CỨU SINH KỲ DIỆU 20
(ĐC sưu tầm trên NET)
Vừng đen thường được dùng chữa một số bệnh sau:
1. Giữ cho da đẹp và tóc lâu bạc
Vừng đen 500g đem phơi khô, sao chín, tán ra bột, cho vào lọ sạch dùng dần. Khi ăn, cho 1-2 thìa bột vừng vào bát, cho thêm đường tùy theo khẩu vị (nếu có đường phèn càng tốt), đổ nước sôi vào quấy đều thành chè. Chè vừng đen thích ăn lúc nào thì làm lúc ấy, ăn liên tục nhiều ngày có tác dụng rất tốt cho da, tóc; người trẻ lâu giữ được vẻ đẹp, lại chữa khỏi ho khan và táo bón.
2. Chữa đầy chướng bụng
Chướng bụng do gười bệnh có cảm giác ậm ạch, sau mỗi lần ăn vào lại đầy bụng, chướng hơi bí bích không tiêu): Lấy vừng đen giã nhỏ nấu cháo và cho vào 1 cái vỏ quýt khô. Khi ăn nêm một ít muối vừa miệng. Ăn vài lần sẽ khỏi.
3. Chữa sản phụ thiếu sữa
Bài 1: Lấy 30g vừng đen giã nhỏ; cùng với gạo tẻ (chừng 50-60g) cho vào nước nấu nhừ thành cháo mà ăn. Món cháo này vừa có tác dụng lợi sữa, vừa nhuận tràng, thích hợp với phụ nữ sau khi sinh bị táo bón, và không đủ sữa cho con bú.
Bài 2: Vừng 30g giã nhỏ, tằm rang khô 10g nghiền vụn (có thể theo tỷ lệ này làm nhiều, bảo quản tốt để dùng dần). Cả 2 thứ đem trộn với đường đỏ (vị vừa ăn), đổ nước sôi vào, đậy nắp kín, sau 10 phút thì uống. Mỗi ngày uống 1 lần lúc đói. Chỉ uống 2 ngày là sữa bắt đầu ra, uống sau 4 ngày thì sữa ra đều và đủ cho con bú.
4. Chữa viêm mũi mạn tính
Lấy một ít dầu vừng đem đun sôi, giữ nhỏ lửa cho sôi nhẹ 15 phút. Khi nguội, đổ dầu vào lọ sạch có nút kín, dùng dần. Ngày nhỏ mũi 3 lần: mới đầu chỉ nhỏ 2-3 giọt, khi đã quen thì tăng lên 4-5 giọt. Sau khi nhỏ thuốc không cử động mạnh 2-3 phút cho dầu lan ra ngấm kỹ vào niêm mạc mũi. Dùng sau 2 tuần sẽ khỏi bệnh.
5. Chữa chân tay đau buốt hơi thũng
Đây là chứng do thấp nhiệt thâm nhiễm làm chân tay đau buốt và hơi thũng. Cách chữa: lấy 40g hạt vừng đen, rang có mùi thơm, tán bột, đổ vào 40g rượu, ngâm trong một đêm, chia đều uống nhiều lần, bệnh sẽ giảm dần và khỏi.
6. Chữa táo bón
Bài 1: Vừng đen 200g, hà thủ ô đỏ, kỳ tử, long nhãn, tang thầm (quả dâu), bá tử nhân (hạt trắc bá) mỗi vị 100g, mật ong vừa đủ. Tán bột làm viên, mỗi ngày uống 10-20 viên, có thể dùng ở dạng thuốc sắc liều thích hợp.
Bài 2: Vừng đen, đại táo, xuyên khung, đương quy, bá tử nhân, mỗi vị 8g. Thục địa, bạch thược mỗi vị 12g. Tất cả cho vào ấm sắc uống ngày một thang.
Theo Lương Y Phó Thuần Hương (Sức khỏe đời sống)
Kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm bước đầu cho thấy quả sung có tác dụng nhuận tràng, hạ huyết áp và phòng chống ung thư.
Ung thư đại tràng: Để ngăn ngừa hoặc chữa khỏi bệnh ung thư đại tràng, điều quan trọng là phải có đường tiêu hóa khỏe mạnh. Quả sung (tươi hoặc khô) là nguồn cung cấp chất xơ phong phú, do vậy có có vai trò lớn trong phòng ngừa ung thư đại tràng.
Ung thư vú: Sự hiện diện của các gốc tự do được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây ung thư. Quả sung giàu chất chống oxy hóa giúp chống lại các gốc tự do này.
Phụ nữ thời kỳ mãn kinh do mất cân bằng nội tiết tố nên có thể mang nhiều nguy cơ lớn hơn. Quả sung có vai trò cung cấp lớp bảo vệ chống lại các gốc tự do trong cơ thể qua đó giúp ngăn ngừa ung thư.
Ung thư não: Các nghiên cứu gần đây dần đề
cập đến tác động của chiết xuất từ quả sung với tế bào ung thư não. Kết
quả cho thấy khi chiết xuất được dùng, nó hạn chế sự phát triển của các
tế bào tới gần 75%.
Ung thư gan: Tương tự như các tế bào ung
thư não, chiết xuất từ quả sung được dùng cho các tế bào ung thư gan và
mang lại kết quả tích cực. Sự tăng trưởng của các tế bào ung thư đã bị
hạn chế gần như hoàn toàn.
Viêm họng: Sung tươi sấy khô, tán bột rồi lấy một chút thổi vào họng, hoặc sung tươi gọt vỏ, thái phiến, sắc kỹ lấy nước, cho thêm đường phèn rồi cô nhỏ lửa thành dạng cao, ngậm hàng ngày.
Ho khan không có đờm: Dùng sung chín đủ, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt uống mỗi ngày một lần.
Viêm loét dạ dày tá tràng: Sung sao khô, tán bột, mỗi ngày uống 2- 3 lần, mỗi lần 6-9 g với nước ấm.
Sản phụ thiếu sữa: Sung tươi 120 g, móng lợn 500 g, hai thứ đem hầm thật nhừ, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần. Bài này có công dụng bổ khí huyết, hạ nhũ chấp (làm ra sữa) dùng rất tốt cho sản phụ sau đẻ suy nhược, khí huyết bất túc, sửa không có hoặc có rất ít.
Tỳ vị hư nhược, hay rối loạn tiêu hóa: Sung
30 g, thái nhỏ, sao hơi cháy, mỗi lần lấy 10 g hãm với nước sôi trong
bình kín, sau 20 phút thì dùng được, chế thêm một chút đường phèn, uống
thay trà trong ngày.
Táo bón: Sung tươi 9g sắc uống hàng ngày. Hoặc sung chín ăn mỗi ngày 3- 5 quả. Hoặc sung tươi 10 quả rửa sạch bổ đôi, ruột già lợn một đoạn làm sạch thái nhỏ, hai thứ đem hầm nhừ, chế thêm gia vị, ăn trong ngày.
Viêm khớp: Sung tươi lượng vừa đủ đem hầm với thịt lợn nạc ăn. Hoặc sung tươi 2-3 quả rửa sạch thái vụn rồi tráng với trứng gà ăn.
Mụn nhọt, lở loét: Quả sung chín sao khô, tán bột rồi rắc lên tổn thương. Để đạt hiệu quả cao, trước đó có thể ngâm rửa tổn thương bằng nước sắc quả hay lá sung tươi, sau đó lau khô rồi rắc bột thuốc và băng lại.
Theo Quảng An (Tiền Phong)
Giúp ngừa bệnh Alzheimer
Dùng dưa lê giúp não trở nên khỏe mạnh và minh mẫn hơn. Trong dưa lê có chứa nhiều forlate – loại chất gây tác động đến bệnh mất trí nhớ, dùng nhiều dưa lê giúp cân bằng lại lượng folate đã mất trong cơ thể
Dưa lê giúp hạ huyết áp
Dưa lê cũng giàu hàm lượng kali, một loại khoáng chất đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp. Kali cũng cần thiết cho mọi tế bào trong cơ thể, nó giúp tế bào khỏe mạnh và có sức đề kháng với nhiều bệnh tật.
Giúp da sáng đẹp hơn
Trong dưa lê có chứa nhiều vitamin C, có khả năng chống oxi hóa giúp tăng nồng độ collagen, làm da khòe và trẻ trung.
Vitamin C cũng đóng vai trò quan trọng trong chức năng của hệ miễn dịch và có thể giúp chống lại virut gây sốt và cảm cúm. Mặt khác, vitamin C giúp hấp thụ chất sắt. Chỉ cần ăn một quả dưa lê cỡ trung bình cũng sẽ giúp bạn nhận đủ lượng vitamin C cần thiết mỗi ngày.
Hạt dưa lê giàu protein
Hạt dưa lê có chứa khoảng 3,6% protein, tương đương với lượng protein có trong đậu nành. Vì vậy, bạn nên ăn cả hạt dưa lê vì chúng rất có lợi cho sức khỏe.
Tốt cho tim mạch
Các axit béo omega-3 trong hạt dưa lê đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại các vấn đề về tim mạch. Đây là một trong những lợi ích của hạt dưa lê với sức khỏe.
Bên cạnh đó, dưa lê có chứa cả chất beta-carotene. Sự kết hợp giữa beta- carotene và vitamin C có thể giúp ngừa được nhiều căn bệnh mãn tính.
Dưa lê có tác dụng giảm béo
Nếu bạn muốn giảm cân trong thời gian mùa hè thì dưa lê cũng như dưa
hấu cần được đưa lên hàng đầu. Lý do là dưa lê không những vừa ngon, dễ
ăn mà trong một quả dưa lê trung bình chỉ có chứa 64 calo và không có
chất béo.
Dưa lê cải thiện mật độ xương
Một trong những lợi ích sức khỏe của dưa lê là giúp ngăn ngừa loãng xương. Vì vậy, phụ nữ và trẻ em nên tăng cường ăn nhiều trái cây này.
Hỗ trợ đường ruột
Dưa lê có tác dụng loại bỏ các loại giun, sán trong ruột. Đó là lý do tại sao bạn nên cho trẻ ăn dưa lê trong mùa hè vì nó giúp trẻ phòng ngừa các căn bệnh về tiêu hóa.
Bên cạnh đó, dưa lê giàu folate, một loại vitamin có vai trò quan trọng cho sức khỏe của tim, đồng thời ngăn chặn những khuyết tật ở thai nhi.
Dưa lê có một hàm lượng chất xơ khá cao, vì vậy nó giúp giảm nhẹ được chứng táo bón
Theo Thái Hà (Tiền Phong)
Những tác dụng tuyệt vời từ hạt vừng đối với sức khỏe
6 tác dụng tuyệt vời của vừng đen đối với sức khỏe và sắc đẹp chị em
Thứ Năm, ngày 18/07/2019 08:00 AM (GMT+7)
Vừng có hai loại trắng và đen, trong đó vừng đen có nhiều dược tính hơn cả nên được dùng làm thuốc chữa bệnh. Từ lâu đời, vừng đen (còn gọi hắc chi ma) đã được coi là món ăn bổ, và vị thuốc quý.
Sự kiện:
Theo y học cổ truyền, vừng đen có vị ngọt, tính bình, có tác
dụng dưỡng huyết, nhuận táo, bổ ngũ tạng, hư nhược, ích khí lực, bền gân
cốt, sáng mắt, thêm thông minh, dùng ngoài đắp trị sưng tấy, vết bỏng
và làm cao dán nhọt... Ngoài ra, hạt vừng và dầu hạt vừng được dùng để
chữa táo bón, tăng cường dinh dưỡng.Sống khỏe
Vừng đen thường được dùng chữa một số bệnh sau:
1. Giữ cho da đẹp và tóc lâu bạc
Vừng đen 500g đem phơi khô, sao chín, tán ra bột, cho vào lọ sạch dùng dần. Khi ăn, cho 1-2 thìa bột vừng vào bát, cho thêm đường tùy theo khẩu vị (nếu có đường phèn càng tốt), đổ nước sôi vào quấy đều thành chè. Chè vừng đen thích ăn lúc nào thì làm lúc ấy, ăn liên tục nhiều ngày có tác dụng rất tốt cho da, tóc; người trẻ lâu giữ được vẻ đẹp, lại chữa khỏi ho khan và táo bón.
2. Chữa đầy chướng bụng
Chướng bụng do gười bệnh có cảm giác ậm ạch, sau mỗi lần ăn vào lại đầy bụng, chướng hơi bí bích không tiêu): Lấy vừng đen giã nhỏ nấu cháo và cho vào 1 cái vỏ quýt khô. Khi ăn nêm một ít muối vừa miệng. Ăn vài lần sẽ khỏi.

Bài 1: Lấy 30g vừng đen giã nhỏ; cùng với gạo tẻ (chừng 50-60g) cho vào nước nấu nhừ thành cháo mà ăn. Món cháo này vừa có tác dụng lợi sữa, vừa nhuận tràng, thích hợp với phụ nữ sau khi sinh bị táo bón, và không đủ sữa cho con bú.
Bài 2: Vừng 30g giã nhỏ, tằm rang khô 10g nghiền vụn (có thể theo tỷ lệ này làm nhiều, bảo quản tốt để dùng dần). Cả 2 thứ đem trộn với đường đỏ (vị vừa ăn), đổ nước sôi vào, đậy nắp kín, sau 10 phút thì uống. Mỗi ngày uống 1 lần lúc đói. Chỉ uống 2 ngày là sữa bắt đầu ra, uống sau 4 ngày thì sữa ra đều và đủ cho con bú.
4. Chữa viêm mũi mạn tính
Lấy một ít dầu vừng đem đun sôi, giữ nhỏ lửa cho sôi nhẹ 15 phút. Khi nguội, đổ dầu vào lọ sạch có nút kín, dùng dần. Ngày nhỏ mũi 3 lần: mới đầu chỉ nhỏ 2-3 giọt, khi đã quen thì tăng lên 4-5 giọt. Sau khi nhỏ thuốc không cử động mạnh 2-3 phút cho dầu lan ra ngấm kỹ vào niêm mạc mũi. Dùng sau 2 tuần sẽ khỏi bệnh.
5. Chữa chân tay đau buốt hơi thũng
Đây là chứng do thấp nhiệt thâm nhiễm làm chân tay đau buốt và hơi thũng. Cách chữa: lấy 40g hạt vừng đen, rang có mùi thơm, tán bột, đổ vào 40g rượu, ngâm trong một đêm, chia đều uống nhiều lần, bệnh sẽ giảm dần và khỏi.
6. Chữa táo bón
Bài 1: Vừng đen 200g, hà thủ ô đỏ, kỳ tử, long nhãn, tang thầm (quả dâu), bá tử nhân (hạt trắc bá) mỗi vị 100g, mật ong vừa đủ. Tán bột làm viên, mỗi ngày uống 10-20 viên, có thể dùng ở dạng thuốc sắc liều thích hợp.
Bài 2: Vừng đen, đại táo, xuyên khung, đương quy, bá tử nhân, mỗi vị 8g. Thục địa, bạch thược mỗi vị 12g. Tất cả cho vào ấm sắc uống ngày một thang.
Khi chưa biết được giá trị thực sự của loại củ này, nó được xem như củ dại, nhưng bây giờ có rất nhiều người...
Theo Lương Y Phó Thuần Hương (Sức khỏe đời sống)
Ngoài là 'thần dược' chống ung thư, quả sung còn chữa được rất nhiều bệnh
Thứ Bảy, ngày 29/06/2019 12:00 PM (GMT+7)
Quả sung là nguồn cung cấp chất xơ dồi dào, giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh, là 'thần dược' phòng ngừa và chống lại một số loại ung thư, đồng thời còn chữa được nhiều bệnh khác rất hiệu quả.
Sự kiện:
Sống khỏe

Ảnh minh họa: Internet
Quả sung còn có tên khác là vô hoa quả, thiên sinh tử, ánh nhật quả,
văn tiên quả, phẩm tiên quả, nãi tương quả, mật quả... Theo nghiên cứu
hiện đại, quả sung có chứa glucose, saccarose, quinic acid, shikimic
acid, oxalic acid, citic acid, malic acid, auxin, các nguyên tố vi lượng
như canxi, photpho, kali... và một số vitamin như C.Kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm bước đầu cho thấy quả sung có tác dụng nhuận tràng, hạ huyết áp và phòng chống ung thư.
Ung thư đại tràng: Để ngăn ngừa hoặc chữa khỏi bệnh ung thư đại tràng, điều quan trọng là phải có đường tiêu hóa khỏe mạnh. Quả sung (tươi hoặc khô) là nguồn cung cấp chất xơ phong phú, do vậy có có vai trò lớn trong phòng ngừa ung thư đại tràng.
Ung thư vú: Sự hiện diện của các gốc tự do được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây ung thư. Quả sung giàu chất chống oxy hóa giúp chống lại các gốc tự do này.
Phụ nữ thời kỳ mãn kinh do mất cân bằng nội tiết tố nên có thể mang nhiều nguy cơ lớn hơn. Quả sung có vai trò cung cấp lớp bảo vệ chống lại các gốc tự do trong cơ thể qua đó giúp ngăn ngừa ung thư.

Viêm họng: Sung tươi sấy khô, tán bột rồi lấy một chút thổi vào họng, hoặc sung tươi gọt vỏ, thái phiến, sắc kỹ lấy nước, cho thêm đường phèn rồi cô nhỏ lửa thành dạng cao, ngậm hàng ngày.
Ho khan không có đờm: Dùng sung chín đủ, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt uống mỗi ngày một lần.
Viêm loét dạ dày tá tràng: Sung sao khô, tán bột, mỗi ngày uống 2- 3 lần, mỗi lần 6-9 g với nước ấm.
Sản phụ thiếu sữa: Sung tươi 120 g, móng lợn 500 g, hai thứ đem hầm thật nhừ, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần. Bài này có công dụng bổ khí huyết, hạ nhũ chấp (làm ra sữa) dùng rất tốt cho sản phụ sau đẻ suy nhược, khí huyết bất túc, sửa không có hoặc có rất ít.
Táo bón: Sung tươi 9g sắc uống hàng ngày. Hoặc sung chín ăn mỗi ngày 3- 5 quả. Hoặc sung tươi 10 quả rửa sạch bổ đôi, ruột già lợn một đoạn làm sạch thái nhỏ, hai thứ đem hầm nhừ, chế thêm gia vị, ăn trong ngày.
Viêm khớp: Sung tươi lượng vừa đủ đem hầm với thịt lợn nạc ăn. Hoặc sung tươi 2-3 quả rửa sạch thái vụn rồi tráng với trứng gà ăn.
Mụn nhọt, lở loét: Quả sung chín sao khô, tán bột rồi rắc lên tổn thương. Để đạt hiệu quả cao, trước đó có thể ngâm rửa tổn thương bằng nước sắc quả hay lá sung tươi, sau đó lau khô rồi rắc bột thuốc và băng lại.
Loại củ này từng gây sốt trong một thời gian dài, người ta tin rằng nó giống như "thần dược phòng the", được...
Theo Quảng An (Tiền Phong)
Dưa lê: 'Thần dược' hạ huyết áp, tốt cho tim, đẹp da
Thứ Sáu, ngày 14/06/2019 01:00 AM (GMT+7)
Quả dưa lê không chỉ ngon mà còn mang nhiều giá trị dinh dưỡng, tốt cho tim mạch, giúp hạ huyết áp, tăng cường trí nhớ, đẹp da, đẹp dáng.
Sự kiện:
Sống khỏe

Ảnh minh hoạ: Internet
Trong quả dưa lê có nhiều vitamin A, C và E - loại vitamin chống oxi
hóa giúp tăng nồng độ collagen, loại protein giúp da khỏe và trẻ trung.
Vitamin C trong loại quả này cũng đóng vai trò quan trọng trong chức
năng của hệ miễn dịch và có thể giúp chống lại virut gây sốt và cảm cúm.
Hơn nữa, dưa lê chứa beta-carotene. Sự kết hợp giữa beta- carotene và
vitamin C có thể giúp ngừa được nhiều căn bệnh mãn tính như bệnh tim
mạch, huyết áp thấp...Giúp ngừa bệnh Alzheimer
Dùng dưa lê giúp não trở nên khỏe mạnh và minh mẫn hơn. Trong dưa lê có chứa nhiều forlate – loại chất gây tác động đến bệnh mất trí nhớ, dùng nhiều dưa lê giúp cân bằng lại lượng folate đã mất trong cơ thể
Dưa lê giúp hạ huyết áp
Dưa lê cũng giàu hàm lượng kali, một loại khoáng chất đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp. Kali cũng cần thiết cho mọi tế bào trong cơ thể, nó giúp tế bào khỏe mạnh và có sức đề kháng với nhiều bệnh tật.

Vitamin C cũng đóng vai trò quan trọng trong chức năng của hệ miễn dịch và có thể giúp chống lại virut gây sốt và cảm cúm. Mặt khác, vitamin C giúp hấp thụ chất sắt. Chỉ cần ăn một quả dưa lê cỡ trung bình cũng sẽ giúp bạn nhận đủ lượng vitamin C cần thiết mỗi ngày.
Hạt dưa lê giàu protein
Hạt dưa lê có chứa khoảng 3,6% protein, tương đương với lượng protein có trong đậu nành. Vì vậy, bạn nên ăn cả hạt dưa lê vì chúng rất có lợi cho sức khỏe.
Tốt cho tim mạch
Các axit béo omega-3 trong hạt dưa lê đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại các vấn đề về tim mạch. Đây là một trong những lợi ích của hạt dưa lê với sức khỏe.
Bên cạnh đó, dưa lê có chứa cả chất beta-carotene. Sự kết hợp giữa beta- carotene và vitamin C có thể giúp ngừa được nhiều căn bệnh mãn tính.
Dưa lê có tác dụng giảm béo
Dưa lê cải thiện mật độ xương
Một trong những lợi ích sức khỏe của dưa lê là giúp ngăn ngừa loãng xương. Vì vậy, phụ nữ và trẻ em nên tăng cường ăn nhiều trái cây này.
Hỗ trợ đường ruột
Dưa lê có tác dụng loại bỏ các loại giun, sán trong ruột. Đó là lý do tại sao bạn nên cho trẻ ăn dưa lê trong mùa hè vì nó giúp trẻ phòng ngừa các căn bệnh về tiêu hóa.
Bên cạnh đó, dưa lê giàu folate, một loại vitamin có vai trò quan trọng cho sức khỏe của tim, đồng thời ngăn chặn những khuyết tật ở thai nhi.
Dưa lê có một hàm lượng chất xơ khá cao, vì vậy nó giúp giảm nhẹ được chứng táo bón
| Cách chọn và ăn dưa lê đúng cách - Nên mua dưa vào những ngày nắng, trời càng nắng dưa càng ngọt, ngược lại không nên mua vào những ngày mưa, dưa rất nhạt. - Khi ăn dưa lê nên gọt dày lớp vỏ để dưa được ngọt hơn. Không nên gạt bỏ phần hạt vì các axit béo omega-3 trong hạt dưa lê đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại các vấn đề về tim mạch. - Dưa lê ngon, ngọt là những quả tròn đều, chắc, da cứng và có phần phía dưới hơi lồi ra. Vỏ của dưa lê còn một lớp lông măng mỏng, tỏa mùi thơm dễ chịu (nếu dưa bị ngâm hóa chất thì lớp lông măng và mùi hương đều sẽ không còn). - Không chọn những quả vẹo vọ, nứt hoặc đã chín nhũn, vì những quả dưa lê như này ăn vào sẽ rất dễ ngộ độc. |
Mít vô cùng có lợi cho sức khỏe, đặc biệt trong việc chống lại tế bào ung thư, chống đau tim, đột quỵ, ngăn ngừa thiếu...
Theo Thái Hà (Tiền Phong)
Nhận xét
Đăng nhận xét