BỘ MẶT CHIẾN TRANH 225

 
Người Con Gái Việt Nam - Trịnh Công Sơn Sings
 
Lai gan voi nhau - Khanh Ly

-Tóm lại, bộ mặt thật của chiến tranh nhìn từ mọi phía nói chung là độc ác, thiểu năng trí tuệ đến ngỡ ngàng của con người khôn ngoan, có lý trí.
-Ngày chiến thắng 30/4, lũ bán nước cay cú gọi là ngày quốc hận, người cộng sản cực đoan cho rằng đó là ngày toàn dân phải vui mừng, riêng cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, người có vợ con đều chết trong chiến tranh, thì nói, đó là ngày có triệu người vui và cũng có triệu người buồn.
-Lão Tử, một đại hiền triết thời cổ đại của Trung Quốc, từng nói: "Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng bi ai mà khóc, chiến thắng rồi thì nên lấy tang lễ mà xử".
-Giống như bóng tối không thể làm tiêu tan bóng tối, thì hận thù không thể xoa dịu được hận thù, và chiến tranh không thể xóa bỏ được chiến tranh.
-Chỉ có sự thấu hiểu ý nghĩa thiêng liêng của cuộc sống, sự thấu hiểu về tính bất hạnh, vô nghĩa tột cùng của cái chết và sự cảm thông, yêu thương sâu sắc đồng loại mới có thể ngăn chặn được chiến tranh!
-Một khi còn tình cảm dân tộc hẹp hòi, lòng tham vị kỷ và cái tâm hận thù của con người, thì vẫn còn chiến tranh. 
 
Remembering WWII - Victory Song
------------------------------------------------------- 
(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Những cuộc thảm sát của Thiên Chúa Giáo / Thập Tự Chinh
 
Ivan Bạo Chúa – Vị Sa Hoàng Khét Tiếng Tàn Bạo Trong Lịch Sử Nước Nga

Những tàn quân Đức không chịu buông súng sau Thế chiến II

Nhiều đơn vị Đức không từ bỏ vũ khí ngay cả khi chính phủ đã đầu hàng vô điều kiện, gây nhiều thiệt hại cho quân Đồng minh.


Ngày 8/5/1945, Đức Quốc xã đầu hàng vô điều kiện phe Đồng minh, đặt dấu chấm hết cho Thế chiến II. Tuy nhiên, hòa bình vẫn chưa được lập lại ở châu Âu. Tốc độ tiến quân nhanh và chiến trường rộng lớn khiến quân Đồng minh bỏ sót nhiều đơn vị Đức.
Những tàn quân này không chịu buông súng mà vẫn tiếp tục chiến đấu nhiều tháng sau khi chính phủ Đức Quốc xã đầu hàng, khiến quân Đồng minh tiếp tục hứng chịu thương vong, dù cuộc chiến trên danh nghĩa đã kết thúc.
Thành phố Dessau, phía đông nước Đức là nơi lực lượng Liên Xô và các nước phương Tây chưa hợp quân, tạo điều kiện cho lực lượng lớn của Đức tiếp tục hoạt động. Xa hơn về phía bắc, một số nhóm lính SS cũng chiếm đóng khu rừng quanh thị trấn Bad Segeberg, cố thủ trong công sự và quyết không chịu đầu hàng quân Đồng minh.
Quân Đồng minh tấn công một cứ điểm của Đức năm 1944. Ảnh: National Interest.
Quân Đồng minh tấn công một cứ điểm của Đức năm 1944. Ảnh: National Interest.
Đô đốc Karl Dönitz, người đứng đầu nhà nước Đức sau khi Adolf Hitler tự sát, đã ra lệnh cho nhóm quân này đầu hàng nhưng không thành. Ông quyết định điều Sư đoàn dù số 8 của Đức đến Bad Segeberg để hỗ trợ Sư đoàn thiết giáp số 11 của Anh đánh bại nhóm tàn quân vào đầu tháng 5/1945. 
Một trận đánh đẫm máu kéo dài nhiều ngày đã nổ ra giữa lính dù Đức - Anh với tàn quân SS, cho tới khi nhóm cố thủ chấp nhận đầu hàng.
Đây không phải là trường hợp duy nhất tàn quân Đức không chịu buông vũ khí sau khi chiến tranh kết thúc. Hòn đảo Texel yên bình của Hà Lan lại là nơi diễn ra trận chiến cuối cùng ở châu Âu trong Thế chiến II.
Đảo Texel là nơi đóng quân của tiểu đoàn bộ binh 82 với thành phần gồm 800 lính gốc Gruzia và khoảng 400 sĩ quan, binh sĩ Đức. Những người lính Gruzia này ban đầu chiến đấu cho Hồng Quân, nhưng sau đó bị bắt làm tù binh và chấp nhận gia nhập quân đội Đức.
Cuối tháng 4/1945, khi biết tin quân đội Canada chuẩn bị tiến vào Hà Lan, trung úy Sjalwas Loladze, một phi công Gruzia, đã thuyết phục các đồng đội nổi dậy chống lại quân Đức. Loladze lên kế hoạch đánh úp quân Đức và giữ đảo Texel cho đến khi quân Canada đến tiếp quản.
Các tù binh Gruzia tổ chức nổi dậy trong đêm, bắn chết 250 lính Đức và bắt sống số còn lại. Tuy nhiên, thiếu tá Klaus Breitner, chỉ huy tiểu đoàn 82, đã trốn thoát và ép một ngư dân đưa về cảng Den Helder gần đó để báo lên cấp trên. Quân Đức triển khai 3 tiểu đoàn với 3.500 binh sĩ dưới sự chỉ huy của Breitner nhằm chiếm lại đảo Texel.
Quân Đức đã tàn sát lính Gruzia và cả dân thường trên đảo đã che chở cho họ. Ngay cả khi Đức Quốc xã đã đầu hàng vào tháng 5/1945, đội quân của thiếu tá Breitner vẫn tiếp tục tàn sát phe nổi dậy.
Khi quân Canada đổ bộ lên đảo vào ngày 20/5/1945 để giải giáp quân Đức, khoảng 800 lính Đức, 550 lính Gruzia và hơn 100 dân địa phương đã thiệt mạng.
Căn cứ hải quân Đức ở Lorient bên bờ biển Pháp cũng kháng lệnh đầu hàng của đô đốc Dönitz. Năm 1944, tướng Mỹ George S. Patton từng định chiếm căn cứ này, nhưng các trận đánh tại Brest và cảng Breton khiến lực lượng của ông chịu thiệt hại nặng và phải hủy kế hoạch.
Chỉ huy căn cứ này là tướng Wilhelm Fahrmbacher, người từng được trao huân chương Chữ thập Hiệp sĩ khi chiến đấu ở mặt trận phía đông. Lực lượng Đức luôn được tàu ngầm và máy bay tiếp tế, bất chấp vòng vây xung quanh. Họ cũng nhiều lần tấn công vào sâu trong lãnh thổ do phe Đồng minh kiểm soát để mua thêm lương thực từ nông dân địa phương. Liên quân Pháp - Mỹ nhiều lần tổ chức tấn công dứt điểm nhưng đều thất bại.
Khi lương thực cạn kiệt, chỉ huy Đức ra lệnh trộn bột mỳ với mùn cưa để làm bánh. Tình thế ngày càng tuyệt vọng sau khi chính phủ Đức đầu hàng, tới mức mùn cưa cũng không đủ để làm thực phẩm. Tướng Fahrmbacher chỉ chấp nhận đầu hàng quân Đồng minh vào ngày 10/5/1945, hai ngày sau khi Thế chiến II kết thúc.
Quân Đức từng đưa nhiều nhóm chuyên gia đến Bắc Cực từ năm 1940 để nghiên cứu và cập nhật tình hình thời tiết. Họ thường xuyên báo cáo để bộ chỉ huy Đức lập kế hoạch tác chiến, bất chấp lực lượng Đồng minh thường xuyên truy tìm.
Trung úy Wilhelm Dege, ngươi chỉ huy đơn vị Đức tại Bắc Cực. Ảnh: Eckbar Dege.
Trung úy Wilhelm Dege, ngươi chỉ huy đơn vị Đức tại Bắc Cực. Ảnh: Eckbar Dege.
Năm 1944, nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi trung úy Wilhelm Dege đặt chân lên Bắc Cực. Các thông tin họ gửi về giúp Hitler bớt lo lắng trước những trận không kích của phe Đồng minh và lập kế hoạch phản công tại rừng Ardennes.
Nhóm của tiến sĩ Dege vẫn tiếp tục hoạt động tại Bắc Cực dù Hitler đã tự sát ngày 30/4/1945. Họ chỉ quyết định đầu hàng vào ngày 22/5, thời điểm chính phủ dưới quyền đô đốc Dönitz bị bắt và không còn ai để báo cáo. Ngày 3/9/1945, nhóm của Dege bắt liên lạc với quân Đồng minh, trở thành những lính Đức cuối cùng hạ vũ khí trong Thế chiến II.
Lã Linh (Theo National Interest)

Con chó đẩy Hy Lạp và Bulgaria vào chiến tranh

Một binh sĩ Hy Lạp vô tình xâm phạm biên giới Bulgaria khi đuổi theo chó cưng, khiến hai nước lâm vào cuộc chiến chớp nhoáng năm 1925.


Chiến tranh thường nổ ra vì các nguyên nhân liên quan đến đất đai, tài nguyên, tôn giáo và chính trị. Tuy nhiên, nhiều cuộc chiến đẫm máu lại bắt nguồn từ những lý do ngớ ngẩn, điển hình là xung đột quân sự giữa Hy Lạp và Bulgaria vì một con chó đi lạc năm 1925.
Hy Lạp và Bulgaria từng là một phần của Đế chế Ottoman trải dài trên vùng lãnh thổ có nhiều tôn giáo, văn hóa và nhóm dân tộc. Hai dân tộc này giành độc lập lần lượt vào năm 1832 và 1908.
Hy Lạp và Bulgaria có nhiều lý do để đoàn kết và sống hòa thuận như đều theo Chính thống giáo phương Đông và cũng như là thành viên của Liên đoàn Balkan. Tuy nhiên, điều này không có nhiều tác dụng khi quan hệ hai nước trở nên căng thẳng đầu thế kỷ 20 vì tranh giành quyền sở hữu Macedonia và Tây Thrace.
Đèo Dermia Kapia, nơi xảy ra vụ xâm nhập biên giới năm 1925. Ảnh: Wikimedia Commons.
Đèo Dermia Kapia, nơi xảy ra vụ đụng độ giữa Hy Lạp và Bulgaria năm 1925. Ảnh: Wikimedia Commons.
Hàng loạt giao tranh nhỏ lẻ nổ ra ở biên giới và bùng phát thành Chiến tranh Balkan năm 1913. Bulgaria gia nhập phe Đức, Áo và Hungary tấn công Serbia trong Thế chiến I. Cuộc chiến kết thúc với phần thắng thuộc về phe Đồng minh, Hy Lạp được hưởng chiến lợi phẩm theo hiệp ước Neuilly-sur-Seine do ở bên thắng cuộc.
Theo đó, Bulgaria phải từ bỏ vùng đất Tây Thrace, Vương quốc Serbs, Croats và Slovenes (sau này trở thành Nam Tư). Căng thẳng giữa Hy Lạp và Bulgaria không được cải thiện khi Thế chiến I kết thúc.
Bulgaria không công nhận các điều khoản hiệp ước và tin rằng cuộc chiến chưa kết thúc. Họ phát động tấn công vào Hy Lạp và Nam Tư, trong đó những đòn tập kích gây thiệt hại nhất do Tổ chức Cách mạng Nội bộ Macedonia (IMRO) và Tổ chức Cách mạng Nội bộ Thrace (ITRO) tiến hành.
Thị trấn Petrich ở tây nam Bulgaria, giáp với Hy Lạp hoạt động gần như một quốc gia độc lập dưới quyền quản lý của IMRO. Tổ chức này phản đối quyết liệt chủ trương giảm căng thẳng với Hy Lạp, cải thiện quan hệ với phần còn lại của châu Âu.
Ngày 18/10/1925, con chó của một lính Hy Lạp đóng quân tại đèo Demir Kapia ở Belatsitsa gần biên giới hai nước đột nhiên chạy về phía Bulgaria. Vì quá yêu thú cưng, người lính này vội đuổi theo mà không biết mình đã vượt qua biên giới. Biên phòng Bulgaria lập tức nổ súng bắn chết người lính Hy Lạp xâm phạm.
Ngay lập tức, biên phòng Hy Lạp nổ súng dữ dội về phía Bulgaria và đối phương cũng bắn trả. Khi tiếng súng lắng xuống, một đại úy Hy Lạp và các thuộc cấp giương cờ trắng đi vào khu vực biên giới, dường như muốn kêu gọi bình tĩnh và đàm phán. Tuy nhiên, phía Bulgaria nổ súng sát hại viên đại úy và làm bị thương các sĩ quan đang chạy về phía Hy Lạp.
Truyền thông Hy Lạp thời điểm đó bỏ qua chi tiết con chó, cáo buộc một số lính Bulgaria đã vô cớ tập kích đồn biên phòng Hy Lạp ở Belasitsa, khiến một sĩ quan và một binh sĩ thiệt mạng.
Vị trí thị trấn Petrich nằm giữa Bulgaria và Hy Lạp. Đồ họa: War History.
Vị trí thị trấn Petrich nằm giữa Bulgaria và Hy Lạp. Đồ họa: War History.
Số phận con chó không được tiết lộ, nhưng Bulgaria và Hy Lạp khi đó đứng bên bờ vực chiến tranh. Bulgaria bày tỏ lấy làm tiếc về sự cố và cho rằng tất cả chỉ là sự hiểu lầm. Họ đề xuất lập một ủy ban chung giữa hai nước để điều tra.
Trung tướng Theodoros Pangalos, người vừa tiến hành cuộc đảo chính tại Hy Lạp, bác bỏ đề xuất và ra tối hậu thư cho Bulgaria, yêu cầu họ trừng phạt người chịu trách nhiệm, đưa ra lời xin lỗi chính thức và bồi thường hai triệu franc cho gia đình nạn nhân. Hy Lạp cũng đặt thời hạn 48 giờ để Bulgaria thực hiện yêu cầu.
Chính phủ Bulgaria từ chối thực hiện tối hậu thư, khiến Pangalos điều 20.000 quân tràn qua biên giới để chiếm thị trấn Petrich và các ngôi làng gần đó vào ngày 22/10. Bulgaria triển khai 10.000 binh sĩ đối phó cuộc xâm lược, nhưng Hy Lạp vẫn nắm quyền kiểm soát thị trấn và bao vây khu vực xung quanh. Bulgaria kêu gọi Liên hiệp Các quốc gia, tổ chức tiền thân của Liên Hợp Quốc, can thiệp.
Tổ chức này ra lệnh ngừng bắn, buộc Hy Lạp lập tức rút quân và bồi thường cho Bulgaria vì đã phát động chiến tranh. Chính phủ Hy Lạp phải thực thi yêu cầu và trả khoản tiền 45.000 bảng Anh cho Bulgaria. Cuộc chiến chớp nhoáng đã khiến 20 lính Bulgaria và 122 binh sĩ Hy Lạp thiệt mạng.
Duy Sơn (Theo War History)

'Người lính bất tử' trong hai Thế chiến

Binh sĩ Anh Adrian Carton de Wiart tham gia cả hai Thế chiến, mình chằng chịt vết thương chí mạng và được mệnh danh người bất tử.


Mù mắt và cụt tay là những thương tích khiến binh sĩ mất hoàn toàn khả năng chiến đấu. Tuy nhiên, điều đó không thể dập tắt ý chí của Adrian Carton de Wiart, sĩ quan quân đội Anh. Ông chịu tổng cộng 11 vết thương nghiêm trọng từ đầu đến chân trong gần 60 năm tham chiến, đồng thời sống sót qua hàng loạt vụ tai nạn máy bay và được coi là "người lính bất tử" của Anh.
Adrian Paul Ghislain Carton de Wiart sinh ngày 5/5/1880 ở Brussels, là con trong một gia đình quý tộc Bỉ. Mẹ ông mất khi Wiart mới 6 tuổi. Người cha cưới vợ mới và gửi ông vào một trường nội trú ở Anh.
Ngày 11/10/1899, căng thẳng giữa Hà Lan và Anh ở Nam Phi bùng phát thành Chiến tranh Boer lần thứ hai. Wiart phải dùng tên giả, khai man cho đủ tuổi và bỏ học để gia nhập quân đội Anh. Sau khi bị thương ở bụng và háng, ông bị gửi về Anh.
"Khi xung đột nổ ra, tôi nhận ra chiến đấu đã ăn vào máu mình. Nếu Anh không cho tôi ra trận, tôi sẽ gia nhập phía bên kia", Wiart hồi tưởng. Ông sau đó gia nhập đơn vị Kỵ binh nhẹ số 2, được điều trở lại Nam Phi và chiến đấu đến khi chiến tranh kết thúc năm 1902. Ông trở thành công dân Anh và lập gia đình vào năm 1907.
Wiart trong quân phục Anh vào năm 1901. Ảnh: Wikimedia Commons.
Wiart trong quân phục Anh vào năm 1901. Ảnh: Wikimedia Commons.
Wiart tái nhập ngũ khi Thế chiến I nổ ra năm 1914. Chiến dịch đầu tiên của ông là dập tắt nổi loạn ở vùng Somaliland do Anh bảo hộ, nay là Somalia. Wiart bị trúng hai phát đạn vào mặt, khiến ông mù mắt trái và mất một phần tai trái. Thành công của chiến dịch và sự dũng cảm trong chiến đấu khiến Wiart được trao huân chương chiến công.
Đầu năm 1915, Wiart tham chiến ở Mặt trận phía Tây. Bàn tay trái của ông bị dập nát do trúng mảnh đạn pháo trong một trận đánh. Các bác sĩ cho rằng bàn tay còn cứu chữa được nhưng Wiart không thể chờ đợi. Ông cắn đứt hai ngón tay vì quá đau đớn, trước khi các bác sĩ cắt bỏ toàn bộ bàn tay.
Những vết thương này không thể ngăn Wiart góp mặt trong trận Somme năm 1916. Khi ba chỉ huy thuộc Tiểu đoàn 8, Trung đoàn Gloucestershinre thiệt mạng trong cuộc tấn công vào làng La Boisselle ở Pháp, ông chỉ huy cả ba đơn vị đẩy lùi cuộc tấn công của đối phương.
Nhờ thành tích này, Wiart được tặng thưởng huân chương Victoria, phần thưởng cao quý nhất của quân đội Anh. Tuy nhiên, ông luôn khiêm tốn và không đề cập đến điều này trong hồi ký, chỉ nói rằng đó là chiến công của cả Tiểu đoàn 8.
Trong trận đánh tại làng La Boisselle, Wiart bị một loạt vết thương nghiêm trọng như trúng đạn vào gáy và mắt cá chân. Ông tiếp tục bị bắn vào hông và chân trong những chiến dịch năm 1917-1918 nhưng vẫn sống sót. "Nói thật, tôi thích chiến tranh", ông nói.
Adrian Carton de Wiart muốn tìm tới bất kỳ nơi nào có xung đột. Ông là phó tư lệnh lực lượng Anh hỗ trợ Ba Lan, Ukraine, Litva, Czech trong giai đoạn 1919-1921 và sống sót qua hai vụ tai nạn máy bay. Wiart về hưu với quân hàm thiếu tướng vào năm 1923 và chuyển đến sống tại Ba Lan.
Wiart tại sở chỉ huy Đồng minh trong Thế chiến II. Ảnh: Wikimedia Commons.
Wiart tại sở chỉ huy Đồng minh trong Thế chiến II. Ảnh: Wikimedia Commons.
Trong những tháng đầu Thế chiến II, Ba Lan bị tàn phá nặng nề bởi các cuộc tấn công của Đức Quốc xã. Wiart phải trở về Anh và tái nhập ngũ, được phong hàm trung tướng năm 1939.
Wiart được điều đến Na Uy để chỉ huy liên quân Anh - Pháp vào năm 1940. Tuy nhiên, thủy phi cơ của ông phải hạ cánh khẩn cấp xuống một vịnh nhỏ do bị tiêm kích Đức tấn công. Wiart từ chối sơ tán bằng xuồng cao su vì cho rằng nó dễ trở thành mục tiêu bị không kích. Ông chờ đợi trong đống đổ nát đến khi chiến đấu cơ đối phương rút lui vì hết đạn. Một tàu hải quân Đồng minh sau đó giải cứu và đưa ông vào bờ.
Lực lượng của Wiart tại Na Uy bị đối phương áp đảo về hỏa lực và không được tiếp tế đầy đủ. Tuy nhiên, sự lãnh đạo tài tình của ông giúp đội quân này vượt qua nhiều ngọn núi và di chuyển đến nơi an toàn, bất chấp quân Đức liên tục tập kích. Hải quân Na Uy hỗ trợ họ rời đi an toàn và Wiart trở về Anh vào ngày sinh nhật thứ 60.
Tháng 4/1941, ông được điều đến thực hiện nhiệm vụ ở Nam Tư. Oanh tạc cơ Wellington của ông bỗng nhiên bị trục trặc trên hành trình và đâm xuống Địa Trung Hải. Wiart và tổ lái ngồi trên cánh máy bay đến khi nó chìm hẳn. Họ phải bơi gần hai km để vào bờ, Wiart còn giúp một đồng đội bị thương trong quá trình này.
Tổ lái Anh bị quân Italy phát hiện và bắt ngay khi lên bờ. Wiart được đưa đến lâu đài Vincigliata, nơi giam giữ ông cùng 12 sĩ quan cấp cao khác. Wiart liên tục tìm cách trốn khỏi nhà tù và một lần thành công, nhưng nhanh chóng bị bắt lại. Ông được phóng thích tháng 8/1943 khi Italy trao đổi tù binh với quân Đồng minh.
Wiart nghỉ hưu năm 1947, xuất bản hồi ký và có một cuộc sống yên bình trước khi qua đời năm 1963 ở tuổi 83.
Duy Sơn (Theo War History)

Phi công tiến hành cuộc không kích đầu tiên trên thế giới

Giulio Gavotti điều khiển máy bay ném bom lính Ottoman ở Libya năm 1911, đánh dấu cuộc không kích đầu tiên trong lịch sử thế giới.


Italy năm 1911 phát động cuộc chiến hai năm với Đế chế Ottoman nhằm giành thuộc địa ở Bắc Phi thông qua đánh chiếm tỉnh Tripolitana và Cyrenaica, ngày nay là lãnh thổ Libya. Trong cuộc chiến này, một phi công Italy đã lái máy bay và thực hiện cú ném bom đầu tiên trong lịch sử quân sự thế giới.
Ngày 1/1/1911, thiếu úy phi công Giulio Gavotti leo lên buồng lái chiếc Etrich Taube. Đây là máy bay được kỹ sư, phi công Áo Igo Etrich thiết kế năm 1909, cất cánh lần đầu năm 1910 và cũng là mẫu phi cơ quân sự đầu tiên được sản xuất hàng loạt ở Đức. Máy bay Etrich Taube rất phổ biến trước Thế chiến I và được biên chế rộng rãi trong không quân Italy khi đó.
Gavotti trên một máy bay của quân đội Italy. Ảnh: BBC.
Gavotti trên một máy bay của quân đội Italy. Ảnh: BBC.
Nhiệm vụ của Gavotti là bay qua khu vực ốc đảo Ain Zara để thăm dò lực lượng quân Ottoman đóng bên dưới. Tuy nhiên, thay vì bay trinh sát như ý định ban đầu, anh quyết định thả bom xuống địa điểm có khoảng 2.000 binh sĩ đối phương bên dưới.
Các phi công Italy khi đó không có lệnh ném bom đối phương, việc mang theo bom trên máy bay chỉ là để đề phòng.
Gavotti nảy ra ý tưởng ném bom khi phát hiện hai thùng bom vừa được chở tới căn cứ ngay trước khi xuất kích. "Hôm nay con quyết định sẽ ném bom từ máy bay. Đây là lần đầu tiên con thử cách này và nếu thành công, con sẽ trở thành  người đầu tiên làm vậy", Gavotti viết trong thư gửi cho cha ở Naples.
Anh thừa nhận rằng chưa từng nhận được chỉ thị hay hướng dẫn nào từ cấp trên về việc ném bom từ máy bay, nên sẽ thực hiện điều này với sự thận trọng tối đa. "Sẽ rất thú vị khi thử ném những quả bom đó xuống đầu quân Thổ", Gavotti viết trong thư.
Gavotti sau đó gắn một chiếc bao da nhỏ ở gần chỗ ngồi trên buồng lái máy bay, bên trong là ba quả bom to bằng quả bưởi, mỗi quả nặng khoảng 1,5 kg, và mang thêm một quả nữa ở túi đeo trước ngực. Khi bay qua mục tiêu, anh đã ném chúng qua sườn máy bay.
"Con phát hiện ra ốc đảo. Một tay con nắm cần lái, tay còn lại cầm quả bom và đặt nó lên đùi. Con rút chốt an toàn rồi ném quả bom ra ngoài, tránh không để trúng cánh máy bay. Con nhìn thấy một đám khói nhỏ bốc lên ở giữa doanh trại địch. Thật may mắn, con đã tấn công trúng đích", Gavotti viết trong thư gửi cha mình sau đó.
Hành động này của Gavotti đã mở ra trang mới trong lịch sử chiến tranh hiện đại, đánh dấu thời kỳ máy bay quân sự bắt đầu chiếm lĩnh ưu thế trên chiến trường và gieo rắc kinh hoàng cho các lực lượng bộ binh dưới mặt đất.
Gavotti tiếp tục ném thêm hai quả bom nhưng không trúng mục tiêu như quả đầu tiên. Dù vậy, anh vẫn tiếp tục ném thêm một quả bom xuống ốc đảo gần Tripoli khi bay về căn cứ.  
"Con trở về và đi thẳng tới báo cáo với tướng Caneva. Mọi người đều hài lòng với kết quả", một bức thư của Gavotti gửi cha có đoạn.
Một chiếc Etrich Taube trong thập niên 1910. Ảnh: WATM.
Một chiếc Etrich Taube trong thập niên 1910. Ảnh: WATM.
Quân đội Italy cho biết Gavotti thực hiện cú ném bom khi bay ở độ cao 180 m, nhưng không xác định được cụ thể thương vong của đối phương trong đòn tấn công. Gavotti có biệt danh là "lính pháo binh bay" nhờ đòn không kích trên.
Quân đội Ottoman gửi khiếu nại cho đối phương, cáo buộc binh sĩ Italy ném bom từ khinh khí cầu và vi phạm Công ước Hague năm 1899. Italy phản bác rằng máy bay không phải khinh khí cầu và vụ ném bom là hoàn toàn hợp pháp.
Các chuyên gia quân sự cho rằng quả bom có kích cỡ nhỏ nên đòn không kích của Gavotti khó gây thương vong cho đối phương. Tuy nhiên, thiếu úy này đã cho thấy khả năng thực hiện những cuộc tấn công từ máy bay, mở ra kỷ nguyên của tác chiến đường không.
Duy Sơn (Theo WATM)

'Quái vật bầu trời' gieo kinh hoàng trong Thế chiến I

Kích thước đồ sộ cùng khả năng xuất hiện bất ngờ khiến khí cầu là nỗi ám ảnh thường trực với người Anh những năm đầu Thế chiến I.


Khí cầu ngày nay thường chỉ dùng để quảng cáo hoặc chở khách du lịch, nhưng nó từng là vũ khí rất lợi hại trong Thế chiến I. Những chiếc khinh khí cầu của Đức được ví như "quái vật bầu trời", gieo rắc kinh hoàng cho người dân Anh bằng những cuộc oanh tạc bất ngờ.
Khí cầu được Đức sử dụng để tập kích Anh trong Thế chiến I có kích thước lớn, với chiều dài hơn 152 m. Chúng có bộ khung cứng bằng nhôm và được bơm đầy hydro. Mỗi chiếc có thể di chuyển với tốc độ tối đa 145 km/h, mang được khoảng hai tấn bom và đạt trần bay gần 5 km, vượt quá tầm hoạt động của phần lớn máy bay thời đó.
Khí cầu trinh sát - ném bom của Đức thử nghiệm năm 1913. Ảnh: Wikipedia.
Khí cầu trinh sát - ném bom của Đức thử nghiệm năm 1913. Ảnh: Wikipedia.
Tháng 1/1915, Hoàng đế Đức Kaiser Wilhelm II ra lệnh mở chiến dịch oanh tạc Anh bằng khí cầu. Tuy nhiên, ông cấm các khí cầu tấn công thủ đô London vì có họ hàng với hoàng gia Anh và không muốn phá hủy di sản văn hóa của nước này.
Cuộc tập kích đầu tiên diễn ra ngày 19/1/1915, khi hai khí cầu ném bom thị trấn King’s Lynn, Sheringham và Great Yarmouth làm 4 người thiệt mạng, 16 người bị thương. Thiệt hại của đòn tấn công tương đối nhỏ, nhưng tác động tâm lý của nó lại rất lớn và được coi là dấu hiệu chiến tranh đã lan đến lãnh thổ Anh.
Với nhiều người Anh trong Thế chiến I, sự xuất hiện của khí cầu Đức giống cảnh trong truyện viễn tưởng. Kích thước của chúng áp đảo mọi thứ trên bầu trời, nhất là khi những chiếc máy bay đầu tiên chỉ xuất hiện trước đó vài năm.
Phần lớn những người cảnh giới dưới mặt đất đều không thể phát hiện ra khí cầu tấn công. Lớp vỏ màu trắng khiến nó dễ lẫn vào các đám mây và sương mù, tiếng động cơ cũng khó nghe thấy vì độ cao hoạt động và bị gió át đi. Điều này khiến đòn không kích từ khí cầu trở thành nỗi ám ảnh với người dân Anh, bởi những quả bom chúng thả dường như bất thần xuất hiện từ hư vô.
Các cuộc tập kích liên tiếp của khí cầu khiến người dân Anh hoảng loạn. Bạo loạn chống Đức đã nổ ra ở một số nơi. Một số người lo sợ Đức sẽ xâm lược Anh, trong khi số khác tin rằng khí cầu cất cánh từ một căn cứ bí mật trên lãnh thổ nước này.
Anh sau đó tìm cách đối phó mối đe dọa từ khí cầu Đức. Pháo cỡ nhỏ không thể hạ chúng do không đủ tầm bắn. Chỉ có máy bay và pháo phòng không hạng nặng dùng đạn cháy tỏ ra hiệu quả. Khí hydro rất dễ bắt lửa, khiến khinh khí cầu Đức có thể trở thành quả cầu lửa khổng lồ nếu trúng một viên đạn cháy.
Xác khí cầu bị quân Anh bắn hạ năm 1916. Ảnh: Wikipedia.
Xác khí cầu bị quân Anh bắn hạ năm 1916. Ảnh: Wikipedia.
Áp lực ngày càng lớn ở giai đoạn giữa Thế chiến I khiến Wilhelm II thay đổi ý định, cho phép quân đội tấn công trực tiếp vào London. Quân đội Đức cũng chuyển sang tập kích vào ban đêm để giảm nguy cơ đối phương phát hiện, bắn hạ khí cầu.
Đức đã tiến hành tổng cộng 52 cuộc tập kích vào đất Anh bằng khí cầu trong Thế chiến I, khiến hơn 500 người thiệt mạng. Đến năm 1917, Berlin thay thế hầu hết khinh khí cầu bằng máy bay và chuyển sang tấn công ban ngày.
Sau khi Thế chiến I kết thúc, khí cầu ít được sử dụng trong quân sự. Chúng cũng dần biến mất khỏi vai trò vận tải và chở khách sau thảm họa Hindenburg năm 1937.
Duy Sơn (Theo War History)

Nhận xét