CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 65

(ĐC sưu tầm trên NET)
  
Cái Kết Bi Thảm Của Đệ Nhất Mỹ Nhân Sài Gòn Xưa
  
Đệ Nhất Mỹ Nhân Sài Gòn Xưa Luyện Bùa Ngải Làm Tiêu Đời 10 Tỷ Phú || Tiểu Sử Cô Ba Trà
Đệ Nhất Mỹ Nhân Sài Gòn Xưa Luyện Bùa Ngải Làm Tiêu Đời 10 Tỷ Phú || Tiểu Sử Cô Ba Trà Ở đất Sài Gòn khoảng thời gian từ 1925 cho đến 1945 nổi lên bốn người phụ nữ được liệt vào hàng "tứ đại mỹ nhân" gồm có: Ba Trà, Tư Nhị, Sáu Hương và Lucie B. Một trong những người thuộc hàng "tứ đại mỹ nhân" này nổi trội nhất là cô Ba Trà. Ba Trà đã gián tiếp hoặc trực tiếp đẩy hàng chục những tay trọc phú, những tỷ phú đương thời vào con đường sa đọa, dẫn họ tới chỗ phá sản không thể nào hình dung được trong con mắt những người bình thường. Để làm được như vậy, đệ nhất mỹ nhân Sài Gòn Ba Trà không chỉ đơn thuần sử dụng nhan sắc khuynh đảo của mình, mà còn sang tận Xiêm La thỉnh bùa ngải. Mời quý vị cùng theo dõi nội dung giai thoại này nhé.

Số phận bi thảm của công chúa cuối cùng triều Minh

Là cô con gái duy nhất sống sót trong cơn cuồng loạn chém giết của Sùng Trinh, thế nhưng, chỉ hai năm sau khi thoát khỏi lưỡi kiếm tử thần của vua cha, Trường Bình công chúa đã chết trong sự đau thương, uất hận dù cô đang mang thai ở tháng thứ 5…

Một ngày mùa xuân năm Sùng Trinh thứ nhất, trong chốn thâm cung của Tử Cấm Thành vang lên tiếng khóc của trẻ con, phá tan không khí tĩnh lặng chốn cấm cung. Một phi tần trong hậu cung của Hoàng đế Sùng Trinh đã sinh cho ông vua thứ 17 nhà Minh một cô công chúa.

Vào lúc bấy giờ, Sùng Trinh mới chưa tới 20 tuổi, trong lòng vẫn ăm ắp “hùng tâm tráng chí”, cho rằng bản thân mình có thể thay đổi và cứu vãn được thế cục nhà Minh đang ngày một suy tàn, trở thành một Hoàng đế phục hưng nhà Minh, lưu danh sử sách.

Và hành động “phục hưng” đầu tiên của Sùng Trinh chính là hạ lệnh “giảm biên chế” những nhân viên thừa trong bộ máy cai trị của mình. Chính trong thời điểm cô công chúa nhỏ ra đời thì tại trạm dịch Ngân Xuyên, huyên Mễ Chi, Thiểm Tây có một người lính phục vụ trong trạm như bao nhiêu người khác đã bị thải loại theo lệnh cắt giảm biên chế của Sùng Trinh.

Cô công chúa nhỏ ngủ say trong sự bao bọc của những người bảo mẫu có lẽ không bao giờ biết rằng người lính bị “thôi việc” ở cách xa cô hàng ngàn dặm sau này lại trở thành người thay đổi toàn bộ cuộc đời cô. Người lính đó chính là Lý Tự Thành - thủ lĩnh nghĩa quân nông dân, người đã lật đổ sự thống trị của triều đại nhà Minh. Còn cô công chúa nhỏ đó tên là Trường Bình - cô công chúa duy nhất thoát khỏi lưỡi kiếm tàn nhẫn của vua cha.

Cho tới nay, người ta vẫn chưa thể biết được chính xác ai là mẹ ruột của Trường Bình công chúa. Trong truyền thuyết, công chúa Trường Bình chính là do Châu Hoàng hậu - vợ cả của Sùng Trinh - sinh ra.

Tuy nhiên, theo sử sách ghi chép thì Châu Hoàng hậu chỉ sinh một người con gái và đã qua đời từ rất sớm, được đặt thụy hiệu là Khôn Nghĩa công chúa. Hơn nữa, căn cứ theo thời gian mà Trường Bình công chúa ra đời thì Châu Hoàng hậu đang mang thai thái tử.

Vì vậy, có thể chắc chắn rằng, Châu Hoàng hậu không phải là mẹ đẻ của công chúa Trường Bình. Trên thực tế, người sinh Trường Bình là Thuận Phi. Tuy nhiên, sau khi sinh Trường Bình không được bao lâu thì Thuận Phi qua đời, Trường Bình công chúa được đưa về ở cùng với Châu Hoàng hậu để nuôi dưỡng. Chính vì vậy, sử sách và các truyền thuyết đều nói rằng Trường Bình là con gái của Châu Hoàng hậu.

Người ta thường nói Hoàng đế Sùng Trinh là một người kém may mắn. Mẹ của Sùng Trinh họ Lưu, vốn người ở Hải Châu, nay là Hải Thành, Liêu Ninh, sau đó được tuyển vào cung của Đông cung thái tử, trở thành thiếp của Thái tử Chu Thường Lạc tức Minh Quang Tông sau này. Không lâu sau khi vào cung, Lưu thị sinh ra Chu Do Kiệm, tức Sùng Trinh Hoàng đế.

Chu Thường Lạc tính tình quái dị, lại hay cáu giận, điên khùng. Vào năm Chu Do Kiệm lên 5 tuổi, Chu Thường Lạc lại bộc phát căn bệnh tâm thần của mình. Trong lần phát bệnh này, Chu Thường Lạc không phân phải trái trắng đen, cũng chẳng cần biết lý do, lôi Lưu thị ra đánh một trận cho tới khi chết.

Sau khi Lưu thị chết, Chu Thường Lạc cảm thấy rất ân hận. Tuy nhiên, cũng chẳng phải vì Chu Thường Lạc yêu thương Lưu thị hay xót con nhỏ không có người chăm bẵm mà vì sợ cha mình là Hoàng đế Vạn Lịch biết chuyện, nhân cơ hội phế truất ngôi thái tử của mình. Vì thế, Chu Thường Lạc đe dọa các thái giám hầu cận của mình, căn dặn chúng không được tiết lộ chuyện này ra bên ngoài, rồi nói dối rằng Lưu thị bị bệnh mà chết, dùng nghi lễ qua loa chôn cất Lưu thị.

Chu Do Kiệm lớn lên trong tình cảnh thiếu thốn sự chăm sóc của mẹ. Khi Chu Thường Lạc lên ngôi, tức Minh Quang Tông, Chu Do Kiệm được phong làm Tín Vương. Mẹ của Chu Do Kiệm, Lưu thị cũng được phong làm Hiền Phi. Mặc dù đã trở thành thân vương, song do mẹ mình chết không rõ nguyên do nên Chu Do Kiệm cũng không dám công khai đi tế lễ, chỉ dám âm thầm dò hỏi các thái giám về vị trí đặt mộ của mẹ mình rồi lấy tiền đưa cho bọn người hầu để chúng thay mình tới tế lễ tại mộ mẹ. Năm Chu Do Kiệm 17 tuổi, anh trai là Hy Tông Chu Do Hiệu chết sớm mà không có con trai đã đem ngôi báu truyền cho Chu Do Kiệm, tức Sùng Trinh Hoàng đế.

Xa Thi Mạn trong vai Trường Bình công chúa
Tới lúc này, Chu Do Kiệm mới dám công khai đường đường chính chính tới thắp hương tại mộ mẹ mình. Khi lên ngôi, Chu Do Kiệm phong cho mẹ mình làm Hiếu Thuần Thái hậu đồng thời chuyển mộ mẹ từ nơi xa xôi hẻo lánh ở Tây Sơn tới đặt cạnh lăng mộ của Quang Tông Chu Thường Lạc.

Người ta nói rằng, vì là người chứng kiến những ngày tháng bất hạnh của mẹ mình trong hậu cung của vua cha nên trong hậu cung của Sùng Trinh rất ít phi tần. Sùng Trinh tuy lên ngôi khi còn rất nhỏ tuổi nhưng rất coi trọng gia đình, quan hệ giữa ông ta và những người vợ của mình cũng rất thân thiết, hòa thuận.

Tới năm Sùng Trinh thứ 16, công chúa Trường Bình vừa tròn 16 tuổi, độ tuổi xuất gia theo chồng. Sùng Trinh rất yêu thương cô con gái của mình, nên dù công việc triều đình rất bận rộn, vẫn bỏ rất nhiều thời gian suy nghĩ và tìm kiếm phò mã cho Trường Bình. Người được chọn chính là Châu Thế Hiển.

Năm đó đáng ra là năm hạnh phúc nhất của Trường Bình công chúa, thế nhưng không may mắn cho cô công chúa này, nhà Minh đã tới lúc suy kiệt, cùng đường. Khi đám cưới của công chúa Trường Bình chưa kịp tổ chức thì cũng trong năm đó, người lính bị sa thải năm nào là Lý Tự Thành và Trương Hiến Trung nổi dậy. Hai cánh quân của Lý và Trương thế như vũ bão, đánh chiếm hết tòa thành này tới tòa thành khác, hết vùng đất này tới vùng đất khác.

Những người trong Tử Cấm Thành chỉ còn biết hàng ngày nghe ngóng tin chiến trận rồi sợ hãi, lo lắng rồi một ngày “bọn giặc cỏ” sẽ kéo vào kinh thành. Cũng chính vì thế, chẳng còn ai có tâm trạng đâu để nghĩ tới đám cưới của công chúa Trường Bình và Châu Thế Hiển. Hôn lễ cứ như vậy bị hoãn lại hết lần này tới lần khác. Cho tới tận khi Lý Tự Thành dẫn quân đánh vào Tử Cấm Thành, hôn lễ giữa hai người vẫn chưa được tổ chức.

Cũng giống với công chúa Trường Bình, do chuyện giặc giã nổi lên mà hôn nhân liên tục bị trì hoãn, đó chính là em trai của Trường Bình, thái tử Chu Từ Lãng. So với Trường Bình, Từ Lãng kém một tuổi, là con trai cả của Châu Hoàng hậu, sinh vào tháng 2 năm Sùng Trinh thứ 2. Khi Từ Lãng 14 tuổi, Sùng Trinh đã muốn chọn thái tử phi cho con trai của mình.

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh quốc gia khốn đốn vì “giặc giã” nên tới tận khi nước mất nhà tan, Sùng Trinh vẫn chưa chọn được vợ cho con trai mình. Ngày 4 tháng Giêng năm Sùng Trinh thứ 7, khí thế của nghĩa quân Lý Tự Thành ngày một lớn, Sùng Trinh đã ngửa cổ lên trời mà than rằng: “Nước mất thì vua chết”.

Ít lâu sau đó, Sùng Trinh nhận được tin Lý Tự Thành tự xưng là Hoàng đế, lấy hiệu là Đại Thuận, ý rằng mình là kẻ thuận theo thiên mệnh, diệt bỏ nhà Minh. Cùng vào thời điểm đó, Sùng Trinh cũng được thái giám báo rằng Hiếu lăng của Thái tổ Chu Nguyên Chương đặt tại Nam Kinh có điềm không lành: Cứ tới lúc nửa đêm, người ta lại nghe thấy tiếng khóc thê lương phát ra từ trong lăng mộ, những người trông giữ lăng đều vì thế mà sợ hãi, không dám tới gần lăng.

Tháng Giêng năm đó, Phượng Dương xảy ra động đất. Cùng trong tháng đó, Nam Kinh cũng có động đất. Bắc Kinh - kinh đô nhà Minh - xuất hiện hiện tượng “sao nhập nguyệt”. Cả nơi quê gốc cho tới nơi phát tích của nhà Minh đều xuất hiện những điềm báo xấu khiến Sùng Trinh cảm thấy tuyệt vọng vô cùng.

Lúc bấy giờ, ngân khố triều đình đã cạn kiệt, không còn cách nào khác, Sùng Trinh cho tập hợp các quan, đề nghị họ hiến tiền để sử dụng làm chi phí cho quân đội. Tuy nhiên, kết quả của lần “kêu gọi quyên góp” đó khiến Sùng Trinh càng thêm thất vọng. Tất cả những ông quan phát tài nhờ triều Minh nay nhất loạt kêu khổ.

Ngay cả người thân thiết bên họ ngoại là Điền Hoằng Ngộ khi Sùng Trinh nhiều lần thỉnh cầu cũng chỉ bỏ ra một vạng lạng bạc. Có thể nói, lúc bấy giờ, triều thần nhà Minh cũng không còn tin tưởng vào sự tồn tại của triều đại này nữa.

Tới ngày 16/3/1644, quân của Lý Tự Thành tấn công tấm bình phong cuối cùng của Bắc Kinh là Xương Bình. Chỉ hai ngày sau đó, ngày 18/3, thành Bắc Kinh bị phá. Lúc bấy giờ, Sùng Trinh cho gọi ba người con trai của mình tới trước mặt, bắt chúng thay quần áo cũ rồi sai thái giám đưa ra khỏi hoàng cung chạy trốn. Ba anh em họ Chu ra khỏi hoàng cung, việc đầu tiên nghĩ tới chính là chạy tới nhà ông ngoại của mình.

Ông ngoại của thái tử và Định Vương là Châu Khuê còn ông ngoại của Vĩnh Vương chính là Điền Hoằng Ngộ. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, cánh cổng nhà họ chu và họ Điền đều đóng im ỉm, từ chối trở thành nơi tị nạn cho những đứa cháu ngoại của mình. Những hoàng tử còn quá trẻ, chưa bao giờ biết cuộc sống bên ngoài ra sao, giờ bị những người họ ngoại của mình từ chối, chẳng còn biết chạy đi đâu. Kết quả, vài ngày sau đó, ngày 20/3, thì bị nghĩa quân của Lý Tự Thành bắt sống.

Thái tử Từ Lãng được Lý Tự Thành phong làm Tống Vương. Tuy nhiên, chỉ hai tháng sau đó, khi nhà Thanh dẫn quân tấn công Trung Nguyên, Lý Tự Thành dẫn quân chạy về phía Tây, trong chiến tranh hỗn loạn, không ai rõ số phận của những hoàng tử cuối cùng của triều Minh ra sao.

Ba vị hoàng tử không biết sống chết ra sao này sau đó thực sự trở thành một cơn ác mộng đối với nhà Thanh. Rất nhiều người chống lại nhà Thanh đều dùng danh nghĩa “Thái tử Đại Minh” để tập hợp dân chúng. Thậm chí có người còn giả làm thái tử hòng trục lợi. Tuy nhiên, họ sống chết ra sao thì chẳng ai biết.

Dẫu sao, các hoàng tử của Sùng Trinh cũng có cơ hội trốn ra bên ngoài, tránh được cái chết thảm khốc chứ không giống như những cô công chúa chân yếu tay mềm, không có khả năng “trả thù nước, báo thù nhà” bị Sùng Trinh lưu lại trong hậu cung. Trường Bình công chúa biết rằng sau khi ba người em của cô chạy trốn thì kết cục đang đợi cô ở phía trước. Quả thực, sau khi ra lệnh cho thái giám đưa ba hoàng tử ra khỏi hoàng cung, Sùng Trinh ra chiếu chỉ cuối cùng của mình, bắt buộc tất cả các hậu phi đều phải tự sát.

Sùng Trinh
Đêm hôm đó, Châu Hoàng hậu treo cổ tự sát, rất nhiều phi tần khác cũng tự sát theo. Nhiều phi tần không chịu tự sát cũng bị các thị vệ giết chết. Sau khi nhận được thông tin tự sát của các phi tần, Sùng Trinh tới Thọ Ninh cung - nơi ở của công chúa Trường Bình.

Khi đó, Trường Bình mới chỉ 16 tuổi, vẫn còn đang đợi gặp mặt vị phò mã Chu Thế Hiển của mình. Các em trai của mình có thể trốn ra khỏi cung nên Trường Bình cho rằng mình cũng có thể như vậy. Vì thế, khi Sùng Trinh tới nơi, Trường Bình công chúa kéo áo vua cha, xin hãy cho mình một con đường sống, cô không muốn chết như vậy.

Sùng Trinh lắc đầu nói: “Con à, vì sao con lại sinh ra trong nhà của ta?”. Câu nói vừa dứt thì Sùng Trinh vung kiếm chém xuống đầu Trường Bình. Do bản năng sinh tồn, Trường Bình đã cố gắng tránh khỏi thanh kiếm sắc lẹm của Sùng Trinh. Tuy nhiên, đường kiếm đi quá nhanh và mạnh, cánh tay trái của công chúa Trường Bình bị đứt lìa. Sau tiếng thét đau đớn, công chúa Trường Bình ngã xuống đất trong vũng máu lênh láng, không còn cảm thấy gì nữa.

Sùng Trinh thấy vậy, cho rằng Trường Bình đã chết nên không chém thêm một kiếm nữa, quay người tới cung của cô con gái thứ ba. Và cũng chỉ một đường kiếm, Sùng Trinh đã giết luôn đứa con gái mới lên 10 tuổi của mình. Sau này, khi nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên mới lấy nơi ở của cô công chúa thứ ba này đặt tên cho cô, gọi là Chiêu Nhân công chúa. Ngay trong ngày hôm sau, sau khi đã giết toàn bộ vợ và con gái của mình, Sùng Trinh treo cổ tự vẫn tại Môi Sơn. Thái giám cuối cùng còn ở lại bên Sùng Trinh khi đó là Vương Thừa Ân cũng tự vẫn theo chủ.

Hoàng đế tự vẫn, quân đội Lý Tự Thành kéo vào hoàng cung, trong cảnh hỗn loạn ấy, người ta không có thời gian để quan tâm tới thi thể của cô công chúa Trường Bình bất hạnh. Năm ngày sau đó, kỳ tích bỗng nhiên xuất hiện, Trường Bình công chúa tỉnh lại. Khi Trường Bình tỉnh lại thì thành Bắc Kinh đã là thiên hạ của Hoàng đế Đại Thuận Lý Tự Thành. Lý Tự Thành biết chuyện Trường Bình chết đi sống lại, cảm thấy đó là một chuyện rất lạ, vì vậy sai Lưu Tông Mẫn cứu chữa cho cô.

Lưu Tông Mẫn là một kẻ có tiếng độc ác và thích giết người lúc bấy giờ. Sau khi tiêu diệt nhà Minh, Lưu Tông Mẫn cho bắt toàn bộ các quan viên trong triều đình nhà Minh rồi dùng đủ hình thức tra tấn khủng khiếp nhất từ thời Đông Xưởng của Ngụy Trung Hiền để ép họ nói ra nơi cất giấu gia sản, tiền bạc. Mấy tháng trước khi Sùng Trinh xuống nước thỉnh cầu, không có bất cứ người nào chịu bỏ tiền ra, nay toàn bộ gia sản đều bị rơi vào tay của Lưu Tông Mẫn. Sau khi lấy được toàn bộ gia tài, Lưu Tông Mẫn ra lệnh giết toàn bộ những quan lại cũ của nhà Minh, một người cũng không tha.

Toàn bộ những người trong gia đình, họ hàng của họ cũng bị giết chết. Một kẻ nhẫn tâm và tàn ác như vậy, nay Lý Tự Thành lại giao cô công chúa vừa thoát khỏi địa ngục trở về vào tay y khiến nhiều người cảm thấy lo lắng. Tuy nhiên, may mắn cho Trường Bình công chúa, Lý Tự Thành không ở Bắc Kinh được lâu như người ta tưởng. Chỉ hai tháng sau, nhà Thanh đem quân tấn công vào Trung Nguyên, Lý Tự Thành vội vàng bỏ chạy, tới mức không kịp có thời gian nhớ tới Trường Bình công chúa và ba người em của cô.

Trong cảnh chiến loạn, ba người em của Trường Bình tiếp tục bỏ chạy để bảo toàn tính mạng. Vết thương trên người Trường Bình công chúa vẫn trong tình cảnh thập tử nhất sinh, không thể nào theo các em chạy trốn được, chỉ đành nằm trên giường bệnh nuốt nước mắt nhìn theo ba người em của mình.

Sau khi nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên, công chúa Trường Bình trở thành một vị khách đặc biệt của triều đình nhà Thanh. Để lấy lòng người Hán, Đa Nhĩ Cổn đã tổ chức lễ tế Sùng Trinh kéo dài tới ba ngày, phong cho Sùng Trinh là Hoài Tông Đoan Hoàng đế, sau đó lại đổi thành Trang Liệt Mẫn Hoàng đế. Đồng thời, Đa Nhĩ Cổn cũng cho đào quan tài của Châu Hoàng hậu lên, sau đó tổ chức lễ an táng theo đúng lễ nghi dành cho một hoàng hậu. Nhìn cha mẹ mình có thể mồ yên mả đẹp, dù là nước mất nhà tan, Trường Bình công chúa cũng cảm thấy được an ủi đôi phần.

Ngoài Trường Bình công chúa, còn có một người nữa may mắn thoát chết trong cơn cuồng loạn chém giết của Sùng Trinh, đó chính là Viên Quý phi. Lúc đó, theo lệnh của Sùng Trinh, Viên Quý phi cũng treo cổ tự vẫn. Tuy nhiên, dải dây lụa mà Viên thị dùng để tự vẫn bị đứt nên họ Viên không chết. Sau khi từ nơi ở của Trường Bình công chúa và Chiêu Nhân công chúa trở về, thấy Viên Quý phi vẫn còn sống, Sùng Trinh một lần nữa dùng kiếm chém nhiều nhát vào Viên Quý phi.

Viên thị bị thương nặng nhưng không chết, sau đó, cũng giống như Trường Bình công chúa mà tỉnh trở lại. Sau khi Hoàng đế Thuận Trị nhà Thanh vào Trung Nguyên đã tìm thấy Viên thị và nuôi dưỡng cho tới khi qua đời.

Thuận Trị năm thứ 2, con trai của Phúc Vương là Chu Do Tùng dấy binh chống lại nhà Thanh ở Nam Kinh, xưng là Hoằng Quang Đế. Sau đó, một người tự xưng là thái tử Từ Lãng tới gia nhập nghĩa quân của Chu Do Tùng. Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau đó, Chu Do Tùng tuyên bố người này không phải là thái tử Từ Lãng mà là kẻ giả mạo và bắt nhốt vào ngục tối.

Những điều tra sau đó của triều đình nhà Thanh chứng tỏ người đó không phải là thái tử Từ Lãng, tuy nhiên, lúc bấy giờ, Trường Bình công chúa không hề biết điều này. Nghe tin em trai của mình bị bắt và nhốt tại Nam Kinh, Trường Bình công chúa tuyệt vọng vô cùng, quyết định dâng thư lên Thuận Trị Hoàng đế và Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn xin được xuất gia làm ni cô, đoạn tuyệt với cuộc đời nhiễu nhương và nhiều bi kịch của mình.

Trường Bình công chúa trên phim
Do Trường Bình là công chúa trưởng của triều Minh, do vậy, để lấy lòng người Hán, nhà Thanh tuyệt đối không bao giờ chấp nhận thỉnh cầu xuất gia của Trường Bình. Không chỉ không đáp ứng thỉnh cầu xuất gia của Trường Bình, ngược lại, để làm nổi bật hành vi ngược đãi với thái tử của “tiên đế” Sùng Trinh của bọn Chu Do Tùng, Thuận Trị và Đa Nhĩ Cổn đã tổ chức cuộc kết hôn giữa Trường Bình công chúa và Chu Thế Hiển - vị phò mã đã được Sùng Trinh lựa chọn trước đây, đồng thời tặng cho Trường Bình xông chúa nhà cửa và rất nhiều vàng bạc, xe ngựa, ruộng đất.

Khi xông chúa Trường Bình nhận được chỉ dụ này, cảm thấy số phận mình quá nhỏ bé, bi thảm, khóc ròng suốt mấy hôm liền. Tuy nhiên, chiếu chỉ đã được ban ra, hôn lễ bắt buộc phải được thực hiện. Thuận Trị và Đa Nhĩ Cổn còn cố ý tổ chức hôn lễ thật hoành tráng để lấy lòng người dân Hán.

Vậy là sau hai năm, hôn lễ mà Trường Bình công chúa mơ ước ngày nào đã được tổ chức. Tuy nhiên, hôn lễ lần này lại là điều cô hoàn toàn không mong muốn. Hôn lễ càng tổ chức long trọng, nỗi đau trong lòng cô càng lớn.

Vài tháng sau khi kết hôn, triều Thanh dẫn quân đánh tan quân của Chu Do Tùng ở Nam Kinh, bắt sống Chu Do Tùng mang về Bắc Kinh xử tử. Lúc bấy giờ, công chúa Trường Bình mới nhận được tin rằng thái tử Từ Lãng bị Chu Do Tùng nhốt vào ngục quả thực là người giả mạo.

Thông tin này trở thành đòn đả kích cuối cùng đối với Trường Bình công chúa. Thông tin người em trai, dẫu là đang bị bắt nhốt vào ngục, là sự níu kéo cuối cùng của Trường Bình đối với cuộc sống, nay đã không còn. Vì vậy, chỉ vài tháng sau đó, Trường Bình công chúa đã chết trong sự dày vò, phẫn uất. Người ta nói rằng, vào thời điểm đó, Trường Bình công chúa đã có mang 5 tháng.


Những mộ cổ 'công chúa' mới phát lộ gây chấn động VN


Gần đây, việc phát hiện xác ướp, mộ của những hài cốt được cho là của các công chúa Việt Nam xưa cùng những câu chuyện ly kỳ liên quan được nhiều người quan tâm.
Xác ướp nàng công chúa 20 tuổi ở Ninh Hiệp
Tháng 9/2012, thông tin khai quật ngôi mộ xác ướp bí ẩn ở xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội, khiến nhiều người xôn xao. Anh Nguyễn Văn Tuyến - Trưởng ban văn hóa xã Ninh Hiệp là người chứng kiến từ đầu cuộc khai quật cho biết, ngôi mộ được phát hiện dưới nền nhà anh Nguyễn Như Trung. Trong quá trình  khởi công xây nhà, anh Trung phát hiện rất nhiều mồ mả ở dưới, trong đó có một ngôi mộ xây bằng bê tông nằm sâu dưới lòng đất 3m.
Khi nhờ thợ khoan cắt bê tông mở được nắp quan tài, ai nấy đều hãi hùng, tái mặt khi thấy bên trong là một thiếu nữ đang nằm ngủ, mái tóc xõa dài, cơ thể được bó bằng 5 lớp vải trắng toát, buộc rất chặt, thắt nơ hoa. Những tấm vải lụa còn mới, chưa mục nát. Khoảng nửa tiếng sau, lớp da chuyển sang màu thâm, phần da ở cổ phù ủng...
Nhung mo co 'cong chua' moi phat lo gay chan dong VN hinh anh 1
Cận cảnh xác ướp khai quật ở Ninh Hiệp.
Nhìn người trong quan tài, ai cũng đoán khoảng 20 tuổi chứ không phải người già chết. Trong quan tài có một vài thứ như túi đựng trầu cau, chiếc quạt, đôi hài, bím tóc, một túi vải như túi giấy bùa. Quan tài khô ráo, dưới đáy là gạo rang, vỏ trấu và than củi. Từ ngôi mộ xộc ra mùi hắc, sau nhiều ngày chưa hết, người dân đoán đây là chất ướp xác. Gia đình anh Trung phải đi mua cỗ áo quan để đặt “xác ướp”.
Bà Lộc, người tự nguyện trông nom ngôi mộ ở Ninh Hiệp đã gặp nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên ở Hải Dương hỏi thông tin về ngôi mộ. Ông Liên khẳng định, người nằm trong ngôi mộ là công chúa Lê Thị Mai Hoa đời nhà Lê, hiệu diệu Thái Thành công chúa, mất ngày 16 tháng 3 năm Thìn. Bà Lộc cho biết, sau ông Liên, 7 nhà nghiên cứu và ngoại cảm khác cũng khẳng định người nằm dưới mộ là công chúa Lê Thị Mai Hoa.
Cùng với sự xuất hiện của ngôi mộ cổ có xác ướp, nhiều câu chuyện ly kỳ được kể lại như: chuyện cây khế sai quả tỏa bóng mát, che cho ngôi nhà của công chúa, hoặc 12 tiểu sành chứa xương cốt người hầu của công chúa... Sau khi khai quật, người dân cũng đồn thổi, vợ anh Nguyễn Như Trung bị ốm đau bệnh tật suốt nhiều tháng trời, có người ăn trộm tấm ván mang đi bán rồi chết trẻ... Người dân ở đây đã xây mộ, thờ cúng dù chưa có sự công nhận chính thức nào.
Trong khi đó, nhà sử học Đặng Hùng cho biết: “Tôi đã nghiên cứu các tài liệu, song không phát hiện bất cứ cô công chúa thời Hậu Lê nào có tên là Lê Thị Mai Hoa, hiệu diệu Thái Thành công chúa, chết năm 20 tuổi”. Chủ tịch xã Ninh Hiệp Nguyễn Bá Khánh cũng cho biết: “Người nằm trong mộ có phải công chúa Mai Hoa hay không, thì tôi không dám chắc, vì chưa có cơ sở khoa học”.
Phát hiện mộ cổ công chúa Lý Kiều Oanh?
Vừa qua, khi gia đình anh Phạm Văn Nam, ở tiểu khu 6, phường Hải Thành, TP Đồng Hới, Quảng Bình trong lúc đào móng xây dựng nhà đã phát hiện một ngôi mộ cổ. Ngôi mộ được xây bằng gạch, tường rào hình chữ nhật và có tấm bia đá khắc 5 chữ Hán cổ, được dịch là “Lý Kiều Oanh công chúa” và một số mảnh gốm thuộc thời Minh (thế kỷ XIV – XV). Theo nhận định của các chuyên gia về sử học thì rất có thể đây là mộ của công chúa Lý Kiều Oanh.
Các chuyên gia và nhà nghiên cứu sử học cho rằng, chủ nhân ngôi mộ trên có liên quan đến nhân vật lịch sử Hồ Cưỡng - vị tướng vào cuối đời Trần, người được coi là vị Tổ đã có công sơ khai lập ấp ở vùng Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Ông cũng là vị tướng đã chống giặc nơi đây, tiêu biểu như trận đánh ở cửa sông Nhật Lệ, ở hồ Bàu Tró...
Nhung mo co 'cong chua' moi phat lo gay chan dong VN hinh anh 2
Ngôi mộ cổ được cho là mộ của "Lý Kiều Oanh Công chúa" được phát hiện dưới móng nhà anh Phạm Văn Nam.
Tuy nhiên, theo tiến sĩ Hán Nôm học Mai Hồng - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng Phật học Việt Nam thì “công chúa” là một hàm tước thời ấy được vua ban chứ không hẳn là con của vua. Còn ông Trần Anh Tuấn - Giám đốc Bảo tàng Quảng Bình lại phân tích, đây có lẽ là một sự nhầm lẫn nào đó chứ ngôi mộ của “công chúa” không thể táng một cách đơn giản như vậy được. Ông Tuấn đã theo dõi rất kỹ việc khai quật này và khẳng định đây là một ngôi mộ rất bình thường, phía trên lát gạch và các bên là vôi vữa.
“Mộ” công chúa Ngọc Hân ở Hà Nội
Từ lâu, trong dân gian vẫn lưu truyền sự tích đền Ghềnh gắn với số phận bi thương của công chúa Ngọc Hân. 16 tuổi, công chúa Lê Ngọc Hân, con gái của vua Lê Hiển Tông và Từ cung Nguyễn Thị Huyền kết duyên với Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải ngay tại kinh thành Thăng Long năm Bính Ngọ (ngày 11/7/1786). 
Ngọc Hân lên ngôi Bắc cung Hoàng hậu ở Phú Xuân (1789) nhưng chỉ hai năm sau, vua Quang Trung đột ngột ra đi, để lại cho Ngọc Hân bao nỗi xót xa đau đớn, cơ hàn vì sự trả thù của Nguyễn Ánh. Bà ở góa tám năm nuôi hai con nhỏ là Nguyễn Văn Ðức, Nguyễn Thị Ngọc và mất ngày 8 tháng 11 năm Kỷ Tỵ (4/12/1799) ở tuổi 29.
Năm 1804, bà Nguyễn Thị Huyền đã lặn lội vào tận Phú Xuân, tìm cách đưa hài cốt Ngọc Hân về an táng ở quê bà - làng Nành, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội) ngày 16/7/1804 tại bãi Cây Ðại đầu làng rồi lập miếu thờ.
Nhung mo co 'cong chua' moi phat lo gay chan dong VN hinh anh 3
Cổng đền Ghềnh.
Ðến đời Thiệu Trị, vua coi việc lập miếu thờ vợ Quang Trung là một trọng tội nên đã lệnh cho quan quân địa phương khai quật mộ mẹ con Ngọc Hân đổ hài cốt xuống sông. Vì sông Nguyệt Ðức gần làng, họ phải đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân đổ xuống sông Hồng, cách xa làng Nành. Ðó là quãng sông thuộc địa phận làng Ái Mộ.
Thương xót Bắc cung Hoàng hậu tài hoa bạc mệnh, nhân dân Ái Mộ lập miếu thờ bà chính nơi bờ sông vớt được hài cốt. Dòng sông bên lở, bên bồi; ít lâu sau, ngôi miếu nhỏ cũng bị lũ cuốn trôi. Cho đến năm 1858, cụ Ðặng Thị Bản vốn là người nhân từ đã hằng tâm công đức để tôn tạo đền chùa ở Ái Mộ, Lâm Du, Phú. Cụ quyên tiền khách thập phương và đứng ra xây lại ngôi đền. Ðể bảo vệ đền, không cho quan quân nhà Nguyễn đập phá, nhân dân dùng hình thức "thờ các chư vị", nhưng thực ra là thờ Ngọc Hân.
Năm 1872, đền lại bị giặc Pháp đốt sạch trong cơn binh lửa đánh Thành Hà Nội. Thêm một lần nữa, cụ Ðặng Thị Bản lại đi quyên góp xây lại đền khang trang hơn trước. Đó là ngôi đền Ghềnh, thuộc thôn Ái Mộ, phường Bồ Ðề, quận Long Biên, bên cầu Chương Dương. Như vậy, trải qua bao thăng trầm, đền Ghềnh vẫn được con cháu cụ Ðặng Thị Bản trông nom và dân làng gìn giữ đến ngày nay.
Theo Kiến Thức
Theo Kiến Thức

Đệ nhất mỹ nhân đầu tiên của Sài Gòn và cái kết bi thảm

"Cô Ba xà bông" là người đầu tiên đăng quang hoa hậu của Sài Gòn 150 năm trước, được in hình lên tem và là đại diện thương hiệu cho một hãng mỹ phẩm.

Cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn, năm 1865, có tên gọi Miss Sài Gòn. Không giới hạn trong phạm vi "Hòn ngọc Viễn Đông", cuộc thi còn cho phép những mỹ nhân từ các vùng phụ cận tham dự.
Cuối cùng, vượt qua gần 100 cô gái, vương miện Hoa hậu thuộc về cô Ba Thiệu, còn được biết với tên "cô Ba xà bông", con thầy Thông Chánh, quê gốc Trà Vinh.
de-nhat-my-nhan-dau-tien-cua-sai-gon-va-cai-ket-bi-tham
Người được cho là cô Ba Thiệu, hoa hậu đầu tiên của Sài Gòn. Ảnh: Poujade de Ladevèze
Trước vẻ mỹ miều của cô Ba, nhiều người Pháp đã đề nghị cô chụp ảnh để đăng báo ở chính quốc. Họ rất muốn chụp cô trong trang phục áo tắm nhưng cô không đồng ý. Chân dung cô sau đó được vẽ rồi in thành tem với số lượng phát hành lớn chưa từng có ở Đông Dương. Cô là phụ nữ đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện trên con tem.
Trong cuốn Sài Gòn năm xưa học giả Vương Hồng Sển cho rằng trong giới huê khôi mà ông được kể lại vào thời Pháp mới đến thì cô Ba Thiệu đẹp không ai bì. "Cô đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực cao su nhân tạo. Tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng. Đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi nhà nước in hình vào con tem Bưu điện", học giả viết.
Là hoa hậu nhưng cô Ba sống bình dị, chân chất của một gái quê. Sau khi đoạt vương miện, cô bỏ lại ánh hào quang phù phiếm, không bị ảnh hưởng bởi lối sống ngoại lai. Một thời gian sau, Ba Thiệu lấy chồng.
Sau Ba Thiệu, Sài Gòn cũng nổi lên nhiều mỹ nhân tiếng tăm như Ba Trà, Tư Nhị, Sáu Hương… làm si mê bao công tử, đại gia không chỉ Sài Gòn mà cả Nam Bộ xưa. Các cô này được cho là ăn chơi phóng khoáng, cặp kè hết người này đến người khác. Họ ăn mặc sang trọng, ngày rong chơi, đêm đi nhảy đầm, đánh bạc bằng tiền những người tình đại gia cung phụng. Nhiều người tán gia bạn sản vì theo các cô, trong đó nổi tiếng nhất là Hắc, Bạch công tử của miền Tây.
Với Ba Thiệu, nếp sống này không phù hợp. Do xuất thân từ một gia đình gia giáo nên cô được dạy dỗ từ tấm bé, biết giữ ý tứ, truyền thống và văn hóa bản địa. 
de-nhat-my-nhan-dau-tien-cua-sai-gon-va-cai-ket-bi-tham-1
Hình cô Ba được in lên con tem ở Đông Dương. Ảnh: Tư liệu
Tuy nhiên, cuộc đời hoa hậu đầu tiên của Sài Gòn không được yên bình. Mẹ cô dù lớn tuổi nhưng nhan sắc mặn mòi, bị tên biện lý người Pháp Jaboin ỷ thế làm càn, thường xuyên theo đuổi rồi đưa ra những lời tán tỉnh, trêu ghẹo. Thầy Thông Chánh, cha cô Ba, không chịu được cảnh đó nên một lần đã rút súng bắn chết Jaboin.
Trong Truyện thơ Thầy Thông Chánh do một tác giả khuyết danh ở Trà Vinh sáng tác rồi truyền miệng rộng rãi ở miền Tây, cha cô Ba bắn tên biện lý vào ngày quốc khánh nước Pháp. Thầy Thông Chánh sau đó bị chính quyền Pháp xử tử. Cô Ba Thiệu bị bắt giam rồi tự tử chết.
Nhưng cuốn Hỏi đáp về Sài Gòn – TP HCM của nhiều tác giả xuất bản năm 2006 lại cho rằng, cô Ba mới là người cầm súng bắn chết tên biện lý Jaboin. Cô bị Tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19/6/1893 rồi xử tử ngày 18/1/1894 tại Trà Vinh. Người đẹp lừng lẫy của Sài Gòn xưa dù theo tài liệu nào cũng có một cái kết buồn thảm.
Trong cuốn Sài Gòn tạp pín lù, học giả Vương Hồng Sển nói hình ảnh của cô Ba sau này được hiệu buôn xà bông của ông Trương Văn Bền sử dụng làm người mẫu trên các sản phẩm bán ra thị trường. Hàng bán rất chạy và được hầu hết người Việt mua sử dụng. Cô Ba thành "người mẫu" đầu tiên gắn liền với một thương hiệu Việt. Loại xà bông trong nước này đã đánh bật sự độc quyền của Hãng xà bông Marseille của Pháp thời đó.
de-nhat-my-nhan-dau-tien-cua-sai-gon-va-cai-ket-bi-tham-2
Thương hiệu xà bông, nước hoa... của ông Trương Văn Bền được cho lấy cô Ba Thiệu làm đại diện hình ảnh. Ảnh: Tư liệu
Cũng có một số tài liệu khác cho rằng hình người phụ nữ trên miếng xà bông không phải là cô Ba Thiệu mà là cô Ba có tên Trà, vợ của ông Trương Văn Bền. Nhưng với nhiều người Sài Gòn xưa, nhắc đến "xà bông cô Ba" là họ nghĩ ngay đến cô Ba con thầy Thông Chánh - người phụ nữ đầu tiên của Sài Gòn đăng quang hoa hậu.
Sơn Hòa

Cô Ba Trà – ‘Đệ nhất mỹ nhân’ chơi ngải kinh hoàng nhất miền Nam, người khiến Công Tử Bạc Liêu tán gia bại sản!

T6, 12 / 2017 22:41 | ngoc
Ba Trà – hay còn gọi là Trần Ngọc Trà sinh năm 1906.
Cô là một trong những phụ nữ nổi tiếng nhất Nam Kỳ được xem là “Đệ nhất mỹ nhân Sài Gòn xưa” mà 2 thiếu gia lừng danh Lục tỉnh là Hắc công tử và Bạch công tử đã đốt tiền để thi xem ai nấu sôi nồi chè đậu xanh trước. Vẻ đẹp của bà đã đi vào trong thơ văn và được in lên một con tem với tên gọi Cô Ba.

Tên tiếng Pháp là Yvette do cô Ba Trà tự đặt ra khi đi xem chiếu bóng, nhân thấy cô đào Yvette rất đẹp, nên cô lấy chữ ấy ghép vào tên mình là “Yvette Trà”
Thời ấy có bốn người đàn ông mê mẩn nhan sắc quyến rũ của Ba Trà, đó là vua cờ bạc Sáu Ngọ, bạch công tử, ông đốc phủ B, xứ Trà Vinh và một ông nữa vốn là Phó giám đốc ngân hàng Pháp Á, chi nhánh tại Cần Thơ gọi là ông trọc phú Lâm. Như đã nói lúc đầu, Ba Trà trước khi được những trọc phú và những tay chơi khét tiếng này say đắm thì cô đã có một đời chồng Tây, một đời chồng Ta lai tàu ở tận xứ Phan Thiết, và một lô ông hội đồng, ông trọc phú ở các tỉnh miền Tây Nam bộ. Theo thống kê sơ bộ của những người am hiểu về Ba Trà thời ấy thì cùng một lúc Ba Trà có đến một chục đủ đầu (mười hai người) đàn ông ở dưới tay mình. Người nào cũng giàu có và lúc nào cũng sẵn sàng cung phụng cho cô Ba tiền của ăn chơi thỏa thích.

Cô Ba Trà thời xưa
Ba Trà có một cái thú tiêu khiển rất đàn bà, đó là mê hột xoàn (kim cương), cho nên mỗi lần vua cờ bạc Sáu Ngọ hoặc Hắc bạch công tử dẫn nàng đi lên lầu của thương xá Tax (góc Nguyễn Huệ và Lê Lợi ngày nay) hoặc là tới cửa hiệu Alphana Kim Thịnh, cô nàng mặc sức chỉ dây kim cương nào trong tủ kính, thì y như rằng các tay chơi kia đều gật đầu đồng ý cái rụp, để rồi xỉa rèn rẹt những tờ giấy Cent (tờ giấy một trăm Đông Dương) ra trả mà không cần thắc mắc. Được chiều chuộng dễ dàng như vậy cho nên Ba Trà tha hồ mua sắm. Nhưng khổ nỗi với những món quà tặng ưu ái và đắt tiền như vậy, nếu cô Ba biết dành dụm cất giữ để làm của riêng thì giàu sang biết mấy. Nhưng bên đó Ba Trà cũng phát sinh ra một cơn nghiện khác nguy hiểm hơn nhiều đó là nghiện nàng tiên nâu, tức á phiện.
Tiền Đông Dương ngày xưa
Hầu hết những tay chơi thời ấy đều làm bạn với nàng tiên nâu theo một cái mốt thời ấy gọi là mốt ăn chơi thời thượng. Cô Ba Trà đã bị lây cái bệnh gọi là mốt thời thượng ấy. Cho nên hầu như ngày nào cô cũng đi theo những tay trọc phú ấy tới những động của ả phù dung, để rồi cầm ống hút hít ro ro, mắt lờ đờ nhìn theo những cuộn khói trắng như dung nhan của nàng tiên nâu… Ba Trà lúc đầu chỉ hút vì ham vui rồi dần dần bị nghiện, để rồi nếu ngày nào đúng giờ đúng giấc mà không có khói thuốc thì không chịu nổi, và bắt đầu lệ thuộc nặng vào nó. Bởi vậy khi cùng đi với các tay tình nhân ăn chơi trác táng nổi danh kia thì họ bao cho hút. Lúc vắng họ thì chính cô Ba đã tự sắm ống hút đem về nhà đặt trong phòng riêng, và mua những hộp thuốc phiện đắt như vàng đem về nhà tự thả hồn theo mây khói.
Dần dần Ba Trà thành bạn tri kỷ hay nói đúng hơn là một thứ nô lệ của nàng tiên nâu. Để rồi những chiếc nhẫn kim cương, những chiếc vòng ngọc thạch và những món trang sức đắt tiền được các tay chơi ưu ái tặng cũng đã bay theo khói thuốc. Ba Trà đã thẳng thừng tuyên bố rằng của thiên trả địa, mà có được của ông trời để trả cho ông đất đã là quý rồi cần chi thắc mắc! Hậu quả là một năm sau, tức tính từ chuyến đi qua Xiêm để thỉnh ngải về, và được đồn thổi là nhờ ngải cho nên các đại gia càng ngày càng mê Ba Trà, thì cũng là lúc Ba Trà xính vính với những hiện tượng mà chính cô cho rằng đã bị ngải hành!

Có lần Ba Trà thú thật với vài người tâm phúc, khi thỉnh ngải và cho ngải xâm nhập vào cơ thể, thì ông thầy ngải xứ Xiêm La đã đưa ra những điều răn đe rất nghiêm khắc rằng: Đã chuộc ngải vào thân rồi thì không được làm cho cơ thể ô uế, không được để cho đàn ông hành hạ thân xác, không được ăn uống những thứ thịt thà cấm kị, như thịt trâu, thịt rắn, thịt rùa, thịt chó. Và nhất là không được uống huyết tươi, không được chui qua sào quần áo, không được bước dưới những nơi mà trên đầu có chất ô uế như cầu tiêu, cầu tiểu… Nhưng làm sao cô Ba tránh được những thứ đó, khi cô có trong tay hàng chục người đàn ông lúc nào cũng muốn được hưởng cơn đam mê từ thể xác cô. Mà họ thì đâu phải ái ân một cách bình thường. Rồi sau những cuộc nhậu bí tỉ, sau những cơn say thuốc tơi bời thì Ba Trà hầu như lúc nào cũng vùi đầu vào những buổi tiệc thâu đêm suốt sớm.
Bởi vậy Ba Trà lại phải quay sang Xiêm lần thứ hai.
Trong chuyến đi này, cô Ba đã được ông hoàng Luang Pradit chiều chuộng như khách quý. Còn cho cả người đi theo trả tiền cho mọi chi phí của cô.
Trở lại việc chuộc ngải Xiêm, cô tìm gặp vị sư cũ, giải bày cặn kẽ ý muốn của cô. Cô làm lễ chỉ cột tay cho thầy một sợi tim đèn bằng vải, có quấn một khoang vàng y, trị giá chừng 30 đồng bạc. Vị thầy này dẫn cô ra mắt vị tổ sư của ông ta.
Tổ sư là một người dị tướng. Không mắc bệnh cùi mà hai bàn tay và mười ngón chân đều rụng trụi lủi vì bị ngải quá mạnh ăn mòn các ngón tay, chân.
Sau khi biết ý định của cô, sư bắt đầu làm phép. Sư dẫn cô lạy trước bàn thờ tổ, rồi thoát y múa trước bàn thờ. Sau đó sư trao cho cô đủ số ngải cần thiết, và cho đệ tử chính là ông thầy ngải mà cô gặp đầu tiên cùng cô đi về Việt Nam để luyện ngải đến hoàn thành.
Việc đưa ông thầy ngải về Việt Nam với cô cũng không khó khăn gì, tất cả thủ tục đều do anh Trí lo. Chính anh đích thân lấy xe đưa cô về biên giới Xiêm – Miên. Về tới Sài Gòn, cô tá túc trong nhà đầy tớ gái trung thành, nằm trong một con hẻm.
Hàng ngày cô đóng kín cửa để luyện ngải. Ông thầy ngải hướng dẩn cô thoát y, ăn chay nằm đất đủ bảy ngày bảy đêm. Mỗi đêm ông thầy ấy bảo cô lại quỳ trước bàn tổ do ông mới lập ra, ông đọc thần chú lâm râm, ông này cầm nhang đang cháy vẽ bùa trước mặt cô thổi ba hồi dài.
Ma lực của ngải cực mạnh, cô đang khỏa thân quỳ trước bàn tổ, hoàn toàn tỉnh táo nhưng khi thầy thổi nhang vào mặt, tự nhiên cô chóng mặt, rồi khuỵu xuống, một lúc sau mới tỉnh dậy.
Đúng ra là sau lần chính thức chuộc ngải ấy để cầu cứu ông thầy ngải Xiêm, và đến lúc ấy nàng ta mới nghe được một chuyện rùng mình: Ông thầy ngải cho biết là mối tình Vọng Các của cô đã bắt đầu ghen tuông và đã cho người tìm về tận Sài Gòn để truy tìm cô, ngăn chặn không cho cô rơi vào vòng tay của những người đàn ông khác.

Điều này thì làm sao được đối với một người như Ba Trà, cho nên cô đã hỏi thẳng ông thầy ngải rằng: Liệu có cách nào để cô thoát được người tình Vọng Các kia hay không, thì ông thầy này lắc đầu than thở: “Cô nên nhớ rằng đàn ông Xiêm họ chơi bùa ngải gấp chục lần cô, cho nên cô liệu mà tìm cách đối phó. Tốt hơn hết là cô nên xa rời những người đàn ông bên xứ cô đi…”
Lời khuyên ấy chẳng khác nào bản án tử đối với Ba Trà, cho nên cô lẳng lặng bỏ xứ Xiêm trở về nước, và toan tính một cách cho ổn thỏa: Cô lơi dần những mối tình thâu đêm suốt sáng để chỉ giữ lại bên cạnh những mối tình lớn, tức là những người đàn ông có thế lực và tiền của dồi dào hơn, để cung phụng cho cô tiếp tục cuộc sống… Ba Trà thời ấy có hai cái thứ nghiện khá nặng: Nghiện thứ nhất là nghiện đàn ông và cái nghiện thứ hai là nghiện thuốc phiện.
Nhưng có một cái nghiện thứ ba âm thầm lặng lẽ, vô hình mà cô không ngờ tới đó là bị bùa ngải hành! Theo lời thú nhận của Ba Trà sau này thì trước kia không có nhưng kể từ lúc đi Xiêm La về, thì cô phát hiện ra là mỗi lần cô bị những tay đàn ông vùi dập thân thể với đủ cách theo kiểu phương Tây, thì y như rằng cô như bị một cơn bệnh gì đó hành hạ đến chết đi sống lại. Cô Ba Trà quyết định về Cần Thơ bên người tình họ Lâm, đang làm Phó giám độc một ngân hàng tại Tây Đô xứ Cần Thơ để… ẩn dật.
Và có lẽ đây là một bước ngoặc lớn nhất trong đời Ba Trà, và cả cho anh chàng họ Lâm tội nghiệp kia : Khi Ba Trà bám riết anh chàng và định quy ẩn luôn ở xứ Cần Thơ, thì vua cờ bạc Sáu Ngọ, rồi Bạch công tử và hàng tá những tay tình nhân khác đều truy ra và mò tận nơi để thực hiện nhiều cuộc ghen tuông long trời lở đất ở xứ Tây Đô ấy. Và vòng luẩn quẩn đã ứng đúng ngải theo cô không rời…
Nhưng cũng không nguy hiểm bằng một mối nguy khác đến từ xứ Xiêm La. Nghe nói khi cô Ba Trà phát hiện ra những người đàn ông lạ với nước da lạ, nói chuyện giọng lạ thì cũng đã trễ rồi. Bởi đó chính là tay chân, thủ hạ của người tình Vọng Các từ nước Xiêm La phái tới để truy tìm cô. Ba Trà chẳng còn cách nào hơn nên bàn với người tình họ Lâm tìm cách đưa cô về Rạch Giá, thậm chí về luôn xứ Hà Tiên xa xôi để tránh mối họa mà cô đã “đánh hơi” được là nó đã kéo sầm sập tới rồi.
Tội nghiệp người tình họ Lâm kia vốn thương Ba Trà hết lòng cho nên nghe theo. Ông trở về Rạch Giá trước và theo kế hoạch là sẽ đón Ba Trà về đó để sinh sống, coi như một cách để dứt hẳn Ba Trà ra chốn ăn chơi ở Sài thành kia. Ông ta đã cho xây một “biệt điện” tại một ngôi làng nhỏ, trên con đường tỉnh lộ từ Rạch Giá đi Hà Tiên vào khoảng những năm đầu của thập niên bốn mươi (năm 1940).
Ở đoạn đường vắng giữa Rạch Giá và Hà Tiên mọc lên một ngôi nhà ngói loại thật to đã khiến cho nhiều người ngạc nhiên bàn tán xôn xao. Đầu tiên người ta cứ ngỡ ngôi nhà đó là của một tay quan Pháp nào đó, hoặc ít ra cũng là một tay có thế lực trùm thời ấy mới xây nổi như vậy. Nếu mọi người hiểu rằng họ Lâm xây ngôi nhà hoành tráng ấy chỉ để làm chốn hưởng nhàn, hưởng lạc với một hoa khôi xứ Sài thành thì sẽ ngạc nhiên không ít.
Ngôi nhà xây xong thì xảy ra cuộc chiến tranh của toàn dân chống thực dân Pháp, cho nên con đường tỉnh lộ từ Rạch Giá đi Hà Tiên cũng bắt đầu bất ổn. Tuy nhiên không phải bởi sự bất ổn do tình hình chiến sự, mà bỗng dưng ngôi biệt điện ấy bị bỏ trống nhiều ngày không thấy khánh thành, khai trương. Mà sự vắng chủ lại do một nguyên nhân kỳ bí khác mà sau này thiên hạ mới biết…
Trốn chạy bùa ngải về Tây Đô
Lúc đầu Ba Trà không nghĩ tới đó là cơn hành của bùa ngải gì đâu, mà chỉ nghĩ do cô nghiện á phiện cho nên thân xác mới bị như thế. Nhưng dần dần thì cô bắt đầu hiểu ra… cho nên cô quyết chấm dứt những cuộc tình nóng bỏng ở Sài thành hoa lệ, rồi lén về Tây Đô, xứ Cần Thơ, nơi người tình họ Lâm đang làm Phó giám đốc ngân hàng của Pháp, với mục đích là chỉ bám duy nhất cái anh này thôi. Bởi dẫu sao anh ta cũng là người trí thức và có cuộc sống lành mạnh, đàng hoàng, nên có lẽ nhờ thế mà cô sẽ không phải chiều chuộng những cơn ái ân, trụy lạc quá trớn của những tay kia…
Túng tiền, chia tay người yêu trẻ để cặp với bồ già
Chán những công tử lắm tiền, cô Ba Trà chọn một người tình tên Thìn, trở lại nghề thông ngôn tòa án, nhưng làm không được bao lâu đã bị mất việc và vướng vòng lao lý. Do bị chủ nợ níu áo, cô Ba Trà đã liều lĩnh phá niêm phong lấy bán những tài sản đã bị niêm phong chờ phát mãi. Chuyện phá niêm phong bán tài sản bị lộ, Thìn phải đứng ra nhận tội đoạt tài sản. Trong hoàn cảnh bối rối này, một vị quan tòa đứng ra giúp đỡ, kiếm cớ tuyên án tha bổng Thìn, gây cái ơn khó trả.
Trong hoàn cảnh thiếu thốn đó, cô Ba Trà quay về đường cũ, với bóng sắc của mình cô cặp bồ với vài người có địa vị, tiền bạc, trong số đó có ông Tòa áo đỏ, tên Trần Văn Tỷ. Ông Tỷ là bạn thân với luật sư Dương Văn Giáo (người đã từng giới hiệu cô Ba Trà với ông Hoàng Thái Lan).
Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), Pháp huy động một lực lớn thanh niên miền Nam sang Pháp làm lính thợ phục vụ cho guồng máy chiến tranh. Hệ quả việc này đã phát sinh một thế hệ công chức cao cấp xuất phát từ công chức sơ cấp học thức không cao. Nguyên một số công chức cấp thấp này đã tình nguyện sang Pháp làm thông ngôn cho đạo binh lính thợ Việt Nam tại Pháp và các chiến trường châu Âu.
Khi Pháp thắng trận, các viên thông ngôn ấy được cho vào học trưởng đào tạo công chức cao cấp mà được miễn tú tài, trong số đó có các ông Dương Văn Giáo, học trường chính trị, làm trạng sư ở Sài Gòn; Nguyễn Xuân Giác, Nguyễn Xuân Quang, đều về làm quan tòa án Sài Gòn; Dương Văn Mai, về làm chưởng lý ở Sài Gòn rồi xuống ở Long Xuyên; Phạm Văn Còn, trước học trường Sư phạm Hà nội, qua Pháp, trở về làm hiệu trưởng trường Petrus Ký…
Trong đó ông Tỷ trước làm thư ký tòa bố (dinh tỉnh trưởng) Bạc Liêu, qua Pháp học trường chính trị và làm tòa áo đỏ (tòa đại hình, cấp xét xử cao nhất thời đó) ở Sài Gòn. Ông Tỷ đã nhập quốc tịch Pháp và có vợ chính thức người Pháp. Vị thế của con người đầy quyền lực với cuộc sống xa hoa là mồi câu nhử đàn bà đẹp. Trước cô Ba, ông Tỷ tuy có vợ, vẫn còn ăn ở với một con đại điền chủ họ Huỳnh (Hoàng), quê ở Trà Ôn
Đang lúc cô Ba Trà ngặt nghèo về tiền bạc, ông tòa Tỷ sẳn sàng bao cấp, rồi cung phụng cho cô đầy đủ và còn dùng quyền thế tha tội cho anh Thìn không phải ở tù vì hành vi sang đoạt tài sản. Trong cảnh ấy, Thìn đành chịu lép vế, tự rút lui, trả tự do cho cô Ba sang Pháp kiếm đường ăn học.
Học giả Vương Hồng Sển đã khen tặng và thương xót cho Thìn như sau: “Chỉ làm khổ cho Thìn, là người có khí tiết, đâu chịu cảnh giã chày đôi? Bọn đàn ông chúng tôi cũng lắm kẻ hèn đốn, khi mất ghế vẫn ăn bám những đàn bà nạ dòng động cỡn; nhưng cũng không thiếu người như Thìn, bình phong tuy rách, cốt cách vẫn còn. Thìn ở trong giới nho phong lễ giáo xuất thân, đâu chịu làm ma cô.
Quan tòa bắt bén, mượn cớ đến thăm Trà, đã mấy phen đụng đầu Thìn. Không chịu cảnh nhục nhã để cho vợ nói chuyện với “mèo” trong nhà, Thìn bỏ nhà ra đi. Thìn chịu thua người quyền thế, nhưng máu hiên ngang vẫn sôi nóng, Thìn thề quyết sang Pháp học thêm, sẽ trở về; nhưng từ ấy bặt tin, còn mất chẳng ai hay”. Cuộc đổ vỡ bắt đầu từ đây. Từ khi thôi nhau với Thìn, Ba trà xuống dốc, mặc cho “hoa trôi nước chảy”.
Ông tòa Tỷ đem Cô Ba Trà về sống chung ở nhà riêng trên đường Testard (đường Võ Văn Tần ngày nay). Cô Ba Trà vẫn bài bạc, lên xuống các sòng me Sáu Ngọ, Búa Lồ, báo hại quan tòa phải theo làm hộ vệ trong lúc còn mê nhan sắc nàng, và vẫn xuất tiền nhà trả nợ thua bài.
Vương Hồng Sển vừa chê trách vừa thương hại cho ông tòa Tỷ vốn là người không xa lạ với ông: “Ông kể ra là người khá, giúp ích cũng nhiều, duy hiếu sắc và ăn ở quá theo Tây, trước có vợ đầm, sau lấy cô Ba Trà, rồi lấy cô Bảy Trà Ôn, đều là vợ của người khác.
Đạo đức bỏ trôi sông biển, chơi cho phỉ sức người nắm quyền trong tay, nhưng phải tật hiếu sắc và cướp đoạt hoa có chủ, không sợ gai đâm. Ngoài ra, phận sự nơi tòa, ông lo tròn, thêm có khả năng, các quan Tây mến phục nên nhắm mắt việc đời tư, ông về hưu với tiếng tốt. Vào khoảng năm 1927, kẻ viết bài này nhiều hôm gặp ông, khi mặc áo ngủ pyjama, khi khác theo dõi cô Ba leo thang lầu cao lâu tửu điếm Chợ Lớn trong khi cô đi với bồ trên lầu đi xuống”.
Cô Ba Trà chính thức ăn ở với ông tòa Tỷ như vợ chồng. Một hai năm đầu cũng tình nghĩa mặn nồng. Cô Ba Trà không phải là người chung tình. Những ai quen biết, từng là bồ bịch, ăn ở như vợ chồng với cô đều xác nhận điều đó. Các cuộc chung sống với bất cứ ai cũng không kéo dài, vì cô ăn xài quá lớn, núi cũng lở. Sau già hai năm, ông tòa Tỷ cũng đành chia tay với cô.
Tháng ngày vất vưởng, bán chuyện đời tư, van xin người cũ
Về đoạn cuối cuộc đời cô Ba Trà, cụ Vương Hồng Sển kể lại với tư cách một người trong cuộc, một người ái mộ và là người giúp đỡ cho cô trong những năm tháng cuối đời:
“Bỗng mấy chục năm sau, y như giấc chiêm bao, cô Ba Trà và tôi tình cờ gặp lại nơi sòng tài xỉu ở Đại Thế Giới sau trận phong ba. Tôi thì đầu đã điểm sương nhưng rắn rỏi, già dặn. Cô Ba thì mất phong độ năm nào, nhưng sau khi tay bắt mặt mừng, cô hỏi nhỏ: – Anh thấy nhan sắc tôi kém hơn trước ra sao?/ Tôi đáp tỉnh bơ:
– Đối với tôi, tôi chỉ biết cô là người như hình chụp treo trong tủ kiếng của “photo Khánh Ký” đường Bonard (đường Nguyễn Huệ ngày nay). Lúc tôi còn học trường Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn ngày nay), mặc dù trời mưa gió, chủ nhật nào tôi cũng phải ra trường, đến ngắm tiên dung, rồi mới trở về trường ăn ngủ được, và đã khiến tôi thành… thi sĩ.
Nhờ câu ấy cô cười. Hai hàm răng vẫn trắng đẹp như xưa Cũng từ đó, cô thâu nhận tôi làm “thư ký không nhận lương” suốt một thời gian dài. Khi thì nhân danh cô để viết thư cho bà tòa Trần Văn Tỷ, khi thì mượn danh bà thầy trị bịnh trĩ Lê Minh Đường, cũng gởi thư khẩn thiết nhắc chuyện cũ, khi thì gởi cho đôi ba người khác, và lần sau cùng, tôi gặp cô vào năm 1952…”.
Nhờ cái công làm thư ký không lương ấy và sự cảm phục tấm lòng của cụ Vương, ông là người thứ hai sau nhà báo Trần Tấn Quốc được cô kể lại cuộc đời oan nghiệt của mình. Trong giai đoạn này cô vẫn nghiện nặng hai trong bốn cái tai hại nhất của con người là thuốc phiện và bài bạc. Khi túng tiền, cô nhờ “cụ Vương viết thư cho các nhân tình cũ, nhắc nghĩa xưa xin giúp đỡ.
Thư đi cũng có thư lại. Nhờ đó thỉnh thoảng cô có tiền và lại vào sòng tài xỉu làm nghề “cho vay bạc nóng”. Cũng có lúc cô đánh ké vào tụ bài đang hên. Nhà cô ở trong một con hẻm sâu gần chợ Hòa Bình, nhưng cô sống âm thầm, không cho ai biết. Khi cụ Vương hỏi cô cho “vay nóng” (có nghĩa là vay 2000 đồng, mỗi ngày trả 200 đồng tiền lời) mà không sợ các công tử, các thầy giựt sao? Cô trả lời: “Các cậu bao giờ giựt tiền của một con đĩ như tôi làm vậy””.
Cô Ba Trà đã 3 lần có trong tay một số tiền gần 100.000 đồng. Với số tiền ấy, nếu biết lo xa, mua ruộng đất, cô có thể mua tới 3000 mẫu ruộng, vượt xa một đại điền chủ của Nam Bộ thời đó. Huê lợi 3000 mẫu ruộng có thể lên đến ít nhất 6000 đồng một năm. Một số tiền mà người ta khó có thể mơ, nhưng cuối đời cô chết trong túng thiếu im lìm. Hết tiền, cô phải bán nhà và sống trong một xó chân cầu thang của một chung cư, tài sản duy nhất là cái ghế bố cô nằm.
Vương Hồng Sển kể về cái chết cô Ba Như sau: “Mấy năm sau, tôi gặp Ba Lưu, một bạn cố tri quen nhau từ Sóc Trăng, cho tôi hay: “Trà đã mất từ lâu. Chết trong tăm tối. Đạm Tiên có khác”.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32