TT&HĐ I - 9/q
Đạo đức người Nhật
PHẦN I: CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ
“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”
CHƯƠNG IX: NHÌN LẠI
-"Mục đích duy nhất của khoa học là giảm bớt vất vả cho nhân loại."
Bleiste
Bleiste
-"Đạo đức cao thượng nhất của nhân loại là gì?Đó chính là lòng yêu nước"
Napoleon.
-"Nhân loại luôn có một chỗ độc đáo:
nó lưu giữ hai bộ phép tắc đạo đức - một bộ lén lút, một bộ công khai; một bộ chân chính, một bộ làm bộ làm tịch"
Mark Twain
-“Nhân loại không có sự đòi hỏi nào cao hơn là làm sao đạt tới cái chí thiện, chí mỹ và chính vì giải quyết vấn đề ấy mà nó đã cố gắng...”
Vidhusekharsastri
-"Chủ
nghĩa anh hùng theo mệnh lệnh, bạo lực phi lý và tất cả những điều vô
nghĩa nhân danh lòng ái quốc – tôi mới căm ghét chúng làm sao!"
Albert Einstein
-"Lòng
yêu nước là tình yêu kiên định, tuyệt đối với quốc gia, không phải là
sẵn sàng phụng sự nó mà không phê phán, hay ủng hộ những yêu sách không
chính đáng, mà là thẳng thắn đánh giá những tội lỗi và thói xấu của nó
và sám hối cho chúng".
Aleksandr Solzhenitsyn
-"Đất
nước nào cũng có những thời kỳ khi tiếng ồn ào và sự trơ trẽn trôi theo
dòng giá trị; và đặc biệt trong những biến động lớn, tiếng kêu la của
những kẻ vụ lợi và bè phái thường bị nhận nhầm là lòng yêu nước".
Alexander Hamilton
-"Anh có thể rứt bỏ con người khỏi xứ sở họ, nhưng anh không bao giờ có thể rứt bỏ được xứ sở nơi lòng người"
(Tiếp theo)
***
Không có tình cảm thì không có khái niệm "khoái lạc". Tình cảm là cảm xúc đạt đến trình độ sâu sắc nhờ hệ thần kinh đã tiến hóa đến trình độ tinh vi nhất định. Ở động vật hoang dã, tình cảm hầu như không có hoặc có rất mờ nhạt. Hệ thống tình cảm biểu hiện sắc nét, rõ ràng chỉ có thể hình thành như đặc tính ở những loài có tư duy trừu tượng nói chung và loài người nói riêng. Nhưng hệ thống tình cảm không bỗng nhiên mà có được. Ở loài người, hệ thống tình cảm được hình thành cùng với sự phát triển xã hội, vất vả tìm kiếm mưu sinh, gian khổ chống chọi với thiên nhiên hầu thích nghi để sống còn cũng như sự vui thú với cuộc sống.
Quanh chúng ta có thể nêu muôn ngàn thí dụ để minh chứng cho điều vừa nói. Chẳng hạn con chó dù cho ăn ngon ("ngon" ở đây là do cảm giác của con người qui ước!), thì nó cũng không cảm giác "ngon" như con người cảm giác được. Hoặc quan hệ tình dục ở loài vật chỉ đơn giản thô sơ nhằm thỏa mãn bản năng với mục đích duy nhất là duy trì giống loài, thì ở loài người nó được nâng lên thành nghệ thuật mang đậm tính tiêu khiển phức tạp và đầy nhiêu khê mà mục đích duy trì giống loài dần dần trở thành mục đích thứ yếu...
Ý
niệm khoái lạc chắc chắn đã xuất hiện từ rất lâu trước khi hình thành
lối sống quần cư xã hội. Còn ý niệm đạo đức chỉ có thể xuất hiện trong
quá trình phân liệt dân cư xã hội thành những bộ phận, tầng lớp mâu
thuẫn nhau về quyền lợi (ở đây, tạm hiểu mâu thuẫn là sự tương phản có
tính tích cực muốn loại trừ nhau, đối kháng "gay gắt", hàm chứa sự bất bình đẳng, bất công trong việc hưởng thụ quyền lợi) dẫn đến những hiện tượng
tranh chấp, "đấu đá", cưỡng đoạt, giết chóc lẫn nhau xảy ra ngày một
phổ biến, với qui mô ngày càng lớn. Từ đó mà xuất hiện khái niệm "đạo đức". Nói cách khác, khái niệm đạo đức và chuẩn
mực đạo đức được hình thành và xác lập như một tồn tại tinh thần sinh
động trong tiến trình xuất hiện và vận động xã hội về phương diện làm
phân liệt và phân liệt ngày một sâu sắc nội tại xã hội nhằm mưu sinh sống còn ở loài người. Nghĩa là những hành động nào của con người phục vụ cho mưu sinh, cho sự duy trì giống loài, nói chung đều tốt, có tính đạo đức, còn những hành động ngược lại đều là xấu, có tính phi đạo đức.
Bắt
đầu là lối sống quần cư "rời rạc", lấy trồng trọt-chăn nuôi mang tính
đa canh nông nghiệp nhằm tự cung tự cấp làm phương kế mưu sinh chủ yếu,
rồi sau đó, sự tăng tiến về trình độ sống (chủ yếu là trình độ tiêu
dùng, trong đó có qui mô nhu cầu tiêu dùng cả về chất và lượng, cả về
vật chất lẫn tinh thần, cả về thực phẩm lẫn phi thực phẩm) "vấp phải"
những tác động nảy sinh một cách khách quan lẫn chủ quan, gây cản trở,
ngăn chặn sự tăng tiến ấy, đã tạo tiền đề cho lối sống quần cư xã hội -
tức là sự quần cư mà trong nội tại nó đã thể hiện ở mức độ rõ rệt nhất
định sự gắn kết, liên kết, ràng buộc, ảnh hưởng một cách tương đối phụ
thuộc lẫn nhau trong hoạt động sống giữa các cá thể, các bộ phận nhân
sinh hợp thành quần cư - ra đời (mà trong hiện thực, có thể thấy đây
cũng là quá trình làm sự trao đổi vật phẩm có được từ thành quả lao động
trở nên phổ biến, dẫn đến xuất hiện nền kinh tế hàng hóa).
Sự xuất hiện
những mối quan hệ tương tác giữa các cá thể, bộ phận hợp thành theo
hướng thống nhất hóa, đồng bộ hóa vận động nội tại trong lối sống quần
cư sinh vật là có tính tự nhiên, được "hối thúc" bởi "đòi hỏi" đảm bảo
cũng như tăng cường khả năng sống còn, và nếu có thể gọi lối sống quần
cư ở những giống loài không có tư duy trừu tượng là "quần cư cộng sinh
thụ động, thuần bản năng" thì cũng có thể gọi lối sống quần cư ở loài có
tư duy trừu tượng, tức loài người, là "quần cư cộng sinh chủ động, có ý
chí" hay gọn hơn: "quần cư xã hội". Như vậy, mục đích đầu tiên và cũng
hoàn toàn tự nhiên của lối sống hợp thành xã hội là tạo điều kiện cho mọi cá nhân,
mọi thực thể nhân sinh hợp thành xã hội có thể quan hệ với nhau theo
định hướng hợp tác, tương trợ, liên kết, phối hợp hành động...ở những
mức độ nhất định, tùy thuộc vào hiện thực xã hội trong quá trình vận
động tiến triển của nó. Qua đó mà (coi như) ở mỗi cá nhân, mỗi thực thể
nhân sinh tự thân củng cố được năng lực mưu sinh, không những đảm bảo
được sống còn, mà còn có khả năng đạt được sống còn trong no đủ, sung
túc, an vui, cũng có nghĩa là được sống một cuộc sống làm ăn yên ổn,
thỏa mãn, hưởng lạc, và như thế, ở tầm rộng lớn nhất, đồng thời cũng làm
cho xã hội hướng tới thành một thực thể quần tụ dân cư đoàn kết nhất
trí, đồng tâm hiệp lực, chủ động chống lại những tác động bất lợi có
tính "ngoại xâm" đến từ môi trường (thiên tai, địch họa) trong vận động
sinh tồn, duy trì tồn tại của nó. Tuy nhiên, như đã trình bày, vận động
xã hội một cách tự nhiên (dù có sự "góp phần" của nhân tạo thì cũng vẫn
là tự nhiên!!!) theo tiến trình kế tiếp nhau giữa hai trạng thái thịnh
và suy, nhất là trong suốt thời kỳ mà loài người chưa nhận thức sáng tỏ
được thân phận mình, cũng đồng thời làm xuất hiện ngay "trong lòng" xã
hội những tác động trái ngược có nguyên nhân từ cả khách quan lẫn chủ
quan (cũng tự nhiên nốt!), mà trong hiện thực thì "được thấy" chính là
sự xuất hiện "thằng cha" tham-sân-si và những "thành quả" trực tiếp có
từ sự kích động, hối thúc, "xúi dục" của "thằng cha" có tính thèm muốn
"ác nghiệt" này (chân dung của "nó" giống như mặt trái của tấm huân
chương "tư duy trừu tượng", có vẻ xấu xí, thấp hèn bởi bị "vòng kim cô"
mê quáng đượm nét điên rồ chế ngự!), luôn cản trở, "phá hoại" việc thực
hiện đạt tới mục đích tự nhiên (hồn nhiên) đầu tiên ấy của sự tồn tại xã
hội... Đến đây, đã có thể tạm kết luận rằng, sự "có mặt" và "góp phần"
thường trực của tư duy trừu tượng trong suốt tiến trình trường kỳ
thịnh-suy xã hội, cùng với sự đồng thời tác dụng trở lại tư duy trừu
tượng của tiến trình ấy, đã làm cho cuộc vận động nội tại xã hội mang
thêm tính thi đua, cạnh tranh, đấu tranh nội bộ, nghĩa là "bên cạnh"
những tác động gắn kết, thống nhất xã hội nhằm đạt đến mục đích tự nhiên
đầu tiên, gọi là "thuận", cũng tồn tại những tác động chia rẽ, phân ly
xã hội, tương phản với "thuận", gọi là "nghịch". Điều "thú vị" và cũng
nên nhấn mạnh ở đây: vì duy trì sống còn bản thân là mục đích đầu tiên
cũng như tối hậu đối với hoạt động tự nhiên của mọi sinh vật, cho nên,
dù những tác động nghịch có chiều hướng "chống phá" sự đoàn kết, thống
nhất của nội tại xã hội thì đó không phải là chủ đích thực sự của những
chủ thể tạo ra những tác động nghịch, và mặt khác, sự "chống phá" gây
phân rã xã hội (một cách vô ý thức) của họ cũng không thể vượt quá mức
độ hạn định nào đó để có thể làm tiêu vong xã hội - cái thực thể mà sự
tồn tại của nó đều tối cần thiết cho việc sống còn của cả hai "phe" tác
động thuận và nghịch. Như vậy, và lịch sử thời tiền sử-cổ đại của xã hội
loài người cũng cho thấy, vận động nội tại của một xã hội, nói chung là
quá trình tương tác cả về mặt vật chất lẫn mặt tinh thần giữa hai "lực
lượng" tương phản thuận-nghịch. Quá trình tương tác ấy là tự nhiên
(nghĩa là dù có mặt của "nhân tạo" thì xét cho cùng vẫn hàm chứa sự tất
yếu, và thể hiện rõ ràng nhất vào "thuở ban đầu" của lịch sử xã hội, khi
nhận thức của loài người về tự nhiên-xã hội-nhân sinh còn rất mù mờ với
nhiều lầm lạc), không phải nhằm "giải tán" xã hội mà vẫn nhằm gắn kết
xã hội, nhưng trong tình thế nội tại bị kích thích "lên" trạng thái phân
liệt của nó, nghĩa là làm cho nội tại xã hội hoạt động vừa gắn kết vừa
phân ly trên nền tảng ưu tiên và tích cực duy trì sự thống nhất trên
bình diện toàn xã hội.
Một cách khái quát, "chính thống" hơn và cũng súc
tích hơn, có lẽ nên nói rằng, quá trình tương tác thuận-nghịch ấy cũng
chính là cuộc đấu tranh sinh tồn thể hiện ra dưới dạng đặc thù, mang
tính riêng có, (chỉ) xảy ra trong xã hội, (chỉ) trong nội bộ loài người
(loài có tư duy trừu tượng!), giữa người với người, mà chúng ta (tạm)
gọi là "cuộc cạnh tranh quyền lợi nhằm sống còn và hưởng thụ". Tùy thuộc
vào mức độ thịnh-suy xã hội, vào định hướng nhận thức thị phi trong xã
hội mà cạnh tranh quyền lợi cũng có những mức độ căng thẳng khác nhau.
Lúc đầu, nảy sinh ra chỉ là sự chênh lệch tương đối về mức sống do gặp
thuận lợi hơn hay bất lợi hơn trong lao động kiếm "miếng ăn cái
mặc" (hiểu rộng ra là tất cả những hoạt động mưu sinh mang tính tự nhiên,
chính đáng có thể có từ trực tiếp tạo ra lương thực, của cải cho đến
thực hiện những công việc trao đổi thành quả lao động-"tiền thân" của
mua bán hàng hóa). Sự tồn tại chênh lệch ấy, nhất là trong những thời kỳ
xã hội suy vi về của cải vật chất, đã kích thích nảy sinh trong tư duy
trừu tượng những đòi hỏi theo hướng dần dần làm xuất hiện cuộc tranh đua
quyền lợi, và đến lượt sự tồn tại của cuộc tranh đua này với mức độ
ngày một gay gắt đã đóng vai trò quyết định làm nội tại xã hội "thực sự"
phân hóa (trong thống nhất!), phân định tương đối lực lượng dân cư
trong đó thành những tầng lớp theo qui ước, nhưng cơ bản là thành hai
tầng lớp tương phản nhau rõ rệt mà chủ yếu về mặt hưởng thụ quyền lợi,
tạm gọi là "hạ tầng bị trị" và "thượng tầng thống trị".
Về mặt tinh thần,
đồng thời và cũng gắn liền với quá trình hình thành và tồn tại trong
giai đoạn đầu của cuộc cạnh tranh quyền lợi, là quá trình hình thành
khái niệm "đạo đức" cũng như sự định ước (đầu tiên!) về đạo đức (sự
tốt-xấu), với bắt đầu là sự xuất hiện những ý niệm hợp thành cặp ý niệm
tương phản trong não người như giàu-nghèo, sướng-khổ, thừa-thiếu..., rồi
đến hiền-ác, tự do-lệ thuộc, công bằng-bất công, cưỡng bức-phục tùng,
thống trị-bị trị..., từ đó mà có thị phi và "cãi cọ" về thị phi (quan
niệm đúng-sai, tình cảm yêu-ghét) trong xã hội - tác nhân đóng vai trò
"khai hoa nở nhụy" cho sự ra đời của chuẩn mực đạo đức.
Đại khái, chuẩn mực đạo đức trong một xã hội là "thước đo định tính", được dân cư nói chung của xã hội đó thừa nhận, về mức độ tốt-xấu của tính cách một con người (nhân cách), một tập thể người, một nhà nước, một chế độ... (Trong thực tế đời sống, thường khi nghe nói ai đó có nhân cách, chúng ta hiểu rằng kẻ đó có đạo đức. Đó chỉ là sự hiểu ngầm đã thành như một mặc định mà thực ra xét trên phương diện nhận thức triết học là hoàn toàn sai lầm, vì bắt nguồn từ quan niệm thiển cận đầy "tự tôn hợm hĩnh" cho rằng con người "tính tốt" hơn con vật. Hỡi đồ thú vật, ối lộn, hỡi đồ...vô tri, lại lộn nữa, thành thật xin lỗi giới vạn vật muông thú (!}, hỡi đồ...con-người, đừng mơ lâu quá nhé!!!).
Vì được hun
đúc "sau" một quá trình tương tác thuận-nghịch cụ thể, được con người
xây dựng trên cơ sở nhận thức thực tiễn đời sống xã hội, nên chuẩn mực
đạo đức, một cách trực tiếp, là kết quả của nhân tạo, và do đó nó có
tính chủ quan, nghĩa là có tính qui ước, tính khu vực, tính thời đại,
tóm lại là có tính tương đối. Nhưng nếu xét ở tầm mức cội nguồn sâu xa,
cơ bản nhất mà cũng bao trùm nhất thì chuẩn mực đạo đức lại là kết quả
mang tính tự nhiên, khách quan, nghĩa là có tính mặc định (tất yếu),
tính phổ quát xã hội về không gian và thời gian. Sự phân liệt tầng lớp
dân cư xã hội (mà cơ bản, có thể qui thành hai lực lượng tương phản
nhau, nếu xét về mặt "lợi" là giàu (thiểu số) và nghèo (đại đa số), còn
nếu xét về mặt "quyền" là (thiểu số) tập thể lãnh đạo và (đại đa số)
quần chúng phục tùng), cũng như sự tồn tại những yếu tố mầm mống gây ra
những hiện tượng bất công trong xã hội, "kéo theo" sự xuất hiện và tồn
tại cuộc tương tác thuận-nghịch nhằm khắc phục, xóa bỏ mâu thuẫn về
quyền lợi giữa hai lực lượng tương phản (tức là nhằm đảm bảo quyền sống
chính đáng một cách công bằng đối với mọi con người trong xã hội) nhiều
khi đạt đến độ quyết liệt, phải giải quyết bằng chiến tranh, giết chóc,
triệt hạ đồng loại nhằm khuất phục lẫn nhau, dù quan sát ở góc độ nhất
thời và trực diện rõ ràng là có tác dụng ngược với nguyện vọng sống còn
mang tính tự nhiên ở mỗi con người, và hơn nữa, trên bình diện rộng lớn
hơn là có tác dụng ngược với yêu cầu tự nhiên về thống nhất xã hội nhằm
bảo đảm khả năng sinh tồn (nghĩa là có tác dụng phá vỡ sự gắn bó, bình
ổn xã hội, uy hiếp sự tồn tại xã hội), thì về toàn cục, vẫn phải trong
vòng khống chế của xu thế tự nhiên là ưu tiên lựa chọn sống còn. Nghĩa
là đối với lực lượng nào (hiền hay ác, chính nghĩa hay phi nghĩa) cũng
vậy, đều luôn cố gắng hướng tới mục đích tự nhiên đầu tiên và tối hậu là
tồn sinh bản thân, mà muốn thế, đồng thời cũng phải (tự nhiên) hướng
tới duy trì, đảm bảo sự tồn tại xã hội dù tùy thuộc vào ý chí, có thể
theo hình thức này hay hình thức khác, ở trang thái còn bất công hay
không còn bất công. (Cuồng sát như phát xít Đức cũng chỉ đến độ quyết
tâm tiêu diệt triệt để dân tộc Do Thái, chinh phục và nô dịch thế giới
chứ không thể nghĩ đến mục tiêu làm cho thế giới diệt vong. Điên rồ bậc
nhất cổ kim là Pôn Pốt, thủ lĩnh Khơ Me Đỏ, trong thực tế đã thậm ngu xuẩn khi hành động
giết chóc mang tính diệt chủng chính dân tộc mình, nhưng cũng không phải
nhằm mục tiêu "xóa sổ" xã hội Cămpuchia, vì dù có mất hết tình người
thì nó cũng không dám suy tính tới điều đó, chưa cần nói rằng dứt khoát
nó không thể thực hiện được điều đó! Hai trường hợp vừa nêu còn bộc lộ
một điều lớn lao hơn cần nói thêm cho rõ, đó là trên bước đường giết
chóc lẫn nhau của mình, con người dù có thể gây ra sự thống khổ đau
thương tang tóc cho đồng loại với qui mô to lớn và mức độ khủng khiếp
đến cỡ nào chăng nữa, thì cũng chỉ phơi bày hơn nữa đến cùng cực mặt mê
muội điên rồ của loài người và tội ác ngút trời mà loài người tạo ra đối
với chính nó, thế thôi, chứ không thể làm tiêu vong xã hội loài người,
hay nói khác đi, một xã hội có thể tự thân làm nó tăng tiến lên hoặc suy
vi đi nhưng không thể tự thân hủy diệt nó, mà chỉ có môi trường "bên
ngoài" (thiên nhiên, ngoại xâm) mới có khả năng làm nó tiêu vong!).
(Còn tiếp)
Nhận xét
Đăng nhận xét