một thời kỳ mới - tiến tới giải phóng hoàn toàn Miền Nam.
Cuốn hồi ký “Trung đoàn - Một thời chiến trân”
của đồng chí Hồ Hữu Lạn đã ghi lại những sự kiện, những trận chiến đấu, những
chiến dịch mà đồng chí trực tiếp tham gia trong chiến tranh và những nhiệm vụ
đồng chí đảm nhiệm sau này. Phần chủ yếu của hồi ký là kể về thời kỳ chiến đấu
ở Trung đoàn 3/ Sư đoàn 324. Sự hồi tưởng của
tác giả được tái hiện trung thực, sinh động về
cuộc chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo trên chiến trường; những chiến
công chói lọi cùng sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ ta. Qua nhiều Chiến dịch, nhiều sự kiện đã đi vào lịch sử.
Với sự trải nghiệm phong phú và sự thể hiện chân thực của tác giả, cuốn hồi ký
có nhiều tư liệu quí, rất cần cho công tác học tập nghiên cứu và huấn luyện
trong các nhà trường và đơn vị quân đội.
Bằng nhận thức và tình cảm sâu
nặng của mình, viết cuốn hồi ký này, đồng chí Hồ Hữu Lạn đã trân trọng nâng niu
những chiến công, những kỷ niệm đẹp đẽ của một thời trận mạc, tri ân những đồng
đội một thời hoa lửa. Đây không còn là hoài niệm, cảm xúc của một người mà
thông qua đó, người đọc - nhất là thế hệ trẻ - hiểu thêm về một thời kỳ lịch sử
hào hùng của Quân đội ta, của Dân tộc ta.
Với tất cả những điều đó, tôi giới thiệu cuốn hồi ký “ Trung
đoàn - Một thời chiến trận” của đồng chí Đại tá Hồ Hữu Lạn cùng bạn
đọc.
Hà
Nội, ngày 27 tháng 12 năm 2011
LÊ
KHẢ PHIÊU
Nguyên
Tổng Bí thư BCHTW Đảng CSVN
Nguyên
Chủ nhiệm TCCT Quân đội NDVN
Những kỷ vật “biết nói” trở về từ chiến trường hoa lửa
VietTimes -- Những kỷ vật
chiến trường tuy không có giá trị cao vì chỉ đơn giản chỉ là những tấm
ảnh ghi lại những hoạt động của đơn vị hồi ở rừng Trường Sơn nhưng với
tôi nó thực sự quý giá đến mức mà tôi gọi nó là: Những kỷ vật “biết
nói”.
Chiến
tranh đã qua đi, cuộc sống đời thường của những người lính với bao
nhiêu bộn bề, truân chuyên nhưng trong lòng ai cũng đọng lại bao ký ức
của một thời “Hoa lửa hào hùng” Cùng với ký ức còn có những kỷ vật rất
đỗi gần gũi thân quen của những năm tháng gian lao nơi chiến trường khốc
liệt và chính những thứ đó cộng lại với nhau để mãi “giữ lửa trái tim”
của người lính, anh bộ đội Cụ Hồ.
Với nhiều người, kỷ vật kháng chiến rất
xúc động khi mà giờ đây nó đã trở nên những thứ vô giá đáng trân trọng
cho dù đó chỉ là những chiếc khăn dù, một cái tăng võng nilon, cái khay
ấm chén làm bằng mảnh xác máy bay Mỹ, cuốn sổ ghi chép giao ban tác
chiến, cái hòm đạn cũ hay chiếc bi đông đựng nước uống v.v.
Cuộc Chiến tranh Việt Nam đã qua đi hàng
chục năm, nhưng những kỷ vật ấy đã từng trải qua một thời bom đạn đó
vẫn còn tồn tại và đặc biệt hơn vẫn còn có nhiều thứ có thể sử dụng tốt
trong thời bình này. Với tôi, kỷ vật chiến trường tuy không có giá trị
cao vì nó chỉ đơn giản chỉ là những tấm ảnh ghi lại những hoạt động của
đơn vị tôi hồi ở Trường Sơn nhưng với tôi nó thực sự quý giá mà tôi gọi
nó là những kỷ vật “biết nói”.
Vũ khí giản dị mà chiến thắng vẻ vang
Nhớ hồi năm 1971 tôi nhập ngũ và chỉ sau
chưa đầy tháng khoác áo lính tôi lên đường đi B và được điều động ngay
vào một trung đoàn mới được thành lập của tuyến chi viện chiến lược
Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh (559): Trung đoàn ôtô vận tải 13.
Sau lần bắn đạn thật kiểm tra ở Ba Vì, tôi được về tranh thủ 3 ngày để tạm biệt gia đình, người thân và bạn bè để đi B. Dạo đó chiến tranh
phá hoại, Mỹ dùng máy bay đánh phá nên mọi người hầu như phải xa nhà đi
sơ tán hết. Cuộc chia tay ngắn ngủi, chóng vánh qua nhanh và thế là tôi
lên đuờng. Chúng tôi hành quân vào chiến trường hồi đó gian khổ lắm.
Đường vào khu 4, Mỹ cho máy bay đánh phá ác liệt các trọng điểm dọc
đường số 1. Chúng tôi hành quân bằng ô tô ban đêm, bật đèn gầm mà đi,
chỗ không đi được ô tô thì hành quân bộ. Đường từ Nghệ An vào Quảng Bình
khá vất vả, rừng rậm, có chỗ dốc cao, suối sâu, nhiều chỗ phải khó khăn
lắm mới đi được, mặt mũi, mình mẩy mồ hôi chảy ròng ròng. Bây giờ nghĩ
lại cũng thấy hay, Mỹ nguỵ sử dụng các loại phương tiện tối tân, xe
tăng, máy bay đổ quân hùng hổ là thế mà lại thua. Quân đội nhân dân Việt
Nam giản dị mà oai hùng đã chiến thắng vẻ vang.
Vượt
Trường Sơn vào Nam chiến đấu, lớp lính trẻ chúng tôi hồi đó đã phải chịu
đựng nhiều khó khăn vất vả, nhiều lúc tưởng chừng như không thể vượt
qua, nhất là mưa bom, bão đạn của giặc cộng với những gian truân khi
phải chịu đựng những mùa mưa, mùa khô khắc nghiệt của núi rừng nhiệt đới
Trường Sơn.
Nhiều lúc giữa sự sống và cái chết chỉ
là một ranh giới mong manh. Cuộc hành quân ra tiền tuyến trường kỳ và
gian khổ suốt đêm thâu với ngày dài. Đường chúng tôi đi chủ yếu là đèo
dốc quanh co, hiểm trở. Cứ lên đến đỉnh núi trập trùng rồi lại tụt xuống
thung sâu. Những chỗ bằng phẳng hay trống trải đều không được đi hoặc
dừng nghỉ. Chỗ nào khe suối, đường mòn cũng vậy bởi đó là những nơi địch
canh chừng và thường xuyên đánh phá. Rừng Trường Sơn âm u, rậm rạp là
thế nhưng chưa bao giờ có đêm. Vì cứ chiều xuống là địch đã thả pháo
sáng. Rừng đêm bị xé rách bởi những quầng lửa và tiếng bom dội ầm ì.
Những trọng điểm liên hoàn tan hoang,
trơ trụi bởi bom đạn, chất độc hóa học. Những đỉnh đèo trọc lốc, cháy
đen, cây cối gần như không còn cho dù đó là rừng rậm nhiệt đới. Rồi
những ngầm sông cũng bị đánh bật lên đào xuống đến nỗi biến dạng. Bây
giờ nhiều lúc nghĩ lại những chặng đường chiến tranh mà mình đã đi qua,
lúc đó chỉ thấy một tinh thần, một khát khao giải phóng quê hương đất
nước, giải phóng dân tộc rất lớn. Bởi cái khát khao giải phóng và tình
cảm người lính
trong chiến đấu, giữa sự sống và cái chết không thể đùn đầy cho ai
được. Thậm trí cả những người đau ốm, bị thương vẫn cố gắng cao nhất dù
có thể phải bò lết hay chống gậy để theo được đoàn quân tiến ra phía
trước.
Ra đời và chiến đấu trên tuyến vận tải
chi viện chiến lược vô cùng ác liệt – nơi thường xuyên thử thách ý chí,
trí tuệ, lòng quả cảm trước vũ khí tối tân của nền công nghiệp quốc
phòng Mỹ, mỗi con người về với Trung đoàn 13 đều khát khao cháy bỏng
quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tinh thần yêu nước
đó đã tạo nên sức mạnh lớn lao để Trung đoàn liên tiếp lập được nhiều
chiến công rất đáng tự hào trong nhiệm vụ vận chuyển chi viện miền Nam,
làm nhiệm vụ quốc tế và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, từng
bước xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Với những thành tích đó, Bộ tư
lệnh Trường Sơn đã trao tặng cho Trung đoàn danh hiệu “Quả đấm thép
Trường Sơn; “Cánh Đại bàng từ Bắc vào Nam”. Đặc biệt ngày 31/12/1973
Trung đoàn thân yêu của tôi vinh dự lớn được Đảng, Nhà nước tuyên dương
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Những kỷ niệm thời hoa lửa
Cái “vũ khí” đời binh nghiệp của tôi có
xuất xứ thật giản đơn. Đó là sau mùa khô vận chuyển đầu tiên, trong lần
chuẩn bị cho Hội nghị mừng công, với ngón nghề hội hoạ sẵn có, tôi được
dịp trổ tài trình bày, vẽ trang trí thể hiện các bảng biểu minh hoạ cho
những thành tích mà đơn vị đạt được. Chỉ ngần ấy thôi, tôi đã lọt vào
“tầm ngắm” của thủ trưởng cơ quan chính trị Trung đoàn và thế là một
quyết định nhanh chóng đuợc đưa xuống điều động tôi từ Tiểu đoàn 74 lên
nhận công tác tại cơ quan chính trị Trung đoàn 13, bởi những công việc
“Cờ, đèn, kèn, trống” như thế thì ở cơ quan chính trị mới là “Đất dụng
võ” phù hợp với tôi. Có chiếc máy ảnh trang bị lại chưa có ai biết sử
dụng, thủ trưởng hỏi tôi: “Lính Hà Nội nhiều tài lẻ, chắc là cũng biết
sử dụng máy ảnh đấy chứ?”. Thế là cái vốn có trong tôi lại được dịp tung
ra, cuối cùng thì tôi đuợc trang bị “vũ khí” chính thức trong cuộc
chiến từ đây là: Chiếc máy ảnh.
Với
chiếc máy ảnh Exakta của Đức, tôi đã có nhiều hình ảnh chụp về mọi hoạt
động của Trung đoàn trên tuyến vận tải chi viện chiến lược Trường Sơn
và dĩ nhiên tôi cũng có nhiều may mắn hơn bất cứ người lính nào được ghi
lại hình ảnh của chính mình trong cuộc đời quân ngũ ở Trường Sơn.
Trong mỗi một chặng đường chiến đấu, xây
dựng và trưởng thành của Trung đoàn, với “vũ khí” đời binh nghiệp của
tôi, tôi đã cố gắng ghi lại được những hoạt động của đơn vị. Những tấm
ảnh được chụp ở bãi tập kết xe, ở bếp quay đầu sau một cung đường, một
nhánh đường tránh, rồi có cả những nơi đèo dốc, ngầm sâu hay ngay tại
những trọng điểm máy bay Mỹ thường xuyên đánh phá ác liệt.. Có cả những
ảnh chụp chiến sĩ lái xe khắc phục sự cố trên đường, buộc thêm nhành lá
ngụy trang, ảnh thủ trưởng động viên các chiến sĩ, hình ảnh bộ đội ta
sinh hoạt văn hóa tinh thần, đọc thư báo từ hậu phương gửi vào, rồi có
cả những lễ ra quân xuất kích rầm rộ khi đơn vị vào chiến dịch vận
chuyển tham gia Tổng công kích, những hình ảnh quý giá khi có cả những
lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước vào thăm đơn vị. Đặc biệt là ảnh Đại
tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp khi vào thị sát chiến trường đã đến
thăm đơn vị tôi.
Chẳng mấy thời gian ở vị trí cơ quan
chính trị Trung đoàn ô tô vận tải 13, tôi lại đuợc điều động lên cơ quan
chính trị cấp trên khi đó là Phòng tuyên huấn Sư đoàn ô tô vận tải 571
khi Sư đoàn đuợc thành lập và Trung đoàn 13 trở thành một trong năm đơn
vị thành viên của Sư đoàn vào năm 1973.
Lại
một may mắn nữa đến với tôi, do nhiệm vụ của tôi khi đó và tình hình
nhiệm vụ yêu cầu, đòi hỏi tôi phải được tập huấn thêm nghiệp vụ để đảm
nhận thêm nhiệm vụ. Thế là tôi lại có đuợc cơ hội học hỏi nghề báo. Một
lớp tập huấn ngay tại cơ quan Đoàn bộ 559 (Bộ tư lệnh Trường Sơn) do các
nhà báo, phóng viên kỳ cựu của các lớp đàn anh trực tiếp kèm cặp. Chính
báo “Chiến sĩ Trường Sơn” là chỗ để mọi người thử sức và cống hiến
trong dịp này.
Những ngày ấy, các phóng viên chiến
trường phải vượt lên cả sự thiếu thốn khó khăn về phương tiện để tạo nên
những bức ảnh có giá trị. Ban ngày tham gia hoạt động cùng các đơn vị
trên tuyến, đến tối về làm ảnh và sáng hôm sau mọi người đã được xem
triển lãm ảnh nóng hổi tính thời sự. Không những thế, tờ báo “Chiến sĩ
Trường Sơn” của Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh luôn là
“đất diễn” của cánh phóng viên chiến trường chúng tôi..
Ý nghĩa lớn hơn nữa là những tấm ảnh từ
chiến trường hồi đó đã được đưa ra ngoài Bắc bằng con đường giao liên và
đến với báo chí hậu phương miền Bắc, thậm trí còn bay đi khắp thế giới
và cho đến bây giờ thì chúng đã có vị trí xứng đáng của nó. Tất cả hiện
đang được lưu trữ trong Bảo tàng Lịch sử các lực lượng vũ trang nhân dân
Việt Nam, Bảo tàng Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh và Bảo tàng ngành hậu
cần Quân đội NDVN.
Nghĩ
lại cái thời “hoa lửa hào hùng” của dân tộc, cái nghiệp của mình với
một “thứ vũ khí thô sơ” trong cuộc chiến. Tôi thầm tự hào đã có những
đóng góp nhỏ bé ghi lại những hình ảnh sống động về những người lính
Trường Sơn “Gan vàng, dạ ngọc”; “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” .. bằng
chính tay máy non trẻ của mình. Tôi cũng không ngờ rằng những kỷ vật ấy
sau này lại có cơ hội “lên tiêng” bởi Ban liên lạc Trung đoàn ô tô vận
tải 13 Anh hùng mà tôi là một ủy viên thường trực đã chính thức tập hợp
và in cuốn sách ảnh: “Trung đoàn 13 ô tô vận tải – Những năm tháng hào
hùng”. Đây là cuốn sách ảnh tư liệu được chọn lọc, sắp xếp tái hiện lại
"Những khoảnh khắc lịch sử" của Trung đoàn trong chiến đấu, trong tham
gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc cũng như những hoạt động tình nghĩa của Ban
liên lạc Trung đoàn ôtô vận tải 13 Anh hùng Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ
Chí Minh, mà chính tôi là tác giả. Cuốn sách do Nhà xuất bản Quân đội
nhân dân phát hành năm 2008 và là Công trình kỷ niệm ngày truyền thống
50 năm thành lập Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh (19/5/1959 -
19/5/2009).
Giấy
chứng nhận “Hiến tặng kỷ vật kháng chiến” do Tổng cục Hậu cần QĐND Việt
Nam cấp cho tôi trong lần tặng kỷ vật cho Bảo tàng ngày 28/4/2016.
Ngày 11/7/2012, Tổng cục Hậu cần đã phát động phong trào “Hiến tặng kỷ vật kháng chiến của ngành Hậu cần Quân đội” trong toàn quân, toàn ngành và đông đảo nhân dân, các nhân chứng lịch sử, các cựu chiến binh
trong cả nước để sưu tầm, hiến tặng những kỷ vật về hậu cần quân đội,
hậu cần nhân dân trong suốt chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc. Để
hưởng ứng phong trào tôi cũng đã có những sưu tập ảnh tặng lại cho Bảo
tàng.
Nhiếp ảnh. Đó chính là thứ vũ khí trong
đời binh nghiệp của tôi và chính những hình ảnh đó đã là thứ kỷ vật quý
giá nhất của tôi thời đánh Mỹ, thứ kỷ vật mà tôi gọi nó là “biết nói”
bởi tự nó đã nói lên được tất cả giá trị lịch sử của một thời hào hùng.
(*) Tác giả Trần Trung Thành là CCB Trung đoàn ô tô vận tải 13 Anh hùng Bộ đội Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh.
Hành trình ly kỳ của cựu binh Mỹ từng giữ Nhật ký Đặng Thùy Trâm hơn 20 năm
VietTimes -- Sau
45 năm “im lặng”, Carl W. Greifzu vừa trở
lại Việt Nam với tư cách là cựu binh Mỹ và cũng là con rể của Bắc Ninh.
Đến Hà Nội, ông tới thăm gia đình thân nhân và đến viếng mộ Anh hùng
Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Thêm nữa, ông còn rước
di ảnh vợ mình về thăm miền quê Quan họ.
Ông là Carl W.
Greifzu, một người Mỹ gốc Đức, một cựu binh trong chiến tranh Việt Nam,
là người có công giữ cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” hơn 20 năm. Hơn thế,
ông còn phối hợp với người vợ mình là bà Trần Thị Kim Dung dịch cuốn sổ
tay đó ra tiếng Anh từ gần 40 năm trước. Nhờ vậy mà các cựu binh Mỹ hiểu
được giá trị, ý nghĩa của cuốn sổ tay nhật ký. Họ đã tìm mọi cách
chuyển nó về Việt Nam…
Con rể đất Bắc Ninh
Vào tháng 6/1970, khi Fredric Whitehurst, một lính Mỹ, tại chiến trường Đức Phổ (Quảng Ngãi) tính châm lửa đốt quyển sổ tay được bọc bằng vải, thu được sau một trận càn quét, người thông dịch của ông đã cản: "Đừng đốt. Bản thân nó đã có lửa rồi!". Nghe lời khuyên, người lính Mỹ ấy đã không đốt quyển sổ tay. Và “Ngọn lửa” ấy còn dẫn Fredric và người anh trai là Robert Whitehurst (cũng là một cựu binh Mỹ trong chiến tranh VN) làm một cuộc hành trình vượt đại dương, tình nguyện đưa nhật ký của Đặng Thùy Trâm về với gia đình chị…
Cách đây 11 năm, cuốn nhật ký của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm qua hơn 30 năm lưu lạc trên đất Mỹ, sau khi trở về VN đã in với số lượng hàng trăm ngàn bản. Cùng với nhật ký “Mãi mãi tuổi 20” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, 2 cuốn sách đã tạo nên một hiện tượng xuất bản, gây chấn động xã hội, trở thành một sự kiện nổi bật được dư luận trong và ngoài nước biết đến.
Nhưng còn rất ít người biết chi tiết này: Năm 1970, Sau khi Fredric Whitehurst nhặt được cuốn sổ tay của Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, ông đã trao nó cho Carl W. Greifzu, một lính Mỹ gốc Đức, có vợ là người Việt giữ hộ. Sau hơn 20 năm, nhờ đọc bản dịch tiếng Anh tóm tắt nội dung cuốn nhật ký của vợ mình, tham gia hiệu đích bản dịch ấy và nhận ra giá trị của di vật đặc biệt đó, năm 1996 Carl W. Greifzu đã quyết định trao lại nó cho Fredric Whitehurst, để chuyển về Việt Nam…
Hơn 10 năm qua, có rất nhiều cựu binh Mỹ đã tới VN thăm lại chiến trường xưa và đến Hà Nội thăm gia đình Anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Nhưng Carl W. Greifzu – người đã giữ cuốn sổ tay nhật ký của chị Trâm hơn 20 năm, vẫn chưa có dịp trở lại VN, kể từ sau năm 1975.
Đúng như kế hoạch đã thông báo được gửi qua email cho tôi, sáng ngày 22/3/2016, cựu binh Carl W. Greifzu, người giữ cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” hơn 20 năm - đã đáp chuyến bay tới Hà Nội. Đó là một người Mỹ có mái tóc đã bạc và khá cao (tôi cao trên 1m70, nhưng chỉ đứng đến tai ông). Tuy nhiên, là một Luật sư có tiếng ở Mỹ, trông Carl W. Greifzu rất hiền và lịch lãm.
- Chào mừng ông đã đến Hà Nội an toàn! Tôi đã nghe người ta nói rất nhiều về ông. Rất hân hạnh được làm quen!
Tôi tặng cho Carl bó hoa tươi, rồi nói vài câu tiếng Anh theo phép lịch sự. Nhưng thật bất ngờ khi nghe người cựu binh Mỹ trả lời bằng tiếng Việt với giọng lơ lớ, thật dễ thương:
- Cảm ơn! Anh khoẻ không? Anh ăn cơm chưa? Anh đã có bạn gái chưa?
À, tôi quên ông ấy còn là con rể của Việt Nam. Chắc hẳn bà vợ người Việt từng dạy tiếng Việt cho ông ít nhiều. Tôi nói vui:
- Cái tên của ông phiên âm tiếng Việt đọc khó lắm. Cho phép tôi gọi thân mật ông là “Khôn” (khôn ngoan), hoặc “Kho” (nhà kho) nhé. Ở Bắc Ninh, quê vợ ông có Đền Bà Chúa Kho nổi tiếng lắm đó. Người ta đồn rằng, nhiều người nhờ tới đó đi lễ mà trở nên giàu có…
Cô phiên dịch giải thích xong, Carl W. Greifzu bật cười vui vẻ. Chúng tôi đã “làm thân” với nhau rất nhanh như thế.
Ông “Kho” có mang theo hàng trăm bức ảnh đen trắng kỷ niệm về chiến trường Quảng Ngãi những năm 1970 – 1971, trong đó có cả ảnh của Fredric Whitehurst và người phiên dịch thời đó. Rất nhiều tư liệu và ảnh về bà Trần Thị Kim Dung – người vợ Việt Nam quê Bắc Ninh. Đặc biệt, ông còn mang theo cả tập bản thảo hơn trăm trang viết tay và đánh máy bản dịch đầu tiên của "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" ra tiếng Anh, do ông bà phối hợp thực hiện từ thập niên 80.
Bản dịch tiếng Anh đầu tiên của “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” được thực hiện như thế nào?
Ngay sau khi được ấn hành, cùng với Nhật ký “Mãi mãi tuổi 20” của Nguyễn Văn Thạc, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đã trở thành một trong 10 sự kiện Văn hóa nổi bật của cả nước ta năm 2005, do Bộ Văn hóa – Thông tin bình chọn. Hơn 10 năm qua, cuốn sách đã được chuyển ngữ và dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.
Nhưng còn rất ít người biết bản dịch tiếng Anh đầu tiên của cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”. Sở dĩ tôi khẳng định đây là bản dịch đầu tiên vì nó được thực hiện từ thập niên 80 của thế kỷ trước. Bà Trần Thị Kim Dung, người vợ Việt Nam của Carl W. Greifzu đã làm việc này và chính ông đã trực tiếp gõ máy chữ hiệu đính cho bản thảo.
Dù chỉ ở Việt Nam trong 2 năm, nhưng ký ức về cuộc chiến vẫn luôn ám ảnh, làm Carl W. Greifzu day dứt không nguôi. Những lúc rảnh, bà Trần Thị Kim Dung thường dịch nghĩa những trang nhật ký của người “Nữ bác sĩ Việt Cộng”, đọc cho chồng nghe từng đoạn. Càng ngày, những trang viết máu lửa chiến trường ấy càng cuốn hút ông. Đến một hôm, Greifzu đã chính thức đề nghị vợ giúp ông dịch toàn bộ cuốn nhật ký của “Nữ bác sĩ Việt cộng” ra giấy, để nhiều người, đặc biệt là các cựu chiến binh Mỹ cùng được đọc.
Bà Dung đồng ý và hưởng ứng ngay. Tuy nhiên, công việc dịch nghĩa diễn đạt lại theo lời nói và dịch viết ra bản thảo rất khác nhau. Bà Dung đã “đánh vật” với từng trang viết và vất vả nhiều tháng trời. Ông Greifzu đã trợ giúp vợ bằng cách tự đánh máy chữ và hiệu đính bản thảo vì thời đó, nhiều người Mỹ vẫn còn dùng máy chữ, chưa có sẵn máy vi tính như bây giờ. Rồi cuối cùng bản thảo dịch cũng hoàn thành.
Bản thảo bà Dung viết tay được sử dụng bằng loại giấy có dòng kẻ khổ lớn, đục lỗ một bên lề, đóng kẹp như tài liệu lưu trữ trong hồ sơ, để sửa chữa và lưu giữ cho dễ dàng. Phần bản thảo viết tay gồm 102 tờ giấy, được viết trên cả 2 mặt trước và sau. Phần bản thảo do ông Greifzu đánh máy dày 121 trang, loại chữ nhỏ, trên một mặt giấy. Hầu như trang nào cũng được thêm bớt và sửa chữa nhiều lần bằng chữ viết tay.
Carl W. Greifzu cho biết, ông và bà Dung đã thuộc lòng nhiều trang nhật ký của người “Nữ bác sĩ Việt Cộng” anh hùng ấy. Bởi đó là một phần cuộc đời của vợ chồng ông. Những năm sau đó, bà Dung đã photo thêm nhiều bản dịch đã được văn bản hóa nêu trên, để chồng mình gửi tặng cho những người bạn cựu binh Mỹ cùng đọc nó, giúp họ hiểu thêm về cuộc chiến tranh Việt Nam…
Khoảng năm 1996, Fredric Whitehurs tìm đến thành phố nơi vợ chồng Carl W. Greifzu đang sống. Họ vừa ăn trưa cùng nhau, vừa ôn lại những kỷ niệm tại chiến trường Việt Nam. Carl đã quyết định trao lại cuốn sổ tay "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" cho Fredric. Và đoạn kết có hậu ở Việt Nam thì chúng ta đã biết...
Vốn tính khiêm nhường, Carl W. Greifzu rất ít nói về bản thân. Ông tự nhận là mình chỉ góp một phần nhỏ vào việc cùng các cựu binh Mỹ giữ gìn và trao lại cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” cho Việt Nam.
Trước khi tiếp nhận 2 tập bản thảo gốc, tôi đề nghị Carl W. Greifzu viết mấy chữ đề tặng vào phong bì tài liệu. Là một luật sư, ông cẩn trọng hỏi lại: “Nên ghi như thế nào nhỉ”? Ở Việt Nam ghi ngày và tháng trước, hay là năm trước? Rồi ông lấy mấy tờ khăn giấy có sẵn trên bàn café, thử nháp trước tới 2 lần… Cuối cùng, Carl W. Greifzu đã chính thức viết, tạm dịch như sau: “Thay mặt Trần Thị Kim Dung, tôi vui mừng trao cho Đặng Vương Hưng vì lợi ích của nhân dân Việt Nam, bản dịch gốc ra tiếng Anh Nhật ký của Bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Hà Nội, tháng 3, ngày 23 năm 2016. Carl W. Greifzu"
Với sự cộng tác, trợ giúp của chồng mình, bà Dung là người đầu tiên dịch “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” ra tiếng Anh. Nhờ bản dịch này mà các cựu binh Mỹ hiểu được giá trị cuốn sổ tay ấy và họ đã quyết định tìm mọi cách trao trả cho gia đình Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm…
Bà Trần Thị Kim Dung từng làm nhân viên phiên dịch cho Tòa đại sứ của chính quyền Sài Gòn cũ tại Đài Loan. Tại đây, bà đã nhiều lần gặp ông Ngô Đình Diệm, từ khi ông này còn chưa làm Tổng thống chế độ Sài Gòn, rồi bị sát hại trong một cuộc đảo chính. Cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, bà Dung chuyển sang Mỹ, làm nhiệm vụ dạy tiếng Việt cho một số lính Mỹ trước khi họ sang chiến trường Việt Nam.
Con rể đất Bắc Ninh
Vào tháng 6/1970, khi Fredric Whitehurst, một lính Mỹ, tại chiến trường Đức Phổ (Quảng Ngãi) tính châm lửa đốt quyển sổ tay được bọc bằng vải, thu được sau một trận càn quét, người thông dịch của ông đã cản: "Đừng đốt. Bản thân nó đã có lửa rồi!". Nghe lời khuyên, người lính Mỹ ấy đã không đốt quyển sổ tay. Và “Ngọn lửa” ấy còn dẫn Fredric và người anh trai là Robert Whitehurst (cũng là một cựu binh Mỹ trong chiến tranh VN) làm một cuộc hành trình vượt đại dương, tình nguyện đưa nhật ký của Đặng Thùy Trâm về với gia đình chị…
Cách đây 11 năm, cuốn nhật ký của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm qua hơn 30 năm lưu lạc trên đất Mỹ, sau khi trở về VN đã in với số lượng hàng trăm ngàn bản. Cùng với nhật ký “Mãi mãi tuổi 20” của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, 2 cuốn sách đã tạo nên một hiện tượng xuất bản, gây chấn động xã hội, trở thành một sự kiện nổi bật được dư luận trong và ngoài nước biết đến.
Nhưng còn rất ít người biết chi tiết này: Năm 1970, Sau khi Fredric Whitehurst nhặt được cuốn sổ tay của Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, ông đã trao nó cho Carl W. Greifzu, một lính Mỹ gốc Đức, có vợ là người Việt giữ hộ. Sau hơn 20 năm, nhờ đọc bản dịch tiếng Anh tóm tắt nội dung cuốn nhật ký của vợ mình, tham gia hiệu đích bản dịch ấy và nhận ra giá trị của di vật đặc biệt đó, năm 1996 Carl W. Greifzu đã quyết định trao lại nó cho Fredric Whitehurst, để chuyển về Việt Nam…
Hơn 10 năm qua, có rất nhiều cựu binh Mỹ đã tới VN thăm lại chiến trường xưa và đến Hà Nội thăm gia đình Anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Nhưng Carl W. Greifzu – người đã giữ cuốn sổ tay nhật ký của chị Trâm hơn 20 năm, vẫn chưa có dịp trở lại VN, kể từ sau năm 1975.
Đúng như kế hoạch đã thông báo được gửi qua email cho tôi, sáng ngày 22/3/2016, cựu binh Carl W. Greifzu, người giữ cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” hơn 20 năm - đã đáp chuyến bay tới Hà Nội. Đó là một người Mỹ có mái tóc đã bạc và khá cao (tôi cao trên 1m70, nhưng chỉ đứng đến tai ông). Tuy nhiên, là một Luật sư có tiếng ở Mỹ, trông Carl W. Greifzu rất hiền và lịch lãm.
Nhà văn Đặng Vương Hưng tặng hoa ông Carl W. Greifzu (bên phải) và hai người thân mật trò chuyện
Khoảng 10 giờ sáng, chúng tôi cùng có mặt trên sân thượng của quán
Coffee Club ngay cạnh hồ Hoàn Kiếm để trò chuyện. Với tư cách là một nhà
văn, cựu chiến binh, tôi mua sẵn một bó hoa mang đến tặng Carl W.
Greifzu.- Chào mừng ông đã đến Hà Nội an toàn! Tôi đã nghe người ta nói rất nhiều về ông. Rất hân hạnh được làm quen!
Tôi tặng cho Carl bó hoa tươi, rồi nói vài câu tiếng Anh theo phép lịch sự. Nhưng thật bất ngờ khi nghe người cựu binh Mỹ trả lời bằng tiếng Việt với giọng lơ lớ, thật dễ thương:
- Cảm ơn! Anh khoẻ không? Anh ăn cơm chưa? Anh đã có bạn gái chưa?
À, tôi quên ông ấy còn là con rể của Việt Nam. Chắc hẳn bà vợ người Việt từng dạy tiếng Việt cho ông ít nhiều. Tôi nói vui:
- Cái tên của ông phiên âm tiếng Việt đọc khó lắm. Cho phép tôi gọi thân mật ông là “Khôn” (khôn ngoan), hoặc “Kho” (nhà kho) nhé. Ở Bắc Ninh, quê vợ ông có Đền Bà Chúa Kho nổi tiếng lắm đó. Người ta đồn rằng, nhiều người nhờ tới đó đi lễ mà trở nên giàu có…
Cô phiên dịch giải thích xong, Carl W. Greifzu bật cười vui vẻ. Chúng tôi đã “làm thân” với nhau rất nhanh như thế.
Ông “Kho” có mang theo hàng trăm bức ảnh đen trắng kỷ niệm về chiến trường Quảng Ngãi những năm 1970 – 1971, trong đó có cả ảnh của Fredric Whitehurst và người phiên dịch thời đó. Rất nhiều tư liệu và ảnh về bà Trần Thị Kim Dung – người vợ Việt Nam quê Bắc Ninh. Đặc biệt, ông còn mang theo cả tập bản thảo hơn trăm trang viết tay và đánh máy bản dịch đầu tiên của "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" ra tiếng Anh, do ông bà phối hợp thực hiện từ thập niên 80.
Bản dịch tiếng Anh đầu tiên của “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” được thực hiện như thế nào?
Ngay sau khi được ấn hành, cùng với Nhật ký “Mãi mãi tuổi 20” của Nguyễn Văn Thạc, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đã trở thành một trong 10 sự kiện Văn hóa nổi bật của cả nước ta năm 2005, do Bộ Văn hóa – Thông tin bình chọn. Hơn 10 năm qua, cuốn sách đã được chuyển ngữ và dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.
Nhưng còn rất ít người biết bản dịch tiếng Anh đầu tiên của cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”. Sở dĩ tôi khẳng định đây là bản dịch đầu tiên vì nó được thực hiện từ thập niên 80 của thế kỷ trước. Bà Trần Thị Kim Dung, người vợ Việt Nam của Carl W. Greifzu đã làm việc này và chính ông đã trực tiếp gõ máy chữ hiệu đính cho bản thảo.
Trang đầu bản viết tay và đánh máy dịch tiếng Anh của cuốn bản thảo Nhật ký Đặng Thùy Trâm
Carl W. Greifzu nhớ lại, khoảng tháng 9 năm 1971, khi cấp trên cho
phép ông từ chiến trường Việt Nam trở về Mỹ, Fredric Whitehurst đã gửi
ông cuốn sổ tay nhật ký Đặng Thùy Trâm nhờ ông giữ hộ. Năm 1975, khi
chiến tranh Việt Nam đã kết thúc, những người lính Mỹ trở về nước, ai
cũng bận rộn với công việc mới, lo chuyện mưu sinh, nên Carl và Fredric
đã không có điều kiện gặp lại, vì họ sống ở hai bang cách xa nhau cả
ngàn cây số. Dù chỉ ở Việt Nam trong 2 năm, nhưng ký ức về cuộc chiến vẫn luôn ám ảnh, làm Carl W. Greifzu day dứt không nguôi. Những lúc rảnh, bà Trần Thị Kim Dung thường dịch nghĩa những trang nhật ký của người “Nữ bác sĩ Việt Cộng”, đọc cho chồng nghe từng đoạn. Càng ngày, những trang viết máu lửa chiến trường ấy càng cuốn hút ông. Đến một hôm, Greifzu đã chính thức đề nghị vợ giúp ông dịch toàn bộ cuốn nhật ký của “Nữ bác sĩ Việt cộng” ra giấy, để nhiều người, đặc biệt là các cựu chiến binh Mỹ cùng được đọc.
Bà Dung đồng ý và hưởng ứng ngay. Tuy nhiên, công việc dịch nghĩa diễn đạt lại theo lời nói và dịch viết ra bản thảo rất khác nhau. Bà Dung đã “đánh vật” với từng trang viết và vất vả nhiều tháng trời. Ông Greifzu đã trợ giúp vợ bằng cách tự đánh máy chữ và hiệu đính bản thảo vì thời đó, nhiều người Mỹ vẫn còn dùng máy chữ, chưa có sẵn máy vi tính như bây giờ. Rồi cuối cùng bản thảo dịch cũng hoàn thành.
Bản thảo bà Dung viết tay được sử dụng bằng loại giấy có dòng kẻ khổ lớn, đục lỗ một bên lề, đóng kẹp như tài liệu lưu trữ trong hồ sơ, để sửa chữa và lưu giữ cho dễ dàng. Phần bản thảo viết tay gồm 102 tờ giấy, được viết trên cả 2 mặt trước và sau. Phần bản thảo do ông Greifzu đánh máy dày 121 trang, loại chữ nhỏ, trên một mặt giấy. Hầu như trang nào cũng được thêm bớt và sửa chữa nhiều lần bằng chữ viết tay.
Carl W. Greifzu cho biết, ông và bà Dung đã thuộc lòng nhiều trang nhật ký của người “Nữ bác sĩ Việt Cộng” anh hùng ấy. Bởi đó là một phần cuộc đời của vợ chồng ông. Những năm sau đó, bà Dung đã photo thêm nhiều bản dịch đã được văn bản hóa nêu trên, để chồng mình gửi tặng cho những người bạn cựu binh Mỹ cùng đọc nó, giúp họ hiểu thêm về cuộc chiến tranh Việt Nam…
Khoảng năm 1996, Fredric Whitehurs tìm đến thành phố nơi vợ chồng Carl W. Greifzu đang sống. Họ vừa ăn trưa cùng nhau, vừa ôn lại những kỷ niệm tại chiến trường Việt Nam. Carl đã quyết định trao lại cuốn sổ tay "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" cho Fredric. Và đoạn kết có hậu ở Việt Nam thì chúng ta đã biết...
Vốn tính khiêm nhường, Carl W. Greifzu rất ít nói về bản thân. Ông tự nhận là mình chỉ góp một phần nhỏ vào việc cùng các cựu binh Mỹ giữ gìn và trao lại cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” cho Việt Nam.
Ông Carl W. Greifzu trao tặng Nhà văn Đặng Vương Hưng bản dịch tiếng Anh đầu tiên của "Nhật ký Đặng Thùy Trâm"
Carl W. Greifzu, người giữ cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” hơn 20 năm
đã trực tiếp trao tặng tôi tài liệu rất quý: Bản dịch tiếng Anh đầu tiên
của “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”!Trước khi tiếp nhận 2 tập bản thảo gốc, tôi đề nghị Carl W. Greifzu viết mấy chữ đề tặng vào phong bì tài liệu. Là một luật sư, ông cẩn trọng hỏi lại: “Nên ghi như thế nào nhỉ”? Ở Việt Nam ghi ngày và tháng trước, hay là năm trước? Rồi ông lấy mấy tờ khăn giấy có sẵn trên bàn café, thử nháp trước tới 2 lần… Cuối cùng, Carl W. Greifzu đã chính thức viết, tạm dịch như sau: “Thay mặt Trần Thị Kim Dung, tôi vui mừng trao cho Đặng Vương Hưng vì lợi ích của nhân dân Việt Nam, bản dịch gốc ra tiếng Anh Nhật ký của Bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Hà Nội, tháng 3, ngày 23 năm 2016. Carl W. Greifzu"
Bút tích đề tặng ghi trên tập bản thảo gốc.
Người vợ Việt của cựu binh Mỹ Carl W. GreifzuVới sự cộng tác, trợ giúp của chồng mình, bà Dung là người đầu tiên dịch “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” ra tiếng Anh. Nhờ bản dịch này mà các cựu binh Mỹ hiểu được giá trị cuốn sổ tay ấy và họ đã quyết định tìm mọi cách trao trả cho gia đình Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm…
Ảnh cưới của ông Carl W. Greifzu và bà Trần Thị Kim Dung (ảnh chụp năm 1972).
Tên đầy đủ của bà là Trần Thị Kim Dung. Theo một tài liệu, do Carl W.
Greifzu cung cấp cho biết: Bà Dung sinh năm 1931, quê tại Yên Lãng -
Phúc Yên. Nhưng lớn lên và gắn bó tại Niềm Xá – Bắc Ninh. Cha là Trần
Văn Trùng và mẹ là Nguyễn Thị Dĩnh (*). Gia đình bà Dung từ Bắc di cư
vào Nam từ rất sớm. Khoảng năm 1948, khi mới 17 tuổi, bà đã sang Đài
Loan, rồi sang Mỹ học tập…Bà Trần Thị Kim Dung từng làm nhân viên phiên dịch cho Tòa đại sứ của chính quyền Sài Gòn cũ tại Đài Loan. Tại đây, bà đã nhiều lần gặp ông Ngô Đình Diệm, từ khi ông này còn chưa làm Tổng thống chế độ Sài Gòn, rồi bị sát hại trong một cuộc đảo chính. Cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, bà Dung chuyển sang Mỹ, làm nhiệm vụ dạy tiếng Việt cho một số lính Mỹ trước khi họ sang chiến trường Việt Nam.
Video: Ông Carl W. Greifzu về thăm quê vợ tại Bắc Ninh
Carl W. Greifzu nhớ lại: Ông gặp bà Trần
Thị Kim Dung năm 1969 trong một lớp học tiếng Việt cho lính Mỹ. Năm đó,
Greifzu mới 26 tuổi, kém bà Dung tới 12 tuổi. Nhưng ông đã bị cô giáo
làm cho “say nắng” ngay từ cái nhìn đầu tiên. “Thời đó, bà ấy là một phụ
nữ đẹp lắm. Cả lớp chúng tôi đều mê cô giáo gốc Việt ấy - Greifzu thú
nhận - Giờ nghỉ, tôi đánh bạo hỏi: Thưa, cô đã có bạn trai chưa? Bà ấy
hóm hỉnh trả lời: “Có rồi. Tất cả các anh đây tôi đều coi là bạn”. Tôi
chẳng chịu, bảo: “Không, ý tôi là chỉ một người duy nhất. Có thể kết hôn
ấy!”.
“Chúng tôi yêu nhau từ đó - gương mặt Greifzu ánh lên niềm hạnh phúc
khi kể lại chi tiết này - Trước khi sang tham chiến tại Việt Nam, tôi
xin đính hôn với bà Dung, nhưng chưa làm lễ cưới, vì sợ làm lỡ dở cuộc
đời bà. Những ngày ở Việt Nam, chúng tôi vẫn đều đặn viết thư cho nhau…
Sau khi từ Việt Nam trở về Mỹ năm 1971, chúng tôi đã làm lễ cưới…”.Dù hai người không có con, nhưng Trần Thị Kim Dung và Carl W. Greifzu đã sống hạnh phúc bên nhau 45 năm. “Lá rụng về cội”, những năm cuối đời, bà Dung luôn có một khát khao cháy bỏng là được một lần được về Việt Nam để thăm lại miền quê Quan họ Bắc Ninh, nơi bà đã sinh ra và lớn lên. Những đáng tiếc là ước nguyện cuối đời ấy bà đã không thực hiện được. Bà Dung đã mất tại Mỹ năm 2015, hưởng thọ 85 tuổi!
Tới thăm Việt Nam lần này, Greifzu mang theo một sứ mệnh thiêng liêng là thực hiện di nguyện của bà Dung về thăm quê hương, với tư cách là con rể của Bắc Ninh! Theo gợi ý của tôi, Greifzu đã nhờ người phóng to một bức chân dung đẹp nhất của vợ mình khi còn sống để cựu binh Mỹ Carl W. Greifzu sẽ mang theo di ảnh chân dung của bà Trần Thị Kim Dung cùng về Bắc Ninh. Ông tin rằng linh hồn vợ mình sẽ cùng về thăm quê với ông. Mỗi bước đi của ông tại Bắc Ninh, đều như có bà vợ đã chung sống hạnh phúc với ông gần nửa thế kỷ đi cùng.
Ông Greifzu thứ hai trân trọng mang theo di ảnh vợ về quê hương Bắc Ninh.
Và sáng thứ Bảy, 26/3, người đàn ông Mỹ cao lớn, tóc bạc trắng ấy, đã
thực hiện chuyến rước di ảnh của vợ về thăm quê với tâm trạng xúc động
rất khó diễn tả thành lời…Bắc Ninh trong tâm tưởng của Greifzu là vùng đất cổ, cũ kỹ, nghèo khó và dân cư thưa thớt của những năm 30 – 40 của thế kỷ trước, trong lời kể của bà Kim Dung…
Bởi thế, khi xe đưa ông đến thành phố của những điệu dân ca Quan họ nổi tiếng đã được UNESCO vinh danh là di sản phi vật thể, ông thốt lên: Sao nhiều nhà cao tầng đẹp thế! Nhiều con gái xinh thế! Mà người và xe cũng thoáng hơn Hà Nội rất nhiều!

Ông tặng hoa các Liền chị Quan họ.
Bắc Ninh, quê bà Trần Thị Kim Dung người vợ yêu thương của Carl
W. Greifzu là vậy! Dù chuyện đi chỉ ngắn ngủi chỉ trong một ngày, nhưng
cựu binh Mỹ đã luôn mang theo những tấm chân dung của người vợ mới qua
đời cách đây 4 tháng. Khi nghe những Liền chị hát mấy làn điệu Quan họ,
dù không hiểu nghĩa, nhưng ông vẫn cảm nhận được và nghẹn ngào, rưng
rưng… “Hãy yêu thương nhau khi còn sống”!
Có lẽ Chủ Nhật (27/3) là một trong những ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời cựu binh Carl W. Greifzu – Người giữ cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” hơn 20 năm và cùng vợ ông dịch nó ra tiếng Anh từ gần 40 năm trước.
Carl W. Greifzu dậy từ rất sớm, nhờ cô phiên dịch đưa ra Nhà thờ Lớn Hà Nội, nhân ngày Lễ Phục sinh. Ông ngạc nhiên khi ở Việt Nam cũng có những nhà thờ đã hàng trăm năm tuổi như thế.
Ông thân mật trò chuyện với bà Đoàn Thị Ngọc Trâm tại nhà AHLS Đặng Thùy Trâm.
Đúng 9 giờ 30 sáng, chúng tôi đón ông cùng lên taxi đến đến nhà bà
Doãn Ngọc Trâm (thân mẫu của Anh hùng Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm) tại ngõ
135 phố Đội Cấn. Đã từ lâu, gia đình bà coi tôi như con cháu trong nhà.
Vì đã hẹn trước, nên các chị Đặng Hiền Trâm, Đặng Phương Trâm và Đặng
Kim Trâm đều đang đợi sẵn và ra tận cửa để đón Carl W. Greifzu.Năm nay đã 92 tuổi, lại bị chứng bệnh đau chân, nên người mẹ của người nữ Anh hùng liệt sĩ phải ngồi đợi trên lầu. Khi người cựu binh Mỹ vừa bước lên, bà cụ đứng dậy nói những câu chào hỏi bằng tiếng Pháp:
- Cảm ơn ông đã đến. Cảm ơn anh đã giữ gìn cuốn sổ tay nhật ký của con gái tôi và dịch nó ra tiếng Anh. Chúng tôi đợi anh đã lâu lắm rồi! Mấy lần trước, khi Fredric Whitehurst sang thăm Việt Nam, mỗi lần đến nhà tôi chơi, đều có nhắc đến anh…
Carl W. Greifzu lúng túng cảm động chào lại, rồi hai người ôm nhau nghẹn ngào không nói nên lời.
Ông Carl W. Greifzu và đoàn kính cẩn thắp hương trước bàn thờ AHLS Đặng Thùy Trâm.
Người cựu binh Mỹ xin phép thắp hương trên bàn thờ Anh hùng liệt sĩ
Đặng Thùy Trâm và vái lạy như phong tục Việt Nam. Ông quan sát căn phòng
nhỏ và chợt như reo lên, vì phát hiện ra tấm ảnh quen thuộc có trong
cuốn số tay nhật ký đang treo trên tường nhà…Chị Kim Trâm đưa ra bản photo cuốn số tay nhật ký được đóng bìa cứng cho Carl W. Greifzu và hỏi:
- Anh có nhận ra những dòng chữ viết này không? Bút tích của chị Thùy Trâm tôi viết đó!
Người cựu binh Mỹ gật đầu và xúc động:
- Nhận ra chứ. Nhờ bản dịch của Kim Dung mà tôi đã hiểu đến thuộc lòng nội dung nhiều trang. Nhưng tôi nhớ cuốn sổ gốc kia cỡ chữ nhỏ hơn nhiều...
- Vâng, bản chính cuốn của cuốn sổ tay nhật ký gia đình đang nhờ lưu giữ bên Mỹ. Đây là bản sao, chúng tôi đã phóng to cỡ chữ lên cho dễ đọc.
Video: Ông Carl W. Greifzu đến thăm gia đình AHLS Đặng Thùy Trâm
Chờ cho nhóm phóng viên Truyền hình kỹ thuật số ghi hình mẹ Doãn Ngọc
Trâm trò chuyện với Carl W. Greifzu xong, chúng tôi hối thúc ông lên
đường ra nghĩa trang cho kịp trước 12 giờ trưa.Ngày Chủ nhật, Nghĩa trang Liệt sĩ Từ Liêm không đông lắm. Tôi thấy Carl W. Greifzu bước xuống xe với tâm trạng rất lạ.
Ông Carl W. Greifzu bỗng quỳ xuống bên cạnh mộ LS Đặng Thùy Trâm và thầm thì điều gì đó bằng tiếng Anh.
Sau khi thành kính thắp hương vái lạy trước mộ người Anh hùng Liệt sĩ
đúng hướng dẫn của cô phiên dịch, ông bỗng quỳ xuống bên cạnh mộ thầm
thì điều gì đó bằng tiếng Anh. Tôi đã kịp ghi lại giây phút hiếm hoi ấy:
Người cựu binh Mỹ với mái tóc đã bạc ngồi lặng lẽ suy tư giữa nghĩa
trang, xung quanh là các ngôi mộ của các Liệt sĩ Việt Nam với rất nhiều
hoa và hương khói. Carl W. Greifzu dùng điện thoại ghi lại từng chi tiết
nhỏ những hình ảnh và dòng chữ có trên bia mộ của Anh hùng Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm…
Carl W. Greifzu dùng điện thoại ghi lại từng chi tiết nhỏ trên ngôi mộ.
Một cơn gió nổi lên, thổi nắm hương cháy bùng thành ngọn lửa. Người
phiên dịch kéo ông đứng lên: “Chúng ta về thôi. Còn rất nhiều việc đang
chờ và chương trình chiều nay nữa”. Carl W. Greifzu như bừng tỉnh. Ông
dụi mắt đứng dậy, thành kính cúi người chào vĩnh biệt người nữ Anh hùng
đã mang ấn tượng
sâu đậm không bao giờ phai mờ trong cuộc đời mình. Người nữ chiến sĩ
của đối phương một thời, vừa xa xôi lại vừa thật gần gũi với ông. Dường
như có ai đó đã thì thầm với Carl W. Greifzu rằng: Sự trở về và sức lan
tỏa của cuốn nhật ký cho thấy, nó như một nhịp cầu gắn kết những con
người vốn ở 2 chiến tuyến gần nhau hơn, xóa nhòa khoảng cách hận thù
trong quá khứ. Có lẽ, đó là điều lớn hơn cả mà người Anh hùng Đặng Thùy
Trâm đã để lại cho thế giới này.Ra khỏi Nghĩa trang Liệt sĩ Từ Liêm, Carl W. Greifzu cứ nhắc mãi câu nói nổi tiếng có trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, nay đã được khắc nổi trên mộ của chị: “Hãy yêu thương nhau khi còn sống”!

Ông Carl W. Greifzu chụp ảnh kỷ niệm cùng Nhà văn Đặng Vương Hưng trước khi ông rời Hà Nội.
Ngày hôm nay, 29/3/2016, cựu binh Mỹ Carl W. Greifzu sẽ bay vào Thành
phố Hồ Chí Minh, dừng lại đôi ngày trước khi về Mỹ. Đã ngoài 70 tuổi,
không biết ông còn có điều kiện trở lại VN - Vùng đất “máu lửa một thời”
đã gắn bó cuộc đời ông với bao kỷ niệm vui buồn một lần nữa không?Hà Nội, 29/3/2016
Nhà văn Đặng Vương Hưng
(*) Quý vị bạn đọc biết thông tin gì về gia đình bà Trần Thị Kim Dung, xin làm ơn cung cấp cho chúng tôi biết để bổ sung tư liệu thêm đầy đủ.

















Nhận xét
Đăng nhận xét