BỘ MẶT CHIẾN TRANH 26
Một Mai Giã Từ Vũ Khí - cs Đặng Thế Luân
-Trong tình trạng chiến tranh đầy chết chóc và tan hoang, bản chất sống của loài người trở nên cực hạn về mọi phía:
+Yêu thương vô vàn mà cũng hận thù vô song
+Thông minh trí tuệ bao nhiêu thì cũng ngu ngốc, mù quáng bấy nhiêu.
+Tuyệt đỉnh dũng cảm thì cũng tột cùng hèn nhát.
+Vừa là thánh thần vừa là quỉ dữ.
...
-Chiến tranh mang bộ mặt gớm ghiếc, tởm lợm đến khủng khiếp, không thể tả được, dù bôi son trát phấn như thế nào, tung hô ra sao.
-Chiến tranh là thể hiện sự thờ ơ, vô cảm khốn nạn tột cùng về việc hủy diệt tàn bạo cuộc sống và thân phận con người.
-Chiến tranh phi nghĩa là chiến tranh "nặn ra" lý do từ không có lý do, hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách không chính đáng. Chiến tranh chính nghĩa là chiến tranh nảy sinh từ việc chống chiến tranh phi nghĩa, được hủy diệt và tàn phá cuộc sống một cách chính đáng (?).
-Tóm lại, bộ mặt thật của chiến tranh nhìn từ mọi phía nói chung là độc ác, thiểu năng trí tuệ đến ngỡ ngàng của con người khôn ngoan, có lý trí.
-Ngày chiến thắng 30/4, lũ bán nước cay cú gọi là ngày quốc hận, người cộng sản cực đoan cho rằng đó là ngày toàn dân phải vui mừng, riêng cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, người có vợ con đều chết trong chiến tranh, thì nói, đó là ngày có triệu người vui và cũng có triệu người buồn.
-Lão Tử, một đại hiền triết thời cổ đại của Trung Quốc, từng nói: "Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng bi ai mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử".
The Animals - We Gotta Get Out Of This Place
------------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET)
9 Trận chiến cuối cùng Tập 5 Phần 1 Thế gọng kìm YouTube
Trận thảm bại ít người biết của quân Mỹ trên đất Nga
Chủ Nhật, ngày 15/10/2017 00:30 AM (GMT+7)
Quân đội Mỹ cùng đồng minh từng điều lực lượng đến Nga nhằm hỗ trợ phong trào nổi dậy chống lại chính quyền Bolshevik.

Quân đồng minh can thiệp vào cuộc nội chiến ở Nga năm 1918.
Ngày nay, có lẽ không còn nhiều người Nga biết đến lần duy nhất Mỹ đưa hàng ngàn binh sĩ đến tham chiến trên đất Nga.Trả lời phỏng vấn trên tờ La Times những năm 1980, người đàn ông tên Fyodor Kobuishev nhớ về những ngày tháng ban đầu Mỹ muốn can thiệp vào tình hình nội bộ ở Nga.
“Lính Mỹ rất thích Vodka”, ông Kobuishev nói. “Họ thường uống cho đến khi say mèm”.
Một người khác tên V. T. Pachetsky nhớ về thời điểm “cả trung đội Mỹ nhảy dù từ máy bay và đi bộ trên các con phố ở Vladivostok.
Đó là vào mùa hè năm 1918. Một năm sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, chính quyền Bolshevik mới được thành lập. Hồng quân Liên Xô thuở ban đầu vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của phong trào Bạch Vệ.
Phong trào này bao gồm những người theo trường phái bảo thủ, muốn khôi phục Sa Hoàng và Đế quốc Nga. Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm kéo theo cuộc nội chiến bùng nổ không lâu sau đó.
Theo War History Online, lo sợ ảnh hưởng của Nga lan rộng khắp châu Âu, phe Hiệp ước với 4 nước chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp, Nhật quyết định hỗ trợ phong trào Bạch Vệ.
Thế chiến 1 khi đó đang dần đi đến hồi kết nên các nước đồng minh có thêm nguồn lực để tập trung giải quyết mâu thuẫn với Nga.

Lính Mỹ hành quân ở Vladivostok, Nga.
Tháng 8.1918, một trung đoàn bộ binh Anh đổ bộ lên Arkhangelsk ở phía
bắc nước Nga, chiếm thành phố này, làm bàn đạp để mở rộng các chiến
dịch quân sự.Mỹ cũng đưa khoảng 10.000 lính thuộc “Đội viễn chinh Gấu Bắc Cực” đến đóng quân tại Murmansk, Arkhangelsk và Vladivostok.
Andrei I. Krushanov, một học giả người Nga nói Mỹ đã đem đến đây 800.000 khẩu súng và các vũ khí khác, cùng hàng triệu quân trang cho lực lượng phiến quân chống chính quyền Bolshevik.
Nhắc đến nhiệm vụ tham chiến ở Nga, Thiếu tướng William S. Graves, chỉ huy lực lượng viễn chinh Mỹ từng nói: “Tôi phải thừa nhận là mình không hiểu giới lãnh đạo Mỹ mong muốn điều gì khi can thiệp quân sự vào Nga”.
Tướng Graves ám chỉ chiến dịch quân sự ở Nga do Tổng thống Mỹ khi đó là Woodrow Wilson phát động.
Tại mặt trận phía bắc, đợt tiến công vào mùa thu của liên quân Anh-Mỹ trước Hồng quân ở Siberia khởi đầu với những chiến thắng vang đội. Cuộc chiến diễn ra trên hai mặt trận dọc sông Dvina và đường sắt Vologda khiến Hồng quân bị đẩy lùi.
Nhưng đội quân của chính quyền Bolshevik nhanh chóng củng cố lực lượng, chuyển sang chiến thuật đánh du kích, khiến quân Mỹ khó giữ vững được chiến tuyến.

Không chịu nổi giá lạnh, Mỹ đã rút quân khỏi Nga vào năm 1920.
Địa hình đồng bằng rộng lớn của Nga khác xa với chiến tranh chiến hào mà quân đồng minh vốn quen thuộc ở châu Âu.Mùa đông khắc nghiệt đến cũng là lúc mà liên quân Mỹ-Anh bị đẩy vào thế phòng thủ, trong khi gần như không thể kết nối được với quân đoàn Tiệp Khắc.
Trong khi đó, Hồng quân tiếp tục phát động tiến công trong những tháng đầu mùa đông ở mặt trận sông Dvina, buộc liên quân Mỹ-Anh phải rút lui, củng cố lại lực lượng.
Vào thời điểm đó, tin tức về Thế chiến 1 kết thúc, Đức đầu hàng đồng minh lan rộng khiến các binh sĩ thuộc “Đội viễn chinh Gấu Bắc Cực” Mỹ cảm thấy nhớ nhà.
Trước tình trạng thương vong ngày càng lớn, tâm lý nổi loạn trong lực lượng viễn chinh bắt đầu diễn ra khi binh sĩ yêu cầu được trở về Mỹ. Cảng Arkhangelsk bị đóng băng trong những tháng mùa đông đầu năm 1919, khiến hầu hết lính Mỹ thuộc rơi vào cảnh tuyệt vọng.
Tháng 5.1919, Anh triển khai 4.000 quân tình nguyện giải nguy cho quân Mỹ ở Arkhangelsk. Lực lượng Mỹ được sơ tán cùng hầu hết quân đồng minh đồn trú ở miền bắc nước Nga. Binh sĩ Mỹ đóng quân tại Vladivostok và Murmansk cũng rời đi sau đó một năm.
Bản báo cáo tháng 10.1919 ghi nhận 210 lính Mỹ thương vong, bao gồm 110 người chết, 30 người mất tích và những người khác chết vì bệnh tật trong cuộc đối đầu duy nhất với Hồng quân Liên Xô ở vùng Sibera lạnh giá.
Theo Đăng Nguyễn - War History Online (Dân Việt)
Trận đánh 1,9 triệu người chết khủng khiếp nhất lịch sử thế giới
Chủ Nhật, ngày 29/10/2017 10:30 AM (GMT+7)
Trận đánh quyết định ở Stalingrad khiến 1,9 triệu người thiệt mạng trong Thế chiến 2 cho đến nay được ghi nhận là “địa ngục trần gian”, nơi người lính bằng mọi giá phải đấu tranh để sinh tồn.

Ảnh minh họa.
Theo National Interest, kể từ tháng 7.2012, thế giới phải chứng kiến
đất nước Syria, với những thành phố Aleppo, Raqqa chìm trong đống đổ nát
vì chiến tranh. Con số người chết trong cuộc nội chiến Syria tính đến
năm 2016 ước tính lên tới 300.000 người.Tỉnh tổng cả 3 quốc gia này trong giai đoạn 15 năm, con số người chết vì chiến tranh là 796.991.
Nhưng những thống kê trên vẫn còn khá khiêm tốn so với trận Stalingrad, trận đánh đẫm máu và tồi tệ nhất lịch sử nhân loại với 1,9 triệu binh sĩ Đức, Liên Xô và dân thường thiệt mạng chỉ trong 6 tháng.
Tháng 6.1941, trùm phát xít Adolf Hitler bất ngờ ra lệnh xâm lược Liên Xô. Trong vòng một năm sau, đội quân Đức chiếm một khu vực rộng lớn hàng ngàn km2. Tất cả những gì quân Đức cần khi đó chỉ là thành phố Stalingrad để làm bàn đạp.
Dân số Stalingrad trước chiến tranh vào khoảng 400.000 người. Đây là thành phố chiến lược với cảng biển và nhiều khu công nghiệp quan trọng.

Quân Đức chiến đấu trong trận Stalingrad.
Lãnh tụ Liên Xô Stalin khi đó chủ trương bảo vệ Stalingrad bằng mọi
giá còn Hitler cũng sẵn sàng đổ 1 triệu người vào trận đánh lịch sử này.Ban đầu, quân Đức đạt bước tiến nhanh chóng, chiếm nhiều khu vực bên trong Stalingrad. Đến tháng 11, quân Đức đẩy phòng tuyến Liên Xô về phía bờ sông Volga. Cả hai bên đều ghi nhận con số thương vong hàng trăm ngàn người.
Năm 2001, bộ phim Hollywood mang tên “Enemy at the Gates” phác họa cảnh đối đầu giữa hai lính bắn tỉa Liên Xô và Đức. Đây được coi là vũ khí đáng sợ nhất của cả 2 phe. Bởi nó có thể cướp đi sinh mạng người khác từ xa, khiến không một ai cảm thấy an toàn.
Một lính bắn tỉa Liên Xô, tên Anatoly Chechov kể lại lần đầu tiên cướp đi mạng sống của người khác: “Tôi cảm thấy tồi tệ. Tôi đã giết người. Nhưng sau khi nhận ra quân Đức đã tàn sát nhiều người khác, tôi chỉ còn biết xả đạn không ngừng vào họ”.
Đây là những lời nói của Chechov ngay tại chiến trường đẫm máu này, phác họa phần nào cảnh tượng “địa ngục trần gian” ở Stalingrad.
Trong bối cảnh Hồng quân Liên Xô đứng trước khả năng thua trận, không thể phòng ngự được cho đến đêm, tướng lĩnh Liên Xô Alexander Rodimtsev đưa ra quyết định can đảm.

Giao tranh ở Stalingrad diễn ra trên từng ngôi nhà, con phố.
Tướng Rodimtsev dẫn đội quân do mình chỉ huy vượt sông, bất chấp máy
bay Đức quần thảo trên bầu trời. Một nhân chứng cho biết, chiếc thuyền
chở tướng Rodimtsev và bị trúng bom Đức trước khi cập bờ, khiến hầu hết
binh lính thiệt mạng.Bản thân Rodimtsev bằng một cách nào đó đã sống sót. Nhưng những người đồng đội thì lại không may mắn như vậy.
Albert Burkovski, một trong những người lính Liên Xô làm nhiệm vụ cố thủ bên kia sông, mô tả lại cảnh tượng thảm khốc đối với quân đoàn số 13. “Họ cố gắng vượt sông, xác người chết rải rác khắp nơi. Những con thuyền chở binh sĩ, đạn dược, súng máy nổ tung ngay trước mắt tôi”.
Quân Đức khi đó chiếm ưu thế ở bên kia sông nhờ các cao điểm, liên tục xả đạn súng máy không ngừng về phía Hồng quân Liên Xô. “Tưởng chừng như đợt phản công của Liên Xô là tự sát nhưng họ đã thành công”, Michael Jones, tác giả cuốn sách viết về trận đánh Stalingrad nói.
Quân đoàn 13 do tướng Rodimtsev chỉ huy cận chiến với quân Đức, đánh chiếm các tòa nhà quan trọng và làm chủ khu vực bờ bên kia sông.
Cảnh tượng ở bên kia chiến tuyến còn khốc liệt hơn. Theo trang WW2History., một người sống sót tên Helmut Walz mô tả lại cảnh chiến đấu trên từng con phố, căn nhà ở Stalingrad.
Bất ngờ, Walz đụng độ với binh sĩ Liên Xô, hứng trọn đòn đánh trời giáng vào mặt, khiến máu trào ra từ miệng. Walz chợt nghĩ đó là dấu chấm hết nhưng một đồng đội lao đến trợ giúp, không ngừng lấy báng súng đánh vào đầu người lính Liên Xô.

Xác quân Đức nằm la liệt ở Stalingrad.
Cảnh tượng kinh hoàng đó chưa chấm dứt, khi Walz đang được đồng đội
băng bó, một người lính Liên Xô khác tiến đến bắn thẳng vào đầu đồng đội
của Walz từ phía sau. Walz kể rằng đó là lần đầu tiên nhìn thấy đầu
người vỡ làm đôi còn não bộ rơi ra ngoài.Những cảnh tượng mà người lính Liên Xô thuộc quân đoàn 13 phải trải qua và Helmut Walz ở bên kia chiến tuyến đã lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt 6 tháng giao tranh đẫm máu.
Chiến sự cuối cùng cũng kết thúc vào tháng 2.1943, khi tập đoàn quân số 6 của Đức Quốc xã, do tướng Friedrich Paulus chỉ huy ra hàng. Quân Đức từ hàng triệu người, nay chỉ còn 90.000 lính.
Thất bại trên sông Volga đánh dấu bước ngoặt trên chiến trường, khiến quân Đức không ngừng thua trận và thất bại ngay tại thủ đô Berlin hai năm sau đó, cùng với cái chết của trùm phát xít Hitler.
Trong số 90.000 tù binh Đức, chỉ có khoảng 6.000 người là còn có thể quay trở về quê nhà, trong giai đoạn những năm 1950.
Có thể nói, 1,9 triệu người chết, với những trải nghiệm kinh hoàng, cận chiến trong những tháng ngày mùa đông rét thấu xương ở Liên Xô đưa Stalingrad trở thành nơi diễn ra trận đánh tồi tệ nhất lịch sử thế giới.
Theo Đăng Nguyễn - NI (Dân Việt
Chiếc xe tăng khiến Liên Xô suýt giáng đòn hạt nhân vào TQ
Thứ Ba, ngày 31/10/2017 00:30 AM (GMT+7)
Xung đột biên giới Liên Xô-Trung Quốc từng khiến Mocsow huy động khí tài quân sự mạnh nhất, cùng lời đe dọa dùng vũ khí hạt nhân.

Xe tăng chiến đấu chủ lực T-62.
Theo National Interest, để chiếm lại đảo Trân Bảo rơi vào tay Trung
Quốc, Liên Xô ngày 15.3.1969, mở cuộc phản công quy mô với sự xuất hiện
của 4 xe tăng chiến đấu chủ lực T-62.Đợt tấn công Liên Xô đáp trả TQ chiếm đảo
Đây là khí tài mới nhất và vẫn được Moscow giữ bí mật quân sự vào thời điểm đó. Tuy nhiên khi vượt qua khúc sông hẹp bị đóng băng nối liền với đảo Trân Bảo, một chiếc T-62 trúng phải mìn, đứt xích bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ba chiếc còn lại rút về phía Liên Xô không lâu sau đó.
Lính Trung Quốc ném lựu đạn vào xe tăng, khiến toàn bộ kíp lái thiệt mạng. Lính Trung Quốc sau đó nhận lệnh kéo chiếc xe tăng tối tân này về phòng tuyến nhưng không thành công vì hỏa lực bắn tỉa từ bên kia chiến tuyến.
Ngày hôm sau, binh sĩ Liên Xô quay trở lại để thu thập xác người tử nạn sau khi nhận được phản hồi chấp thuận từ phía Trung Quốc. Nhưng khi họ tìm cách kéo chiếc xe tăng về thì Trung Quốc lại nã pháo dồn dập.
Gần một tuần sau khi chiếc xe tăng nằm lại, đội công binh Liên Xô được lệnh tiếp cận để biến chiếc T-62 thành đống sắt vụn, nhưng chịu nhiều thương vong và phải rút lui.
Ngày 28.3.1969, đến lượt phía Trung Quốc đưa lực lượng đến kéo xác xe tăng về phía mình. Công binh Trung Quốc tháo dỡ từng phần của xe tăng trong khi lính bắn tỉa cùng pháo binh tung hỏa lực yểm trợ.
Vài ngày sau đó, khối băng bao quanh xe tăng bắt đầu tan chảy, dẫn đến việc Liên Xô nã đạn vào xung quanh, nhấn chìm những gì còn lại của xe tăng T-62 tối tân.

Lính Trung Quốc ngồi trên xác xe tăng T-62 của Liên Xô.
Tuy nhiên, sau khi Liên Xô rút đi, quân Trung Quốc vẫn không bỏ cuộc
khi cố gắng trục vớt xe tăng bằng các thiết bị thô sơ. Nhiều người đã
chết cóng vì ở dưới nước đóng băng quá lâu.Đến ngày 29.4, Trung Quốc mới kéo được chiếc T-62 lên khỏi mặt nước và chuyển tới nhà máy chế tạo xe tăng. Giữa tháng 5, một người Trung Quốc mang theo thuốc nổ bí mật tiếp cận nhà máy chế tạo xe tăng ở Lyshuen nhưng chưa kịp cài bom thì bị bắt giữ.
Người này thừa nhận làm việc cho Liên Xô với ý định biến khu nhà máy và cả chiếc T-62 chìm trong biển lửa.
Nguy cơ chiến tranh hạt nhân
Một chiếc xe tăng T-62 không giúp làm thay đổi vị thế của Trung Quốc ở thời điểm đó. Trái lại, nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông nhận ra Liên Xô nghiêm túc đến mức nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền biên giới.
Để trả đũa cuộc xung đột trên đảo Trân Bảo cũng như việc Trung Quốc đánh cắp chiếc xe tăng T-62, ban lãnh đạo Liên Xô khi đó đã lên kế hoạch dùng đến vũ khí hạt nhân.
Chuyên gia quân sự Kyle Mizokami của tờ National Interest cho biết, Liên Xô khi đó có hai lựa chọn. Một là dùng đơn vị cơ giới đánh thẳng vào Mãn Châu, kết hợp với việc sử dụng vũ khí hạt nhân hạn chế nhằm vào các cơ sở nghiên cứu và lực lượng hạt nhân Trung Quốc.
Ước tính Liên Xô cần tới 750.000 quân, lực lượng tăng thiết giáp, không quân và cả vũ khí hạt nhân chiến lược để hoàn thành mục tiêu này.
Lựa chọn thứ hai là chỉ sử dụng vũ khí hạt nhân để vô hiệu hóa năng lực hạt nhân của Trung Quốc cũng như tấn công thủ đô Bắc Kinh và nơi tập trung giới lãnh đạo Trung Quốc.

Binh sĩ Liên Xô xô xát với lính Trung Quốc ở biên giới.
Năm 1964, Trung Quốc lần đầu tiên thử bom hạt nhân và nếu Liên Xô
càng kéo dài thời gian, Bắc Kinh càng có thời gian gắn vũ khí hạt nhân
vào đầu đạn tên lửa.Các chuyên gia nhận định, một tên lửa đạn đạo liên lục địa SS-8 của Liên Xô, trang bị đầu đạn nhiệt hạch 2,3 megaton được cho là đủ để xóa sổ thành phố và một nửa số dân 7,6 triệu người.
Sau khi suy tính kỹ, lãnh đạo Liên Xô tỏ ra thận trọng, họ hiểu rằng không thể tấn công hạt nhân Trung Quốc mà không phải trả giá. Leo thang chiến tranh với Trung Quốc sẽ làm suy yếu lực lượng Liên Xô đóng quân ở châu Âu.
Ngược lại, nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông tin rằng lãnh thổ rộng lớn và quân số đông đảo đủ sức bảo vệ đất nước trước mọi đòn tấn công hạt nhân từ quốc gia láng giềng.
Có thể nói, sự xuất hiện của chiếc xe tăng T-62 cùng lời dọa giáng đòn hạt nhân khiến Trung Quốc ngừng xung đột biên giới. Nhưng lại mở ra cơ hội để Bắc Kinh tăng cường hợp tác với Washington.
Hai năm sau đó, Mỹ bí mật đưa Henry Kissinger đến Trung Quốc gặp Thủ tướng Chu Ân Lai, dọn đường cho chuyến thăm của Tổng Thống Richard Nixon năm 1972.
Về hòn đảo tranh chấp Trân Bảo, năm 1991, Liên Xô đã ký quyết định trao trả lại cho Trung Quốc. Mãi đến năm 2003, Nga và Trung Quốc mới hoàn thành việc phân định biên giới.
_____________________
Sau
cuộc đụng độ trên đảo Trân Bảo/Damansky, Liên Xô và Trung Quốc còn giao
tranh ở một khu vực khác và đây cũng là lần cuối cùng Trung Quốc leo
thang xung đột ở biên giới phía bắc. Bài viết kỳ tới sẽ nhìn lại cuộc
đụng độ ít người biết đến này.
Theo Đăng Nguyễn - Tổng hợp (Dân Việt)
Nhận xét
Đăng nhận xét