KIẾP GIANG HỒ 163

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Giai Thoại LÂM SANG – Đệ Nhất Giang Hồ Đất GÒ CÔNG, Ông Tổ Thú Chơi XỔ SỐ LÔ ĐỀ
Lâm Sang là người Việt gốc Hoa. Cha của Sang là một thành viên của TĐH ở Bạc Liêu. Người ta quen gọi ông ta là Chệt Lâm. Không có tài liệu nào cho biết lý do vì sao cha của Sang về tận xứ Gò Công mở tiệm hủ tiếu tại chợ Tổng Châu (bây giờ là chợ Tân Tây, Gò Công Đông, Tiền Giang). Cũng có dòng truyền khẩu cho rằng, Chệt Lâm là thuộc hạ cũ của Nguyễn Ngọc Chấn, người thôn Tân Niên Tây, huyện Kiến Hòa, trấn Định Tường (nay là xã Tân Tây, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang).

Phạm Công Giang: “quân sư” được cả Dung “Hà” và Năm Cam ưu ái

Sau khi sai Hải “Bánh” bắn chết Dung “Hà”, ông trùm Năm Cam ngỏ lời muốn mời Giang về, giao cho quản lý một sới bạc có tiếng ở Sài Gòn, nhưng Giang từ chối. 18 năm sau, “quân sư” được cả hai phe giang hồ nổi tiếng hàng đầu nước muốn thu nạp dưới trướng đã phải “xộ khám”.
Từ “quân sư” nổi danh một thời
Phạm Công Giang là chồng của Vũ Hoàng Oanh, chị gái của Dung “Hà”, và cũng là một “chị cả” trong giới giang hồ đất Cảng. Sau nhiều lần vào tù ra tội vì tổ chức đánh bạc, cách đây ít lâu, Oanh “Hà” đã bị Cơ quan CSĐT Bộ Công an phát lệnh truy nã đặc biệt để điều tra do có liên quan đến một đường dây ma túy xuyên quốc gia cực lớn, mà Giang giữ vai trò là một “cửu vạn”.
Đối tượng Phạm Công Giang
Về nhân thân của “quân sư” này cũng có nhiều điều đặc biệt. Phạm Công Giang vốn là một cán bộ giỏi của lực lượng hình sự Công an TP Hải Phòng. Trước đây Giang đã được cử đi Liên Xô học về nghiệp vụ Cảnh sát. Nhưng khóa học chưa hoàn thành thì Liên Xô sụp đổ, Giang về nước.
Cuộc đời Giang đổi hướng có lẽ từ khi người vợ đầu của Giang, thấy chồng đi học nước ngoài nhiều năm cũng bỏ sang Úc định cư. Sau khi về nước, Giang lấy người vợ thứ hai, chính là Vũ Hoàng Oanh, chị gái Dung “Hà”, khi đó cũng mới bỏ chồng và có 3 đứa con. Là người thân của hai người đàn bà có máu giang hồ, Giang nhanh chóng “nhúng chàm” và bị đuổi khỏi ngành Công an.
Với vốn kiến thức nghiệp vụ được trang bị, Giang trở thành “quân sư” đắc lực, đứng đằng sau hầu hết các hoạt động phạm tội của Dung “Hà” trong giới giang hồ Hải Phòng. Ngày 27/1/1996, Giang bị TAND Tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc.
Mãn hạn tù, Giang vẫn sát cánh cùng chị em Oanh-Dung, chuyên tổ chức các sới bạc ở khắp nơi nhưng kín kẽ hơn, chỉ đứng đằng sau tư vấn chứ không bao giờ ra mặt. Thậm chí năm 2002, khi vợ chồng Giang-Oanh ly dị (có với nhau 1 đứa con trai), thì vị trí của Giang bên cạnh bà trùm vẫn không hề thay đổi.
Về lý do vợ chồng Giang đường ai nấy đi, sau này, khi tâm sự với điều tra viên của Cục CSĐT tội phạm về ma túy, Giang vẫn còn ớn lạnh khi nhắc lại. Giang bảo, do dại dột đi cặp bồ, bị Oanh phát hiện, “phải van xin mãi Oanh mới không “thịt””.
Ngày 2/10/2000, Dung “Hà” bị ông trùm Năm Cam sai đệ tử bắn chết. Chính Giang đứng ra lo liệu hết mọi việc cho đám tang của bà trùm. Bà trùm được tắm gội sạch sẽ, xức nước hoa, mặc quần áo mới tinh tươm rồi mời thầy cúng đến khâm liệm.
Đến nay, người dân ở thành phố Cảng vẫn cho rằng đám tang của bà trùm này có một không hai về cả mức độ hoành tráng lẫn số người tham dự. Gần như không một đàn anh, đàn chị giang hồ có máu mặt nào ở miền Bắc vắng mặt trong đám tang đó.
Những tay chân thân tín của Dung “Hà” vung tiền không tiếc tay thuê máy bay chở xác Dung “Hà” về Hải Phòng. Tại sân bay Cát Bi (Hải Phòng), tất cả đàn em của bà trùm đều có mặt để đón linh cữu bọc quan tài kẽm của “chị cả”.
Rất nhiều nhà sư, thầy cúng được mời đến để cầu siêu cho Dung “Hà”. Quan tài của Dung được đắp hoa rực rỡ. Dọc con phố Trạng Trình vào nơi tổ chức đám tang tại nhà Dung, cánh đàn em đứng thành hai hàng dọc, mặc đồng phục đen. Đệ tử, người quen đến đưa tang cứ nối hàng kéo dài từ phố Trạng Trình tới tận nhà hát Lớn TP Hải Phòng (khoảng 2km).
Người đến đưa tang, ai nấy đều trong trang phục vest đen, cài hoa hồng trắng ở ngực áo, mắt đeo kính đen, đi trên xe ô tô cũng màu đen, chỉ vòng hoa là trắng. Đám tang của Dung làm người ta liên tưởng đến đám tang trong tiểu thuyết của các bố già mafia trên thế giới…
Sau khi Dung “Hà” chết, ông trùm Năm Cam ngỏ lời muốn gọi Giang về đầu quân dưới trướng, giao cho Giang quản lý một sới bạc có tiếng tại Sài Gòn, nhưng Giang từ chối. Giang nói với điều tra viên: “Nếu nhận lời, mỗi ngày lúc đó tôi cũng kiếm được mấy trăm triệu đồng. Nhưng tôi mà làm thế thì anh em giang hồ Hải Phòng coi tôi ra gì!”.
Đến “kẻ chết thuê”
Theo kết quả điều tra của Cơ quan CSĐT Bộ Công an, khi tiến hành lập án đấu tranh với đường dây vận chuyển trái phép chất ma túy từ TP Hồ Chí Minh ra các tỉnh phía Bắc tiêu thụ, các trinh sát đã phát hiện trong đó có Phạm Công Giang.
Sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ, Cơ quan điều tra xác định, lúc 22 giờ ngày 2/1/2018, Phạm Công Giang đi trên toa số 11A, khoang số 4, tàu SE4 từ ga Sài Gòn vận chuyển trái phép chất ma túy ra Hà Nội.
Thực hiện kế hoạch đề ra, hồi 5 giờ 40 sáng 4/1/2018, tại sảnh cửa 1B ga Hà Nội, tổ công tác Cục CSĐT tội phạm về ma túy (Bộ Công an) phối hợp với Đồn Công an đường sắt ga Hà Nội tiến hành kiểm tra đối tượng Phạm Công Giang khi vừa xuống tàu mang theo chiếc cặp số và chiếc va ly.
Kiểm tra trong hành lý của Giang, lực lượng chức năng phát hiện có 15 gói hình chữ nhật gồm nhiều loại ma túy tổng hợp, tổng trọng lượng hơn 10 kg, 70 triệu đồng cùng một số tang vật có liên quan.
10 ma túy tổng hợp các loại trong hành lý của Giang
Quá trình điều tra, dù Phạm Công Giang không khai nhận nhưng căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập, Cơ quan điều tra có đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Giang.
Đại úy Chung Đại Nghĩa, cán bộ Phòng 8, Cục CSĐT tội phạm về ma túy, điều tra viên thụ lý chính vụ án cho biết, có lẽ do quá tự tin vào sự tinh quái của một “quân sư” như mình, nên Phạm Công Giang sẵn sàng đảm nhận vai trò “cửu vạn ma túy”, dù thừa biết vận chuyển chính là khâu yếu nhất của bất kỳ đường dây ma túy nào.
Tâm sự với điều tra viên, Giang cho biết, sau khi ly dị, cả Giang và bà trùm Oanh “Hà” đều không lấy vợ, lấy chồng. Đứa con chung duy nhất của Giang-Oanh ở với bố mà không theo chân bà trùm bôn tẩu giang hồ như 3 người anh chị cùng mẹ khác cha. Giang lại phải chăm sóc, nuôi dưỡng bà mẹ già bị liệt nhiều năm nay. Cũng vì vậy mà ngoài việc thỉnh thoảng vẫn tư vấn cho cánh đòi nợ thuê đất Cảng, Giang hầu như chả có thu nhập gì nên đành đi xách thuê ma túy cho vợ cũ để kiếm tiền.
Trung tướng Đồng Đại Lộc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát kiểm tra tang vật
Được biết, TAND TP Hà Nội đang hoàn tất hồ sơ vụ án, chuẩn bị đưa Phạm Công Giang ra xét xử trong những ngày gần đây.

Sài Gòn: Dũng Chùa & tội phạm cướp giật (kỳ 1)

Khi nạn cướp giật tại Sài Gòn lên đến mức báo động, cơ quan công an thì chậm can thiệp đã dẫn đến nhiều vụ việc người dân hành hung kẻ cướp một cách bất chấp luật pháp. Cho đến lúc lãnh đạo TP.HCM và lực lượng công an quyết tâm đẩy lùi nạn cướp giật, chỉ trong vòng 1 năm, tỷ lệ các vụ cướp giật giảm khá nhiều.
Cướp giật đường phố là hệ quả của nghiện ngập
Có thể điểm lại diễn tiến của các kiểu tội phạm từ trước đến nay để có câu trả lời cho việc vì sao tăng vì sao giảm của loại hình cướp giật đường phố trong thời gian qua. Cụ thể, khi đất nước mới thống nhất, tình hình trật tự trị an tại Sài Gòn hết sức hỗn loạn.
Hàng loạt tội phạm sừng sỏ xổng ra từ trại giam Chí Hòa, quân lao Gò Vấp, trại giáo hóa Thủ Đức.… liên tục gây ra những vụ cướp của giết người, cướp giật đường phố. Ủy ban Quân quản (UBQQ) TP.HCM lúc bấy giờ đã thành lập lực lượng SBC (săn bắt cướp) và ngay lập tức, những tên tội phạm sừng sỏ nhất kẻ phơi xác giữa đường phố, kẻ đền tội nơi pháp trường… Tình hình trị an ngay lập tức vãn hồi!
Tuy nhiên có một mối liên quan rất rõ giữa hai loại tội phạm mà nếu có cơ hội tiếp xúc hoặc “nói chuyện cởi mở”, chúng ta sẽ thấy rõ gần như lập tức. Ma túy tràn lan, mua dễ hơn mua con cá lá rau nếu như là giới giang hồ quen mặt, dẫn đến 99,9% tội phạm đều là con nghiện.
Giá cả tuy không đắt so với các loại hình ăn chơi khác, nhưng giang hồ đâu phải lúc nào cũng rủng rỉnh mà nghiện ma túy, lấy tiền đâu để mua ma túy khi lên cơn nghiện? Tội phạm cướp giật đường phố, có thể nói chính là hệ quả của nghiện ngập.
Dũng Chùa, một giang hồ có số má dữ dằn ở khu Kho Đạn, Đa Kao, quận 1. Gã trả ít lắm là ba phần tư cuộc đời ở các kiểu trường trại, từ cưỡng bức, tập trung cho đến thành án. Toàn thành phố các quận huyện, không giang hồ nào không biết đến Dũng Chùa. Ở trại giam, ai nói là không thể có ma túy? Có tiền là có tất. Và chỉ những “đại bàng – đại bác” trại giam mới có điều kiện để sử dụng ma túy.
Chính vì vậy, đôi khi để ngồi chiếu trên trong thế giới các đại ca, cũng phải chơi “tí hàng đen hàng trắng cho vui” để khẳng định đẳng cấp.
Chuyện ít biết về tội phạm cướp giật đường phố ở Sài Gòn (kỳ 1) - Ảnh 2.
Ma túy, vốn là thứ dễ nghiện khó bỏ. Thế là các đại ca cầm tờ giấy ra trại trở về cố thổ, hành trang mang theo chỉ có một món: Nghiện oặt người! Dũng Chùa cũng nghiện nặng heroin và sái thuốc phiện chích thẳng vào mạch máu, do tác phong đại ca trường trại như thế, không thể khác hơn.
Dũng chùa về, quen thói đại ca, bèn rong chơi khắp cõi với một bầy kin kin sát thủ. Nhưng suốt ngày, hết kẻ này đến chiến hữu khác cho tiền Dũng mua ma túy về chơi, cũng oải. Dũng Chùa bèn đi cướp giật. Trúng ngày không có con mồi nào rơi vào tầm ngắm, thứ đến đang cơn vật vã thì ngồi còn ngáp lên ngáp xuống nữa là đi giật dọc. Dũng đến gặp Teo, ngụ ở Tân Bình, mua một cục hàng giá 50 ngàn cho qua cơn, tất nhiên tiền còn thiếu thì được cho nợ.
Chuyện ít biết về tội phạm cướp giật đường phố ở Sài Gòn (kỳ 1) - Ảnh 3.
Cướp giật đường phố là hệ quả của nghiện ngập
Hôm sau, vừa giật được một giỏ xách có vài trăm ngàn của một bà nội trợ nào đó,  Dũng Chùa trả nợ quán cơm, nhà nghỉ, còn thừa đúng 50 ngàn, bèn lên gặp Teo mua một cục về chơi cho đỡ vã. Teo cầm 50 ngàn, vốn xem thường bọn giang hồ nghiện, gã tuyên bố: xiết nợ, muốn mua thêm tiền tươi mới bán! Dũng Chùa cay cú chửi Teo.
Thứ giang hồ buôn bán hàng trắng cho giang hồ thường là thứ có máu mặt, Teo vào nhà lấy dao ra xử tội Dũng Chùa. Vừa nhào ra, Dũng Chùa chụp được dao đâm Teo chết tại chỗ. Lấy trường hợp Dũng Chùa để cho thấy, khi thiếu thuốc lên cơn vật vã thì kiểu nào cũng phải “cầm cữ” cho bằng được. Người lương thiện khó hình dung ra hệ quả của ma túy nếu như chưa từng thấy một gã giang hồ lên cơn đói thuốc!
Nếu có dịp thâm nhập vào một khu nhà trọ thuộc phường Tân Hưng quận 7, nhìn Long Ba lầu, một giang hồ quản lý nhà trọ, sẽ hiểu ngay “lịch làm việc” của những con nghiện ma túy gốc giang hồ cộm cán. Và đã hiểu lịch làm việc của giang hồ nghiện thì cũng sẽ rõ luôn vì sao cướp giật đường phố gia tăng tỷ lệ thuận với nạn nghiện ma túy.
Sinh hoạt của một nhóm cướp giật đường phố
Do sợ mất thành tích trong công tác, một số địa phương rất e ngại khi phải nhắc đến những ổ nhóm tội phạm trú ngụ nơi địa bàn mình quản lý. Chủ nhà trọ cũng rất biết điều hệt như những hàng quán lấn chiếm lòng lề đường. Nên trong con mắt đánh giá của người có trách nhiệm quản lý địa bàn: “Tụi nó làm gì thì làm, ở đâu không biết, không được gây án nơi mình đang quản lý!”.
Thế là giang hồ tội phạm luôn tuân thủ câu “chừa một phương lấy chồng” làm tôn chỉ chung sống hòa bình với cơ quan quản lý cấp địa phương. Chỗ rò lớn nhất của công tác phòng chống tội phạm phát xuất từ sự “đơn giản hóa những địa bàn phức tạp”!
Khu Cầu Đá, từ trước năm 1975 vốn là ao vũng sình lầy, lơ thơ vài nóc nhà của những người Bình Xuyên – Bảy Viễn. Đất hẹp người đông, ao vũng không còn dành cho cá tôm ếch nhái. San lấp sình lầy, hàng loạt khu nhà mọc ra. Và nhà trọ hết sức bình dân cũng ra đời ngày càng nhiều từ mạt hạng đến bình dân và thậm chí hơi có chút tiện nghi. Dăm bảy người bán vé số, hàng rong chung nhau thuê một phòng trọ 2-3 triệu đồng cũng có, các cô tiếp viên nhà hàng với giá 4-5 triệu cũng có.
Và cư dân giang hồ theo “tiếng gọi của gái” và trốn nợ tứ giăng, cũng tìm  đến. Người lương thiện bình thường nếu có dịp đi ngang hoặc bất đắc dĩ có việc cần, thì luôn tuân thủ câu: “không nghe, không biết, không thấy”. Những tấm thân còm cõi nhưng xăm không thua gì một sở thú, những gương mặt hốc hác nhưng chẳng mất đi phần hung ác… ngồi dọc xóm.
Các kiểu giang hồ về thuê nhà trọ càng lúc càng nhiều. Qua khỏi Cầu Đá chưa đầy 200 mét, có một khu nhà trọ khá kiên cố, tất nhiên chỉ so với trong khu vực mà thôi. Nhóm kin kin mà gã cầm đầu trạc ngoài 30 tuổi, tự xưng là đàn em Cu Nhứt, một sát thủ thời Năm Cam, làm thủ lĩnh. Chúng thuê vài ba phòng và suốt ngày ru rú trong phòng cả nam lẫn nữ gần chục mạng, để “bú đá”. Sinh hoạt nhếch nhác dơ dáy, nhưng gái đẹp ra vào nườm nượp. Khoảng trưa cho đến xế chiều, những tên giang hồ tuổi đời chưa đến 20 rời sào huyệt đi “săn hàng”. Và khi trở về, hoạt cảnh “bú đá” và tình dục bầy đàn, lại tiếp tục.
Đó là mới điểm sơ một khu vực xem như sào huyệt của bọn cướp giật đường phố. Riêng quận 7, quận 8, Nhà Bè, Tân Phú, Bình Tân, Bình Thạnh… sào huyệt như thế, rất nhiều!
Cướp giật trên khu vực Cầu Kinh Tẻ, Cầu Chữ Y, Cầu Nguyễn Văn Cừ và những điểm nóng khác ở Sài Gòn, sẽ còn liên tục xảy ra, nếu như các cơ quan chức năng chỉ nhăm nhăm tiêu diệt chúng ngay nơi phạm pháp. Đặc xá trước thời hạn và trở về từ các trung tâm cai nghiện cung cấp một lượng tội phạm cho loại hình cướp giật trên đường phố gần như vô hạn. Nếu như nạn ma túy, đặc biệt là ma túy đá vẫn còn là vấn đề…
theo Tuổi trẻ & Đời sống

Sài Gòn: “ăn bay” & thủ đoạn cướp giật đường phố xưa và nay (2)

Bọn cướp thường dùng xe bám theo con mồi, đến đoạn vắng thì thò tay ra mà giật. Có điều, đa phần bọn “ăn bay” là giang hồ khoác áo lính nên nếu nạn nhân chống trả, phần đông đều ăn đạn Colt 45, Ruleau 9mm.
Những lò độ xe để đi cướp
Trước năm 1973, miền Nam không có cướp giật đường phố theo đúng nghĩa của từ này. Thỉnh thoảng có việc giật một giỏ xách, chiếc đồng hồ của bọn cướp giật nhi đồng không mấy ai lưu tâm.
Khi đơn vị cuối cùng của quân đội Mỹ cuốn cờ về nước, nguồn viện trợ dồi dào chấm dứt khiến toàn bộ nền kinh tế miền Nam vốn lệ thuộc vào đồng đô la, gần như đổ sụp.
Lương quân nhân công chức không gồng gánh nổi những gia đình có con đông. Chính quyền đưa ra cái gọi là thực phẩm phụ trội, cũng chẳng làm tình hình sáng sủa hơn.
Khi quân Mỹ vào nước ta, với nửa triệu quân mà đã có từ 80 đến 100 ngàn con nghiện thì việc tràn ngập heroin cần sa ở những nơi thị tứ là điều dễ hiểu.
Khi Mỹ rút, thị trường trở nên thừa mứa nguồn cung nên quân đội Sài Gòn cũng có lượng con nghiện lên đến vài trăm ngàn. Heroin dễ nghiện nhưng hết sức khó bỏ.
Và cơn vật vã của nó thì quả là rất gần với địa ngục. Các con nghiện bèn túa ra đường cướp giật. Và hình thành cụm từ “ăn – bay” để chỉ loại hình mới mẻ này.
Chẳng có thủ đoạn mưu mô gì phức tạp, chỉ cần kỹ thuật điều khiển xe điêu luyện là đủ!
Trong năm 1973-1974, nạn dùng xe gắn máy cướp giật đã trở thành nỗi ám ảnh của người dân Sài Gòn và những chồng hồ sơ kèm chỉ thị được đặt lên bàn làm việc của đại tá Trang Sĩ Tấn, Giám đốc Nha Cảnh sát Đô Thành với bút phê của đích thân Tổng thống!
Danh sách 10 tên cướp nguy hiểm nhất được đưa xuống cho cảnh sát các nơi mà đứng đầu là Hai Néo, Bình Toyota… đứng thứ 7 là tướng cướp Điềm Khắc Kim, kẻ chẳng biết xe Honda điều khiển thế nào!
Còn 6 hạng đầu đều là những tên cộm cán nhất của cướp giật đường phố.
Lúc đó, bọn cướp giật đường phố bắt đầu sử dụng 2 loại xe gắn máy. Chiếc BS 50cc nhưng đồng hồ tốc độ chỉ con số 120km/giờ là lựa chọn hoàn hảo.
Vừa ngắn đòn dễ xoay trở góc hẹp, phanh cực ăn và tốc độ rất cao nên chiếc BS đứng đầu danh sách sử dụng của bọn cướp giật đường phố lúc bấy giờ.
Có điều vì là xe không được trợ giá như hãng Honda nên trên thị trường chiếc xe này đắt gấp đôi, thậm chí 2,5 lần các loại xe của hãng Honda.
Chiếc được lựa chọn thứ 2 là chiếc S50 tức Honda 67. Nhưng tốc độ chậm cộng thêm khá dài đòn của chiếc S50 khó làm cho bọn cướp giật hài lòng.
Thế là những lò độ xe Honda 67, 68, 72, 90 không chỉ cho tay đua mà chủ yếu là cho bọn “ăn bay” ra đời. Đôn dên, xoáy nòng cẩu xập (90cc), xẻ đuôi cá, thay nhông sên dĩa… được áp cho chiếc xe vốn chỉ chạy tối đa 60-70 km/giờ trở thành những chiếc xe chạy đến 135km/giờ!
Và một thay đổi kết cấu rất đặc biệt được giang hồ sống bằng nghề “ăn bay” đưa vào chiếc xe Honda 67 khá hữu dụng là: chuyển tay ga, cần ly hợp qua bên trái.
Tay phải rảnh rang dùng để… giật và thậm chí dùng súng khá dễ dàng để chống trả lực lượng truy đuổi.
Chuyện ít biết về tội phạm cướp giật đường phố ở Sài Gòn - Kỳ 2: Thủ đoạn cướp giật đường phố xưa và nay - Ảnh 2.
Bọn cướp thời kỳ những năm 1973-1974 thường dùng xe Honda 67 được đôn dên, xoáy nòng… để “ăn bay”
Chiếc Honda 67 tỏ ra lợi hại hơn vì một lý do đơn giản. Chiếc BS không phải là chiếc xe được bán ưu tiên cho quân nhân công chức, nên dễ bị theo dõi.
Trong khi chiếc 67 đồng thời là phương tiện kiếm cơm cho quân nhân công chức sau giờ hành chánh. Xe ôm ra đời cũng vào giai đoạn này…
Bọn cướp thường dùng xe bám theo con mồi, đến đoạn vắng thì thò tay ra mà giật. Có điều, đa phần bọn “ăn bay” là giang hồ khoác áo lính nên nếu nạn nhân chống trả, phần đông đều ăn đạn Colt 45, Ruleau 9mm.
Quân lao Gò Vấp lên đến cả chục ngàn quân phạm, quá nửa là bọn cướp giật đường phố gốc lính các loại kể cả bọn đào ngũ.
Cướp giật đường phố chuyển hướng đối tượng
Những ngày đất nước mới thống nhất, Sài Gòn cực kỳ phức tạp về tình hình trị an. Bọn sổng tù vào ngày 30/4/1975 tràn về thành phố để sống lén lút trong lòng đô thị.
Bọn cướp giật thì hoạt động ngày càng táo tợn hơn do tốc độ của chiếc xe giúp chúng thoát thân đa phần thành công khi các cơ quan chức năng còn đang bỡ ngỡ.
Lượng súng ống do đội quân thất trận bỏ lại ngay trên đường phố rất dồi dào và khó kiểm soát nên bọn “ăn bay” tàng trữ để sử dụng một cách tràn lan.
Nói thế để thấy, trong những ngày đầu để giữ gìn trật tự trị an đường phố, các cơ quan chức năng thuộc Uỷ ban Quân Quản TP đã phải hy sinh không ít cả tài lực vật lực và đôi khi cả tính mạng…
Rồi những tên cướp già đời sừng sỏ nhất, đều đền tội ngay trên đường phố. Lượng cướp giật giảm hẳn do bọn giang hồ lưu manh nhận ra giá phải trả quá đắt.
Có thể kể ra hàng loạt tên: Tiêu Mù, Thành Thổ Mộ, Thành Nouvaren, Lễ Nhà Lô, Tuấn Cội, Minh Nhượng, Đức Điến… đều biến mất trong danh sách cộm cán của giang hồ sau năm 1975.
Ngay gần cuối năm 1975, dựa theo danh sách các địa phương cung cấp, một chiến dịch thu gom tội phạm được tiến hành. Trên 10 ngàn tên cộm cán, máu mặt bị bắt giữ và đưa đi trại tập trung Bù Gia Mập. Một số ít lẩn trốn nhưng rơi rụng dần hoặc tự giác hồi hướng làm người lương thiện. Những biện pháp quyết liệt của chính quyền lúc bấy giờ là hết sức hiệu quả và cần thiết. Tiền thân của 2 trại giam Đồng Tháp và Tống Lê Chân là đợt thu gom này sau khi giải tán trại Bù Gia Mập.
Ngay cả 3 nhân vật còn sót lại của Tứ đại thiên vương là Đại, Tỳ, Cái, Thế cũng “vô hộp” thời gian này.
Đại Cathay bị giết năm 1968, nhưng các nhị ca, tam, tứ, vẫn sống phây phây nơi trại giam và cùng cầm cuốc trồng trọt thay cho cầm dao súng thanh toán nhau.
Huỳnh Tỳ, tên thật là Nguyễn Thuận Lai, sinh năm 1940 thì ở cùng trại Tống Lê Chân với gã đàn em Ngô Văn Cái sinh năm 1947.
Nhưng cả hai sau đó về không còn nhìn mặt nhau dù thuở xưa đã từng cắt máu ăn thề! Ba Thế thì miệt mài đào kinh đắp đập ở trại Đồng Tháp và ngay sau khi trở về lập tức vào chùa tu cho qua ngày đoạn tháng.
Bọn “ăn bay” và nhiều loại tội phạm tương tự bèn chuyển hướng. Chúng không dại gì tấn công người lương thiện mà tìm loại khổ chủ khác, đơn giản và an toàn hơn.
Đó là những cư dân chợ trời, những kẻ buôn lậu và bọn tổ chức vượt biên. Bọn tội phạm nắm chắc một điều, khi bị tấn công thường thì các loại ít nhiều phạm pháp này sẽ không dại gì tố cáo để thay vì chỉ mất tiền, mất tài sản… còn mất cả tự do!
Nạn cướp giật đường phố thoái lui, dành chỗ cho các loại hình tội phạm khác tạm an toàn hơn.
Khi cướp giật được coi là một nghề
Xe cộ không phải tên giang hồ nào cũng có tiền mà mua sắm làm phương tiện phạm pháp. Rộ lên hai loại hình nghe thì buồn cười nhưng vẫn là một đe dọa có thật vào những năm 80-90 thế kỷ 20.
Đó là đi cướp giật đường phố bằng xe đạp và… chạy bộ. Tuy nhiên do khá nguy hiểm nên những tên giang hồ chỉ dám tấn công những nạn nhân có tài sản ít giá trị.
Đầu tiên là bọn “bẻ đê” tức bọn giật đồng hồ rồi chạy vào hẻm hoặc nếu ở bến đò Thủ Thiêm thì ùm luôn xuống sông tẩu thoát! Kế đến là bọn giật phén và ăn nhơ.
Đó là giật dây chuyền và bông tai. Chúng cũng tẩu thoát dựa vào… khinh công bụi đời. Giật giỏ xách gọi là “ăn gio”, bọn này thường đi có đôi 4 mạng 2 xe.
Một chiếc áp vào “mua hàng” (từ giang hồ chỉ việc ra tay cướp giật). Chiếc kia, gọi là “cản địa” dùng để ngăn cản các vụ truy đuổi của lực lượng chức năng và dân chúng.
Một hoạt cảnh hài hước nhưng hoàn toàn có thật: Người chồng dắt chiếc xe đạp ra khỏi nhà, theo sau là cô vợ mặt bự phấn, son môi đỏ chót. Ra đến đầu ngõ, bà bán chuối chiên hỏi: “Hai đứa đi làm hả bây?”.
Cô vợ vui vẻ: “Dạ, đi làm má Sáu ơi…”. Đi làm, với má Sáu, với cặp vợ chồng này và đa phần cư dân trong xóm là: anh chồng đạp xe chở vợ ra làm gái đứng đường ở Cầu Móng, còn anh thì đạp xe rảo khắp nơi tìm bất kỳ ai sơ hở để cướp giật rồi tẩu thoát bằng xe đạp!
Việc cướp giật và một số kiểu phạm pháp khác đã được một bộ phận cư dân không nhỏ của tầng lớp tạm gọi là cặn đáy của xã hội, xem là một nghề nghiệp hẳn hoi. Thế đấy!
theo Tuổi trẻ & Đời sống

Sài Gòn: Võ Tùng Hội, Hai “néo” & tội phạm cướp giật đường phố (kỳ 3)

Chuẩn úy Thanh ôm khẩu tiểu liên CAR 15 dành riêng cho biệt kích xông ra bắn thẳng vào tên tướng cướp, đạn vãi như mưa. Gần hai chục tay súng nhắm vào Hai néo nã đạn. Vậy mà trước khi bị bắn nát bươm người, Hai néo cũng kịp thời bắn trả gây tử thương cho 1 cảnh sát và bắn sượt tóc chuẩn úy Thanh.
Đội SBC nổ súng trấn áp tội phạm
Cuộc chiến bất phân thắng bại
Năm 1972, chiến sự ác liệt cả 3 mặt trận: Bình Long – An Lộc – Quảng Trị khiến các loại tin tức về trộm cướp, các kiểu tội phạm hình sự khác, trở thành nhỏ nhoi vô nghĩa.
Nhưng dù vậy, với người dân đô thị như Sài Gòn, nó vẫn cứ là một vấn đề cấp thiết.
Cho đến một ngày, thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Quốc hội miền Nam bị giật chiếc đồng hồ Patex Philip trị giá lên đến cả vài chục ngàn dollar.
Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, tư lệnh lực lượng CSQG, triệu tập một cuộc họp khẩn cấp và sau đó một đơn vị đặc biệt được thành lập. Đó là biệt đội hình cảnh lưu động, với thành viên được lựa chọn từ… quân đội!
Những tay thiện xạ gan dạ và có chút sắc máu mang từ chiến trường về, nhanh chóng hòa vào nhịp sống đô thị và bắt đầu ra tay.
Thanh, một chuẩn úy thuộc Lôi Hổ đã tham gia trong vụ giết Đại Cathay ở Kiên Giang năm 1968, được tuyển về biệt đội hình cảnh. Với khả năng của một biệt kích, Thanh nhanh chóng lập thành tích và bắn hạ hàng loạt cướp giật đường phố.
Cho đến một ngày, biệt đội hình cảnh va trúng kẻ đứng đầu danh sách tướng cướp Sài Gòn: Trương Văn Hay.
Một sai sót của nhân viên hộ tịch thuở chào đời đã khiến Hay trở thành Hai và do hơi béo, giang hồ gán luôn cho biệt danh Hai “néo” (heo nái).
Xuất thân là một quân cảnh gác trại tù phiến cộng ở phú Quốc, gã giải trí bằng cách dùng Colt 45 bắn dừa trôi bập bềnh trên biển.
Khả năng bắn súng thần sầu quỷ khốc của Hai “néo” đồn về tận Sài Gòn khiến Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ cũng hiếu kỳ ra tận nơi thăm.
Sau khi chứng kiến nghệ thuật sử dụng súng cả 2 tay, viên thiếu tướng có máu cao bồi rất thích bèn tặng cho gã một cặp súng Colt có báng ngà khắc chữ ký của mình và gọi gã về làm cận vệ thay cho trùm người nhái Châu Nhị vừa thiệt mạng trong một cuộc tranh chấp với các du đãng sĩ quan nhảy dù.
Hai “néo” trèo lên trực thăng về Sài Gòn, nhưng một lý do chẳng đâu vào đâu, gã ôm cặp súng Colt do Ngyễn Cao Kỳ tặng, bỏ đơn vị trở thành tên cướp.
Chưa có trong danh sách theo dõi của cảnh sát nên Hai “néo” gây ra hàng loạt vụ cướp táo tợn ngay giữa trung tâm Sài Gòn. Thủ pháp quen thuộc của gã là đeo bám những người đến ngân hàng giao dịch và cướp giật.
Ai chống trả đều bị gã bắn trọng thương. Biệt đội hình cảnh lưu động được lệnh trừ khử tên cướp này. Ngay tuần lễ đầu tiên, có 4 nhóm cảnh sát và biệt đội hình cảnh chạm súng với Hai.
Lần nào gã cũng thoát thân dễ dàng sau khi bắn hạ vài nhân viên công lực! Một kế hoạch triệt hạ Hai “néo” tỉ mỉ được vạch ra nhưng chỉ thị: “Không được tiếp cận Hai “néo” trong tầm đạn súng ngắn” khiến gã vẫn xoành xoạch ra tay cướp giật.
Xe 67 xoáy nòng chỉ cần gài số, hạ chống cho bánh lăn là máy nổ, “chiến mã” giúp lực lượng SBC truy đuổi trấn áp tội phạm, bảo vệ dân lành
Một buổi trưa nắng như đổ lửa, lực lượng theo dõi báo về Hai “néo” đang sử dụng xe Vespa spring chở em trai đi thuê đồ cưới ở chợ Vườn Chuối quận 3.
Ngay góc ngã tư CMT8 và Nguyễn Đình Chiểu bây giờ, gần hai chục tay súng của biệt đội hình cảnh lưu động chực sẵn. Chuẩn úy Thanh ôm khẩu tiểu liên CAR 15 dành riêng cho biệt kích xông ra bắn thẳng vào tên tướng cướp.
Đạn vãi như mưa nhưng gã cướp nhanh chóng hất đứa em trai văng ra khỏi xe. Gần hai chục tay súng nhắm vào Hai “néo” nã đạn.
Vậy mà trước khi bị bắn nát bươm người, Hai “néo” cũng kịp thời bắn trả gây tử vong cho 1 cảnh sát và bắn sượt tóc chuẩn úy Thanh.
Nhưng việc nổ súng bừa bãi của biệt đội hình cảnh lưu động đã khiến báo chí Sài Gòn có dịp chỉ trích dữ dội. Ngay sau đó, một vụ khác đã xảy ra như giọt nước tràn ly.
Đó là một vụ cướp giật trên đường Lê Thánh Tôn quận 1, nơi nổi danh với những tiệm vàng. Ngay khi tên cướp vừa lao ra từ tiệm vàng, lực lượng mai phục đã lập tức phản ứng.
Tên cướp nhảy lên chiếc Honda 67 do đồng bọn chờ sẵn để tẩu thoát. Lập tức một nhân viên biệt đội lao ra nổ súng bắn thẳng. Hai tên cướp chạy mất để lại hiện trường một bà bán thuốc lá trúng đạn chết tại chỗ.
Sử dụng súng thiếu chính xác đã thành đề tài báo chí chế giễu lực lượng cảnh sát suốt vài tuần lễ khiến Nguyễn Khắc Bình nóng mặt. Biệt đội hình cảnh lưu động lập tức bị giải tán!
Cướp giật gia tăng một cách trầm trọng vào những ngày cuối cùng của chế độ, đến nỗi Quốc hội của Sài Gòn phải đưa vào nghị sự. Cho đến tận khi mất Phước Long, mọi chuyện vẫn còn đó nhưng chẳng còn ai quan tâm…
SBS của Sài Gòn những ngày đầu
Sau khi non sông thu về một mối, chỉ trong thời gian 3 năm, từ 1975 đến 1978, đã xảy ra 45.000 vụ phạm pháp hình sự. Trong đó, có 1.400 vụ cướp lớn. Gần 170 người vô tội bị bắn chết, 200 người bị thương.
Tài sản bị cướp theo ghi nhận của công an, gồm 1.200 lượng vàng, 70 viên kim cương, 15 xe ô tô, 370 xe máy, 460 đồng hồ.
Tính bình quân trên địa bàn thành phố, cứ 40 phút lại xảy ra một vụ cướp! Một con số kỷ lục về tội phạm trong lịch sử nước ta, kể cả thế giới!
Khét tiếng trong thời điểm này là băng cướp do tên Võ Tùng Hội cầm đầu. Chúng có 33 tên được trang bị 14 khẩu súng, 3 ô tô, 20 xe máy. Chúng đã gây ra 100 vụ cướp, bắn chết 2 người, bắn bị thương 3 người.
Một băng khác do tên Lê Nghĩa cầm đầu còn tàn ác hơn. Chúng dùng súng bắn như vãi đạn giết sạch cả một gia đình. Trong vòng một tháng chúng giết hại 13 người dân.
Băng cướp này dùng tiền, vàng và tài sản cướp được tiêu xài và đầu tư mở… lò bánh mì, y như “mô hình” của maphia ở Ý và Mỹ.
Dùng tiền của ăn cướp đầu tư và sản xuất kinh doanh để vừa rửa tiền, vừa có “hậu phương” vững chắc nuôi quân, phòng ngừa bất trắc…
Ông Hai Thành, một huyền thoại của đội SBC
Tháng 3/1978, 5 đội SBC (săn bắt cướp) ra đời thuộc Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP và Công an quận 1 gồm 72 chiến sĩ được tuyển chọn trong toàn bộ lực lượng công an.
Trước đó, Công an quận 5 do trung tá Trịnh Thanh Thiệp (sau này là thiếu tướng) làm trưởng phòng đã thành lập đội “săn bắt cướp” hoạt động mạnh mẽ để đối phó với những diễn biến tội phạm nguy hiểm trên địa bàn quận.
Lực lượng này được “nhập” vào “binh chủng” SBC của thành phố. Và người đi tiên phong, thiếu tá Trịnh Thanh Thiệp, lúc này là Trưởng phòng Cảnh sát hình sự thành phố, phụ trách “binh chủng” SBC mới tinh này.
Đội trưởng SBC là đại úy Phan Thanh, tức Ba Tung, một trinh sát biệt động nội thành nổi tiếng.
“Luật” của “binh chủng” SBC ngay từ khi ra đời được lãnh đạo Công an TP.HCM thông qua, quy định như sau: “Trinh sát SBC không quá 30 tuổi, được phép chạy hết tốc độ (thời kỳ ấy là xe S.67 xoáy nòng.
Khi thi hành công vụ, trinh sát SBC được đi vào đường cấm, vượt đèn đỏ, đi ngược chiều. Gặp đối tượng bị truy nã không đầu hàng, sau hai phát súng cảnh cáo, trinh sát SBC được phép bắn đối tượng.
Nếu đối tượng có vũ khí hung hãn đối đầu, trinh sát SBC được phép bắn chết mà không cần cảnh cáo. Các trinh sát SBC phải thực hiện nhiệm vụ theo điều động của chỉ huy 24/24.
Trinh sát SBC phải tuyệt đối giữ bí mật nội dung công tác, dù đó là vợ, con, cha mẹ hay người yêu. Trinh sát SBC có thẻ riêng để chứng minh thân phận khi cần thiết”.
Chỉ trong thời gian đầu vừa được thành lập, những băng cướp táo tợn gần như bị xóa sổ bởi lực lượng SBC với nhiều quyền hạn.
Nhưng những bọn cướp giật nhỏ lẻ và luôn hành động chẳng theo quy luật nào thì việc triệt phá hoàn toàn không dễ dàng gì.
Cuộc đua không ngừng nghỉ của tội phạm và các cơ quan chức năng vẫn còn tiếp diễn, với mức độ thôi ác liệt nhưng quy mô có phần phức tạp hơn.
Cho đến ngày giải tán trả về cho các đơn vị cảnh sát hình sự, lực lượng SBC thuộc CA TP.HCM đã hoàn thành nhiệm vụ trả lại an bình trên đường phố.
Và cho đến bây giờ, sự tái xuất của lực lượng này theo chỉ thị của các cấp lãnh đạo TP.HCM, lại một lần nữa mang đến hy vọng cho người dân lương thiện.
Nhưng hiện nay, phương thức thủ đoạn của bọn tội phạm cướp giật đã khác xa ngày trước.
Đồng thời những quy định khắt khe của luật pháp, của điều lệnh ngành công an, sự chú ý của dư luận… khiến sự thành công trong việc đẩy lùi, kéo giảm thậm chí triệt tiêu nạn cướp giật đường phố, cũng không phải là việc dễ dàng và càng không phải việc của một sớm một chiều.
Tuy nhiên, chúng ta còn cần rất nhiều thời gian và lòng kiên nhẫn để hy vọng!
Những ngày đầu tiên, dù tên gọi khác đi, nhưng rõ là lực lượng đặc nhiệm này của CA TP.HCM đã có kết quả rõ rệt qua hàng loạt báo cáo đánh giá của các cơ quan liên quan. Quả là đáng mừng!
theo Tuổi trẻ & Đời sống

Trịnh Thị: nữ tặc chỉ huy 50.000 cướp biển khiến nhà Thanh bất lực

Từ một kỹ nữ lầu xanh, Trịnh Thị trở thành nữ hải tặc khét tiếng, cầm đầu đội quân cướp biển hoành hành ở các vùng biển phía nam.
1-9190-1460003758
Từ một kỹ nữ lầu xanh, Trịnh Thị trở thành kẻ cầm đầu hạm đội hải tặc Cờ Đỏ. Ảnh:Vesselfinder
Đầu thế kỷ 19, một kỹ nữ tài sắc trong nhà thổ nổi trên sông ở Quảng Châu, Trung Quốc được gả cho Trịnh Nhất, tên cướp biển khét tiếng vùng vẫy trên một vùng biển rộng lớn thời nhà Thanh.
Sử sách chỉ ghi chép lại tên của người kỹ nữ này là Trịnh Thị, hay Trịnh Nhất Tẩu (vợ của họ Trịnh) mà không đả động gì tới tên thật của bà ta. Thế nhưng, di sản mà người phụ nữ này để lại còn lớn hơn của người chồng cướp biển rất nhiều lần, bởi đội quân cướp bóc của bà ta đã từng gieo rắc tai họa trên các vùng biển phía nam, khiến các thương thuyền lẫn quan binh triều đình nhiều phen khiếp vía, theo Atlasobscura.
Trịnh Nhất chính là tên cầm đầu của hạm đội cướp biển Cờ Đỏ, được tập hợp từ các nhóm cướp biển nhỏ lẻ khác nhau thống nhất dưới lưỡi gươm của hắn ta. Khi cưới được cô vợ Trịnh Thị mới 26 tuổi vào năm 1801, Trịnh Nhất đã cho phép vợ tham gia đầy đủ vào công việc cướp biển của mình, theo sử gia Dian H. Murray viết trong cuốn Cướp biển Duyên hải Nam Trung Hoa.
Theo một số sử gia Trung Quốc, rất có thể Trịnh Nhất đã bỏ tiền cuộc Trịnh Thị ra khỏi lầu xanh vì khâm phục tài kinh doanh của người phụ nữ này. Là một kỹ nữ có quan hệ rất rộng, Trịnh Thị nắm được nhiều bí mật của các khách làng chơi, và sử dụng những bí mật đó để thao túng, kết nối với các khách hàng quyền lực và giàu có.
Sử sách kể rằng, khi chấp nhận cưới Trịnh Nhất, Trịnh Thị đã ra điều kiện là phải được nắm quyền một nửa hạm đội cướp biển của ông ta. Nhờ sự nhạy bén trong kinh doanh, Trịnh Thị dần dần gây ảnh hưởng đến những tên cướp biển khác và gần như nắm trọn cả hạm đội cướp biển trong tay.
Thời kỳ đó, phụ nữ làm cướp biển là điều rất hiếm hoi, và Murray cho rằng chỉ có một phụ nữ khác từng nắm quyền chỉ huy hạm đội cướp biển là Hon-cho-lo, hoạt động ở Hong Kong vào nửa đầu thế kỷ 20.
Năm 1801, Trịnh Nhất chết, nhiều khả năng là do gặp bão trên biển, quyền thừa kế hạm đội được trao lại cho Trương Bảo, con nuôi của y. Tuy nhiên, chỉ vài tuần sau đó, Trịnh Thị quyết định làm người tình của Trương Bảo, và mặc nhiên chiếm quyền chỉ huy hạm đội cướp biển Cờ Đỏ với hơn 1.800 binh thuyền và khoảng 50.000 lâu la. Để so sánh, cướp biển Râu Đen lừng danh cùng thời với bà ta chỉ chỉ huy 4 tàu và 300 tên cướp biển, còn hải quân Mỹ thời đó cũng chỉ có 5.000 thủy binh.
Để tiện bề quản lý, Trịnh Thị trao chức thuyền trưởng hạm đội cho phó tổng tư lệnh Trương Bảo, còn bà ta phụ trách việc kinh doanh và vạch ra chiến lược quân sự cho cả đạo quân cướp biển này.
Trong khi cướp biển phương Tây cho rằng để phụ nữ lên tàu là điều cấm kỵ, có thể mang lại tai họa, các tàu cướp biển của Trịnh Thị đều có một vài phụ nữ làm những công việc khác nhau, dù không rõ mức độ tham gia của họ vào những cuộc cướp bóc đến đâu, theo Murray.
Một nhân viên công ty Đông Ấn tên là Richard Glasspoole bị cướp biển của Trịnh Thị bắt giữ vào tháng 9/1809, và được trả tự do vào tháng 12 năm đó. Glasspoole kể lại rằng hạm đội của nữ tướng cướp này có khoảng 1.000 tàu lớn, 800 tàu nhỏ, với tổng số cướp biển lên tới 50.000 người, lớn hơn lực lượng hải quân của nhiều nước thời đó.
Quy định hà khắc
Việc điều hành một lực lượng những kẻ ngoài vòng pháp luật lớn như vậy không hề dễ dàng. Để thống nhất cách quản lý hạm đội của mình, Trịnh Thị đề ra một bộ quy tắc áp dụng với tất cả cướp biển thuộc quyền, cùng những điều luật hà khắc để trừng phạt những kẻ không tuân thủ.
Chẳng hạn như, Trịnh Thị quy định rằng bất cứ cướp biển nào bất tuân thượng lệnh đều bị chém đầu tại chỗ. Nữ tướng cướp này còn đề ra những hình phạt khắc nghiệt khác như cắt tai những kẻ đào ngũ, đánh bằng hèo sắt… Chiến lợi phẩm cướp được đều phải nộp về cho hạm đội để phân chia đồng đều, tàu nào trực tiếp tham gia cướp bóc chỉ được nhận 20% giá trị.
2-9309-1460003759
Hình vẽ minh họa đội quân hải tặc cướp bóc trên biển. Ảnh: History.com
Bộ luật này cũng có những quy định rất chặt chẽ về cách đối xử đối với tù nhân nữ. Khi bắt được phụ nữ từ các tàu buôn, những người có nhan sắc tầm thường sẽ được thả tự do về đất liền ngay lập tức, còn những cô gái xinh đẹp sẽ được đem ra đấu giá cho các cướp biển trên tàu.
Người nào mua nữ tù nhân về sẽ phải làm lễ cưới và sống trọn đời với người con gái đó, nếu có hành vi lừa dối sẽ bị xử tử. Những cướp biển hãm hiếp nữ tù nhân cũng bị xử trảm ngay trên tàu, và nếu cuộc “mây mưa” trước hôn nhân đó là do đồng thuận giữa hai người, cả hai đều bị khép tội chết.
“Dù các lâu la có nghĩ gì về bà ta, điều rõ ràng là họ đều tôn trọng và tuân thủ quyền lực của bà ấy”, Murray viết.
Bất khả chiến bại
Theo Murray, hạm đội cướp biển Cờ Đỏ của Trịnh Thị hoành hành trên vùng biển phía nam, xuống tới tận Malaysia, thậm chí còn kiểm soát nhiều ngôi làng ven biển từ Ma Cao đến Quảng Châu, áp thuế cho người dân sinh sống tại các làng này.
Tàu cướp biển của Trịnh Thị tấn công, cướp bóc không chừa một ai, từ tàu buôn Trung Quốc cho tới tàu hải quân của Anh, Bồ Đào Nha. Triều đình nhà Thanh đã nhiều lần điều binh vây đánh, hải quân Bồ Đào Nha cùng các chiến thuyền của công ty Đông Ấn cũng tham gia truy quét đội quân hải tặc này, nhưng đều thất bại vì lực lượng của hạm đội Cờ Đỏ quá lớn. Một đề đốc hải quân Mãn Thanh dâng sớ lên triều đình báo cáo về đội quân này như sau: “Hải tặc quá mạnh, chúng tôi không thể khống chế chúng bằng vũ lực”.
Sử gia Wick Alison viết rằng hạm đội Cờ Đỏ dưới quyền chỉ huy của Trịnh Thị có đến 200 chiến thuyền viễn dương cỡ lớn, mỗi chiếc được trang bị 20-30 khẩu đại bác, sẵn sàng chống trả quyết liệt các cuộc vây ráp của hải quân nhà Thanh và quân tiếp viện do vua Bồ Đào Nha và vua Anh gửi đến.
3-6632-1460003759
Trịnh Thị đấu kiếm với quan quân triều đình. Ảnh: Wikimedia
Sau ba năm liên tiếp giao tranh trên các vùng biển, quân triều đình vẫn không thể nào khuất phục nổi đội hải tặc của Trịnh Thị. Tuy nhiên, nội bộ hải tặc cũng bắt đầu xuất hiện chia rẽ, lục đục, phân thành hai nhánh là Cờ Đỏ và Cờ Đen. Dưới sức ép quá lớn của quan quân triều đình, nhóm Cờ Đen đã chấp nhận đầu hàng.
Nhận thấy việc tiếp tục dùng vũ lực vây ráp khó có thể khuất phục được Trịnh Thị, triều đình nhà Thanh đành xuống nước, chấp nhận đàm phán để thuyết phục nữ hải tặc này đầu hàng vào năm 1810.
Rửa tay gác kiếm
Triều đình nhà Thanh cử tổng đốc Lưỡng Quảng ra đàm phán với hải tặc Trương Bảo, tuy nhiên cuộc đàm phán sớm rơi vào bế tắc khi nhà Thanh khăng khăng đòi kẻ cầm đầu hải tặc phải khấu đầu quy phục trước quan binh triều đình, cũng như những bất đồng trong việc xử lý số của cải cướp được.
Trịnh Thị đã quyết định tự mình ra tay, khi tay không dẫn theo 17 đàn bà, trẻ em tiến vào phủ tổng đốc để điều đình. Cả hai đi đến thống nhất rằng Trịnh Thị được quyền giữ lại toàn bộ của cải cướp được, để đổi lấy việc quy thuận triều đình.
Yêu sách khấu đầu được giải quyết bằng cách tổng đốc Lưỡng Quảng đứng ra làm chủ hôn trong lễ cưới giữa Trịnh Thị và Trương Bảo, để cặp đôi này quỳ lạy quan tổng đốc như một hình thức tạ ơn. Đến lúc đó, sự nghiệp cướp biển của Trịnh Thị coi như chấm dứt.
Sau khi quy thuận triều đình, đội quân cướp biển của bà bị xử tử 126 tên, 400 tên bị lưu đày, số còn lại được trả tự do hoặc sung vào quân ngũ. Trịnh Thị và Trương Bảo có với nhau một đứa con.
Khi Trương Bảo chết, Trịnh Thị quay trở về Quảng Châu để mở một sòng bạc, và tiếp tục công việc kinh doanh cho đến khi qua đời vào năm 1844, hưởng thọ 69 tuổi.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32