Một bác sĩ Nga đã tiết lộ bí quyết chữa chứng khó chịu do dùng rượu bia quá mức của các điệp viên tình báo nước này.
Các điệp viên Nga dùng chất natri thiosunfat để giải rượu
Reuters
Bác sĩ Mikhail Looschik cho biết bí quyết đó là dùng chất natri
thiosunfat vốn có thể hấp thụ cồn và ngăn ngừa nhiễm độc, theo trang
Sputnik.
Chất này còn được dùng để chữa chứng nghiện rượu, sử dụng lâu dài giúp cho một người dần dần có ác cảm trước rượu bia, theo ông Looschik.
“Với liều lượng nhỏ, natri thiosunfat được xem là biện pháp hiệu
quả để giải rượu. Tuy nhiên, nếu lạm dụng hoặc dùng liều lượng lớn có
thể gây ra tiêu chảy và buồn nôn”, bác sĩ Looschik cảnh báo.
Đối với những người không thích mạo hiểm như các điệp viên,
ông Lushchik đưa ra các lựa chọn khác để giải rượu là uống thật nhiều
nước trong lúc dùng rượu bia và vào buổi sáng ngày hôm sau.
Các nhà khoa học lâu nay nỗ lực nghiên cứu tìm cách trị chứng khó
chịu sau khi uống bia rượu, nhưng vẫn chưa thể thống nhất một giải pháp
hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu xác định được chứng khó chịu sau khi
uống bia rượu thường bao gồm đau đầu và nôn mửa, khát nước và đau cơ.
“Điều quan trọng chúng ta phải cố gắng tự kiểm soát bản thân và không quá chén. Nếu không thể từ chối thì nên uống nhiều nước hơn”, bác sĩ Looschik nói.
Được
soạn thảo từ năm 2004 nhưng bản lưu ý nhan đề "Lập bản đồ tương lai
toàn cầu" của Hội đồng tình báo quốc gia Mỹ chứa đựng nhiều dự báo gây
sửng sốt về thế giới gần hai thập niên sau.
Các
tác giả báo cáo nhấn mạnh, trật tự quốc tế "đang ở giữa những thay đổi
to lớn" khi nước Mỹ phải đối mặt với các thách thức mới. "Kể từ khi
thành lập hệ thống liên minh phương Tây vào năm 1949, chưa bao giờ sự
định hình và bản chất của việc tái sắp xếp thế giới trong tình trạng
biến chuyển như vậy".
Theo
Sputnik, mặc dù không ít tiên đoán trong bản ghi nhớ "Lập bản đồ tương
lai toàn cầu" rốt cuộc thiếu chính xác, ví dụ việc ra đời của nhà nước
Palestine, các vấn đề nội bộ hạn chế Nga trở thành cường quốc toàn
cầu... nhưng nhiều dự báo khác lại đúng đến mức bạn sẽ kinh ngạc khi đọc
chúng trong hiện tại như dưới đây:
Các liên minh thay đổi
Từ
cách đây 15 năm, các chuyên gia thuộc Hội đồng tình báo quốc gia Mỹ đã
nhận định về mối quan hệ ngày càng xấu đi giữa Mỹ và châu Âu. Theo họ,
các quốc gia châu Âu sẽ thích Liên minh châu Âu (EU) hơn là tổ chức Hiệp
ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Trong vài năm trở lại đây, các đồng minh
truyền thống thực tế đã tìm cách né xa Washington do những bất đồng về
thương mại và các lĩnh vực hợp tác then chốt khác.
Các
tác giả báo cáo tin, Mỹ sẽ phải đối mặt với thách thức ngày càng lớn
khi xử lý mối quan hệ liên minh giữa châu Âu và châu Á, chẳng hạn như
mối ràng buộc EU - Trung Quốc.
Quan điểm về nước Mỹ trước tiên
Bản
ghi nhớ "Lập bản đồ tương lai toàn cầu" mô tả chi tiết viễn cảnh một vị
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc (LHQ) viết trong nhật ký của mình rằng, người
Mỹ đã chán đóng vai trò cảnh sát của thế giới và phải san sẻ gánh nặng
của các đồng minh. Quan chức này tiết lộ bản thân đã phải chật vật duy
trì trụ sở LHQ ở New York vì nhiều nhóm ủng hộ "Nước Mỹ trước tiên" đang
kêu gọi tổ chức lớn nhất hành tinh phải di dời nơi làm việc ra khỏi
nước Mỹ.
Sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc
Mặc
dù các tác giả không mường tượng ra cuộc chiến tranh thương mại Mỹ -
Trung như hiện thời nhưng họ đã đúng khi đánh giá mối quan hệ hay đúng
hơn là sự căng thẳng giữa hai nước. "Chủ nghĩa dân tộc quốc gia đang
trỗi dậy ở Trung Quốc và việc Mỹ e sợ Trung Quốc là đối thủ chiến lược
có thể nuôi dưỡng mối quan hệ kình địch ngày càng tăng".
Khiến nước Mỹ vĩ đại một lần nữa
Báo
cáo của các chuyên gia Mỹ tiên lượng, ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ sẽ giảm
sút khi các cường quốc khác trỗi dậy, dù Mỹ vẫn là "quốc gia quan trọng
nhất xét trên mọi khía cạnh sức mạnh". Theo tài liệu này, Washington
mất dần ảnh hưởng do Trung Quốc và Nga cạnh tranh gay gắt trong nhiều
lĩnh vực. Đáng nói, vào năm 2004, viễn cảnh dự báo trên bị coi là quá
tiêu cực.
Cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên
Bản
ghi nhớ có đoạn, một cuộc khủng hoảng đối với Triều Tiên "nhiều khả
năng sẽ xảy ra vào khoảng thời gian nào đó trong 15 năm tới".Tài liệu
này cũng dự đoán, Triều Tiên và Iran sẽ phát triển tên lửa đạn đạo xuyên
lục địa trước năm 2020 và tin kịch bản này "sẽ làm tăng phí tổn tiềm ẩn
đối với bất kỳ hành động quân sự nào của Mỹ cũng như các đồng minh nhằm
chống lại những nước này".
Nguy cơ thảm họa khủng bố
Mặc
dù các tác giả báo cáo không lường trước được sự trỗi dậy của tổ chức
khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng, nhưng họ đề cập tới sự lan
truyền của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan cũng như viễn cảnh về việc thành
lập một Nhà nước Hồi giáo. "Những cảm giác xa lánh và ghẻ lạnh mà Hồi
giáo cực đoan tạo ra khó có thể tan biến cho đến khi thế giới Hồi giáo
lại một lần hòa nhập nhiều hơn vào nền kinh tế thế giới ".
Tuấn Anh
Điệp viên thứ tư đánh cắp bí mật bom nguyên tử của Mỹ cho Liên Xô lộ diện: Người này là ai?
Nguyễn Hảo |
0
Ảnh minh họa: GIphy
Trong nhiều thập kỷ, tên của điệp viên thứ tư này không được công chúng biết đến.
Mặc dù là đồng minh trong Thế chiến II, tuy nhiên Liên Xô đã phát động một nỗ lực gián điệp toàn diện nhằm khám phá bí mật quân sự và quốc phòng của Mỹ và Anh trong những năm 1940.
Khi kế hoạch tối mật về Dự án Manhattan, dự án chế tạo bom nguyên tử
được xây dựng ở Mỹ, hệ thống gián điệp của Liên Xô đã nắm bắt được
thông tin dự án này. Chỉ bốn năm sau khi Mỹ thả hai quả bom nguyên tử
xuống Nhật Bản vào tháng 8/1945, Liên Xô cũng đã tự kích nổ loại bom này
vào tháng 8/1949, sớm hơn nhiều so với dự kiến.
Ba điệp viên
từ lâu đã nổi tiếng vì đã đánh cắp bí mật nguyên tử của Mỹ từ năm 1940
đến 1948, chia sẻ thông tin đó với Liên Xô. Hành động của họ đã nhanh
chóng giúp phát triển vũ khí hạt nhân của Liên Xô và tạo tiền đề cho
Chiến tranh Lạnh. 1. Klaus Fuchs
Được mệnh danh là
gián điệp nguyên tử quan trọng nhất trong lịch sử, Klaus Fuchs là nhà
vật lý người Đức chính của Dự án Manhattan và là nhà khoa học chính tại
cơ sở hạt nhân của Anh vào năm 1949.
Klaus Fuchs. Nguồn: Internet
Chỉ
vài tuần sau khi Liên Xô nổ bom nguyên tử vào tháng 8 năm 1949, chương
trình gián điệp Venona của Mỹ năm 1944 tiết lộ rằng thông tin mô tả các
quá trình khoa học quan trọng liên quan đến việc chế tạo bom A đã được
gửi từ Mỹ đến Moscow. FBI xác định Klaus Fuchs là tác giả.
Sau
khi bị kết án năm 1950, Fuchs đã bị ngồi tù 9 năm ở Vương quốc Anh và
sau đó chuyển đến Đông Đức, nơi ông nối lại sự nghiệp của mình như một
nhà vật lý và lãnh đạo khoa học. 2. Theodore Hall
Trong
gần nửa thế kỷ, Fuchs được cho là gián điệp quan trọng nhất tại Los
Alamos, New Mexico, Mỹ, nhưng những bí mật mà Ted Hall tiết lộ cho Liên
Xô trước Fuchs cũng rất quan trọng. Hall, một sinh viên tốt nghiệp
Harvard ở tuổi 18, 19 tuổi, là nhà khoa học trẻ nhất trong dự án
Manhattan năm 1944.
Hall đã thoát khỏi sự trùng phạt cho những
hành vi sai trái của mình tại toà án Mỹ. Gián điệp này đã làm việc trên
các thí nghiệm về quả bom được thả xuống Nagasaki, cùng loại mà Liên Xô
đã kích nổ vào năm 1949. 3. David Greenglass
Ngoài
Fuchs và Hall, Greenglass là nhân vật thứ ba tại Dự án Manhattan, mặc dù
họ không biết về công việc bí mật của nhau. Greenglass đã thú nhận và
nó còn liên quan đến vợ, chị gái và anh rể của mình.
Để giảm bớt
hình phạt của họ, vợ Greenglass đã cung cấp thông tin chi tiết về sự
liên quan của bản thân và chồng. Họ đã đưa những tài liệu viết tay và
bản vẽ về quả bom cho Liên Xô. Greenglass đã nhận án 15 năm tù và vợ ông
ta không bị buộc tội chính thức. 4. Điệp viên thứ tư là ai?
Nhưng
trên thực tế, có một điệp viên thứ tư, mật danh "Godsend", người đã
truyền lại bí mật nguyên tử cho tình báo Liên Xô. Danh tính của người
này đã bị che giấu khỏi tầm nhìn công khai cho đến bây giờ.
Oscar
Seborer, hàng cao nhất, thứ ba từ trái sang trong niên giám năm 1944,
là thành viên của công ty G, một chương trình đào tạo chuyên ngành của
Quân đội Mỹ tại Đại học bang Ohio.
Tên thật của ông ta là Oscar Seborer,
làm việc tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos ở New Mexico, quê
hương của Dự án Manhattan nơi chế tạo vũ khí hạt nhân đầu tiên. Trong
nhiều thập kỷ, tên của Saborer đã bị lu mờ, chỉ được đề cập trong vài
chục trang giữa hàng chục ngàn tài liệu bí mật do FBI biên soạn.
Nhưng khi các tài liệu này được giải mật vào năm 2011, chúng đã thu hút sự chú ý của hai nhà sử học Mỹ, John Earl Haynes và Harvey Klehr. Ông Klehr là giáo sư danh dự về chính trị và lịch sử tại Đại học Emory và ông Haynes là cựu nhà sử học của Thư viện Quốc hội.
Các nhà nghiên cứu đã đặt tên cho Saborer là gián điệp thứ tư của Los Alamos, dựa trên các tài liệu FBI đã được giải mật năm 2011
cũng như một phần các hồ sơ về sáng kiến kéo dài hàng thập kỷ có tên
là Chiến dịch SOLO. Chiến dịch này diễn ra từ năm 1952 đến 1980.
Cho
đến nay, chỉ có các tệp SOLO đến năm 1956 được phát hành và vẫn còn
nhiều câu hỏi mở về hoạt động của Saborer với tư cách là một điệp viên
và những gì đã xảy ra với ông ta sau khi trốn sang Liên Xô.
Thông
tin về Seborer rất dễ bị bỏ qua trong hàng núi hồ sơ rộng lớn, Klehr và
Haynes nói. Tuy nhiên, họ biết rằng gia đình ông, những người nhập cư Do
Thái từ Ba Lan, là một phần của mạng lưới những người có liên quan đến
tình báo Liên Xô.
Seborer được đào tạo như một kỹ sư và tham gia
Quân đội Mỹ vào năm 1942. Gián điệp thứ tư của Los Alamos đã chuyển đến
Los Alamos vào năm 1944 và được giao cho Dự án Manhattan trong hai năm.
Sau
Thế chiến II, Seborer làm kỹ sư điện cho Hải quân Mỹ, nhưng các dấu
hiệu bắt đầu lộ diện rằng tất cả đều không ổn. Theo các nghiên cứu, các
sĩ quan cấp trên của Seborer đã liên tục báo cáo về vấn đề an ninh bảo
mật, nhưng họ chỉ nghi ngờ ông có mối liên hệ với những người Cộng sản
chứ không phải gián điệp.
Đến đầu những năm 1950, Seborer đã bí
mật rời khỏi Mỹ vào năm 1952 cùng với anh trai, chị dâu và mẹ vợ của anh
trai. Cuối cùng, gián điệp thứ tư đã định cư ở Moscow, nơi ông qua đời
năm 2015.
Các cuộc trò chuyện về thông tin của SOLO gợi ý rằng Seborer có thể đã gặp phải điều gì đó khi ở Los Alamos.
Đảng viên và luật sư Isidore Needman nói một cách cởi mở rằng Seborer
là một gián điệp, thậm chí còn viết một ghi chú cho người cung cấp thông
tin có nội dung: "Anh ta đã trao cho Liên Xô công thức của bom 'A'",
các nhà nghiên cứu báo cáo. Một "Godsend" của Liên Xô
Tài
liệu lưu trữ KGB được công khai vào năm 2009 giới thiệu vẫn còn nhiều
manh mối chỉ ra Seborer là một điệp viên nguyên tử thứ tư. Ghi chú đã mô
tả một gián điệp tại Los Alamos, với mật danh "Godsend", đã bàn giao bí
mật nguyên tử nhưng sau đó rời đi để nhận một công việc khác, giống
tình hình của Seborer.
Các nhà nghiên cứu cho biết: Godsend
không đơn độc, ông là một phần của gia đình gián điệp, với mật danh của
các thành viên: "Godfather", "Relative" và "Nata", đây được biết là hai
anh trai và em gái của "Godsend". Nhóm điệp viên này có khả
năng chính là Saborer và anh chị em của ông, những người được biết gắn
liền với các mối quan hệ với tình báo Liên Xô.
Đối
với các bí mật nguyên tử cụ thể mà Saborer có thể đã chia sẻ và liệu
các thành viên gia đình của ông ta có đóng vai trò trực tiếp trong hoạt
động gián điệp hay không ? Đây là câu hỏi mà các tác giả nghiên cứu vẫn
đang cố trả lời bằng cách chắp nối những chi tiết khó nắm bắt đó.
"Mặc
dù chúng tôi biết rất nhiều về thông tin mà Fuchs, Hall và Greenglass
có quyền truy cập và một số chi tiết cụ thể về chính xác những gì họ
cung cấp cho Liên Xô nhưng chúng tôi chỉ biết rằng Seborer đã cung cấp một cái gì đó", hai tác giả viết trong nghiên cứu.
Cho
đến nay, tầm quan trọng những đóng góp của Saborer đối với tình báo
Liên Xô vẫn còn là một ẩn số. Một thông tin đáng chú ý rằng một trong
những người tham dự đám tang của ông ta là đại diện của Dịch vụ An ninh
Liên bang Nga - cơ quan gián điệp thay thế KGB. Độc giả đọc thêm các bài hồ sơ về Liên Xô, TẠI ĐÂY.
Các
báo cáo của KGB, sau khi qua “xử lí” bổ sung của trợ lí các cấp, khi
đến bàn làm việc của lãnh đạo cấp cao nhiều khi chỉ còn 15 – 20% giá trị
tin tức. Cuối cùng, ngay cả những báo cáo đó, hoặc những báo cáo khẩn
cấp cũng thường bị rơi vào tình trạng im lặng đáng sợ.
Theo
hồi tưởng của nguyên Chủ tịch KGB V. Kryuchkov, về sau Gorbachov thậm
chí trở nên cáu bẳn mỗi khi nhận được báo cáo của KGB, đến mức ông ta
yêu cầu các trợ lí “đừng chuyển những báo cáo kiểu này cho tôi”.
Không
chỉ bỏ qua những lời cảnh báo về hiểm hoạ đối với quốc gia do cơ quan
tình báo đưa ra, Gorbachov còn thực hiện nhiều nỗ lực để làm tê liệt
hoạt động của cơ quan này. Dưới áp lực của các phong trào “dân chủ”,
Gorbachov đã yêu cầu KGB cũng “cải tổ”, “công khai”, đến mức cho mở hồ
sơ lưu trữ về một loạt các vấn đề tối mật và nhạy cảm liên quan đến an
ninh quốc gia cũng như uy tín quốc tế của Liên Xô.
Về
mặt tổ chức, KGB phải từ bỏ một số chức năng như đấu tranh với các lực
lượng xã hội phản động và chủ nghĩa xi-ô-nít. Về mặt nhân sự, trong KGB
bắt đầu xuất hiện những cán bộ không có chính kiến rõ ràng, không có uy
tín và kinh nghiệm hoạt động.
Huy hiệu KGB
Ngay
sau vụ chính biến không thành ngày 19/8/1991, Đại sứ quán Mỹ tại Liên
Xô trở thành trụ sở không chính thức của các “lực lượng tiến bộ, dân
chủ”. Nhân viên CIA công khai phóng xe trên đường phố Moscow.
Chiến
dịch điên cuồng chống tình báo Liên Xô lên đến đỉnh điểm, với mục tiêu
là bôi nhọ, loại trừ KGB. Người ta kích động đám đông lật đổ bức tượng
F. Dzerzhinsky (người theo chỉ thị của Lenin đã tổ chức ra CHEKA – cơ
quan tiền thân của KGB). Đám đông quá khích và “được đảm bảo” còn gỡ tấm
biển kỉ niệm Yu. Andropov khỏi toà nhà KGB ở Lubyanka.
Trong
khi đó, theo lệnh của Gorbachov, hầu hết chỉ huy KGB ở các địa phương
bị bãi chức mà không tính toán đến lợi ích công việc, thay thế họ chủ
yếu là những người được xem là “thức thời, dân chủ”.
KGB
trung ương không còn thẩm quyền điều hành các cơ quan KGB địa phương.
Thay vào đó, họ phải kí “hiệp định hợp tác” với các nước cộng hoà và chỉ
làm chức năng phối hợp với cấp dưới của mình. Cục Bảo vệ chính trị
chuyên theo dõi các phong trào “dân chủ” bị giải thể.
Các
đơn vị biên phòng, trinh sát điện tử, mật mã và các đơn vị tình báo
hành động bị tách khỏi KGB và “ném” về các bộ, ngành khác nhau. Đến một
nửa tình báo viên đang hoạt động ở nước ngoài vô cớ bị triệu về nước mà
không có người thay thế. Hệ thống cơ sở điệp báo bị xáo trộn, bộc lộ.
Nhiều nhân viên bị sa thải, một số khác bị chuyển sang “kinh tế quốc
dân”, một số nữa bị phân tâm và ngừng làm việc.
Được
sự đồng ý của Gorbachov và Yeltsin, Chủ tịch mới của KGB là Bakatin
thậm chí còn làm hai việc “vô tiền khoáng hậu”: cho phép CIA thiết lập
các cơ sở tình báo của họ ở SNG, trước hết là ở Nga; và chuyển giao cho
CIA sơ đồ hệ thống nghe trộm (của KGB) lắp trong toà nhà Đại sứ quán Mỹ
tại Moscow.
Nhiều năm sau, khi đã thất sủng, ông này
giải thích làm thế là vì quan hệ giữa hai nước đã “bước sang giai đoạn
mới, vì hai nước không còn là kẻ thù của nhau nữa” như thời Chiến tranh
Lạnh.
Sau khi Liên Xô chính thức giải thể, các chuyên
gia CIA dưới vỏ bọc Ủy ban về Pháp luật và an ninh quốc gia thuộc Hiệp
hội Luật gia Mỹ lại tham gia trực tiếp vào việc soạn thảo dự luật mới
của Nga để kiểm soát hoạt động tình báo và phản gián của Nga.
Đứng
đầu ủy ban là cựu Giám đốc CIA Webster! Tình báo Mỹ – kẻ thù chiến lược
của KGB trong suốt mấy chục năm - cảm thấy thoải mái như ở nhà mình tại
thủ đô nước Nga. Ủy ban này đã tổ chức một cuộc “hội thảo” kéo dài 3
ngày bàn về hoạt động của tình báo và an ninh Nga “thời kì dân chủ”.
Thật
trớ trêu, đại diện hai cơ quan này của nước chủ nhà vì lí do bí mật đã
không được mời đến dự “hội thảo” mà ở đó thực tế số phận của họ được
quyết định.
Kết thúc, hội thảo đưa ra khuyến cáo: hoạt
động của cơ quan phản gián Nga chỉ được đóng khung trong tiến hành
chống tội phạm và khủng bố; SVR và GRU (Tình báo Đối ngoại và Tình báo
Quân sự) phải chấm dứt các hoạt động chống lại tình báo phương Tây và
ngừng việc sử dụng các điệp viên được tuyển mộ từ thời Xô-viết...
KGB
đã bị tàn phá một cách có chủ định, chịu những tổn thất lớn lao và do
đó gây ảnh hưởng tiêu cực trong nhiều năm đối với nền an ninh của Nga.
Rất may là thời gian đã đặt lại mọi thứ đúng vị trí của nó.
Dù
KGB không còn, song hai cơ quan kế thừa nó là SVR và FSB vẫn tiếp tục
truyền thống hào hùng, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia Nga, góp phần
đưa Nga trở lại ngôi vị cường quốc. Tuy nhiên, những sự việc đau buồn
xảy ra với KGB đã gây những tổn hại mà phải nhiều năm nữa ngành tình báo
Nga mới có thể khắc phục được.
Nguyên Phong
Tình báo đưa Liên Xô thành cường quốc như thế nào?
Chính
hoạt động đầy hiệu quả của tình báo KHCN đã góp phần quan trọng đưa
Liên Xô trở thành cường quốc hàng đầu thế giới ở mọi lĩnh vực trong
nhiều thập niên. Theo các tài liệu đã được giải mật, vào thời kì “hưng
thịnh” trong những năm 1980, số lượng cán bộ chuyên trách làm công tác
tình báo KHCN của tất cả các tổ chức tình báo Liên Xô lên đến 100.000
người, 90% trong số đó hoạt động ở hầu hết các nước trên thế giới để săn
tìm tài liệu KHCN và thiết bị kĩ thuật tiên tiến.
Phạm
vi thu thập tình báo KHCN cũng mở rộng không ngừng và bao quát hầu như
mọi lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực mà Liên Xô tụt hậu. Trọng điểm được
hướng vào những kĩ thuật, những công nghệ mũi nhọn có thể trực tiếp
hoặc gián tiếp sử dụng cho mục đích quân sự, như công nghiệp hàng không
và hàng không vũ trụ, la-de, máy tính điện tử, vệ tinh, khí động học
hàng không, hạt nhân, điện tử, cáp quang, rô-bốt...
Phù hiệu KGB. Ảnh: Dhgate
Chỉ
tính riêng năm 1980, Tình báo KHCN Liên Xô đã thực hiện thành công
1.085 điệp vụ, cung cấp tư liệu và thông tin quan trọng cho 3.396 đề án
khoa học và công trình nghiên cứu/thiết kế/thử nghiệm của đất nước.
Căn
cứ vào mục tiêu nhiệm vụ, căn cứ vào điều kiện, khả năng từng nước mà
công tác thu thập tin tức có sự chú trọng khác nhau. Như, đối với Mỹ,
tập trung thu thập những tư liệu về công nghệ vi điện tử, la-de, máy
tính, năng lượng hạt nhân, công nghiệp hàng không vũ trụ, khai thác dầu
mỏ và khí thiên nhiên v.v...
Đối với Nhật Bản, nặng về
thu thập tư liệu, tài liệu về vật liệu gốm sứ (loại dùng chế tạo xe
tăng, tàu chiến, máy bay thay cho kim loại), điện tử, rô-bốt, cáp quang,
kĩ thuật công trình, gien di truyền...
90% tin tình
báo KHCN quan trọng nhất là do GRU và KGB cung cấp. Riêng KGB hàng năm
tuyển lựa khoảng 100 sinh viên xuất sắc từ các trường đại học, viện khoa
học tự nhiên khắp trong cả nước đưa về đào tạo tại các trường tình báo.
Tại đây, họ được huấn luyện các kĩ năng lựa chọn mục tiêu, cách nhận
biết tài liệu, cách đánh cắp và chuyển tin tức tình báo... Tốt nghiệp,
họ được phân công về Cục Tình báo KHCN (Cục T) công tác.
Cục
T là cục lớn thứ hai của Tổng cục Tình báo Đối ngoại (sau Cục S – Tình
báo Bất hợp pháp), với đội ngũ khoảng 2.000 tình báo viên khoa học công
nghệ chuyên ngành, hoạt động trong và ngoài nước.
Trong
nước, các nhân viên Cục T được cài cắm trong bộ máy của các bộ, ngành
có “dính” đến nước ngoài và liên quan đến khoa học kĩ thuật như Bộ Ngoại
thương, các công ty xuất nhập khẩu, du lịch quốc tế... Ở nước ngoài,
phần lớn các nhân viên tình báo của Cục T hoạt động dưới các bình phong
công khai như các quan chức ngoại giao, cố vấn khoa học, đại diện công
ty... Một bộ phận nhỏ sử dụng giấy tờ giả nhập cảnh bất hợp pháp vào các
nước để hoạt động.
Trong
số những thành công lớn nhất của Cục T trong những năm 1980 phải kể đến
tài liệu về Hệ thống báo động sớm và điều khiển trên không (AWACS) của
Mỹ; thiết kế máy bay ném bom B-1B; tài liệu về loạt máy tính điện tử từ
các mẫu máy tính của IBM; và các sơ đồ vi mạch...
Năm
1982, Cục T thu thập được mẫu một loại máy tính dùng điều khiển máy phay
cao cấp do hãng Toshiba (Nhật Bản) chế tạo. Thành công này giúp Liên Xô
chế tạo được tàu ngầm tiên tiến với độ ồn rất thấp, buộc Mỹ và đồng
minh phải chi 30 tỉ USD để nghiên cứu, chế tạo hệ thống theo dõi nhằm
tạo lập thế cân bằng trong cuộc chiến dưới đáy đại dương.
Cũng
do sử dụng tài liệu Cục T cung cấp mà Liên Xô nâng cao được xác suất
trúng đích của tên lửa bố trí trên mặt đất, buộc NATO phải chi một khoản
ngân sách lên đến 50 tỉ USD để nghiên cứu chế tạo tên lửa MX cơ động
thay cho loại tên lửa cố định trước đây.
Tại các nước
Tây Âu, Cục T đã thu thập được những tài liệu quan trọng về các hệ thống
thông tin vô tuyến điện chiến thuật “Katrin” đang được các nước NATO
nghiên cứu. Các cán bộ Cục T còn sử dụng một nhóm lập trình viên người
Tây Đức thâm nhập vào cơ sở dữ liệu của Lầu Năm góc, thu thập nhiều tài
liệu về hệ thống máy tính công nghiệp quốc phòng và về nhiều công trình
nghiên cứu khoa học.
Trong số các mẫu máy móc, thiết
bị, các hệ thống vi mạch mà cán bộ Cục T thu thập được có đến 44% được
sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng, 28% sử dụng trong các lĩnh vực dân
dụng, còn 28% được sử dụng ngay trong KGB.
Ngay cả khi KGB sắp giải thể, hoạt động thu thập tin tức KHCN của nó vẫn được đẩy mạnh.
Nhìn
chung, hoạt động của Cục T được lãnh đạo KGB đánh giá là có hiệu quả
nhất trong số các cục hoạt động. Leonid Zaitsev, một trong những người
lãnh đạo lâu năm nhất của Cục T thậm chí có lần tuyên bố rằng cục của
ông không chỉ tự trang trải về mặt tài chính, mà còn nuôi sống toàn bộ
cơ cấu các chiến dịch ở nước ngoài của KGB.
Không phải
ngẫu nhiên mà Cục T hoạt động khá độc lập. Ngay tại Học viện Tình báo
Andropov, các học viên thuộc Cục T cũng học riêng với chương trình của
họ. Có thể nói, sức mạnh của quân đội Liên Xô một phần được tạo ra chính
từ các thành công của tình báo KHCN. Người ta cho rằng có đến 150 hệ
thống vũ khí của Liên Xô được chế tạo dựa trên công nghệ đánh thu
thập được của phương Tây.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét