CÂU CHUYỆN KHOA HỌC 116

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Hố Đen Và Hố Trắng - Chuyện Thật Như Đùa

Phát hiện hố đen lớn gấp 40 tỷ lần Mặt Trời

Hố đen Holm 15A* cách Trái Đất hàng trăm triệu năm ánh sáng lớn đến mức hệ Mặt Trời có thể nằm gọn trong chân trời sự kiện của nó.



Holm 15A* là một trong những hố đen lớn nhất vũ trụ. Ảnh: France24.
Holm 15A* là một trong những hố đen lớn nhất vũ trụ. Ảnh: France24.
Hố đen nằm ở trung tâm Holmberg 15A, một thiên hà hình elip khổng lồ ở cách 700 triệu năm ánh sáng, tọa lạc giữa cụm thiên hà Abell 85. Đây là một trong những hố đen lớn nhất mà giới nghiên cứu từng phát hiện. Kết quả nghiên cứu về hố đen này được công bố trên tạp chí arXiv hôm hôm 24/7.
Các tính toán trước đây dựa trên vận động của thiên hà và cụm thiên hà ước tính khối lượng của hố đen Holm 15A* lớn gấp 310 tỷ lần khối lượng Mặt Trời. Tuy nhiên, đó là kết quả tính toán theo phương pháp gián tiếp. Thông qua theo dõi chuyển động của những ngôi sao xung quanh hố đen, nhóm nghiên cứu đã tìm ra con số chính xác hơn.
Holm 15A* không phải hố đen có khối lượng lớn nhất. Kỷ lục thuộc về hố đen ở chuẩn tinh TON 618, nặng gấp 66 tỷ lần Mặt Trời. Nhưng chân trời sự kiện hay còn gọi là bán kính Schwarzschild của hố đen Holm 15A* là 790 AU (đơn vị thiên văn được quy ước bằng khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời), đủ bao trùm quỹ đạo của mọi hành tinh trong hệ Mặt Trời. So với con số trên, khoảng cách từ sao Diêm Vương đến Mặt Trời chỉ dài 39,5 AU.
An Khang (Theo Science Alert)

Những thí nghiệm kéo dài nhất lịch sử, cho thấy loài người đã phải hi sinh nhiều thế nào cho khoa học

Billy Cipher, Theo Helino 00:10 06/08/2019

Thời gian cho một thí nghiệm lên đến cả trăm năm.

"Sự kiên nhẫn đắng chát, nhưng quả của nó lại ngọt."
Câu nói này rất đúng, nhưng có lẽ nó đặc biệt thấm thía đối với những người làm khoa học. Đôi khi bạn khởi xướng một nghiên cứu và đặt vào đó tâm huyết cả đời mình – mặc dù bạn biết mình không thể nhìn thấy kết quả. Không sao cả, nhiều lúc chúng ta chỉ cần làm theo những gì mình tin là đúng mà thôi.
Những thí nghiệm dưới đây có lẽ là minh chứng rõ ràng hơn cả cho một chân lí: mọi nhiệt huyết sớm hay muộn đều sẽ được đền đáp.
1. Thí nghiệm về hạt giống của William James Beal (221 năm)
Bị ấn tượng mạnh mẽ bởi sức sống bền bỉ của các loài cỏ dại bất chấp điều kiện tồi tệ của môi trường và sự hủy diệt của con người, một nhà thực vật học người Mỹ William James Beal đã bắt đầu một trong những thí nghiệm dài nhất trong lịch sử loài người về khả năng này. Năm 1897, ông thu thập hạt giống của 21 loại cỏ khác nhau, trộn với cát và bỏ vào lọ kín chôn xuống đất. Cứ 5 năm một, những hạt này sẽ được đào lên và trồng thử để xem chúng còn khả năng nảy nầm sau thời gian dài bị "phong ấn" hay không.
Những thí nghiệm kéo dài nhất lịch sử, cho thấy loài người đã phải hi sinh nhiều thế nào cho khoa học - Ảnh 1.
William James Beal
Tuy nhiên bắt đầu từ năm 1920, ông quyết định tăng thời hạn này lên 10 năm và sau khi William qua đời, các nhà khoa học kế thừa thí nghiệm này và đẩy con số này lên 20 năm.
Sau năm nay – tức là 2020, một lọ nữa sẽ được lấy ra để trồng thử. Theo dự tính, lọ hạt cuối cùng sẽ được đào lên vào năm 2100 – tức là 221 năm kể từ thời điểm bắt đầu.
Những thí nghiệm kéo dài nhất lịch sử, cho thấy loài người đã phải hi sinh nhiều thế nào cho khoa học - Ảnh 2.
Ngày đó, William chỉ đơn thuần muốn quan sát xem liệu thời gian có thể giết chết hạt cỏ, hay chúng ta buộc phải can thiệp nếu muốn tống khứ loại thực vật đáng ghét này khỏi các nông trại của mình. Tuy nhiên, hành động của ông đã để lại một di sản lớn cho khoa học ngày nay mà có lẽ chính William cũng không hề hay biết.
Các nhà nghiên cứu ngày nay lại muốn tìm hiểu về điều đã cho phép cỏ dại có thể sống dai như thế, và từ đó đưa ra phương pháp lưu trữ tối ưu nhất để bảo quản hạt giống của toàn bộ thực vật trên Trái đất, chuẩn bị cho ngày tận thế.
2. Thí nghiệm quan sát độ bền của pin chuông điện tại Oxford (179 năm)
Năm 1840, khi giáo sư vật lí Robert Walker của ĐH Oxford tậu một cái chuông điện mới cho bộ sưu tập của mình, có lẽ chính ông cũng không ngờ rằng mình đã bắt đầu một thí nghiệm kéo dài hơn một thế kỉ sau cho con cháu.
Bộ chuông này được cho là đã ra đời 15 năm trước khi được Robert mua lại và tới ngày nay vẫn đang hoạt động tốt – tức là vẫn chạy được gần 2 thế kỉ sau khi được sản xuất!
Bản thân chiếc chuông thì không có gì đặc biệt, bí mật của nó nằm ở bộ pin phía trong kìa. Không ai rõ cấu tạo của bộ pin này ra sao – bởi tất cả các ghi chép về thiết kế đã không may bị thất lạc từ lâu.
Những thí nghiệm kéo dài nhất lịch sử, cho thấy loài người đã phải hi sinh nhiều thế nào cho khoa học - Ảnh 3.
Mở cục pin ra để nghiên cứu thì rất dễ thôi – nhưng các nhà khoa học đang tò mò xem liệu loại pin này còn có thể chạy được bao nhiêu lâu nữa. Thừa hưởng sẵn thành tựu 179 năm quan sát của các tiền bối, Oxford ngày nay vẫn tiếp tục chờ đợi thời khắc quả pin chính thức bị hỏng để có thể tiến hành phân tích. Ai mà biết được rồi kì tích nào sẽ xảy ra chứ? Có lẽ chúng ta sẽ phải kiên nhẫn thôi, vì chiếc chuông vẫn chưa có vẻ gì là muốn dừng lại cả và hiện tại thì đang được trưng bày tại lối vào phòng thí nghiệm Clarendon để mọi người cùng chiêm ngưỡng.
3. Thí nghiệm về bitum của Thomas Parnell (86 năm)
Trước đây, người ta cho rằng bitum – thành phần chủ yếu của nhựa đường là một chất rắn, bởi cả vẻ bề ngoài lẫn tính chất của nó đều "toát lên" điều này.
Tuy nhiên, một giáo sư ngành vật lí của ĐH Queensland – Thomas Parnell đã phản bác lại tất cả đồng nghiệp của mình, cho rằng bitum thực chất là một chất lỏng với độ nhớt cực kì cao, nghĩa là nó có thể chảy giống như nước ấy – chỉ là sẽ chảy siêu chậm mà thôi. Để chứng minh cho nhận định của mình, ông đã bắt đầu thí nghiệm vô cùng nổi tiếng này vào năm 1927.
Thomas đổ đầy bitum vào một cái phễu lớn, đặt một cái cốc phía dưới để hứng các giọt nhựa nhỏ xuống.
Những thí nghiệm kéo dài nhất lịch sử, cho thấy loài người đã phải hi sinh nhiều thế nào cho khoa học - Ảnh 4.
Thomas Parnell
Cuối cùng, thí nghiệm này đã thành công, Thomas đã đúng. Có điều dù công sức bỏ ra không nhiều, nhưng thời gian chờ đợi thì ai nghe tới cũng phải ngả mũ.
Ở bitum có hiện tượng nhỏ giọt đồng nghĩa với việc nó được công nhận là chất lỏng. Mỗi chất lỏng đều có một hệ số nhớt riêng, và hệ số của bitum lớn hơn nước khoảng 30 tỉ lần. Bảo sao, tính từ lúc bắt đầu thí nghiệm, mất tới 8 năm thì giọt đầu tiên mới rơi xuống và cho đến nay, tức là hơn 90 năm sau thì tất cả, người ta mới chỉ đếm thêm được 8 giọt bitum nữa.
Trong những năm 80, ĐH Queensland đã thảo luận về việc gỡ bỏ thí nghiệm này nhưng sau cùng quyết định giữ nguyên nó với 2 lí do. Một là, hóa ra chưa ai được tận mắt chứng kiến khoảng khắc giọt nhựa rơi xuống cả - ngay tới Thomas, người thiết lập ra thí nghiệm này cũng không có vinh dự đó. Người ta chỉ thấy các giọt bitum mới xuất hiện ở cốc hứng phía dưới sau mỗi đêm và công nhận nó mà thôi.
Mặc dù đã nhờ tới sự giúp đỡ của công nghệ, nhưng thật không may là giọt nhựa thứ 8 rơi xuống năm 2000 đúng vào lúc máy quay... hết pin. Phải đến tận 2014, chúng ta mới lần đầu tiên thật sự ghi lại và nhìn thấy được khoảnh khắc một giọt bitum nhỏ xuống!
Thêm vào đó, chưa ai hiểu nổi tại sao tốc độ chảy của chất này lại không đồng nhất mà lúc nhanh lúc chậm. Vậy là thí nghiệm vẫn được tiếp tục tại ĐH Queensland, Brisbane, Úc sau hơn 86 năm!
Những thí nghiệm kéo dài nhất lịch sử, cho thấy loài người đã phải hi sinh nhiều thế nào cho khoa học - Ảnh 5.
4. Thí nghiệm về bí quyết để hạnh phúc của ĐH Harvard (81 năm)
Năm 1938, Đại học Harvard bắt đầu một thí nghiệm với 268 tình nguyện viên 19 tuổi (trong đó có cả cựu tổng thống John F. Kennedy), và sau này chiêu mộ thêm rất nhiều người thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau. Họ bắt đầu phân tích lối sống, sức khỏe tinh thần và thể chất của những người này với hi vọng trả lời cho một câu hỏi dường như ai cũng muốn có đáp án: điều gì thật sự tạo nên cho chúng ta một cuộc sống hạnh phúc?
Những thí nghiệm kéo dài nhất lịch sử, cho thấy loài người đã phải hi sinh nhiều thế nào cho khoa học - Ảnh 6.
Cho tới nay, thí nghiệm này vẫn đang được tiếp tục tiến hành – dù các tình nguyện viên ngày đó đã ở tuổi gần đất xa trời hết cả rồi. Tính đến giờ, các nhà khoa học cũng đúc kết được kha khá thứ về hạnh phúc đấy. Hóa ra, việc xây dựng và duy trì được các mối quan hệ lành mạnh chính là chìa khóa cho cả hạnh phúc lẫn sự khỏe mạnh của con người.
Sự cô đơn có sức hủy hoại không kém gì việc hút thuốc hay nghiện rượu đâu nhé. Ngoài ra, một phát hiện hết sức thú vị khác là: càng có nhiều những kì nghỉ tuyệt vời, càng có nhiều những kỉ niệm tươi sáng khi còn trẻ, người ta càng có xu hướng cảm thấy hạnh phúc và viên mãn hơn khi về già. Vậy nên, hãy đứng lên và làm điều gì đó thú vị ngay lúc này đi chứ?
Nguồn: SciShow, Mental Floss


Chủ tịch Hội Thiên văn trẻ VN: 'Quái vật vũ trụ' sẽ nghiền nát Trái Đất - sự thật ra sao?

Đặng Vũ Tuấn Sơn - Chủ tịch Hội thiên văn học trẻ Việt Nam (VACA) |


Chủ tịch Hội Thiên văn trẻ VN:  'Quái vật vũ trụ' sẽ nghiền nát Trái Đất - sự thật ra sao?

Lỗ đen (hố đen) được xem là 'quái vật vũ trụ' đáng sợ. Câu hỏi đặt ra là, liệu nó có 'nuốt chửng' Trái Đất một ngày nào đó hay không?

Một trong những đề tài hấp dẫn nhất của vũ trụ học, thu hút sự chú ý không chỉ của những nhà vật lý chuyên nghiệp mà còn gần như bất cứ ai từng biết tới nó, là lỗ đen. Nhiều người gọi chúng là những con quái vật ham ăn và đáng sợ nhất trong vũ trụ.
Nhiều người cho rằng lỗ đen là những cánh cổng nối với những thế giới khác, nơi bạn có thể đi xuyên qua không gian và thời gian. Có giả thuyết thậm chí cho rằng chính vũ trụ mà chúng ta đang sống cũng là một lỗ đen khổng lồ.
Mặc dù vẫn còn nhiều bí ẩn bao quanh, trên thực tế thì ngày nay cũng đã có không ít điều mà các nhà khoa học có thể cho chúng ta biết về các lỗ đen.
Chủ tịch Hội Thiên văn trẻ VN:  Quái vật vũ trụ sẽ nghiền nát Trái Đất - sự thật ra sao? - Ảnh 1.
Lỗ đen là gì?
Năm 1915, nhà vật lý Albert Einstein (1879-1955) đề xuất ra thuyết tương đối rộng, trong đó mô tả hấp dẫn không phải một lực mà là hiệu ứng biến dạng của không-thời gian. Khi một vật có khối lượng, nó làm biến dạng không-thời gian giống như khi bạn đặt một quả tạ sắt lên tấm đệm mềm của mình khiến nó trũng xuống.
Thông qua việc giải phương trình trường của thuyết tương đối rộng Einstein, vài tháng sau đó nhà vật lý người Đức Karl Schwarzschild (1873-1916) đã đưa ra dự đoán về một loại vật thể sẽ bị sụp đổ bởi khối lượng của chính nó, uốn cong không-thời gian xung quanh tới mức vô hạn khiến không một thứ gì đi vào đó có thể đi ra được, kể cả ánh sáng.
Vùng không-thời gian có độ cong vô hạn mà Schwarzschild dự đoán sau này được các nhà khoa học gọi là "lỗ đen" - ám chỉ rằng nó hoàn toàn tối đen, không có bất cứ ánh sáng nào có thể đi ra hay phản xạ từ nó.
Lỗ đen khối lượng sao
Đây là loại lỗ đen phổ biến nhất trong vũ trụ ngày nay. Chúng là 'xác chết' còn lại của các sao có khối lượng lớn.
Mọi ngôi sao trong vũ trụ - trong đó có Mặt Trời của chúng ta - đều phát sáng nhờ năng lượng giải phóng ra từ phản ứng nhiệt hạch (kết hợp hạt nhân hydro để cuối cùng tạo thành heli) ở lõi của chúng.
Cũng chính phản ứng này ngăn cản sự co lại của các ngôi sao bởi lực hấp dẫn của bản thân chúng. Khi một ngôi sao cạn kiệt hydro ở lõi, năng lượng từ phản ứng nhiệt hạch không còn đủ để ngăn sự co lại. Ở những sao như Mặt Trời, lõi sao co lại do hấp dẫn trong khi vỏ ngoài phồng lên do vẫn nhận được năng lượng của phản ứng nhiệt hạch xảy ra ở các lớp gần bề mặt. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn sao khổng lồ đỏ.
Sau hàng triệu năm, lớp vỏ khổng lồ này vỡ ra và lõi trong còn lại là một vật thể đã nguội đi rất nhiều và dừng co lại được gọi là sao lùn trắng.
Với những sao lớn hơn Mặt Trời nhiều lần, quá trình kết thúc phức tạp hơn. Khác với các sao như Mặt Trời, những sao nặng có lực nén vào tâm lớn hơn rất nhiều nên phản ứng nhiệt hạch diễn ra rất nhanh, khiến chúng cạn kiệt hydro khi mới sống được vài chục hoặc vài trăm triệu năm, thay vì hàng tỷ năm như Mặt Trời.
Cũng vì lực hướng tâm quá lớn, khi không còn năng lượng để chống lại hấp dẫn, ngôi sao co lại rất nhanh gây ra quá trình nhiệt hạch đột ngột của các nguyên tố nặng hơn (heli, carbon, ni-tơ oxy và cao hơn nữa) cùng một số tương tác khác, gây ra một vụ nổ lớn được gọi là supernova (thường dịch là siêu tân tinh).
Vụ nổ này phá vỡ hoàn toàn các lớp ngoài của ngôi sao. Trong khi đó, lõi trong vẫn tiếp tục co lại chứ không dừng lại để thành sao lùn trắng như ở các sao nhẹ.
Năm 1930, một nhà khoa học trẻ người Ấn Độ là Subrahmanyan Chandrasekhar (1910-1995) tính ra được rằng nếu như một lõi sao như vậy đạt khối lượng tối thiểu là 1,4 lần khối lượng Mặt Trời sẽ tiếp tục co lại tới khi sụp đổ. Giới hạn này được gọi là giới hạn Chandrasekhar.
Các lõi sao có khối lượng đạt giới hạn Chandrasekhar sau khi lớp vỏ đã bị phá vỡ trong vụ nổ supernova sẽ tiếp tục co tới mức các electron bị nén vào proton để tạo thành neutron. Toàn bộ lõi sao chỉ có toàn neutron khiến nó có khối lượng riêng cực lớn và quay rất nhanh, được gọi là sao neutron.
Chủ tịch Hội Thiên văn trẻ VN:  Quái vật vũ trụ sẽ nghiền nát Trái Đất - sự thật ra sao? - Ảnh 2.
Hình ảnh lỗ đen được vẽ trên máy tính.
Một số lõi sao nặng không tiếp tục biến đổi thêm khi đã trở thành sao neutron. Tuy nhiên, những lõi sao lớn hơn nữa (tương ứng với sao ban đầu lớn hơn) vẫn tiếp tục co lại và gây ra sự sụp đổ vật chất hoàn toàn.
Cụ thể, nếu lõi sao đạt giới hạn Tolman-Oppenheimer-Volkoff, tương đương với khối lượng khoảng 2 tới 3 lần hoàn toàn (chưa được tính toán hoàn toàn chính xác) thì toàn bộ nó bị nén tới mức trở thành một điểm có mật độ lớn vô hạn. Điểm này được gọi là một kỳ dị. Nó uốn cong không-thời gian xung quanh tới độ cong vô hạn.
Biên giới của vùng không-thời gian này được gọi là chân trời sự kiện. Bất cứ thứ gì, kể cả ánh sáng, đều không thể đi ra khỏi lỗ đen một khi đã đi qua chân trời sự kiện.
Những lỗ đen ra đời vào cuối đời các sao nặng như vậy được gọi là lỗ đen khối lượng sao.
Lỗ đen siêu nặng
Một loại lỗ đen khác cũng khá phổ biến và thu hút được sự chú ý của đông đảo các nhà vũ trụ học là lỗ đen siêu nặng. Những lỗ đen này có khối lượng từ hàng trăm nghìn cho tới hàng tỷ lần khối lượng của Mặt Trời.
Chúng được cho là có mặt ở trung tâm của hầu hết các thiên hà trong vũ trụ. Ở trung tâm của thiên hà Milky Way nơi có chứa Trái Đất và Hệ Mặt Trời cũng có một lỗ đen như vậy, lỗ đen này có tên là Sagittarius A* (viết tắt là Sgr A*) và có khối lượng khoảng 4 triệu lần Mặt Trời.
Khác với lỗ đen thông thường tạo thành từ cái chết của các sao nặng và có khối lượng tương đương các sao (thường gọi là lỗ đen khối lượng sao), lỗ đen siêu nặng được cho là có khối lượng lớn nhờ bồi tụ khí ở trung tâm thiên hà và hợp nhất nhiều lỗ đen. Mặc dù vậy, chính xác thì việc lỗ đen siêu nặng lớn lên ra sao hiện nay chưa được làm rõ.
Có hai kịch bản chính được tính đến để giải thích cho sự tạo thành loại thiên thể này: Kịch bản thứ nhất cho rằng các lỗ đen siêu nặng lớn lên từ lỗ đen ban đầu là lỗ đen có khối lượng khoảng vài chục tới 100 lần khối lượng Mặt Trời, sinh ra do sự sụp đổ hấp dẫn của các sao nặng và sau đó lớn lên nhờ sáp nhập với các lỗ đen khác và hút khí từ các sao lân cận.
Tuy nhiên kịch bản này đòi hỏi lỗ đen phải lớn lên với tốc độ khác thường, do đó kịch bản thứ hai có nhiều khả năng chính xác hơn.
Theo kịch bản thứ hai, các lỗ đen siêu nặng không lớn lên nhanh khác thường mà bản thân chúng có khối lượng khởi điểm lớn (ít nhất 100.000 lần khối lượng Mặt Trời) do chúng không sinh ra từ sụp đổ vật chất cuối đời của sao mà sinh ra trực tiếp từ sụp đổ của các đám mây khí lớn.
Chủ tịch Hội Thiên văn trẻ VN:  Quái vật vũ trụ sẽ nghiền nát Trái Đất - sự thật ra sao? - Ảnh 3.
Hình ảnh lỗ đen siêu nặng ở thiên hà M87 được công bố tháng 4 năm 2019.
Tháng 4 năm 2019, các nhà khoa học làm việc ở dự án Kính thiên văn Chân trời sự kiện (EHT) đã công bố bức ảnh đầu tiên về lỗ đen. Nó là hình ảnh được chụp trực tiếp khu vực ngay phía ngoài của chân trời sự kiện, nơi có rất nhiều khí đang được bồi tụ vào lỗ đen và phát ra ánh sáng.
Đối tượng được chụp là lỗ đen siêu nặng ở trung tâm thiên hà M87 nằm cách chúng ta hơn 50 triệu năm ánh sáng.
Chủ tịch Hội Thiên văn trẻ VN:  Quái vật vũ trụ sẽ nghiền nát Trái Đất - sự thật ra sao? - Ảnh 4.
Một câu hỏi đáng lưu tâm mà bạn có thể đặt ra là: Liệu lỗ đen có thực sự tồn tại hay chỉ nằm trên những giấy tờ và lý thuyết của các nhà khoa học? Câu trả lời chung là: Không có bất cứ nghiên cứu nào từng có cho phép chúng ta nhìn thấy lỗ đen, và trong tương lai nhiều năm tới cũng thế, vì đơn giản là tự lỗ đen không phát ra bất cứ bức xạ nào.
Chủ tịch Hội Thiên văn trẻ VN:  Quái vật vũ trụ sẽ nghiền nát Trái Đất - sự thật ra sao? - Ảnh 5.
Tác giả bài viết, ông Đặng Vũ Tuấn Sơn - Chủ tịch Hội Thiên văn học trẻ Việt Nam. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Kể cả quan sát của EHT được nêu phía trên cũng chỉ là ảnh chụp phía ngoài của chân trời sự kiện. Bên cạnh đó, không có lỗ đen nào đủ gần chúng ta để có thể gửi các tàu thăm dò tới, và quan trọng hơn nữa là nếu một tàu thăm dò đi vào sát chân trời sự kiện của lỗ đen để kiểm chứng thì nó cũng đồng thời mất khả năng gửi thông tin về cho chúng ta.
Thế nhưng, giống như khi nhìn qua cửa sổ và thấy những tán cây rung lên và bụi thì cùng bay theo một hướng thì bạn biết chắc rằng trời đang có gió, lỗ đen cũng được các nhà khoa học xác định bằng những hiệu ứng tương tự.
Đó là sự bồi tụ vật chất từ một ngôi sao đồng hành hoặc từ không gian bao quanh, sự nhiễu loạn bất thường trong chuyển động của một ngôi sao giống như nó có một đồng hành vô hình, hoặc sóng hấp dẫn phát ra khớp với dự đoán về sự sáp nhập của hai lỗ đen.
Những hiệu ứng đó không thể tới từ bất cứ dạng thiên thể nào khác trong vũ trụ. Điều đó có nghĩa là nguồn gốc của những hiệu ứng đó phải là một thứ gì đó có đúng những tính chất như những gì mà các nhà khoa học dự đoán về lỗ đen.
Chủ tịch Hội Thiên văn trẻ VN:  Quái vật vũ trụ sẽ nghiền nát Trái Đất - sự thật ra sao? - Ảnh 6.
Một hình ảnh mô phỏng trên máy tính về việc khí từ một sao đồng hành (bên trái) bồi tụ vào thành một đĩa bao quanh lỗ đen. Mặc dù lỗ đen không phải ra ánh sáng nhưng chuyển động bất thường của sao đồng hành và bức xạ phát ra từ đĩa bồi tụ có thể được phát hiện.
Chủ tịch Hội Thiên văn trẻ VN:  Quái vật vũ trụ sẽ nghiền nát Trái Đất - sự thật ra sao? - Ảnh 7.
1. Lỗ đen có lực hút vô hạn
Đây là một hiểu nhầm thông dụng. Không có bất cứ vật thể nào có hấp dẫn vô hạn, và lỗ đen cũng không ngoại lệ. Lực hấp dẫn giữa hai vật thể bật kỳ tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách của chúng - như định luật hấp dẫn của Newton đã mô tả.
Mọi thứ đã đi qua chân trời sự kiện thì không thể đi ra, không có nghĩa là lực hút của lỗ đen là vô hạn.
2. Lỗ đen sẽ phá hủy Trái Đất vào một ngày nào đó
Việc đó là không thể xảy ra, vì lỗ đen gần Trái Đất nhất đã được xác định nằm cách chúng ta khoảng 3.000 năm ánh sáng, và nó không hề tiến về phía Trái Đất.
Bản thân Mặt Trời sẽ dừng hoạt động và phồng to thành sao khổng lồ đỏ trong khoảng 5 tỷ năm nữa và trong giai đoạn đó, nó sẽ phồng to tới mức nghiền nát Trái Đất.
Đó mới là cách mà hành tinh của chúng ta sẽ bị phá hủy. Nhưng tất nhiên, đó là một tương lai vô cùng xa.
3. Ánh sáng có khối lượng?
Hạt truyền ánh sáng - photon - không có khối lượng, vậy tại sao nó lại bị hút vào lỗ đen?
Trên thực tế, lỗ đen không "hút" ánh sáng, nó bẻ cong không gian xung quanh khiến đường đi của các tia sáng bị uốn cong.
Điều này đã được chứng minh từ năm 1919 khi Arthur Eddington quan sát sự lệch của các tia sáng đi qua gần Mặt Trời khi có nhật thực, được coi là phép chứng minh thành công đầu tiên cho thuyết tương đối rộng của Einstein.
Tóm lại, việc ánh sáng bị bẻ cong đường đi không hề nói lên rằng hạt photon có khối lượng.
4. Đi vào lỗ đen có thể giúp bạn du hành thời gian
Rất tiếc, những gì bạn có thể đã xem trong phim Interstellar hoặc một số bộ phim tương tự chỉ là tưởng tượng và phóng đại của người viết kịch bản.
Lực hấp dẫn khi tới gần chân trời sự kiện của lỗ đen mạnh tới mức nó sẽ kéo dài và xé rách bạn như kéo đứt một sợi bún. Ngoài ra, cũng không có bất cứ lý thuyết nào cho biết lỗ đen có thể nối với những chiều không gian khác như trong các tác phẩm viễn tưởng.
Tiểu kết
Cho tới nay, lỗ đen vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất và thu hút nhất trong vũ trụ học.
Trong khi nó gợi ra nhiều sự hiếu kỳ và những tưởng tượng cho công chúng yêu khoa học, thì đồng thời nó cũng không ngừng cuốn hút các nhà khoa học, bởi việc hiểu được chi tiết hơn về quá trình phát triển của nó cũng như những tác động mà nó có thể gây ra cho môi trường xung quanh sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chính cấu trúc cũng như quá khứ và tương lai của vũ trụ.
theo Helino

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32