CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 234
(ĐC sưu tầm trên NET)
Trong chiến dịch này, đặc nhiệm Israel đã sát hại nhiều quan chức PLO như Muhammad Youssef al-Najjar, Kamal Adwan và người phát ngôn Kamal Nasser. Rami Adwan, con trai của nạn nhân Kamal Adwan, cho rằng cha mình không hề liên quan tới thảm sát Munich, mà chỉ là người tổ chức hoạt động chống lại việc Israel chiếm đóng khu Bờ Tây. 'Vụ tấn công Munich là cái cớ trời cho để Israel ám sát mọi người', Rami Adwan tuyên bố.
Mossad thực hiện thêm 4 vụ ám sát khác, trước khi chiến dịch bị lộ vì một vụ ám sát nhầm. Tình báo Israel đã nhầm Ali Hassan Salameh, người được cho là lên kế hoạch tiến hành thảm sát Munich, với Ahmed Bouchikhi, một bồi bàn người Morocco ở Na Uy.
Mossad đã liên tục tìm kiếm Salameh trong nhiều năm, dù nhiều thủ lĩnh cấp cao của Tháng 9 Đen khẳng định ông này không hề liên quan tới vụ thảm sát Munich.
Mossad tin rằng họ đã phát hiện Salameh khi người này lẩn trốn ở làng Lillehammer, Na Uy và cử nhóm sát thủ đến đây hạ sát mục tiêu vào ngày 21/7/1973. Tuy nhiên, nhóm sát thủ đã giết nhầm Bouchiki, bồi bàn người Morocco không liên quan tới vụ khủng bố.
Vụ việc bị vỡ lở, nhà chức trách Na Uy bắt được 6 điệp viên Mossad, 5 người trong số này phải ngồi tù và được trả về Israel trong năm 1975. Đội trưởng Harari kịp chạy thoát về Israel cũng những người còn lại, nhưng mạng lưới gián điệp và cơ sở của Mossad ở châu Âu đều bị phanh phui.

Chiều 22/1/1979, Salameh và 4 vệ sĩ thiệt mạng sau khi điệp viên Israel kích hoạt một quả bom dưới xe của họ. Vụ nổ cũng làm 4 thường dân thiệt mạng và 18 người bị thương.
Loạt vụ ám sát đầu tiên trong giai đoạn tháng 10/1972 tới đầu năm 1973 của tình báo Israel chỉ gây ra sự lo lắng cho giới chức Palestine. Thế giới Arab chỉ thực sự choáng váng khi chiến dịch Suối nguồn Tuổi trẻ được tiến hành ngay tại Lebanon.
Sự táo bạo của đặc nhiệm Israel, cũng như loạt vụ đột kích diễn ra ngay sát nơi ở của lãnh đạo cao cấp như Yasser Arafat và Abu Iyad khiến chính phủ nhiều nước Arab tin rằng Israel có thể tấn công mọi lúc mọi nơi. Một số nước Arab bắt đầu gây áp lực, buộc các nhóm vũ trang Palestine hạn chế tấn công Israel, cũng như đe dọa ngừng ủng hộ Palestine nếu các tay súng sử dụng hộ chiếu giả để đột nhập vào lãnh thổ Israel.
Chiến dịch ám sát cũng tạo ra làn sóng tưởng niệm trên quy mô lớn. Khoảng nửa triệu người đã đổ ra đường phố Beirut trong đám tang các nạn nhân cuộc đột kích ở Lebanon. Gần 6 năm sau, 100.000 người, trong đó có nhà lãnh đạo Arafat, đã tham gia đám tang Salameh tại Beirut.
Bài 1: Quá tam ba bận!
Năm 2001, Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) công bố hơn 3 triệu trang tài liệu về thời kỳ đầu thành lập của cơ quan này, trong đó có 20 hồ sơ về những tên quốc xã trùm sỏ cần được “che chở” để sử dụng nhằm mục đích chống lại Liên Xô được lập vào tháng 11-1944. Sự “bảo vệ và hợp tác” giữa Mỹ và bọn tội phạm chiến tranh Đức quốc xã thể hiện chặt chẽ nhất qua chương trình thả dù gián điệp vào lãnh thổ Liên Xô từ năm 1951 đến năm 1960.
“Chọn mặt gửi vàng”
Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, Liên Xô vẫn là một bí ẩn với Mỹ và Tây Âu khi liên tiếp có những hành động khiến các cơ quan tình báo phương Tây bị choáng váng vì bất ngờ: Năm 1948 Liên Xô phong tỏa Tây Berlin; năm 1949 Liên Xô thử quả bom nguyên tử đầu tiên;…
Nhằm thay đổi tình trạng đó, năm 1951, Allen Dulles lên nắm quyền chỉ huy cơ quan tình báo CIA và bắt đầu đẩy mạnh việc phái điệp viên vào Liên Xô. CIA lúc này vẫn còn quá non trẻ, ngoài tiền và trang bị kỹ thuật, Allen Dulles không có gì trong tay và ông ta tìm đối tác chiến lược cho chương trình do thám Liên Xô ngay trong hàng ngũ những kẻ thù cũ - bọn chỉ huy mật vụ, gián điệp của nước Đức phát xít. Thực ra ông ta đã chú ý làm điều đó từ năm 1949.
Có hai gương mặt nổi lên đáng kể là Trung tướng Reinhard Gehlen, nguyên Chỉ huy trưởng phòng Phương Đông (FHO) của cơ quan tình báo quân sự Đức quốc xã và Thiếu tướng Walter Shellenberg - sĩ quan SD, nguyên Cục trưởng Cục 6 (Tình báo chính trị) của Tổng cục An ninh quốc xã. Sau khi cân nhắc các yếu tố lợi hại về chính trị - ngoại giao cũng như “vốn liếng” của mỗi bên, Allen Dulles quyết định Gehlen sẽ là nhân vật được “chọn mặt gửi vàng”.
Và thế là trường huấn luyện gián điệp mang tên “Liên minh nhân dân lao động” với mục đích chống Liên bang Xô viết ra đời trên cơ sở các trường tình báo quốc xã trá hình trên đất Tây Ban Nha, nay di dời về Tây Berlin. CIA tài trợ toàn bộ kinh phí hoạt động của trường và nắm quyền chỉ huy, điều động trực tiếp còn cơ quan an ninh Tây Đức của Gehlen chịu trách nhiệm tìm nguồn nhân sự học viên, cán bộ giảng, huấn luyện kỹ thuật nghiệp vụ.
Những sai lầm đầu tiên
Để khai thác được nguồn tin từ những gián điệp phát xít mà FHO còn gài lại trên lãnh thổ Liên Xô bắt buộc phải liên lạc trở lại với chúng. Trên lãnh thổ Liên bang Xô viết rộng lớn, để làm chuyện đó bằng những phương pháp như người hồi hương, di cư trở về cố quốc đúng là chuyện không tưởng, huống gì do cuộc phong tỏa kinh tế đối với khối XHCN, các cuộc xâm nhập qua biên giới đất liền và biển càng khó tổ chức hơn. Thế nên “Liên minh nhân dân lao động” đành chọn phương pháp của thời chiến: cho điệp viên nhảy dù. Tháng 7-1951, việc chuẩn bị cho đợt nhảy dù bắt liên lạc lại với bọn gián điệp phát xít của Gehlen còn gài lại trên lãnh thổ Liên Xô đã hoàn tất.
Ngày 18-8-1951, máy bay Mỹ cất cánh từ căn cứ ở Salonika (Hy Lạp) đưa hai điệp viên đầu tiên vào cuộc. Đó là F.K. Sarantsev, cựu binh nhất Hồng quân bị Đức bắt làm tù binh năm 1943 và A.I. Osmanov - một tên phản bội từng tham gia đội quân giải phóng Nga. Địa điểm thả dù là Mondova.
Sarantsev đến Kavkaz để bắt liên lạc với cụm gián điệp nằm vùng tại đó và sau khi hoàn thành nhiệm vụ sẽ vượt biên sang Thổ Nhĩ Kỳ. Còn Osmanov đến Ural sau đó cũng quay về theo lối Thổ Nhĩ Kỳ. Thời gian thực hiện điệp vụ này là 3 tuần. Cả hai đều được trang bị súng ngắn, điện đài cỡ nhỏ, xe đạp gấp của CHDC Đức sản xuất (có bán tại Liên Xô). Ngoài ra, mỗi người còn mang theo 5.000 rúp, vài bọc tiền vàng và một túi đựng đồng hồ để nếu cần thì đút lót công an.
Sau khi nhảy dù, điện đài của cả hai đều cất tiếng lần đầu tiên nhưng sau đó thì im bặt. Mấy tháng sau, báo chí Liên Xô đưa tin ngắn gọn là cả hai tên đều đã bị xử bắn tại Mondova theo phán quyết của tòa án nhân dân.
Ngày 25-9-1951, một máy bay cất cánh từ sân bay Wisbaden (Tây Đức) để thả điệp viên đi lẻ Ivan Aleksandrovich Filistovich xuống gần làng của hắn là làng Ilya ở Vileika phía Bắc Minsk. Sở dĩ Gehlen chấp nhận cho tên gián điệp này đi lẻ là vì tin vào quá khứ sừng sỏ của hắn.
Từng tham gia SS chống quân Anh - Mỹ rồi trốn sang Tiệp Khắc khi Đức thua trận, lại sang Bỉ và vào học Đại học Tổng hợp Thiên chúa giáo, Filistovich được đánh giá là “chống cộng từ trong tư tưởng” khi tình nguyện hoạt động tình báo chống lại Nga. Y đã được làm lại lý lịch thành thợ mỏ bị Đức cưỡng bách lao động ở các trại tập trung và sau đó sinh sống tại Bỉ. Nhiệm vụ là bắt liên lạc với những điệp viên nằm vùng của Gehlen tại Belorussya, lập lại tổ chức và đi vào hoạt động.
Để bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Filistovich, CIA không cho hắn sử dụng điện đài mà chọn đường liên lạc công khai qua thư viết cho một người bạn ở Paris có kèm báo cáo viết bằng mực mật. Thư báo cáo của Filistovich liên tiếp gửi về địa chỉ ở Paris, tên gián điệp này cho biết cần ở lại Belorussya một thời gian rồi… lặn mất tăm. Hai năm sau, tên và ảnh của Filistovich xuất hiện không phải trên mặt báo mà là trong một cuốn sách nhỏ xinh xắn của KGB mang tên “Những điệp viên phát xít và phản cách mạng bị vô hiệu hóa” được gửi theo đường bảo đảm đến tận tay Reinhard Gehlen kèm lời chúc mừng sinh nhật.
Ngày 8-10-1951, hai điệp viên nữa được Gehlen cho thả xuống Ukraine nhưng không hiểu phi công xác định vị trí tọa độ kiểu nào mà lại thả nhầm xuống lãnh thổ Romania và bị bắt. Lại một phen dở khóc dở mếu đối với “Liên minh nhân dân lao động”. Ba điệp vụ ngắn hạn kết thúc trong sự lặng im của điệp viên và sự ồn ào của báo chí đã khiến Dulles yêu cầu tạm dừng thả dù để kiểm tra, chỉnh đốn lại...
Bài 2: Điệp khúc “nhảy dù - mất tích”
Các cuộc kiểm tra với học viên và giảng viên vẫn tiếp tục chưa có hồi kết… Và mùa hè năm 1952, các vụ gián điệp thả dù được tiếp tục…
Tiếp tục tiếp đất và… mất tích
Ngày 2-5-1952, 3 điệp viên L.K. Koshelev, A.P. Kurochkin và L.N. Voloshanovsky (vốn là lính Hồng quân đào ngũ) được tung từ Iran xuống Bắc Kavkaz. Chỉ có Kurochkin liên lạc được về trung tâm và cung cấp thông tin. Người Mỹ rất hài lòng nhưng chỉ sau đó một thời gian, báo chí Liên Xô đưa tin ngay sau khi tiếp đất, Kurochkin đã đầu thú và chơi “Trò chơi điện đài” với các ông chủ cũ. Còn 2 điệp viên kia đã bị xử bắn.
Tháng 8-1952, Mỹ thả xuống khu vực Vitebsk và Mogilyov của Bạch Nga một lúc 4 điệp viên là M.P. Artiushevsky, G.A. Kotiusk, T.A. Ostrikov và M.S. Kalnhitsky - tất cả là dân di cư cũ được tuyển mộ trong các trại lao động ở Đức. Cả 4 đội lốt những người bị cưỡng bách về Đức và nay bị Tây Đức xua đuổi với các giấy tờ và lai lịch giả thích hợp. Nhảy dù xong, Ostrikov đầu thú và khai báo tất cả chi tiết về điệp vụ này. Lưới được tung ra, Kalnisky bị bắn chết vì chống cự. Hai tên còn lại bị xử bắn theo phán quyết của tòa, chỉ có Ostrikov được ân xá.
Trước sự lặp lại điệp khúc điệp viên nhảy dù rồi tự thú, Mỹ yêu cầu Tây Đức phải chọn lọc điệp viên kỹ hơn và bổ sung phần giáo dục chính trị về ý thức chống cộng nặng hơn trong chương trình huấn luyện trước khi bắt đầu nhảy dù lại vào năm sau.
Đêm 25 rạng 26-4-1953, một máy bay quân sự cất cánh từ căn cứ không quân ở Hy Lạp đã tung xuống miền Nam Ukraine 4 điệp viên là A.B. Lakhno, S.I. Gorbunov, A.N. Makov và D.N. Remiga. Cả 4 được tuyển mộ và huấn luyện từ năm 1951.
Lần đầu tiên, bọn gián điệp này được trang bị các phao vô tuyến để dẫn đường cho các máy bay gián điệp khác và hướng dẫn cho các máy bay do thám kế tiếp. Địa điểm thâm nhập, bắt liên lạc với điệp viên của Gehlen là Kiev và Odessa.
Sau khi nhảy dù, cả 4 biến mất dạng. Một tháng sau, báo chí Xô viết đưa tin cả 4 bị bắt tại chỗ tiếp đất và đã bị xử tử. Bao nhiêu công phu tan thành tro bụi đồng thời cũng xác định chắc chắn có điệp viên Liên Xô gài trong “Liên minh nhân dân lao động” vì số lượng người được phép biết nhiệm vụ của nhóm này chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Mãi đến năm 1954, Mỹ và Tây Đức mới xác định được điệp viên đó chính là cựu Đại úy Nikita Khorunzhim - vị trưởng khoa Nga của trường tình báo mà Gehlen luôn tin cậy. Sau khi bị bắt và bị kết án 14 năm tù giam, Khorunzhim được trao trả về Liên Xô năm 1959…
Ê chề từ một… thắng lợi
Ngày 29-4-1953, nhóm 4 điệp viên là Konstantin Khmelnisky, Ivan Kydryatsev, Aleksandr Novikov và Nikolai Yakuta với trưởng nhóm là Khmelnitsky, cựu hạ sĩ quân đội Liên Xô, một nhân viên điện đài giỏi, được các thủ lĩnh của “Liên minh nhân dân lao động” và chính các cán bộ của Gehlen đánh giá cao tiếp tục được cho nhảy dù vào Liên Xô.
Sau khi nhảy dù, Khmelnisky đã liên lạc với trung tâm báo tin cả nhóm đã phân tán đúng như kế hoạch, hắn ở Minsk và Moglyov. Novikov tới Smolensk. Hai tên còn lại thì im hơi lặng tiếng. Trong 3 năm Khmelnitsky đã chuyển về một khối lượng thông tin lớn, rằng đã đi khắp Liên Xô, bắt lại nhiều mối liên lạc, tổ chức được nhiều chi hội những người bất mãn với chính quyền Xô viết. Các tin tức tuyệt vời đến mức đích thân Allen Dulles phải đến văn phòng BND để cùng Gehlen mở champagne cho thắng lợi này.
Tháng 2-1957, phòng báo chí Bộ Ngoại giao Liên Xô tổ chức cuộc họp báo đặc biệt. Trước mặt 200 nhà báo nước ngoài, 4 gián điệp bằng xương bằng thịt cùng toàn bộ trang bị gián điệp được trình diện. Tất cả đều ủ rũ, nhợt nhạt do 3 năm nằm nhà đá - trừ Khmelnisky. Anh ta cho biết mình là điệp viên Xô viết, đã tiếp xúc với “Liên minh nhân dân lao động” từ năm 1945 nhằm mục đích “khám phá âm mưu phát xít chống lại tổ quốc Xô viết của chúng ta”.
Khmelnisky đã khai báo tất cả về địa điểm học, giáo trình đào tạo và nhiệm vụ cơ bản mà trường này huấn luyện: Tổ chức khủng bố, đánh cắp các tài liệu quân sự và kinh tế của Liên bang Xô viết, phao tin đồn nhảm, lôi kéo các công dân Xô viết vào tổ chức chống đối, bôi nhọ uy tín nhà nước Xô viết qua việc tổ chức chạy trốn sang phương Tây.
Trong 4 năm chơi trò chơi điện đài, ông đã “giúp Liên Xô đánh lạc hướng hoàn toàn Mỹ trong nhiều vấn đề quan trọng và trên cơ sở các chỉ thị nhận được, cơ quan an ninh Xô viết đã khám phá được nhiều bí mật của bọn âm mưu phát xít”.
Quá bối rối, Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức Adenauer đã phải ra lệnh cho Gehlen chấm dứt các chiến dịch nhảy dù chống Liên Xô để khỏi chuốc những rắc rối quốc tế với siêu cường này. Dù Gehlen có lén lút giúp Mỹ thả dù thêm 3 toán gián điệp nữa nhưng cả 3 toán đều bị bắt và xét xử.
Tất cả những điều đó khiến cho người Mỹ vốn thực dụng nản lòng và không mặn mà với phương thức sử dụng lưới gián điệp mà FHO đã cài lại Liên Xô trong chiến tranh nữa. Giới chức tình báo Mỹ cho rằng lưới này đã bị phản gián Xô viết khống chế, đồng thời điệp viên Xô viết đã thâm nhập các cơ quan tình báo phương Tây, cụ thể là cơ quan của Gehlen ở cấp bậc cao.
Năm 1961, việc người phó của Gehlen là Heinz Felfe - một cựu sĩ quan SD - bị phát giác là điệp viên Xô viết như giọt nước tràn ly chấm dứt hy vọng khai thác lưới gián điệp phát xít FHO trên lãnh thổ Liên Xô. Hơn nữa vào năm 1957, Liên Xô phóng thành công vệ tinh Sputnik và sau đó đến Mỹ.
Tất cả các quốc gia đều nhận ra ưu thế do thám của vệ tinh gián điệp và với sự bắt đầu của thời đại máy bay do thám U-2, hoạt động trinh thám đường không đã có tiến bộ lớn. Trò nhảy dù gián điệp ồn ào đầu chiến tranh lạnh đã được tất cả những người tham gia thực hiện khai tử trong im lặng. Đồng thời, đối với công luận thế giới, bằng chứng tội ác về sự hợp tác giữa Mỹ và bọn phát xít Đức cũng mau chóng bị lãng quên.
Lâm Hà (SGGP 12G)
Putin khiến phương Tây “há hốc mồm” tại Syria
Choáng váng chiến dịch 9 phút thần tốc của tình báo Liên Xô làm thay đổi thế trận một cách khó tin
Thần tốc chính xác khiến kẻ địch bất ngờ đó là những gì mà tình báo Liên Xô khiến đối thủ không kịp trở tay.
Chiến dịch 9 phút: Chiến dịch không tưởng của tình báo Liên Xô
Để có được nước Nga như ngày hôm nay, không thể thiếu
được chiến công thầm lặng và không kém phần quan trọng của lực lượng
tình báo nước này.
Ngày 5/11 hàng năm ở Nga được chọn
là Ngày Tình Báo của nước này, trong ngày này những câu chuyện huyền
thoại về tình báo lại được viết lên trên khắp các mặt báo, trên mọi
phương tiện thông tin đại chúng ở Nga. Có thể khẳng định một điều, tình
báo Nga ngày nay và tình báo Liên Xô trước kia là hai lực lượng tình báo
tài ba bậc nhất thế giới.
Chiến dịch 9 phút
Vào ngày 20 tháng 8 năm 1968, các đơn vị đặc biệt của Cơ quan Tình báo Quân đội (GRU) của Quân đội Liên Xô đã tiến hành một chiến dịch 9 phút để chiếm giữ sân bay Ruzyne ở Prague (Tiếp Khắc).
Chiến
dịch tình báo này cho phép quân đội của khối liên minh quân sự Warsaw
thiết lập được cầu không vận để đổ quân vào Tiệp Khắc, chấm dứt các cuộc
cải cách mùa xuân Prague - một cuộc cách mạng đòi tự do hóa chính trị ở
Tiệp Khắc, kéo dài từ ngày 5 tháng 1 đến ngày 21 tháng 8 năm 1968.
Chiến dịch diễn ra đúng trong 9 phút và cái tên “Chiến dịch 9 phút”
đã đi vào lịch sử ngành tình báo quân đội Liên Xô và Nga. Bằng cách cải
trang với máy bay dân sự, các lực lượng GRU đã tiếp cận, đổ bộ và chiếm
các vị trí quan trọng nhất trong sân bay Ruzyne chỉ trong 9 phút. Các
mục tiêu bao gồm đường băng, tháp không lưu, trạm biến áp, lối ra vào và
kho chứa nhiên liệu.
Cùng lúc, lực lượng đặc
nhiệm của Liên Xô (được triển khai nằm vùng tại Prague từ trước) đã
chiếm được toàn bộ các vị trị có vai trò chiến lược ở Prague như đài
phát thanh, tháp truyền hình, các đường dây và các trạm viễn thông và
thông tin liên lạc,… chỉ trong một đêm.
Tình báo Nga đã giúp quân đội nước này xuất hiện trên mọi ngõ ngách ở Prague chỉ sau đúng 1 đêm. Nguồn ảnh: Encyc.
Chiến
dịch diễn ra tốt đẹp đúng theo kế hoạch và chỉ sau một đêm, người dân
Prague đều sững sờ khi thấy toàn bộ Tiệp Khắc đã tràn đầy các lực lượng
vũ trang tới từ Liên Xô, Ba Lan Đông Đức và Hungary. Sự xuất hiện kịp
thời và đúng lúc của các lực lượng quân sự với vũ trang đầy đủ này đã
giúp Tiệp Khắc tránh khỏi được một cuộc đảo chính và hơn hết, đã cho cả
thế giới thấy được khả năng phản ứng của Quân đội Liên Xô nói riêng và
quân đội của khối Warsaw nói chung khi chỉ sau một đêm, trên khắp đất
nước Tiệp Khắc “không nơi đâu không có người Liên Xô”.
Chiến dịch lấy cắp tên lửa Mỹ ở Afghanistan
Vào
ngày 5 tháng 1 năm 1987, một nhóm binh lính Liên Xô thuộc Lực Lượng Đặc
Biệt Đặc Biệt 186 dưới sự chỉ huy của Tướng Yevgeny Sergeev bắt đầu
"một cuộc săn thú" trên hai trực thăng vận tải Mi-8 tại Afghanistan.
Mục
tiêu của họ là cố gắng thu giữ Stinger, loại tên lửa đất đối không vác
vai do Mỹ sản xuất đã được sử dụng rộng rãi bởi các chiến binh Hồi giáo
Mujahideen trong cuộc chiến tranh Liên Xô-Afghanistan 1979-1989. Với sự
xuất hiện của loại tên lửa này, các phi công Liên Xô có thể bị bắn hạ ở
bất cứ đâu và bất cứ khi nào. Bằng chứng là chỉ trong một thời gian
ngắn, 3 trực thăng Mi-24 của Quân đội Liên Xô đã bị tấn công một cách
bất ngờ ở những khu vực được Liên Xô “xem là an toàn”.
Tên lửa Mỹ viện trợ cho phiến quân Afghanistan. Nguồn ảnh: Linked.
Kèm
theo việc thu giữ được loại vũ khí phòng không cực kỳ hiện đại và độc
nhất của Mỹ này, việc Liên Xô nắm được trong tay các hệ thống tên lửa
Stinger cũng chứng minh được rằng Mỹ và phương Tây là những kẻ đứng sau,
hỗ trợ cho các chiến binh Hồi giáo Mujahideen đang hoạt động ở
Afghanistan.
Cuộc tập kích diễn ra hết sức bất
ngờ, toàn bộ 16 phần tử cực đoan đang trên đường áp tải các tổ hợp tên
lửa Stinger đều bị tiêu diệt, toàn bộ số tên lửa đều được thu giữ cùng
với các tài liệu hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Ả Rập do Mỹ biên soạn cho
các phần tử thánh chiến. Những bằng chứng không thể chối cãi này đã
chứng minh được sự liên hệ giữa CIA của Mỹ và các lực lượng thánh chiến
tại Afghanistan và sự thực là Mỹ không hề phủ nhận mối liên hệ này sau
khi được nhìn thấy những bằng chứng hết sức thuyết phục mà Liên Xô trưng
ra ở Liên Hiệp Quốc.
Các hoạt động ngày nay
Sau
khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, hiển nhiên là các hoạt động tình báo của
Nga sẽ không còn nhiều và táo bạo như trước nữa nhưng điều đó cũng
không có nghĩa là phía Nga xem nhẹ việc hoạt động tình báo ở nước ngoài
cũng như ở trong nước.
Chắc hẳn nhiều người vẫn còn nhớ việc một
đường dây tình báo của Nga bao gồm 10 điệp viên đã bị Mỹ lật tẩy hồi năm 2010, cả 10 điệp viên trong đường dây này đều bị Mỹ bắt giữ ngay sau đó và một phi vụ trao đổi lớn nhất kể từ sau chiến tranh Lạnh đã được Washington và Moscow tổ chức để đổi 10 tình báo Nga lấy 4 tình báo Mỹ bị Nga bắt giữ trước đó.
đường dây tình báo của Nga bao gồm 10 điệp viên đã bị Mỹ lật tẩy hồi năm 2010, cả 10 điệp viên trong đường dây này đều bị Mỹ bắt giữ ngay sau đó và một phi vụ trao đổi lớn nhất kể từ sau chiến tranh Lạnh đã được Washington và Moscow tổ chức để đổi 10 tình báo Nga lấy 4 tình báo Mỹ bị Nga bắt giữ trước đó.
Anna
Chapman, nhân vật nổi tiếng nhất trong phi vụ 1 đường dây tình báo Nga ở
Mỹ bị bại lộ do có kẻ phản bội. Hiện cô đang sinh sống ở Nga và dường
như không còn tham gia các hoạt động tình báo mà chuyển sang làm...
người mẫu ảnh. Ảnh: Washingtontimes.
Vụ trao đổi
này đã chứng minh rằng các đường dây tình báo của Nga ở nước ngoài hiện
vẫn hoạt động hiệu quả và chứng tỏ khả năng tổ chức của Nga là cực kỳ
tốt vì dù có kẻ phản bội trong tổ chức song 10 tình báo viên và một
đường dây là tất cả những gì Nga mất, tất cả các mạng lưới tình báo còn
lại của Nga ở Mỹ cũng như ở châu Âu (chắc chắn là có rất nhiều đường dây
như vậy) vẫn được đảm bảo an toàn, không hề có dấu hiệu bị lộ.
Ngoài
ra, tình báo Nga hiện tại còn tăng cường chiêu mộ các nhân viên người
bản địa hoạt động cho Nga ở nước ngoài, những nhân viên tình báo này sẽ
là một mắt xích cực kỳ quan trọng trong bất cứ tình huống nào xảy ra ở
nước ngoài mà các lực lượng tình báo của Nga khi được tăng cường đến đây
sẽ rơi vào tình huống “lạ nước lạ cái” và không thể hoàn thành nhiệm vụ
được nếu không có lực lượng nằm vùng và nhân viên bản địa hỗ trợ.
Nhật Vi
Chiến dịch ám sát của tình báo Israel báo thù vụ thảm sát Munich
Cơ quan tình báo Mossad tiến hành chiến
dịch táo bạo ám sát những người bị cho là tham gia vụ thảm sát Munich
năm 1972.

Chỉ hai ngày sau vụ thảm sát, Thủ tướng Israel Golda Meir thành lập Ủy ban X, một nhóm nhỏ quan chức chính phủ, nhằm xây dựng kế hoạch báo thù. Thủ tướng Meir và Bộ trưởng Quốc phòng Israel Moshe Dayan đứng đầu ủy ban, trong khi tướng Aharon Yariv và giám đốc cơ quan tình báo Mossad Zvi Zamir đóng vai trò chủ đạo trong điều phối chiến dịch ám sát sau này.
Ủy ban X kết luận rằng Israel phải ám sát những người có liên quan tới vụ thảm sát theo những cách kịch tính nhất, nhằm răn đe những kẻ có ý định khủng bố trong tương lai. Yếu tố quan trọng nhất trong kế hoạch là khả năng chối bỏ mọi cáo buộc, không để lại manh mối nào cho thấy sự liên quan giữa những vụ ám sát với Israel.
Một mục tiêu khác của chiến dịch là nhằm trấn áp tinh thần các nhóm vũ trang Palestine. 'Báo thù chỉ là yếu tố phụ, mục đích chính là khiến những kẻ khủng bố phải khiếp sợ. Chúng tôi muốn đối phương cảm thấy rằng tình báo Israel luôn ở xung quanh. Vì vậy, các điệp viên không bắn chết họ trên phố, điều đó quá dễ dàng', cựu phó giám đốc Mossad David Kimche tiết lộ.
Công việc đầu tiên của tình báo Israel là lập danh sách những kẻ tham gia vụ thảm sát Munich. Mossad hoàn thành nhiệm vụ này nhờ sự giúp đỡ từ điệp viên trong hàng ngũ Tổ chức giải phóng Palestine (PLO), cũng như thông tin từ các cơ quan tình báo châu Âu. Các chuyên gia cho rằng Mossad nhắm vào 20-35 mục tiêu, tất cả đều là thành viên tổ chức Tháng 9 Đen và PLO. Sau khi hoàn thành danh sách, tình báo Israel phải xác định vị trí và ám sát những người này.
Giới phân tích vẫn chưa thống nhất được về tổ chức lực lượng tham gia chiến dịch ám sát. Nhiều khả năng Mossad đã thành lập nhiều nhóm tác chiến khác nhau, đáp ứng yêu cầu của từng nhiệm vụ cụ thể, trong đó sĩ quan tình báo Michael Harari là người thành lập và chỉ đạo các đội ám sát.
Có ít nhất 15 điệp viên được triển khai, chia thành 5 nhóm đặt tên theo bảng chữ cái Hebrew. Mũi nhọn của chiến dịch là nhóm 'Aleph' gồm hai sát thủ chuyên nghiệp, được yểm trợ bởi hai tay súng trong nhóm 'Bet'. Vỏ bọc của cả đội được cung cấp bởi hai thành viên trong nhóm 'Heth', trong khi 'Ayin' là nhóm xương sống với 6-8 điệp viên chuyên bám sát mục tiêu và lập kế hoạch thoát ly cho đội sát thủ. Cuối cùng là 'Qoph', gồm hai chuyên gia thông tin liên lạc.
Hoạt động ám sát
Vụ ám sát đầu tiên diễn ra ngày 16/10/1972, khi Abdel Wael Zwaiter bị bắn 12 phát đạn trong căn hộ tại thủ đô Rome của Italy. Zwaiter là đại diện PLO ở Italy, nhưng Mossad khẳng định ông là một thành viên của Tháng 9 Đen, trong khi PLO cho biết Zwaiter không hề liên quan đến nhóm này và ông luôn quyết liệt phản đối các hành động khủng bố.

Đêm 24/1/1973, một quả bom cài dưới giường phát nổ, khiến Hussein Al Bashir thiệt mạng trong căn phòng tại Cyprus. Mossad cho rằng Al Bashir là chỉ huy nhóm Tháng 9 Đen ở Cyprus, đồng thời có nhiều liên hệ với cơ quan tình báo Liên Xô KGB. Các sát thủ trở lại Paris vào ngày 6/4/1973 với mục tiêu là giảng viên luật Basil al-Kubaissi, người bị tình nghi cung cấp vũ khí cho nhóm Tháng 9 Đen. Ông cũng bị bắn 12 phát đạn, tương tự Zwaiter trước đó.
Nhiều mục tiêu của Mossad sống tại khu vực được canh phòng cẩn mật ở
Lebanon, không thể bị ám sát bởi những phương pháp thông thường. Israel
tiến hành chiến dịch 'Suối nguồn Tuổi trẻ' để hoàn thành nhiệm vụ. Đêm
9/4/1973, lính đặc nhiệm Israel, trong đó có cả thủ tướng tương lai Ehud
Barak, tiến hành hàng loạt cuộc đột kích táo bạo vào những khu nhà tại
Beirut và Sidon.
Thủ tướng Israel Golda Meir, người thông qua chiến dịch báo thù. Ảnh: Haaretz.
Đêm 5/9/1972, nhóm vũ trang Tháng 9 Đen của Palestine bắt cóc, sát hại
11 thành viên đội tuyển Olympic Israel tham dự Thế vận hội mùa hè năm
1972 tại Munich, Đức. Không lâu sau, Tel Aviv bắt đầu tiến hành chiến
dịch báo thù mang tên 'Mivtza Za'am Ha'el' (Sự phẫn nộ của Chúa trời),
nhằm ám sát những cá nhân có liên quan tới vụ thảm sát, theo Global Recon.Chỉ hai ngày sau vụ thảm sát, Thủ tướng Israel Golda Meir thành lập Ủy ban X, một nhóm nhỏ quan chức chính phủ, nhằm xây dựng kế hoạch báo thù. Thủ tướng Meir và Bộ trưởng Quốc phòng Israel Moshe Dayan đứng đầu ủy ban, trong khi tướng Aharon Yariv và giám đốc cơ quan tình báo Mossad Zvi Zamir đóng vai trò chủ đạo trong điều phối chiến dịch ám sát sau này.
Ủy ban X kết luận rằng Israel phải ám sát những người có liên quan tới vụ thảm sát theo những cách kịch tính nhất, nhằm răn đe những kẻ có ý định khủng bố trong tương lai. Yếu tố quan trọng nhất trong kế hoạch là khả năng chối bỏ mọi cáo buộc, không để lại manh mối nào cho thấy sự liên quan giữa những vụ ám sát với Israel.
Một mục tiêu khác của chiến dịch là nhằm trấn áp tinh thần các nhóm vũ trang Palestine. 'Báo thù chỉ là yếu tố phụ, mục đích chính là khiến những kẻ khủng bố phải khiếp sợ. Chúng tôi muốn đối phương cảm thấy rằng tình báo Israel luôn ở xung quanh. Vì vậy, các điệp viên không bắn chết họ trên phố, điều đó quá dễ dàng', cựu phó giám đốc Mossad David Kimche tiết lộ.
Công việc đầu tiên của tình báo Israel là lập danh sách những kẻ tham gia vụ thảm sát Munich. Mossad hoàn thành nhiệm vụ này nhờ sự giúp đỡ từ điệp viên trong hàng ngũ Tổ chức giải phóng Palestine (PLO), cũng như thông tin từ các cơ quan tình báo châu Âu. Các chuyên gia cho rằng Mossad nhắm vào 20-35 mục tiêu, tất cả đều là thành viên tổ chức Tháng 9 Đen và PLO. Sau khi hoàn thành danh sách, tình báo Israel phải xác định vị trí và ám sát những người này.
Giới phân tích vẫn chưa thống nhất được về tổ chức lực lượng tham gia chiến dịch ám sát. Nhiều khả năng Mossad đã thành lập nhiều nhóm tác chiến khác nhau, đáp ứng yêu cầu của từng nhiệm vụ cụ thể, trong đó sĩ quan tình báo Michael Harari là người thành lập và chỉ đạo các đội ám sát.
Có ít nhất 15 điệp viên được triển khai, chia thành 5 nhóm đặt tên theo bảng chữ cái Hebrew. Mũi nhọn của chiến dịch là nhóm 'Aleph' gồm hai sát thủ chuyên nghiệp, được yểm trợ bởi hai tay súng trong nhóm 'Bet'. Vỏ bọc của cả đội được cung cấp bởi hai thành viên trong nhóm 'Heth', trong khi 'Ayin' là nhóm xương sống với 6-8 điệp viên chuyên bám sát mục tiêu và lập kế hoạch thoát ly cho đội sát thủ. Cuối cùng là 'Qoph', gồm hai chuyên gia thông tin liên lạc.
Hoạt động ám sát
Vụ ám sát đầu tiên diễn ra ngày 16/10/1972, khi Abdel Wael Zwaiter bị bắn 12 phát đạn trong căn hộ tại thủ đô Rome của Italy. Zwaiter là đại diện PLO ở Italy, nhưng Mossad khẳng định ông là một thành viên của Tháng 9 Đen, trong khi PLO cho biết Zwaiter không hề liên quan đến nhóm này và ông luôn quyết liệt phản đối các hành động khủng bố.
Cảnh sát khám nghiệm hiện trường vụ ám sát Zwaiter. Ảnh: Blogspot.
Mục tiêu thứ hai là tiến sĩ Mahmoud Hamshari, đại diện của PLO tại
Pháp. Hai điệp viên Mossad đóng giả làm phóng viên để đột nhập vào nhà
của Hamshari, sau đó cài một quả bom dưới bàn điện thoại. Ngày
8/12/1972, họ gọi điện cho Hamshari và quả bom phát nổ khi ông nghe máy.
Hamshari không thiệt mạng trong vụ nổ, nhưng tử vong vì vết thương quá
nặng sau đó chưa đầy một tháng.Đêm 24/1/1973, một quả bom cài dưới giường phát nổ, khiến Hussein Al Bashir thiệt mạng trong căn phòng tại Cyprus. Mossad cho rằng Al Bashir là chỉ huy nhóm Tháng 9 Đen ở Cyprus, đồng thời có nhiều liên hệ với cơ quan tình báo Liên Xô KGB. Các sát thủ trở lại Paris vào ngày 6/4/1973 với mục tiêu là giảng viên luật Basil al-Kubaissi, người bị tình nghi cung cấp vũ khí cho nhóm Tháng 9 Đen. Ông cũng bị bắn 12 phát đạn, tương tự Zwaiter trước đó.
Trong chiến dịch này, đặc nhiệm Israel đã sát hại nhiều quan chức PLO như Muhammad Youssef al-Najjar, Kamal Adwan và người phát ngôn Kamal Nasser. Rami Adwan, con trai của nạn nhân Kamal Adwan, cho rằng cha mình không hề liên quan tới thảm sát Munich, mà chỉ là người tổ chức hoạt động chống lại việc Israel chiếm đóng khu Bờ Tây. 'Vụ tấn công Munich là cái cớ trời cho để Israel ám sát mọi người', Rami Adwan tuyên bố.
Mossad thực hiện thêm 4 vụ ám sát khác, trước khi chiến dịch bị lộ vì một vụ ám sát nhầm. Tình báo Israel đã nhầm Ali Hassan Salameh, người được cho là lên kế hoạch tiến hành thảm sát Munich, với Ahmed Bouchikhi, một bồi bàn người Morocco ở Na Uy.
Mossad đã liên tục tìm kiếm Salameh trong nhiều năm, dù nhiều thủ lĩnh cấp cao của Tháng 9 Đen khẳng định ông này không hề liên quan tới vụ thảm sát Munich.
Mossad tin rằng họ đã phát hiện Salameh khi người này lẩn trốn ở làng Lillehammer, Na Uy và cử nhóm sát thủ đến đây hạ sát mục tiêu vào ngày 21/7/1973. Tuy nhiên, nhóm sát thủ đã giết nhầm Bouchiki, bồi bàn người Morocco không liên quan tới vụ khủng bố.
Vụ việc bị vỡ lở, nhà chức trách Na Uy bắt được 6 điệp viên Mossad, 5 người trong số này phải ngồi tù và được trả về Israel trong năm 1975. Đội trưởng Harari kịp chạy thoát về Israel cũng những người còn lại, nhưng mạng lưới gián điệp và cơ sở của Mossad ở châu Âu đều bị phanh phui.
Salameh (giữa) khi còn ở Lebanon. Ảnh: Jeffrey Keeten.
Sự phản đối của cộng đồng quốc tế sau vụ ám sát nhầm buộc thủ tướng
Golda Meir ngừng chiến dịch báo thù, mạng lưới gián điệp tại châu Âu và
danh tiếng của Mossad cũng bị tổn hại nghiêm trọng. Tuy nhiên, 5 năm
sau, Thủ tướng Israel Menachem Begin cho phép Mossad nối lại chiến dịch
Sự phẫn nộ của Chúa trời.Chiều 22/1/1979, Salameh và 4 vệ sĩ thiệt mạng sau khi điệp viên Israel kích hoạt một quả bom dưới xe của họ. Vụ nổ cũng làm 4 thường dân thiệt mạng và 18 người bị thương.
Loạt vụ ám sát đầu tiên trong giai đoạn tháng 10/1972 tới đầu năm 1973 của tình báo Israel chỉ gây ra sự lo lắng cho giới chức Palestine. Thế giới Arab chỉ thực sự choáng váng khi chiến dịch Suối nguồn Tuổi trẻ được tiến hành ngay tại Lebanon.
Sự táo bạo của đặc nhiệm Israel, cũng như loạt vụ đột kích diễn ra ngay sát nơi ở của lãnh đạo cao cấp như Yasser Arafat và Abu Iyad khiến chính phủ nhiều nước Arab tin rằng Israel có thể tấn công mọi lúc mọi nơi. Một số nước Arab bắt đầu gây áp lực, buộc các nhóm vũ trang Palestine hạn chế tấn công Israel, cũng như đe dọa ngừng ủng hộ Palestine nếu các tay súng sử dụng hộ chiếu giả để đột nhập vào lãnh thổ Israel.
Chiến dịch ám sát cũng tạo ra làn sóng tưởng niệm trên quy mô lớn. Khoảng nửa triệu người đã đổ ra đường phố Beirut trong đám tang các nạn nhân cuộc đột kích ở Lebanon. Gần 6 năm sau, 100.000 người, trong đó có nhà lãnh đạo Arafat, đã tham gia đám tang Salameh tại Beirut.
Theo Tử Quỳnh/Vnexpress
Điệp viên nhảy dù chống Liên Xô - Trang sử đen đầu tiên của CIA
Năm 2001, Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) công bố hơn 3 triệu trang tài liệu về thời kỳ đầu thành lập của cơ quan này, trong đó có 20 hồ sơ về những tên quốc xã trùm sỏ cần được “che chở” để sử dụng nhằm mục đích chống lại Liên Xô được lập vào tháng 11-1944. Sự “bảo vệ và hợp tác” giữa Mỹ và bọn tội phạm chiến tranh Đức quốc xã thể hiện chặt chẽ nhất qua chương trình thả dù gián điệp vào lãnh thổ Liên Xô từ năm 1951 đến năm 1960.
“Chọn mặt gửi vàng”
Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, Liên Xô vẫn là một bí ẩn với Mỹ và Tây Âu khi liên tiếp có những hành động khiến các cơ quan tình báo phương Tây bị choáng váng vì bất ngờ: Năm 1948 Liên Xô phong tỏa Tây Berlin; năm 1949 Liên Xô thử quả bom nguyên tử đầu tiên;…
Nhằm thay đổi tình trạng đó, năm 1951, Allen Dulles lên nắm quyền chỉ huy cơ quan tình báo CIA và bắt đầu đẩy mạnh việc phái điệp viên vào Liên Xô. CIA lúc này vẫn còn quá non trẻ, ngoài tiền và trang bị kỹ thuật, Allen Dulles không có gì trong tay và ông ta tìm đối tác chiến lược cho chương trình do thám Liên Xô ngay trong hàng ngũ những kẻ thù cũ - bọn chỉ huy mật vụ, gián điệp của nước Đức phát xít. Thực ra ông ta đã chú ý làm điều đó từ năm 1949.
Có hai gương mặt nổi lên đáng kể là Trung tướng Reinhard Gehlen, nguyên Chỉ huy trưởng phòng Phương Đông (FHO) của cơ quan tình báo quân sự Đức quốc xã và Thiếu tướng Walter Shellenberg - sĩ quan SD, nguyên Cục trưởng Cục 6 (Tình báo chính trị) của Tổng cục An ninh quốc xã. Sau khi cân nhắc các yếu tố lợi hại về chính trị - ngoại giao cũng như “vốn liếng” của mỗi bên, Allen Dulles quyết định Gehlen sẽ là nhân vật được “chọn mặt gửi vàng”.
Và thế là trường huấn luyện gián điệp mang tên “Liên minh nhân dân lao động” với mục đích chống Liên bang Xô viết ra đời trên cơ sở các trường tình báo quốc xã trá hình trên đất Tây Ban Nha, nay di dời về Tây Berlin. CIA tài trợ toàn bộ kinh phí hoạt động của trường và nắm quyền chỉ huy, điều động trực tiếp còn cơ quan an ninh Tây Đức của Gehlen chịu trách nhiệm tìm nguồn nhân sự học viên, cán bộ giảng, huấn luyện kỹ thuật nghiệp vụ.
Những sai lầm đầu tiên
Để khai thác được nguồn tin từ những gián điệp phát xít mà FHO còn gài lại trên lãnh thổ Liên Xô bắt buộc phải liên lạc trở lại với chúng. Trên lãnh thổ Liên bang Xô viết rộng lớn, để làm chuyện đó bằng những phương pháp như người hồi hương, di cư trở về cố quốc đúng là chuyện không tưởng, huống gì do cuộc phong tỏa kinh tế đối với khối XHCN, các cuộc xâm nhập qua biên giới đất liền và biển càng khó tổ chức hơn. Thế nên “Liên minh nhân dân lao động” đành chọn phương pháp của thời chiến: cho điệp viên nhảy dù. Tháng 7-1951, việc chuẩn bị cho đợt nhảy dù bắt liên lạc lại với bọn gián điệp phát xít của Gehlen còn gài lại trên lãnh thổ Liên Xô đã hoàn tất.
Ngày 18-8-1951, máy bay Mỹ cất cánh từ căn cứ ở Salonika (Hy Lạp) đưa hai điệp viên đầu tiên vào cuộc. Đó là F.K. Sarantsev, cựu binh nhất Hồng quân bị Đức bắt làm tù binh năm 1943 và A.I. Osmanov - một tên phản bội từng tham gia đội quân giải phóng Nga. Địa điểm thả dù là Mondova.
Sarantsev đến Kavkaz để bắt liên lạc với cụm gián điệp nằm vùng tại đó và sau khi hoàn thành nhiệm vụ sẽ vượt biên sang Thổ Nhĩ Kỳ. Còn Osmanov đến Ural sau đó cũng quay về theo lối Thổ Nhĩ Kỳ. Thời gian thực hiện điệp vụ này là 3 tuần. Cả hai đều được trang bị súng ngắn, điện đài cỡ nhỏ, xe đạp gấp của CHDC Đức sản xuất (có bán tại Liên Xô). Ngoài ra, mỗi người còn mang theo 5.000 rúp, vài bọc tiền vàng và một túi đựng đồng hồ để nếu cần thì đút lót công an.
Sau khi nhảy dù, điện đài của cả hai đều cất tiếng lần đầu tiên nhưng sau đó thì im bặt. Mấy tháng sau, báo chí Liên Xô đưa tin ngắn gọn là cả hai tên đều đã bị xử bắn tại Mondova theo phán quyết của tòa án nhân dân.
Ngày 25-9-1951, một máy bay cất cánh từ sân bay Wisbaden (Tây Đức) để thả điệp viên đi lẻ Ivan Aleksandrovich Filistovich xuống gần làng của hắn là làng Ilya ở Vileika phía Bắc Minsk. Sở dĩ Gehlen chấp nhận cho tên gián điệp này đi lẻ là vì tin vào quá khứ sừng sỏ của hắn.
Từng tham gia SS chống quân Anh - Mỹ rồi trốn sang Tiệp Khắc khi Đức thua trận, lại sang Bỉ và vào học Đại học Tổng hợp Thiên chúa giáo, Filistovich được đánh giá là “chống cộng từ trong tư tưởng” khi tình nguyện hoạt động tình báo chống lại Nga. Y đã được làm lại lý lịch thành thợ mỏ bị Đức cưỡng bách lao động ở các trại tập trung và sau đó sinh sống tại Bỉ. Nhiệm vụ là bắt liên lạc với những điệp viên nằm vùng của Gehlen tại Belorussya, lập lại tổ chức và đi vào hoạt động.
Để bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Filistovich, CIA không cho hắn sử dụng điện đài mà chọn đường liên lạc công khai qua thư viết cho một người bạn ở Paris có kèm báo cáo viết bằng mực mật. Thư báo cáo của Filistovich liên tiếp gửi về địa chỉ ở Paris, tên gián điệp này cho biết cần ở lại Belorussya một thời gian rồi… lặn mất tăm. Hai năm sau, tên và ảnh của Filistovich xuất hiện không phải trên mặt báo mà là trong một cuốn sách nhỏ xinh xắn của KGB mang tên “Những điệp viên phát xít và phản cách mạng bị vô hiệu hóa” được gửi theo đường bảo đảm đến tận tay Reinhard Gehlen kèm lời chúc mừng sinh nhật.
Ngày 8-10-1951, hai điệp viên nữa được Gehlen cho thả xuống Ukraine nhưng không hiểu phi công xác định vị trí tọa độ kiểu nào mà lại thả nhầm xuống lãnh thổ Romania và bị bắt. Lại một phen dở khóc dở mếu đối với “Liên minh nhân dân lao động”. Ba điệp vụ ngắn hạn kết thúc trong sự lặng im của điệp viên và sự ồn ào của báo chí đã khiến Dulles yêu cầu tạm dừng thả dù để kiểm tra, chỉnh đốn lại...
Bài 2: Điệp khúc “nhảy dù - mất tích”
Các cuộc kiểm tra với học viên và giảng viên vẫn tiếp tục chưa có hồi kết… Và mùa hè năm 1952, các vụ gián điệp thả dù được tiếp tục…
Tiếp tục tiếp đất và… mất tích
Ngày 2-5-1952, 3 điệp viên L.K. Koshelev, A.P. Kurochkin và L.N. Voloshanovsky (vốn là lính Hồng quân đào ngũ) được tung từ Iran xuống Bắc Kavkaz. Chỉ có Kurochkin liên lạc được về trung tâm và cung cấp thông tin. Người Mỹ rất hài lòng nhưng chỉ sau đó một thời gian, báo chí Liên Xô đưa tin ngay sau khi tiếp đất, Kurochkin đã đầu thú và chơi “Trò chơi điện đài” với các ông chủ cũ. Còn 2 điệp viên kia đã bị xử bắn.
Tháng 8-1952, Mỹ thả xuống khu vực Vitebsk và Mogilyov của Bạch Nga một lúc 4 điệp viên là M.P. Artiushevsky, G.A. Kotiusk, T.A. Ostrikov và M.S. Kalnhitsky - tất cả là dân di cư cũ được tuyển mộ trong các trại lao động ở Đức. Cả 4 đội lốt những người bị cưỡng bách về Đức và nay bị Tây Đức xua đuổi với các giấy tờ và lai lịch giả thích hợp. Nhảy dù xong, Ostrikov đầu thú và khai báo tất cả chi tiết về điệp vụ này. Lưới được tung ra, Kalnisky bị bắn chết vì chống cự. Hai tên còn lại bị xử bắn theo phán quyết của tòa, chỉ có Ostrikov được ân xá.
Trước sự lặp lại điệp khúc điệp viên nhảy dù rồi tự thú, Mỹ yêu cầu Tây Đức phải chọn lọc điệp viên kỹ hơn và bổ sung phần giáo dục chính trị về ý thức chống cộng nặng hơn trong chương trình huấn luyện trước khi bắt đầu nhảy dù lại vào năm sau.
Đêm 25 rạng 26-4-1953, một máy bay quân sự cất cánh từ căn cứ không quân ở Hy Lạp đã tung xuống miền Nam Ukraine 4 điệp viên là A.B. Lakhno, S.I. Gorbunov, A.N. Makov và D.N. Remiga. Cả 4 được tuyển mộ và huấn luyện từ năm 1951.
Lần đầu tiên, bọn gián điệp này được trang bị các phao vô tuyến để dẫn đường cho các máy bay gián điệp khác và hướng dẫn cho các máy bay do thám kế tiếp. Địa điểm thâm nhập, bắt liên lạc với điệp viên của Gehlen là Kiev và Odessa.
Sau khi nhảy dù, cả 4 biến mất dạng. Một tháng sau, báo chí Xô viết đưa tin cả 4 bị bắt tại chỗ tiếp đất và đã bị xử tử. Bao nhiêu công phu tan thành tro bụi đồng thời cũng xác định chắc chắn có điệp viên Liên Xô gài trong “Liên minh nhân dân lao động” vì số lượng người được phép biết nhiệm vụ của nhóm này chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Mãi đến năm 1954, Mỹ và Tây Đức mới xác định được điệp viên đó chính là cựu Đại úy Nikita Khorunzhim - vị trưởng khoa Nga của trường tình báo mà Gehlen luôn tin cậy. Sau khi bị bắt và bị kết án 14 năm tù giam, Khorunzhim được trao trả về Liên Xô năm 1959…
Ê chề từ một… thắng lợi
Ngày 29-4-1953, nhóm 4 điệp viên là Konstantin Khmelnisky, Ivan Kydryatsev, Aleksandr Novikov và Nikolai Yakuta với trưởng nhóm là Khmelnitsky, cựu hạ sĩ quân đội Liên Xô, một nhân viên điện đài giỏi, được các thủ lĩnh của “Liên minh nhân dân lao động” và chính các cán bộ của Gehlen đánh giá cao tiếp tục được cho nhảy dù vào Liên Xô.
Sau khi nhảy dù, Khmelnisky đã liên lạc với trung tâm báo tin cả nhóm đã phân tán đúng như kế hoạch, hắn ở Minsk và Moglyov. Novikov tới Smolensk. Hai tên còn lại thì im hơi lặng tiếng. Trong 3 năm Khmelnitsky đã chuyển về một khối lượng thông tin lớn, rằng đã đi khắp Liên Xô, bắt lại nhiều mối liên lạc, tổ chức được nhiều chi hội những người bất mãn với chính quyền Xô viết. Các tin tức tuyệt vời đến mức đích thân Allen Dulles phải đến văn phòng BND để cùng Gehlen mở champagne cho thắng lợi này.
Tháng 2-1957, phòng báo chí Bộ Ngoại giao Liên Xô tổ chức cuộc họp báo đặc biệt. Trước mặt 200 nhà báo nước ngoài, 4 gián điệp bằng xương bằng thịt cùng toàn bộ trang bị gián điệp được trình diện. Tất cả đều ủ rũ, nhợt nhạt do 3 năm nằm nhà đá - trừ Khmelnisky. Anh ta cho biết mình là điệp viên Xô viết, đã tiếp xúc với “Liên minh nhân dân lao động” từ năm 1945 nhằm mục đích “khám phá âm mưu phát xít chống lại tổ quốc Xô viết của chúng ta”.
Khmelnisky đã khai báo tất cả về địa điểm học, giáo trình đào tạo và nhiệm vụ cơ bản mà trường này huấn luyện: Tổ chức khủng bố, đánh cắp các tài liệu quân sự và kinh tế của Liên bang Xô viết, phao tin đồn nhảm, lôi kéo các công dân Xô viết vào tổ chức chống đối, bôi nhọ uy tín nhà nước Xô viết qua việc tổ chức chạy trốn sang phương Tây.
Trong 4 năm chơi trò chơi điện đài, ông đã “giúp Liên Xô đánh lạc hướng hoàn toàn Mỹ trong nhiều vấn đề quan trọng và trên cơ sở các chỉ thị nhận được, cơ quan an ninh Xô viết đã khám phá được nhiều bí mật của bọn âm mưu phát xít”.
Quá bối rối, Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức Adenauer đã phải ra lệnh cho Gehlen chấm dứt các chiến dịch nhảy dù chống Liên Xô để khỏi chuốc những rắc rối quốc tế với siêu cường này. Dù Gehlen có lén lút giúp Mỹ thả dù thêm 3 toán gián điệp nữa nhưng cả 3 toán đều bị bắt và xét xử.
Tất cả những điều đó khiến cho người Mỹ vốn thực dụng nản lòng và không mặn mà với phương thức sử dụng lưới gián điệp mà FHO đã cài lại Liên Xô trong chiến tranh nữa. Giới chức tình báo Mỹ cho rằng lưới này đã bị phản gián Xô viết khống chế, đồng thời điệp viên Xô viết đã thâm nhập các cơ quan tình báo phương Tây, cụ thể là cơ quan của Gehlen ở cấp bậc cao.
Năm 1961, việc người phó của Gehlen là Heinz Felfe - một cựu sĩ quan SD - bị phát giác là điệp viên Xô viết như giọt nước tràn ly chấm dứt hy vọng khai thác lưới gián điệp phát xít FHO trên lãnh thổ Liên Xô. Hơn nữa vào năm 1957, Liên Xô phóng thành công vệ tinh Sputnik và sau đó đến Mỹ.
Tất cả các quốc gia đều nhận ra ưu thế do thám của vệ tinh gián điệp và với sự bắt đầu của thời đại máy bay do thám U-2, hoạt động trinh thám đường không đã có tiến bộ lớn. Trò nhảy dù gián điệp ồn ào đầu chiến tranh lạnh đã được tất cả những người tham gia thực hiện khai tử trong im lặng. Đồng thời, đối với công luận thế giới, bằng chứng tội ác về sự hợp tác giữa Mỹ và bọn phát xít Đức cũng mau chóng bị lãng quên.
Lâm Hà (SGGP 12G)
“Biết đứng dậy khi bữa tiệc chưa tàn”
Người
Nga có câu ngạn ngữ “Biết đứng dậy khi bữa tiệc chưa tàn” và Tổng thống
Putin đã biết vận dụng đúng câu ngạn ngữ đó khi quyết định rút lực
lượng chính quân đội Nga khỏi Syria vào lúc này.
| Tổng thống Putin luôn có những quyết định bất ngờ khiến Mỹ và phương Tây bối rối không biết phải "tiếp chiêu" như thế nào |
“Đặc sản” của Putin
Tổng thống Putin hôm
14-3 đã làm cả thế giới bất ngờ khi ra lệnh cho Bộ trưởng Quốc phòng Nga
Sergei Shoigu bắt đầu rút dần các binh sĩ thuộc lực lượng không quân
Nga ra khỏi lãnh thổ Syria từ ngày 15-3, vì nhiệm vụ của họ tại đây đã
hoàn thành. Bỗng chốc, những dự đoán, cảnh báo trước đó của phương Tây
về cái gọi là “sự sa lầy” của Nga khi can thiệp quân sự vào Syria tự
nhiên trở nên ngớ ngẩn đến cùng cực. Nhưng cũng chính lúc này,những đồn
đoán, dèm pha nhắm vào nước Nga và cá nhân Tổng thống Putin lại được dịp
nổi lên.
Người ta đồn rằng, Nga buộc phải tìm cách rút quân khỏi Syria chẳng qua vì đã ở đường cùng. Họ cho rằng Moskva không chịu nổi phí tổn của cuộc chiến này nữa.
Báo New York Daily News đưa tin ước tính
mỗi ngày quân đội Nga “đốt” hết 4 triệu USD ở Syria. Trong khi đó, lệnh
cấm vận của phương Tây suốt gần 2 năm trời, cộng thêm việc giá dầu rớt
thảm hại suốt thời gian dài qua khiến một đất nước phụ thuộc lớn vào
xuất khẩu dầu mỏ như Nga đã khó khăn lại càng thêm điêu đứng.
Trước mắt, Nga còn phải chịu đựng lệnh
cấm vận của Mỹ thêm 1 năm, đến 6/3/2017 và lệnh cấm vận của Liên minh
châu Âu đến cuối tháng 7 năm nay. Trong khi đó, triển vọng phục hồi giá
dầu toàn cầu càng ngày càng trở nên tăm tối. Ả-rập Xê-út - “ông vua” của
thế giới dầu mỏ - kẻ đang đứng ở chiến tuyến bên kia trong cuộc chiến
Syria và là đồng minh của Mỹ đã lắc đầu dứt khoát với yêu cầu tha thiết
giảm sản lượng từ Nga. Không những vậy, Riyadh còn tỏ rõ quyết tâm “chơi
đến cùng” trong cuộc chiến “dìm” giá dầu và đẩy các đối thủ như Nga và
Iran vào cảnh cơ hàn khi yêu cầu vay gói “siêu” nợ từ 6 - 8 tỉ USD hồi
tuần trước. Trong tình hình này, việc rút quân khỏi Syria sẽ giúp Nga
tiết kiệm tiền đáng kể, để dồn sức chống đỡ với những khó khăn kinh tế
trong nước.
Người ta cũng đồn rằng, Tổng thống Putin vốn đã hi vọng việc Nga tham chiến ở Syria sẽ
lôi kéo sự chú ý của phương Tây và Mỹ khỏi Ukraina, cũng như có thể ra
giá với Washington và phương Tây trên hồ sơ này, nhưng tình hình Ukraina
ngày càng bị “đóng băng”, còn lệnh cấm vận thì vẫn tiếp diễn, nên ông
Putin quyết định phải rút về ngay lập tức, vì Nga không có khả năng chia
lửa cho hai mặt trận.
Nhưng dù đồn đoán kiểu gì, người ta cũng
phải công nhận rằng ông Putin đã luôn khiến Mỹ và phương Tây bối rối,
choáng váng bởi những quyết định bất ngờ và táo bạo của mình. Đây có lẽ
là thứ “đặc sản” mà phương Tây đã “ăn” của ông Putin bao năm qua mà vẫn
không biết thực chất nó được chế biến lúc nào, chế biến ra sao, khi nào
thì bày lên bàn tiệc và phải “ăn” nó kiểu gì. Nhanh nhạy và dầy dặn kinh
nghiệm như tình báo Mỹ CIA còn như bị dán băng dính vào mắt và phải
chật vật đọc ý đồ của ông Putin.
Còn nhớ, cách đây hơn 5 tháng, khi rời
kỳ họp 70 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc trở về, ngay hôm sau, Quốc hội Nga
đã phê chuẩn cho phép Tổng thống Putin được can thiệp quân sự ở Syria
theo yêu cầu của Tổng thống Syria Bashar al-Assad và chỉ vài tiếng đồng
hồ sau, không quân Nga đã xuất kích dội bão lửa lên khủng bố tổ chức Nhà
nước Hồi giáo (IS) tự xưng và các phe nhóm phiến quân cực đoan khác ở
Syria.
Putin đã làm cho phương Tây quá ngỡ
ngàng bởi sự thần tốc và hiệu quả chóng vánh của chiến dịch. Chỉ một
tuần không kích mà hiệu quả của Nga bằng một năm không kích của
liên quân 60 nước do Mỹ dẫn đầu! Và lúc này dư luận quốc tế không khỏi
thắc mắc: Tại sao một nước Nga “bị cách ly, nghèo đói sắp kiệt quệ tới
nơi” (như cách phương Tây mô tả) mà lại chống khủng bố hiệu quả đến vậy,
trong khi phương Tây có cả một liên minh rầm rộ mà càng đánh thì IS
càng bành trướng lãnh thổ ở Iraq và Syria?
Chưa hết, trong khi các nhà quân sự
phương Tây còn tưởng tai mình bị điếc hay mắt mờ nhìn nhầm các trang báo
thì tốp máy bay Su-34 của Nga đã bay từ Syria về căn cứ quân sự tại Nga
ngày 15-3 chỉ sau tuyên bố rút quân của ông Putin 24 tiếng! Cơn bối rối
của người Mỹ có lẽ phải sau chuyến đi Moskva và thỉnh giáo Ngoại trưởng
Nga Sergei Lavrov cuối tuần này của Ngoại trưởng John Kerry mới nguôi
ngoai được.
Thời điểm hoàn hảo
Và bất chấp những dèm pha, đồn đoán,
phải thừa nhận rằng ông Putin đã chọn một thời điểm hoàn hảo cho việc
rút quân. Nga đã thắng trong canh bạc này một cách vẻ vang, bởi rút quân
trong thời gian ngưng bắn vì đó là hình ảnh chiến thắng, còn rút quân
trong khi giao tranh là thua bỏ chạy. Hơn nữa, Moskva đã đạt được quá
nhiều mục tiêu và lợi ích trong cuộc can thiệp quân sự vào Syria.
Đầu tiên - và quan trọng nhất, là chiến dịch can thiệp quân sự thần tốc của Nga vào Syria đã làm thay đổi cục diện căn bản chiến trường Syria.
Khi quân đội Nga bắt đầu triển khai tới Syria vào ngày 30-9 năm ngoái,
chính quyền của ông Assad đang tơi bời bởi các đợt tấn công của hàng
loạt lực lượng nổi dậy khác nhau được Mỹ chống lưng mạnh mẽ và đang ở
đứng bên bờ vực của sự sụp đổ bất cứ lúc nào.
Chỉ 5 tháng sau đó, được hậu thuẫn bởi
chiến dịch không kích mạnh mẽ của Nga, quân đội Syria đã chiếm lại được
những phần lãnh thổ quan trọng ở cả hai miền Nam và Bắc, mang lại thế
thượng phong quân sự rõ ràng cho ông Assad và khiến cho các lực lượng
nổi dậy “ôn hòa” dưới con mắt của Washington, cũng như IS phải hứng chịu
những tổn thất nặng nề. Phe nổi dậy bị đẩy vào thế: hoặc là chịu khó
ngồi vào bàn đàm phán, hoặc là liên kết với thánh chiến khủng bố và cùng
chết chung với chúng.
Moskva cũng đã gần như đạt được một mục
tiêu quan trọng là khiến phương Tây phải lựa chọn: hoặc là sự khủng
khiếp của IS hoặc là sự tồn tại của chế độ Assad. Moskva gần đây đã buộc
Washington phải “tắt” điệp khúc “Assad phải ra đi”, với việc Ngoại
trưởng John Kerry khẳng định rằng “Hoa Kỳ và các đối tác của chúng tôi
không tìm kiếm cái gọi là thay đổi chế độ” và rằng “không có sự khác
biệt giữa chúng tôi về những gì có thể hoặc không thể được thực hiện
ngay lập tức về Assad”.
Trên mặt trận ngoại giao, sự can thiệp
quân sự của Nga vào Syria thực sự đã chấm dứt mọi nỗ lực phớt lờ và cô
lập nước Nga của phương Tây. Washington buộc phải thừa nhận Moskva đóng
một vai trò quan trọng trong việc quyết định tương lai của Syria ngay từ
khi đặt bút ký vào bản ghi nhớ tránh đụng độ giữa các máy bay hai nước
trên bầu trời Syria khi tiến hành không kích vào tháng 10 - 2015. Còn
giờ đây, Nga và Mỹ là những nhà bảo lãnh chung của thỏa thuận ngừng bắn ở
Syria và thậm chí cả ở Ukraina, hai nước cũng đang có dấu hiệu khởi
động lại các nỗ lực ngoại giao đàm phán.
| Nga đã "rời bàn tiệc" trong thế thắng |
Nga cũng đã thành công trong việc kéo
“Iraq về gần Iran” cũng như thúc đẩy sự liên kết giữa Iran - Hezbollah -
Dân quân Shia (Iraq) - Dân quân Houthi (Yemen) và đây sẽ là lực lượng
cực kỳ quan trọng mà Nga sẽ hậu thuẫn trong ván bài địa chính trị Trung
Đông.
Trên bình diện quốc tế, Nga cũng gióng
một hồi chuông báo động về chính sách “dùng khủng bố để can thiệp vào
nội bộ nước khác” và “dạy” cho Ả-rập Xê-út và Thổ Nhĩ Kỳ một bài học về
“thế nào là cường quốc, là nước lớn”.
Việc rút quân còn cho thấy, Nga muốn các
đối tác ở vùng Vịnh và cả thế giới hiểu rằng: Nga tôn trọng và không
bao giờ phản bội các cam kết của mình. Nga là một quốc gia đến và hoàn
thành nghĩa vụ bằng một giải pháp hòa bình thì đi mà không ai cản được.
Nga cũng không can thiệp quá sâu vào công việc nội bộ của nước khác. Nga
rút quân để cho tiến trình hòa hợp, hòa giải là câu chuyện của người
trong cuộc. Từ nay trở đi hòa bình ở Trung Đông nếu tồi tệ hơn thì Mỹ và
phương Tây phải cố mà chịu trận.
Dĩ nhiên, cũng có ý kiến cho rằng động
thái rút quân của Nga khỏi Syria chỉ có ý nghĩa tinh thần, biểu tượng
còn thực tế Nga vẫn duy trì hiện diện quân sự tại căn cứ hải quân ở cảng
Tartus và căn cứ không quân ở sân bay Hmeymim, vẫn để lại hệ thống cố
vấn trong quân đội Syria, để lại một số đơn vị tấn công, các kho chứa
quân cụ và vũ khí, đặc biệt là giàn hoả tiển tối tân S-400 do lính Nga
điều khiển vẫn duy trì để kiểm soát bầu trời Syria… Tuy nhiên, với sự
“mềm dẻo” này, nước Nga đang chứng tỏ họ cứng rắn nhưng cũng luôn sẵn
lòng mở cánh cửa hợp tác, chia sẻ với các đối thủ, đối tác...
Như vậy, sau nhiều năm vắng bóng trong
các cuộc viễn chinh, người Nga đã có sự trở lại ngoạn mục ở Syria. Đến
thần tốc một cách đường đường chính chính, rút quân bất ngờ trong thế
thắng, ông Putin qua đó ngầm tuyên bố với thế giới rằng “hai thập kỷ sau
khi Liên Xô tan rã, Nga vẫn có khả năng duy trì ảnh hưởng của mình kể
cả ở những nơi cách xa hàng nghìn km” và họ có thể xử lý tốt như thế nào
trong một cuộc chiến đa diện không chỉ trên mặt trận quân sự.
Người Nga đã rời “bàn tiệc” một cách chủ động vẻ vang, bỏ lại một nước Mỹ “chưng hửng” bối rối chẳng biết bao giờ mới chấm dứt chiến dịch chống khủng bố...
|
John Kerry sang Nga học nghệ thuật chiến tranh của ông Putin
Ngoại
trưởng Mỹ John Kerry cho biết ông sẽ tới Moskva vào tuần tới để hội đàm
với Tổng thống Nga Vladimir Putin về việc nước Mỹ nên làm gì cho tiến
hòa bình tại Syria.
|
|
6 thước phim cực sốc về chiến dịch của Nga ở Syria
Ngày
15/3, lực lượng không quân Nga đã rút khỏi Syria sau gần 6 tháng không
kích quân khủng bố. Sau đây là 6 thước phim quay cảnh máy bay Nga tấn
công các cơ sở của IS do đài RT của Nga bình chọn.
|
|
Hiểu hết chiến dịch quân sự của Nga tại Syria trong 1 phút
Khởi
sự cách đây 6 tháng, chiến dịch không kích của Nga chống IS đã đem lại
những kết quả khả quan. Hôm 14/3, Tổng thống Putin thông báo rút quân
sau khi đã đạt được mục đích.
|
Lệnh
ngừng bắn tại Syria ngày 27/2 và cuộc bầu cử lập pháp tại Syria vào
tháng 4/2016 là hai bước đi của Nga và chính quyền Damas nhằm buộc Mỹ và
tất cả các nước đồng minh chấp nhận thất bại tại Syria.
4 vụ mất tích tàu ngầm bí ẩn nhất lịch sử quân sự
Chỉ trong năm 1986 có tới 4 chiếc tàu ngầm khổng lồ của 4 quốc gia khác nhau mất tích một cách bí ẩn. Liệu thảm kịch chấn động lịch sử này có liên quan tới một loạt "bóng ma" trên đại dương cách đó 8 năm?
Trước khi tìm hiểu những thảm kịch khủng khiếp này, hãy xem những bí ẩn khó lường dưới đại dương mà người ta phát hiện từ trước khi các vụ mất tích xảy ra vài năm.
Vật thể được cho là tầu ngầm này di chuyển với vận tốc gấp 3 lần tốc độ của các tàu ngầm tối tân nhất thế giới khiến nhiều nước hoang mang.

Vật thể lạ được cho là tàu ngầm
Sau khi được xác nhận là những vật thể lạ đó không
thuộc trách nhiệm của bất cứ quốc gia nào, trong đó có Mỹ và Liên Xô,
hải quân các nước đã dải hàng tấn bom trong 10 ngày liên tiếp lên địa
điểm của 2 "vật thể" neo đậu.
2 "tàu ngầm" không đáp trả lại cuộc tấn công đó mà "bỏ chạy" với tốc độ nhanh khủng khiếp khiến các nhà quân sự "choáng váng", rồi biến mất bí ẩn trong lòng biển Đại Tây Dương.
Một tháng sau, tại vùng biển Caribe, Hải quân Mỹ lại phát hiện một "vật thể lạ" khác di chuyển với vận tốc không tưởng là 370km/giờ.
Vật thể này chưa được giải thích rõ ràng thì Hải quân Mỹ tiếp tục "đụng độ" vật thể khác di chuyển dưới lòng nước sâu với vận tốc là 300km/giờ tại vùng biển gần "tam giác quỷ" Bermuda vào năm 1963. Điều đáng sợ là nó có thể ngoi lên và lặn xuống độ sâu 6.000m mà chỉ mất có vài phút.
Sau đó, các vật thể lạ này còn được phát hiện tại nhiều vùng biển khác nhau trên thế giới như Địa Trung Hải, Brazil, New Zealand... Chúng di chuyển với tốc độ gấp 3 lần tốc độ tàu ngầm tối tân nhất thế giới mà không gây tiếng động hay luồng bọt khí nào khiến cho giới quân sự trên toàn thế giới hoang mang, ngỡ ngàng. Họ gọi chúng là "những bóng ma của đại dương".
Những "bóng ma" này có liên quan gì tới những vụ mất tích liên tiếp của 4 tàu ngầm quân sự tối tân của Mỹ, Pháp, Israel và Liên Xô không?
Ngay sau đó, Mỹ ráo riết triển khai các chiến dịch tìm kiếm "niềm tự hào" của mình nhưng không có kết quả.
Ngày 5/6, sau gần 2 tuần nỗ lực tìm kiếm, Hải quân Mỹ buộc phải đưa ra thông báo, tàu USS Scorpion (SSN-589) mất tích. Nguyên nhân mất tích cho đến nay chưa được làm sáng tỏ.
Tháng 10 cùng năm, người ta tìm thấy mảnh vỡ của con tàu ngầm xấu số ở dưới đáy biển Đại Tây Dương ở độ sâu 3.000m, cách quần đảo Azores (thuộc Bồ Đào Nha) 740km về phía tây nam. Đây là một trong những thảm kịch đẫm máu nhất trong lịch sử quân sự Mỹ.

Tàu ngầm Scorpion, niềm tự hào của Hải quân Mỹ. (Ảnh: Wikipedia.)
Nhiều ý kiến cho rằng, vụ nổ quả ngư lôi trên tàu đã khiến toàn bộ Scorpion và 99 người trên tàu chịu chung số phận.
Tuy nhiên, giả thuyết không có bằng chứng xác thực. Do đó, tàu ngầm Scorpion trở thành một trong những bí ẩn chưa có lời giải trong lịch sử quân sự Mỹ.

Tàu ngầm Minerve (S647).
Khoảng 8 giờ sáng ngày 27/1/1968, khi đang đi tuần tại vùng biển cách
căn cứ Toulon 46km, tàu ngầm Minerve đột ngột mất tích khó hiểu.
Theo lịch trình, Minerve sẽ trở về căn cứ sau 1 giờ đồng hồ đi tuần, nhưng người ta đã không bao giờ nghe thấy tín hiệu của nó. Tất cả 52 người trên tàu, trong đó có 6 chuyên gia quân sự đã mất tích bí ẩn cùng con tàu ở độ sâu ước tính từ 1.000 đến 2.000m.
Hải quân Pháp lập tức điều động tàu sân bay Clemenceau và tàu SP-350 Denise, dưới sự chỉ huy của chuyên gia Jacques Cousteau, để tìm kiếm tàu ngầm Minerve nhưng không có kết quả.
2/2/1968, Hải quân Pháp dừng mọi công tác tìm kiếm và tuyên bố con tàu mất tích. Trên thực tế, Hải quân Pháp vẫn tiếp tục chiến dịch tìm kiếm Minerve vào năm 1969, nhưng cho đến nay, tung tích về con tàu vẫn là điều bí ẩn.
Cũng như sự mất tích tàu ngầm Scorpion của Mỹ, nhiều giả thuyết về nguyên nhân đã được đưa ra trong đó, người ta thiên về thời tiết xấu.
Ngày 9/1/1968, sau quá trình chạy lặn thử nghiệm, INS Dakar xuất cảng Scotland để trở về Israel. Tuy nhiên, nó đã mất tích bí ẩn trên đường trở về cùng với 69 người trong tàu.
Sau hơn 30 năm ráo riết tìm kiếm, truy lùng, không một mảnh vỡ hay dấu vết của con tàu được tìm thấy cho đến năm 1999.

Vùng biển (màu đỏ) tìm thấy xác tàu INS Dakar. (Ảnh: Google Map.)
Người ta tìm thấy nó nằm tại đáy biển ở giữa đảo quốc Cyprus (phía
đông Địa Trung Hải) và Crete. Tuy nhiên, xác tàu thì tìm thấy nhưng
nguyên nhân khiến nó bị chìm thì đến nay, chưa một chuyên gia nào giải
mã nổi.

Tàu ngầm K-129 của Liên Xô.
Sau khi hoàn thành 2 cuộc tuần tra biển kéo dài 70 ngày, con tàu với
98 thủy thủ, được trang bị 3 tên lửa đạn đạo hạt nhân hiện đại nhất tiếp
tục được giao nhiệm vụ tuần tra thứ 3 bắt đầu từ ngày 24/2/1968.
Tuy nhiên, đến ngày 8/3/1968, không một tín hiệu liên lạc nào của con tàu được truyền về. Hải quân Liên Xô phát lệnh báo động và mở cuộc tìm kiếm trên diện rộng.
Tuy nhiên, mọi nỗ lực đều đi vào ngõ cụt khi không một mảnh vỡ nào của con tàu được tìm thấy. Cũng giống như "số phận" của 3 tàu ngầm kể trên, tàu ngầm của Liên Xô cũng mất tích bí ẩn.
Dù cho có được tìm thấy thì nguyên nhân khiến chúng bị đánh chìm đến nay vẫn chưa có lời giải chính xác.
Có nhiều báo cáo rằng, trước khi mất tích hay chìm sâu dưới lòng biển, người ta nhìn thấy những "bóng ma đại dương" lượn quanh 4 chiếc tàu ngầm rồi nhanh chóng biến mất.
Báo cáo này cũng không giúp ích được gì nhiều vì ngay cả "danh tính" của những "vật thể lạ" người ta cũng không thể xác định, nên "số phận" của những tàu ngầm tối tân đó cũng bị chôn vùi dưới lòng đại dương bí ẩn.
Trước khi tìm hiểu những thảm kịch khủng khiếp này, hãy xem những bí ẩn khó lường dưới đại dương mà người ta phát hiện từ trước khi các vụ mất tích xảy ra vài năm.
Bí ẩn dưới lòng đại dương
Tháng 1/1960, Hải quân Argentina phát hiện 2 phương tiện khổng lồ được cho là tàu ngầm với hình dáng và trạng thái kỳ lạ ở dưới đáy vịnh Encerrada, thuộc thành phố Ushuaia, Argentina.Vật thể được cho là tầu ngầm này di chuyển với vận tốc gấp 3 lần tốc độ của các tàu ngầm tối tân nhất thế giới khiến nhiều nước hoang mang.

Vật thể lạ được cho là tàu ngầm
2 "tàu ngầm" không đáp trả lại cuộc tấn công đó mà "bỏ chạy" với tốc độ nhanh khủng khiếp khiến các nhà quân sự "choáng váng", rồi biến mất bí ẩn trong lòng biển Đại Tây Dương.
Một tháng sau, tại vùng biển Caribe, Hải quân Mỹ lại phát hiện một "vật thể lạ" khác di chuyển với vận tốc không tưởng là 370km/giờ.
Vật thể này chưa được giải thích rõ ràng thì Hải quân Mỹ tiếp tục "đụng độ" vật thể khác di chuyển dưới lòng nước sâu với vận tốc là 300km/giờ tại vùng biển gần "tam giác quỷ" Bermuda vào năm 1963. Điều đáng sợ là nó có thể ngoi lên và lặn xuống độ sâu 6.000m mà chỉ mất có vài phút.
Sau đó, các vật thể lạ này còn được phát hiện tại nhiều vùng biển khác nhau trên thế giới như Địa Trung Hải, Brazil, New Zealand... Chúng di chuyển với tốc độ gấp 3 lần tốc độ tàu ngầm tối tân nhất thế giới mà không gây tiếng động hay luồng bọt khí nào khiến cho giới quân sự trên toàn thế giới hoang mang, ngỡ ngàng. Họ gọi chúng là "những bóng ma của đại dương".
Những "bóng ma" này có liên quan gì tới những vụ mất tích liên tiếp của 4 tàu ngầm quân sự tối tân của Mỹ, Pháp, Israel và Liên Xô không?
Bốn vụ mất tích tàu ngầm chấn động năm 1968
1. Tàu ngầm Scorpion – Hải quân Mỹ
Ngày 22/5/1968, tàu ngầm Scorpion "niềm tự hào của Hải quân Mỹ" sau khi tuần tra ở vùng biển Bắc Đại Tây Dương đã đột ngột mất tích bí ẩn cùng với 99 người có mặt trên tàu Scorpion, trong đó có các lực lượng Hải quân Mỹ và nhóm các chuyên gia Liên Xô. Trước khi biến mất, con tàu được trang bị 2 quả ngư lôi chống ngầm Mark 45 và 1 lò phản ứng hạt nhân.Ngay sau đó, Mỹ ráo riết triển khai các chiến dịch tìm kiếm "niềm tự hào" của mình nhưng không có kết quả.
Ngày 5/6, sau gần 2 tuần nỗ lực tìm kiếm, Hải quân Mỹ buộc phải đưa ra thông báo, tàu USS Scorpion (SSN-589) mất tích. Nguyên nhân mất tích cho đến nay chưa được làm sáng tỏ.
Tháng 10 cùng năm, người ta tìm thấy mảnh vỡ của con tàu ngầm xấu số ở dưới đáy biển Đại Tây Dương ở độ sâu 3.000m, cách quần đảo Azores (thuộc Bồ Đào Nha) 740km về phía tây nam. Đây là một trong những thảm kịch đẫm máu nhất trong lịch sử quân sự Mỹ.

Tàu ngầm Scorpion, niềm tự hào của Hải quân Mỹ. (Ảnh: Wikipedia.)
Tuy nhiên, giả thuyết không có bằng chứng xác thực. Do đó, tàu ngầm Scorpion trở thành một trong những bí ẩn chưa có lời giải trong lịch sử quân sự Mỹ.
2. Tàu ngầm Minerve (S647) - Hải quân Pháp
Hạ thủy vào tháng 5/1958, sau 10 năm hoạt động, tàu ngầm lớp Daphné có tên Minerve (S647) của Pháp là một trong 4 tàu ngầm bị mất tích cùng trong năm 1968.
Tàu ngầm Minerve (S647).
Theo lịch trình, Minerve sẽ trở về căn cứ sau 1 giờ đồng hồ đi tuần, nhưng người ta đã không bao giờ nghe thấy tín hiệu của nó. Tất cả 52 người trên tàu, trong đó có 6 chuyên gia quân sự đã mất tích bí ẩn cùng con tàu ở độ sâu ước tính từ 1.000 đến 2.000m.
Hải quân Pháp lập tức điều động tàu sân bay Clemenceau và tàu SP-350 Denise, dưới sự chỉ huy của chuyên gia Jacques Cousteau, để tìm kiếm tàu ngầm Minerve nhưng không có kết quả.
2/2/1968, Hải quân Pháp dừng mọi công tác tìm kiếm và tuyên bố con tàu mất tích. Trên thực tế, Hải quân Pháp vẫn tiếp tục chiến dịch tìm kiếm Minerve vào năm 1969, nhưng cho đến nay, tung tích về con tàu vẫn là điều bí ẩn.
Cũng như sự mất tích tàu ngầm Scorpion của Mỹ, nhiều giả thuyết về nguyên nhân đã được đưa ra trong đó, người ta thiên về thời tiết xấu.
3. Tàu ngầm INS Dakar - Hải quân Israel
INS Dakar là tàu ngầm lớp T-class của Hải quân Hoàng gia Anh. Năm 1965, Israel đã mua lại và cho lặn thử nghiệm tại vùng biển Scotland.Ngày 9/1/1968, sau quá trình chạy lặn thử nghiệm, INS Dakar xuất cảng Scotland để trở về Israel. Tuy nhiên, nó đã mất tích bí ẩn trên đường trở về cùng với 69 người trong tàu.
Sau hơn 30 năm ráo riết tìm kiếm, truy lùng, không một mảnh vỡ hay dấu vết của con tàu được tìm thấy cho đến năm 1999.

Vùng biển (màu đỏ) tìm thấy xác tàu INS Dakar. (Ảnh: Google Map.)
4. Tàu ngầm K-129 - Hải quân Liên Xô
K-129 (1960) là chiếc tàu ngầm chạy bằng diezel được trang bị hiện đại, được Hải quân Liên Xô đưa vào sử dụng năm1960.
Tàu ngầm K-129 của Liên Xô.
Tuy nhiên, đến ngày 8/3/1968, không một tín hiệu liên lạc nào của con tàu được truyền về. Hải quân Liên Xô phát lệnh báo động và mở cuộc tìm kiếm trên diện rộng.
Tuy nhiên, mọi nỗ lực đều đi vào ngõ cụt khi không một mảnh vỡ nào của con tàu được tìm thấy. Cũng giống như "số phận" của 3 tàu ngầm kể trên, tàu ngầm của Liên Xô cũng mất tích bí ẩn.
Dù cho có được tìm thấy thì nguyên nhân khiến chúng bị đánh chìm đến nay vẫn chưa có lời giải chính xác.
Có nhiều báo cáo rằng, trước khi mất tích hay chìm sâu dưới lòng biển, người ta nhìn thấy những "bóng ma đại dương" lượn quanh 4 chiếc tàu ngầm rồi nhanh chóng biến mất.
Báo cáo này cũng không giúp ích được gì nhiều vì ngay cả "danh tính" của những "vật thể lạ" người ta cũng không thể xác định, nên "số phận" của những tàu ngầm tối tân đó cũng bị chôn vùi dưới lòng đại dương bí ẩn.





Nhận xét
Đăng nhận xét