CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 249

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Nước Mỹ chấn động trước thông tin bí mật F-35B đã lọt vào tay Trung Quốc


“Chân gỗ”- Nữ tình báo huyền thoại Thế chiến II

Hà Ngọc |



“Chân gỗ”- Nữ tình báo huyền thoại Thế chiến II
Chân dung Virginia Hall - Theo Allthatsinteresting.com

Có một đặc vụ nước ngoài khiến “Đệ tam đế chế” đau đầu hơn bất kỳ tình báo nào ở pháp, đó là một phụ nữ có nhiệm vụ phá ngục, phá hoại ngầm và tiết lộ những đợt di chuyển binh sĩ Đức quốc xã. Người phụ nữ này mang tên Virginia Hall, song Đức quốc xã chỉ biết đến với biệt danh “chân gỗ”.

Trong suốt thời kỳ Thế chiến thứ II, giới sĩ quan Đức quốc xã không ngừng truy lùng và triệt hạ những mạng lưới phản kháng và những gián điệp của phe đồng minh hỗ trợ mạng lưới này.
Tuy nhiên, có một đặc vụ nước ngoài khiến "Đệ tam đế chế" đau đầu hơn bất kỳ tình báo nào ở pháp, đó là một phụ nữ có nhiệm vụ phá ngục, phá hoại ngầm và tiết lộ những đợt di chuyển binh sĩ Đức quốc xã. Người phụ nữ này mang tên Virginia Hall, song Đức quốc xã chỉ biết đến với biệt danh "chân gỗ".
Đức Quốc xã đã lệnh cho toàn bộ lực lượng gián điệp hai mang của mình thu thập bất kỳ thông tin gì về người phụ nữ bí ẩn này và thủ tiêu ngay lập tức nếu tìm ra bà.
Tuy nhiên, Gestapo - Cơ quan Cảnh sát mật của Đức Quốc xã và trùm mật thám Klaus Barbie (biệt danh là "đồ tể" Lyon) không bao giờ có thể tìm ra được tên và quốc tịch thật của bà. Điều này đã khiến Barbie phát điên: "Tao sẽ đánh đổi bất kỳ thứ gì để túm được con mụ Canada chân gỗ!".
Tất nhiên, có vô vàn những điều mà Đức Quốc xã không bao giờ biết được về nữ đặc vụ gan lì này. Một sự thật duy nhất mà họ biết được là tiếng chân gỗ giả đi lộc cộc. Đó là hậu quả của một vụ tai nạn săn bắn dẫn đến việc phải cắt bỏ chân trái từ đầu gối trở xuống. Thay thế là một chân giả bằng gỗ nặng hơn 3kg gượng gạo mà Hall đặt cho biệt danh đáng yêu là "Cuthbert".
Con đường trở thành điệp viên
"Học sinh xuất sắc nhất lớp". Đó là những gì mà bạn bè niên thiếu nhớ lại về Virginia Hall. Nhiệt huyết, sắc sảo và vui tính, nữ sinh sinh ngày 6-4-1906 này theo học tại Roland Park Country, chịu trách nhiệm ấn bản tờ báo đội của trường và là đội trưởng bộ môn khúc côn cầu. Tiếp đó, Hall theo học tại Barnard và Radcliffe, hai trong số các trường nghệ thuật tự do danh tiếng nhất nước Mỹ.
Có lợi thế xuất thân trong một gia đình giàu có ở Baltimore, bang Maryland (Mỹ), Hall tiếp tục theo học tại các nước châu Âu như ở Paris và Vienna.
Ngoài chứng chỉ về kinh tế và luật quốc tế, quá trình học tập ở nước ngoài đem lại cho Hall khả năng ngoại ngữ thành thục về tiếng Pháp, Italia, Đức và một chút tiếng Nga. Có khiếu về ngoại ngữ và thích phiêu lưu, Hall có niềm đam mê mãnh liệt được làm nhân viên ngoại giao.
Sau khi tốt nghiệp, Hall nộp đơn xin làm việc tại Bộ Ngoại giao Mỹ, song bị sốc khi đọc thư từ chối: "Không phụ nữ, không có chuyện đó xảy ra", Judith Pearson, tác giả cuốn tiểu sử về Hall chia sẻ.
Không chịu từ bỏ, Hall quyết định đi bằng "cửa sau", tác giả Pearson kể lại. Hall tìm cách kiếm được một "chân" thư ký tại Đại sứ quán Mỹ ở Warsaw và sau đó là Lãnh sự quán Mỹ ở Smyrna (Izmir), Thổ Nhĩ Kỳ.
Chính trong chuyến dã ngoại săn bắn với những người bạn Mỹ ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 1933 mà Hall ngã bổ nhào vào hàng rào dây thép gai và vô tình làm khẩu súng ngắn cướp cò bắn vào chân. Bị hoại thương chân trái, Hall buộc phải cắt bỏ chân trái từ đầu gối.
Tai nạn này đã bóp nghẹt hy vọng của Hall trở thành nhân viên phái đoàn ngoại giao Mỹ như cô nỗ lực lâu nay do Bộ Ngoại giao có quy định khắt khe về tuyển dụng người khuyết tật. Khi phục hồi sức khỏe trở về nhà ở Maryland, Hall tiếp tục nộp đơn ứng tuyển song bị từ chối, nhưng lần này không phải vì là phụ nữ mà vì bị mất một chân.
Không chịu từ bỏ, Hall học cách đi trên chân giả Cuthbert của mình. Năm 1939, Hall từ chức thư ký với hy vọng có được tương lai tốt đẹp hơn, sau đó, trở lại Pháp ngay trước đêm Đức Quốc xã xâm chiếm Pháp vào tháng 5-1940.
Với tư cách là một thường dân, Hall xin lái xe cứu thương cho quân đội Pháp. Tuy nhiên, Hall nhanh chóng phải rời đến London khi Pháp thất thủ. Tại một bữa tiệc cocktail ở London, "Hall đã chửi đổng Hitler", Pearson kể lại. Một người lạ mặt đến gần, trao cho Hall một danh thiếp và nói: "Nếu cô thực sự quan tâm việc chặn đứng Hitler, hãy đến gặp tôi".
Người phụ nữ đó không phải ai khác ngoài Vera Atkins, một siêu đặc vụ người Anh sau này là nguồn cảm hứng của tác giả Ian Fleming cho vai diễn mang tên Miss Moneypenny trong loạt phim James Bond. Atkins ấn tượng với Hall nhờ vốn hiểu biết trực tiếp về nước Pháp, khả năng đa ngôn ngữ, tính kiên cường và bình tĩnh đến lạnh lùng.
“Chân gỗ”- Nữ tình báo huyền thoại Thế chiến II - Ảnh 1.
Hall ngồi trong một nhà kho, sử dụng bộ đài radio để truyền thông tin về London - Theo History.com
Atkins là người tuyển mộ đặc vụ cho một đội quân bí mật có tên gọi Special Operations Executive (SOE) do Thủ tướng Anh khi đó là Winston Churchill thành lập nhằm thực hiện các hoạt động phá hoại ngầm, lật đổ chính quyền các thế lực thù địch bên ngoài nước Anh với sự trợ giúp của các mạng lưới phản kháng. Từ đây, cuộc đời Hall sang trang, trở thành một trong những đặc vụ huyền thoại nhất trong Thế chiến II.
Điệp viên dưới vỏ bọc hoàn hảo
Tháng 8-1941, Hall bí mật đến Pháp với vai trò là phóng viên tờ New York Post, trở thành nữ đặc vụ dân sự đầu tiên của SOE ở Pháp với nhiều bí danh khác nhau, trong đó có bí danh là "Germaine". Hall thiết lập một trụ sở bí mật ở miền Nam nước Pháp và gửi thông tin tình báo về chính phủ Vichy và phong trào phản kháng ngầm về cho cấp chỉ huy ở Anh.
Được bảo vệ danh tính bằng hồ sơ giả mạo, Hall hoạt động với một cái tên giả và viết bài cho các báo với tư cách là một phóng viên người Mỹ của tờ New York Post.
Hall nhanh chóng hoàn thiện và vận dụng những nghiệp vụ đặc biệt, không chỉ truyền tin về Anh qua tín hiệu radio về sự di chuyển của quân đội Đức quốc xã và các tiền đồn quân sự, mà còn thiết lập một mạng lưới điệp viên phản kháng trung thành ở trung tâm nước Pháp, có biệt danh là HECKLER.
Nếu như hoạt động của giới tình báo những năm 1940 thiếu thốn sự trang bị công nghệ tinh xảo thì bù lại, họ lại phát huy hết khả năng sáng tạo và thông minh của mình.
Đài BBC (của Anh) chèn thông điệp mã hóa vào các bản tin phát thanh thời sự đêm khuya. Hall sẽ gửi các "tin bài" về cho biên tập viên của mình ở New York. Các "tin bài" này của Hall được chèn những nội dung mã hóa cho chỉ huy SOE của mình ở London.
"Ở Lyon, Hall sẽ đặt một chậu hoa phong lữ trên cửa sổ của mình mỗi khi cần chuyển thông tin cho một người nhận tin", Pearson tâm sự, người đã nói chuyện với một số cựu chiến hữu của Hall ở Pháp.
"Và thông tin cần chuyển đi này là một bức thông điệp đặt sau một viên gạch hờ trên tường. Hoặc người nhận tin có thể đến một quán cà phê nào đó, và nếu có một thông điệp, thì người pha chế rượu sẽ đưa cho người nhận tin này một ly rượu được gắn thứ gì đó ở đáy ly".
“Chân gỗ”- Nữ tình báo huyền thoại Thế chiến II - Ảnh 2.
Chứng minh thư mang bí danh “Marcelle Montagne” ở Pháp – Theo Allthatsinteresting.co
Tại Pháp, Hall trở nên "nổi tiếng" đối với giới lãnh đạo Đức Quốc xã đến mức mà Gestapo đặt biệt hiệu cho Hall là "gián điệp nguy hiểm nhất trong mọi gián điệp đồng minh".
Klaus Barbie, trùm mật vụ Gestapo bắt đầu chiến dịch lùng sục và tiêu diệt Hall. Gestapo phát đi các tờ rơi truy nã "chân gỗ" mà họ gọi là mối đe dọa hủy diệt Đệ tam đế chế. Barbie có thể bắt được nhiều điệp viên HECKLER song không thể bắt được Hall.
"Bà ấy ở trong nguy cơ rình rập trước mắt về khả năng bị tóm ở mọi lúc khi đang ở Pháp. Bà ấy hoàn toàn hiểu được hậu quả nếu bị quân Đức tóm", chia sẻ của Peter Earnest, Giám đốc Bảo tàng tình báo quốc tế ở Washington và từng có 35 năm phục vụ CIA.
Để đảm bảo an toàn, không còn cách nào khác là tạm gác lại sứ mệnh, Hall quyết định rời Pháp, sang Tây Ban Nha. Nhưng đó lại là cả một chặng đường dài đầy chông gai hơn 80km với tuyết băng giá và chân gỗ của mình. Hall phải dùng chân còn lại làm điểm tựa để kéo lê mình và chân gỗ vượt qua tuyết để vượt qua dãy núi Pyrenees ở phía nam nước Pháp để vào Tây Ban Nha.
Tại một điểm trên chặng đường vượt núi Pyrenees, Hall gửi thông điệp về London, thông báo mình đã an toàn nhưng "Cuthbert đang gây khó khăn".
Trụ sở SOE đã không nhận ra Cuthbert là biệt danh mà Hall đặt cho chân giả của mình nên nhầm Cuthbert với một người cung cấp tin tức nào đó, đã trả lời trong một thông điệp hết sức nguy hại: "Nếu Cuthbert đang gây khó cho cô, hãy loại anh ta".
Khi chỉ vừa bước chân an toàn vào lãnh địa Tây Ban Nha, Hall bất ngờ bị bắt giữ tại nhà ga xe lửa vì vượt biên trái phép. Bà bị giam giữ 6 tuần trước khi được đồng đội hỗ trợ giải thoát.
Hall ở lại Madrid 4 tháng làm việc dưới vỏ bọc là phóng viên thường trú cho tờ Chicago Times trước khi yêu cầu trụ sở SOE chuyển đổi vị trí. "Tôi nghĩ là mình có thể giúp ích gì ở Tây Ban Nha song tôi đang không thực hiện nhiệm vụ nào. Tôi đang sống thoải mái nhưng lãng phí thời gian", tác giả Elizabeth P. McIntosh trích đoạn trong cuốn "Sisterhood of Spies" viết về Hall.
Do SOE của Anh từ chối đưa cô trở lại Pháp khi hoạt động của Hall đã bị lộ, mùa Xuân năm 1944, Hall đã gia nhập Cơ quan Công tác Chiến lược Mỹ (OSS), tiền nhiệm của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Hall tìm cách trở lại hoạt động ở Pháp, lúc ấy đang bị Đức Quốc xã chiếm giữ hoàn toàn.
Năm 1944, nhiều tháng trước ngày 6-6-1944 hay còn gọi là D-day, lực lượng Đồng minh phương Tây đổ bộ vào bờ biển Normandie, một vùng của Pháp bị Đức chiếm đóng, Hall đã được phép trở lại Pháp bằng tàu phóng lôi cao tốc.
Lúc này, Hall mang bí danh là Marcelle Montagne, trong "lốt" một bần nông chính hiệu với nhiệm vụ chính là điều hành trạm truyền tin radio ở vùng Haute-Loire, trung tâm Pháp. Để tránh nghi ngờ, Hall nhuộm tóc xám, đi lê chân để giấu tiếng kêu chân gỗ, và thậm chí chỉnh sửa lại răng để trông giống với phong cách Pháp.
Hall dọc ngang khắp nước Pháp tổ chức thực hiện các hoạt động phá hoại ngầm nhằm vào quân đội Đức, nhanh chóng kết nối liên lạc với lực lượng kháng chiến của Pháp, hỗ trợ trong việc vạch ra các kế hoạch phá hoại ngầm mở đường cho cuộc đổ bộ của quân đồng minh.
Hall một lần nữa chạm trán với Gestapo song bà đã làm mọi việc có thể để bảo vệ bản thân cũng như các đầu mối liên lạc của mình. Bất chấp nguy hiểm kề cái chết và cơn đau kéo dài của cái chân gỗ, Hall vẫn kiên quyết giữ vững sứ mệnh của mình.
Trong một báo cáo của OSS, đội đặc vụ của Hall đã hoàn thành nhiệm vụ làm trật bánh các con tàu chở hàng, phá hủy 4 cây cầu, tiêu diệt 150 tên Đức Quốc xã và bắt sống 500 tên khác.
Báo cáo cuối cùng OSS đưa ra khoảng tháng 9-1944 khi trụ sở chấm dứt vai trò của Hall vì lực lượng Đồng minh (kể từ khi đổ bộ vào Normandy) bắt đầu lấy lại lãnh thổ từ Đức Quốc xã. Những ngày phi thường của Hall với sứ mệnh tình báo thời chiến khép lại từ đó.
"Tình báo của tình báo"
Trở về Mỹ, Hall tiếp tục làm việc cho CIA cho đến khi nghỉ hưu ở tuổi 60.
Tuy nhiên, Hall thường né tránh những lời tán dương, ca tụng và sự chú ý của công chúng. Thời Chính quyền Mỹ Harry S. Truman muốn trao tặng phần thưởng của riêng tổng thống cho Hall song bà từ chối khi không muốn lộ diện quá nhiều về bản thân trong bối cảnh vẫn còn những thế lực thù địch bên ngoài.
Thậm chí một số thành viên gia đình thân cận nhất của bà còn không biết hết được những hoạt động đầy nguy hiểm thời ở Chính phủ Vichy (tên gọi của Chính phủ Pháp) được dựng lên thời chiến. Pearson nói rằng Hall là một "tình báo của tình báo" cho đến phút cuối cùng. Qua đời năm 1982, nhưng có những hoạt động của nữ tình báo này vẫn mãi là "ẩn số".
"Tôi cầm cuốn hồi ký của Tướng William Donovan (người đứng đầu OSS thời Chiến tranh Thế giới thứ II) từ những năm 1950, trong đó có đoạn kể rằng ông ấy nói với Virginia Hall:
"Giờ cô có thể kể được rồi". Song cô ấy vẫn không nói gì. Đó là cách mà Hall đã sống", tác giả Pearson chia sẻ.
Để ghi nhận công lao và thành tích của Hall, Mỹ phong tặng Hall Huân chương Bảo quốc Thập tự, một trong những danh hiệu cao quý nhất mà quân đội Mỹ dành cho những thành tích gan dạ và can đảm trong cuộc chiến. Hall cũng là người phụ nữ duy nhất nhận được huân chương trong Thế chiến II.
CIA đã treo bức tranh sơn dầu về nữ tình báo này trong thời gian hoạt động ở miền Nam nước Pháp năm 1944 trong số bộ sưu tập nghệ thuật trưng bày ở trụ sở. Gần đây, CIA cũng đặt tên một cơ sở huấn luyện của mình theo tên bà, với tên gọi "Trung tâm Huấn luyện chiến đấu Virginia Hall".
theo An ninh thế giới

Câu chuyện kỳ lạ về một cựu sĩ quan Đức quốc xã trở thành sát thủ của tình báo Israel

HƯƠNG GIANG |





Câu chuyện kỳ lạ về một cựu sĩ quan Đức quốc xã trở thành sát thủ của tình báo Israel
Otto Skorzeny đã được trao huân chương Hiệp sĩ thập tự sắt vì có nhiều chiến tích dưới thời phát xít Đức.

Otto Skorzeny là một trong những sát thủ giá trị nhất của Mossad, lực lượng tình báo Israel danh tiếng lẫy lừng thế giới. Ít ai ngờ ông này cũng từng là một cựu thiếu tá trong lực lượng Waffen-SS của quân đội phát xít Đức, là người giành được sự yêu mến từ Quốc trưởng Adolf Hitler.

Một vụ mất tích bí ẩn
Trong ngày 11.9.1962, một nhà khoa học Đức bất ngờ mất tích bí ẩn. Thông tin về vụ này khá ít ỏi: Heinz Krug rời nhà để tới cơ quan ở Munich và ông ta đã không bao giờ trở về nữa.
Chỉ có một chi tiết khiến cảnh sát địa phương chú ý trong vụ này, đó là Krug thường xuyên lui tới Cairo, Ai Cập. Ông ta là một trong số hàng chục chuyên gia tên lửa của chính quyền phát xít Đức đã được Ai Cập thuê để giúp phát triển hệ thống tên lửa hiện đại.
Khi ấy HaBoker, tờ báo Israel nay đã ngừng hoạt động, đưa ra tuyên bố đáng kinh ngạc về sự kiện. Theo đó, người Ai Cập đã tới Đức bắt cóc Krug, để ngăn không cho ông ta làm ăn với Israel. Nhưng thực tế thì tờ báo này chỉ sử dụng một thông tin mà tình báo Israel vờ để lọt để đánh lạc hướng các nhà điều tra Đức, không cho họ đào quá sâu vào vụ việc.
Phải tới tận bây giờ, dựa trên nhiều cuộc phỏng vấn riêng với các cựu thành viên lực lượng tình báo Mossad và cả những người từng được tiếp xúc với kho tài liệu của Mossad về hàng loạt hoạt động diễn ra trong nửa thế kỷ qua, người ta mới biết rằng Krug đã bị giết.
Cần biết rằng thời kỳ Thế chiến 2 đang diễn ra, Krug là thành viên một đội ngũ gồm nhiều nhà khoa học tài giỏi ở Peenemunde - một địa điểm thử nghiệm quân sự nằm bên bờ biển Baltic - nơi các bộ não hàng đầu của Đức dồn sức phục vụ cho Hitler và chính quyền phát xít.
Đội này, nằm dưới sự lãnh đạo của Wernher von Braun, đã chế tạo ra các quả tên lửa giúp Đức bắn phá hủy diệt nước Anh. Tham vọng của đội là chế ra các loại tên lửa với tầm bay xa hơn, chính xác hơn và có sức công phá mạnh hơn nữa.
Theo nghiên cứu của Mossad, một thập niên sau khi Thế chiến 2 kết thúc, Von Braun đã mời Krug và các nhà khoa học khác tới Mỹ cùng ông ta. Khi ấy Von Braun đang lãnh đạo một chương trình phát triển tên lửa cho Mỹ. Ông ta thậm chí còn trở thành một trong những người khai sinh ra chương trình chinh phục không gian của Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ.
Nhưng Krug lại có sự lựa chọn của riêng mình. Krug gia nhập các nhà khoa học khác nằm dưới sự lãnh đạo của giáo sư Wolfgang Pilz - người ông ta rất ngưỡng mộ, để hợp tác với Ai Cập. Nhóm này sẽ tạo dựng một chương trình tên lửa chiến lược cho Ai Cập.
Trong quan điểm của Israel, Krug biết rõ quốc gia Do Thái này sẽ là mục tiêu tấn công nếu Ai Cập có vũ khí mới. Do từng là thành viên chính quyền phát xít Đức cũ, hẳn ông ta đã coi đây là cơ hội để tiếp tục hủy diệt người Do Thái.
Để khiến Krug và các nhà khoa học Đức đang hợp tác với Ai Cập phải chùn bước, Mossad tiến hành nhiều hoạt động hăm dọa. Khi ở Đức, họ bị người lạ gọi điện tới nhà giữa đêm, yêu cầu phải chấm dứt nghiên cứu tên lửa. Khi tới Ai Cập, họ phải nhận những bưu kiện chứa bom. Vài người đã bị thương vì những quả bom thư này.
Sự đe dọa khiến Krug rất lo lắng. Ông ta và cộng sự đều biết lời đe dọa tới từ Israel. Đó là một sự thật hiển nhiên. Năm 1960, các đặc vụ Israel bắt cóc thành công Adolf Eichmann, một trong những kẻ chỉ đạo điều hành hoạt động diệt chủng Do Thái, tại Argentina.
Người Israel khiến cả thế giới bất ngờ khi đưa được Eichmann về Jerusalem, nơi gã bị đưa ra tòa và treo cổ vào ngày 31.5.1962.
Dựa vào những gì đã diễn ra, Krug hiểu rằng, thòng lọng của Mossad đang thít dần quanh cổ ông ta. Đó là lý do để ông ta tìm kiếm sự giúp đỡ, từ Otto Skorzeny, một nhân vật từng là người hùng của chính quyền phát xít Đức. Krug đâu ngờ “vị cứu tinh” lại chính là người tiễn ông ta về thế giới bên kia.
Theo các thông tin mà tờ Haaretz mới thu thập được, trong ngày mất tích, Krug đã đi gặp Skorzeny. Khi gặp nhau, hai người đã lên chiếc Mercedes màu trắng của Krug và chạy về phía Bắc của Munich. Skorzeny kể trong một hồ sơ mật của Mossad rằng, đó là bước đầu tiên mà ông dàn xếp trong kế hoạch ám sát.
Xuất hiện trong cuộc gặp gỡ này có 3 người khác mà Skorzeny nói với Krug là các vệ sĩ, sẽ giúp đưa họ tới một nơi an toàn trong rừng để nói chuyện.
Sau đó Krug bị Skorzeny bắn chết ngay trên chiếc xe của ông ta. Ngay lập tức 3 đặc vụ Israel nhảy ra khỏi chiếc xe còn lại, mở cốp và lấy ra các thùng chứa axít. Họ lôi xác Krug tới một cái hố đào sẵn, vứt xuống đó, đổ axít lên, chờ một lúc rồi chôn những gì còn sót lại.
Họ đổ đầy vôi xuống hố chôn Krug, để chó nghiệp vụ và cả thú hoang không bao giờ có cơ hội ngửi thấy mùi xác chết.
Nhóm 3 đặc vụ tham gia vụ hành quyết này bao gồm chỉ huy Yitzhak Shamir, người khi ấy đang lãnh đạo đơn vị hoạt động đặc biệt của Mossad. Nhân vật thứ hai là Zvi “Peter” Malkin, đặc vụ đã tham gia bắt cóc Eichmann ở Argentina.
Người cuối cùng là Yosef “Joe” Raanan, sĩ quan cao cấp của Mossad ở Đức. Cả ba người đều mất nhiều thân nhân trong cuộc tàn sát mà Eichmann điều hành.
Vụ ám sát Krug cũng cho thấy một điều: Để bảo vệ Israel và người Do Thái, Mossad sẵn sàng phá bỏ mọi giới hạn. Cơ quan tình báo này từng phá luật của nhiều nước trong quá trình tiêu diệt những đối tượng mà Israel xem là kẻ thù:
Những tay súng người Israel, các nhà khoa học của Iran và thậm chí là một tay buôn vũ khí người Canada tên Gerald Bull - kẻ làm việc cho cố Tổng thống Iraq Saddam Hussein cho tới khi lãnh trọn một băng đạn vào người tại Brussels, Bỉ, vào năm 1990.
Đặc vụ Mossad ở Lillehammer, Na Uy đã từng giết nhầm một bồi bàn người Morocco vì tưởng người này là kẻ chủ mưu đứng sau vụ thảm sát 11 vận động viên Do Thái tại Olympics Munich 1972. Ahmed Bouchikhi bị bắn chết vào năm 1973 khi ông vừa rời khỏi một rạp chiếu phim cùng vợ.
Chính quyền Israel sau đó đã trả tiền bồi thường cho vợ Bouchikhi, nhưng không thừa nhận đã làm sai điều gì. Điệp vụ giết nhầm này đã trì hoãn các vụ ám sát khác của Mossad, nhưng không chấm dứt chúng.
Để có thể tới được những nơi ít ai ngờ trong các điệp vụ tưởng bất khả thi như thế, Mossad đôi khi phải làm việc với những đối tác khó nuốt. Nhưng kể cả phải khiêu vũ với quỷ dữ để có cơ hội, họ cũng vẫn làm. Và họ đã bắt tay với Skorzeny, một người hùng của phát xít Đức, kẻ đã bị đưa vào danh sách tội phạm phải săn lùng.
Câu chuyện kỳ lạ về một cựu sĩ quan Đức quốc xã trở thành sát thủ của tình báo Israel - Ảnh 1.
Otto Skorzeny và Hitler.
Một con người khác thường
Ở đây có một câu hỏi được đặt ra: Vì sao Skorzeny lại chấp nhận làm việc với Mossad? Để trả lời được câu hỏi này, phải lần ngược lại thời gian. Skorzeny sinh tại Vienna, Áo, vào tháng 6.1908, trong một gia đình trung lưu có truyền thống quân sự.
Từ khi còn trẻ, ông đã chứng tỏ mình là người gan dạ, táo bạo và tài năng. Ông giỏi bịa ra những câu chuyện không có thực, nhưng vẫn khiến người ta tin sái cổ. Đó là các đặc điểm cần thiết với một chỉ huy lực lượng đặc nhiệm trong chiến tranh.
Skorzeny gia nhập đảng Quốc xã ở Áo vào năm 1931, khi mới 23 tuổi. Ông phục vụ trong SA - lực lượng dân quân có vũ trang và đặc biệt tôn thờ Hitler. Năm 1933, Hitler trở thành Quốc trưởng và sau đó chiếm Áo vào năm 1938.
Khi Hitler tung quân xâm lăng Ba Lan vào năm 1939 khiến Thế chiến 2 bùng nổ, Skorzeny rời khỏi công ty xây dựng đang ăn nên làm ra của ông để gia nhập Sư đoàn SS Panzer đặc biệt tinh nhuệ, chuyên thực hiện nhiệm vụ bảo vệ riêng cho Hitler.
Skorzeny, trong một cuốn hồi ký viết sau chiến tranh, đã kể về những năm tháng hoạt động trong quân đội giống như thể đó là một chuyến du lịch không đổ máu, xuyên suốt từ Ba Lan sang Hà Lan rồi tới Pháp. Nhưng thực tế ông đã tham gia nhiều trận chiến ác liệt ở Nga, Ba Lan và không loại trừ khả năng ông đã tích cực tiêu diệt người Do Thái.
Nhiệm vụ nổi tiếng nhất của Skorzeny diễn ra vào tháng 9.1943, khi ông dẫn đầu một nhóm đặc nhiệm dùng tàu lượn xâm nhập một resort nghỉ dưỡng nằm trên núi ở Italy để giải cứu Benito Mussolini, người bạn và đồng minh của Hitler, rồi đưa ông ta tới nơi an toàn.
Chính sự kiện này đã khiến Skorzeny được thăng lên thiếu tá và được trao quyền điều hành lực lượng Đặc nhiệm SS của Hitler. Chưa hết, ông còn được trao cho vinh hạnh diện kiến và trò chuyện với Hitler trong nhiều giờ, trước khi nhận lấy huân chương Hiệp sĩ thập tự sắt, phần thưởng cao quý nhất cho một quân nhân phát xít Đức.
Nhưng đây không phải là lần ghi công duy nhất của Skorzeny. Tháng 9.1944, khi Đô đốc Miklos Horthy, một đồng minh của phát xít Đức ở Hungary, sắp sửa thông qua một thỏa thuận hòa bình với Liên Xô khi thế lực của phe Trục suy giảm, ông đã lãnh đạo một đội đặc nhiệm tới Budapest để bắt cóc Horthy và thay thế chính quyền ông bằng những gương mặt cứng rắn, thân phát xít hơn.
Phi vụ này đã diễn ra thành công và chính quyền kế nhiệm Horthy đã giết hàng chục nghìn người Do Thái ở Hungary.
Cũng trong năm 1944, Skorzeny tự tay lựa chọn 150 quân nhân, gồm những người nói tiếng Anh rất tốt, để tham gia một nhiệm vụ đặc biệt ở Normandy, Pháp.
Trong bối cảnh quân Đồng minh đang gấp gáp tiến qua đất Pháp, ông đã cho người của mình mặc quân phục Mỹ để lừa chiếm lấy những chiếc xe tăng Mỹ rồi dùng chính chúng tấn công lính Đồng minh, gây rối loạn hàng ngũ địch.
Những chiến tích như kể ở trên khiến Skorzeny có lúc được tình báo Anh, Mỹ mệnh danh là "kẻ nguy hiểm nhất Châu Âu". Ông bị thẩm vấn, giam cầm và đưa ra xét xử khi chiến tranh kết thúc.
Tuy nhiên ông chỉ phải chịu cảnh khổ khoảng 2 năm, trước khi được trả tự do vào năm 1947, trong sự kiện thu hút nhiều chú ý từ báo giới. Ông tận dụng sự nổi tiếng của mình để viết nhiều cuốn hồi ký, nói về quan hệ với nhiều lãnh đạo chính quyền phát xít nổi tiếng khát máu.
Tuy nhiên Skorzeny không nói nhiều về việc vì sao hệ thống tòa án quân sự Mỹ lại tha bổng cho ông, bất chấp việc đã đối mặt với nhiều cáo buộc tại tòa án Nuremberg. Tuy nhiên chắc chắn đã có những thỏa thuận nhất định, với sự can thiệp từ phía OSS, cơ quan tình báo tiền thân của CIA - Mỹ - để ông được sống yên ổn tại Tây Ban Nha, khi ấy nằm dưới sự cai trị của nhà độc tài Francisco Franco.
Trong những năm tiếp theo, Skorzeny làm công việc tư vấn cho Tổng thống Juan Peron của Argentina và chính quyền Ai Cập. Chính thời gian này, ông đã kết bạn với các quan chức Ai Cập đang điều hành chương trình tên lửa, dưới sự giúp sức của nhiều khoa học gia người Đức.
Tại Israel, một đội Mossad bắt đầu lên kế hoạch tìm và giết Skorzeny. Nhưng lãnh đạo Mossad Isser Harel có một kế hoạch táo bạo hơn: Thay vì giết, phải để Skorzeny sập bẫy. Từ lâu Mossad đã hiểu rằng để đưa các nhà khoa học Đức vào tầm ngắm, họ cần một kẻ tay trong. Cụ thể hơn, Mossad cần một cựu thành viên của phát xít Đức giúp đỡ.
Một thỏa thuận giúp bảo toàn mạng sống
Sau những nỗi đau đã trải qua, rất khó để người Israel tìm ra một gã phát xít họ có thể tin tưởng. Nhiệm vụ này được giao cho Yosef "Joe" Raanan, một người Do Thái sinh ra tại Áo và may mắn thoát khỏi thảm họa diệt chủng.
Ông được lãnh đạo Harel của Mossad lựa chọn trong năm 1957 và vài năm sau thì được đưa tới Đức để điều hành hoạt động của lực lượng này tại đây. Chính Raanan là người đã lên kế hoạch đưa Skorzeny vào tròng.
Đội do thám của ông từ Đức tới Tây Ban Nha thu thập thông tin đã theo dõi Skorzeny, ngôi nhà của ông này, nơi làm và lịch hoạt động thường nhật.
Đội do thám có một cô gái người Đức trong độ tuổi 20 chuyên làm các công việc hậu cần và khi cần có thể hóa thân thành bạn gái của một điệp viên Mossad. Báo cáo nội bộ của Mossad gọi cô là Anke, một người phụ nữ xinh đẹp và gợi tình - rất hợp với nhiệm vụ sắp tới.
Trong một đêm đầu năm 1962, Skorzeny tới một quán bar xa xỉ tại Madrid cùng người vợ trẻ Ilse von Finckenstein. Họ đang uống cocktail khi người bán bar giới thiệu họ với một đôi nói tiếng Đức cũng uống rượu ngay cạnh.
Đó là 2 du khách người Đức - với người đàn ông trong độ tuổi 40 và cô gái chỉ khoảng 20 tuổi - mới bị cướp hết tiền bạc và giấy tờ tùy thân nên vào quán bar cho hoàn hồn.
Hai đôi càng uống càng thấy hợp nhau. Họ tán tỉnh lẫn nhau và chẳng mấy chốc, vợ Skorzeny mời đôi kia về ở tạm nhà mình, trong lúc tìm cách giải quyết hậu quả của vụ cướp. Khi họ về tới nhà, bầu không khí thấm đẫm nhục dục tiếp tục dâng cao.
Nhưng khi tới điểm cao trào, lúc mà các màn tán tỉnh lẫn nhau đi tới cái kết thường thấy, Skorzeny bất ngờ rút súng chĩa thẳng vào đôi nam nữ rồi tuyên bố: "Tao biết chúng mày là ai và vì sao chúng mày tới đây. Chúng mày là Mossad và tới đây để giết tao".
Đôi nam nữ kia, gồm đặc vụ Mossad và Anke, không mảy may kinh sợ. Họ điềm tĩnh trả lời rằng đúng mình là người của Mossad, nhưng không muốn giết và muốn hợp tác với ông. Đổi lấy việc hợp tác, Skorzeny sẽ có tiền.
Skorzeny bèn trả lời rằng mình không cần tiền mà chỉ cần được đưa ra khỏi danh sách của Simon Wiesenthal - chuyên gia săn lùng tội phạm chiến tranh đã đưa Skorzeny vào bảng đen. Ông ta muốn được bảo hiểm mạng sống.
Sau khi đôi bên thỏa thuận hợp tác, bước tiếp theo là đưa Skorzeny tới Tel Aviv, nơi ông ta được gặp trực tiếp Harel. Skorzeny trải qua nhiều cuộc thẩm vấn và giáo dục, khiến ông ta thấy hối hận trước các tội ác mình đã gây ra. Rồi ông ta bắt đầu thực hiện nhiệm vụ.
Theo yêu cầu của phía Israel, Skorzeny bay tới Ai Cập và lên một danh sách các nhà khoa học Đức đang tham gia chế tên lửa ở đây, cùng địa chỉ của họ.
Skorzeny còn cung cấp tên của nhiều công ty bình phong tại Châu Âu đang mua sắm và chuyển thiết bị cần thiết phục vụ chương trình tên lửa của Ai Cập. Ông luôn khiến tình báo Israel bất ngờ về mức độ hợp tác của mình.
Đơn cử như trong một chuyến đi tới Ai Cập, Skorzeny đã tranh thủ gửi bom thư tới cho các mục tiêu quan trọng. Một quả bom thư sau đó đã phát nổ và giết chết 5 người Ai Cập tại nhà máy số 333, nơi nhiều nhà khoa học Đức đang làm việc.
Chiến dịch hăm dọa rốt cục đã kết thúc thành công, với đa số khoa học gia Đức chạy khỏi Ai Cập vì sợ hãi. Tuy nhiên Israel chỉ dừng hoạt động bạo lực và đe dọa, sau khi một đội đặc vụ bị bắt ở Thụy Sĩ lúc đang hăm dọa gia đình một nhà khoa học làm việc cho Ai Cập.
Một thẩm phán Thụy Sĩ thông cảm với nỗi lo âu của Israel trước mối đe dọa từ Ai Cập nên đã tha bổng cho các đặc vụ.
Nhưng Thủ tướng Israel David Ben-Gurion thấy rằng các hoạt động săn lùng và ám sát mà Mossad thực hiện ngoài kia đang phá hoại hình ảnh của Israel nên đã ra lệnh chấm dứt. Harel phản đối bằng cách đệ đơn từ chức và không khỏi choáng váng khi Ben-Gurion chấp thuận. Viên sếp mới của Mossad, tướng Meir Amit, đã đưa tổ chức này ra khỏi con đường bạo lực trước đây.
Cho tới cuối đời, Skorzeny không bao giờ giải thích vì sao ông lại giúp đỡ Israel. Đúng là nhờ sự hợp tác này mà ông đã không bị Mossad giết. Nhưng rất có thể ông làm thế chỉ vì máu phiêu lưu chảy mạnh trong người và sự phấn khích khi làm việc bí mật với các điệp viên thú vị.
Cũng không loại trừ khả năng Skorzeny ăn năn và hối lỗi. Dù các nhà phân tích tâm lý của Mossad còn nghi ngờ, nhưng có thể Skorzeny thực sự cảm thấy hối tiếc vì những gì ông ta đã làm trong thời chiến tranh.
Dù sao thì Skorzeny đã mang tất cả các bí mật xuống mồ. Ông ta chết vì ung thư, ở tuổi 67, tại Madrid vào năm 1975. Trong số những nhân vật hiện diện tại đám tang có Joe Raanan, người khi ấy đã trở thành một doanh nhân thành công.
Mossad không cử Raanan tới đám tang Skorzeny. Ông đã tự bỏ tiền túi phục vụ chuyến đi. Raanan muốn có mặt ở đó để thể vĩnh biệt một chiến binh tới từ nước Áo giống mình, và từ một chỉ huy tới điệp viên giỏi nhất dưới trướng của ông, nhưng cũng bị nhiều người căm ghét nhất.
theo Lao Động

Đằng sau cái chết đột ngột của giám đốc tình báo Nga Igor Korobov

Thùy Dương |

Đằng sau cái chết đột ngột của giám đốc tình báo Nga Igor Korobov
Giám đốc GRU, Thượng tướng Igor Valentinovich Korobov qua đời ở tuổi 62.

Việc qua đời đột ngột của Giám đốc Cơ quan Tình báo Quân sự Nga (GRU) Igor Korobov hôm 21-11 đã khiến các nước phương Tây càng dấy lên các thuyết âm mưu chống lại Điện Kremlin cũng như cơ quan tình báo nước ngoài hàng đầu của Nga.

Thuyết âm mưu từ phương Tây
Trong tuyên bố của Bộ Quốc phòng Nga, Thượng tướng Igor Valentinovich Korobov (1956-2018), người đứng đầu GRU, đã qua đời ngày 21-11 sau một thời gian dài mắc bệnh trọng.
Dù ca ngợi ông là một người con đích thực và trung thành của nước Nga, quân đội đã không đưa ra chi tiết về tình trạng bệnh tật của ông Korobov. Điều này đã thúc đẩy truyền thông phương Tây quan tâm và đặt nhiều giả thuyết liên quan tới cái chết của ông.
Nhất là khi Korobov chịu trách nhiệm về GRU vào khoảng thời gian cơ quan này phải đối mặt với một loạt các phơi bày hoặc cáo buộc từ phương Tây.
Theo báo chí phương Tây, ông Korobov đã bị "ốm yếu bất ngờ" sau khi bị Tổng thống Nga Vladimir Putin quy trách nhiệm vì những sai lầm nghiêm trọng mà GRU mắc phải liên quan đến sự kiện gây rạn nứt mối quan hệ ngoại giao Moscow và phương Tây ở thành phố Salisbury của Anh và một số hoạt động quốc tế khác.
Hoa Kỳ và các đồng minh phương Tây đã cáo buộc GRU tham gia các chiến dịch tấn công mạng - can thiệp vào cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 2016, dàn xếp cuộc tấn công vào cựu điệp viên hai mang người Nga Sergei Skripal ở Anh, hay phá vỡ các nỗ lực chống doping trong các môn thể thao thế giới.
Đặc biệt, các cáo buộc đã chĩa thẳng vào GRU sau vụ đầu độc đối với hai cha con ông Skripal tại thành phố Salisbury của Anh hồi tháng 3.
Theo hãng tin Guardian và một số trang tin của Anh (gồm Dailymail và Express), vị trí của ông Korobov trong GRU đã lung lay sau khi Thủ tướng Anh Theresa May, vào tháng 9, đã chỉ đích danh tên hai công dân Nga được xác định là nghi phạm của vụ tấn công tại Salisbury.
Lực lượng tình báo Anh cho rằng hai người đàn ông du lịch đến Vương quốc Anh dưới bí danh của Alexander Petrov và Ruslan Boshirov vào thời điểm diễn ra vụ đầu độc là các sĩ quan của GRU.
Tất nhiên, Điện Kremlin phủ nhận các cáo buộc. Cả Petrov và Boshirov đều xuất hiện trong một chương trình phỏng vấn trực tuyến, tuyên bố rằng họ đến thăm thành phố của Anh vì những nhà thờ ấn tượng và quyết định rời thành phố sớm vì điều kiện thời tiết. Những câu trả lời khá vụng về này tiếp tục gây ra những nghi ngờ.
Tiếp đó, danh tính thực sự của hai kẻ tình nghi đã được tiết lộ bởi trang web điều tra Bellingcat (của Anh). Theo đó, danh tính thực sự của Boshirov là Đại tá Anatoliy Chepiga, một sĩ quan cấp cao trong GRU, còn Petrov thực sự là Alexander Mishkin, một bác sĩ quân đội, cũng thuộc biên chế GRU.
Sau khi Tổng thống Putin khẳng định hai nghi phạm trên là thường dân trong một nỗ lực đẩy lùi các cáo buộc chống Moscow từ phương Tây, các nhà điều tra của Bellingcat tiếp tục tung tin, cả hai nghi phạm đều được ông Putin trao danh hiệu Anh hùng của Liên bang Nga.
Những tiết lộ này được nhà báo người Nga Sergey Kanev đưa ra sau khi thu nhận thông tin từ các kết nối tình báo mà ông còn liên lạc tại Moscow. Ông Kanev hiện đang phải sống lưu vong và là một cây bút cho Bellingcat.
Không dừng lại đó, các quan chức Hà Lan hồi tháng 10 tiếp tục tố cáo các điệp viên Nga đã cố gắng thực hiện vụ tấn công vào hệ thống máy tính vào Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học (OPCW) tại The Hague để để lấy thông tin về cuộc điều tra vụ đầu độc hai cha con ông Sergei Skripal.
Bốn điệp viên, được cho là người của GRU, đã bị bắt và trục xuất hồi tháng 4 khi sử dụng ăng-ten giấu dưới một chiếc áo khoác từ một bãi đậu xe gần trụ sở chính của OPCW, dưới sự giúp đỡ của lực lượng tình báo Anh.
Tất cả những cáo buộc này, dù chưa bao giờ được chính quyền Nga thừa nhận, đã trở thành những đòn tấn công liên tiếp vào GRU và khiến ông Putin nổi giận. Sau cuộc họp giữa Tổng thống Putin với các quan chức Bộ Quốc phòng Nga hồi tháng 10, Giám đốc GRU Korobov được cho là đã về thẳng và "đổ bệnh".
Ông Korobov cũng vắng mặt trong một buổi lễ Kỷ niệm 100 năm thành lập GRU hồi đầu tháng 11, có sự tham dự của Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Những suy đoán này được truyền thông phương Tây thổi bùng lên và cho rằng, cơ quan tình báo nước ngoài hàng đầu của Nga đang phải trải qua một sự cải tổ lớn. Tuy nhiên, các suy đoán kiểu thuyết âm mưu này bị chính quyền Nga bác bỏ và gọi chúng là một phần của chiến dịch bôi nhọ từ phương Tây.
Vì sao nhắm vào GRU?
GRU, tên đầy đủ là Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Tổng tham mưu Lực lượng vũ trang Liên bang Nga, là một trong ba cơ quan tình báo chính của nước này, cùng với Tổng cục An ninh Liên bang của Liên bang Nga (FSB) và Tổng cục Tình báo nước ngoài (SVR RF). Chính vì vậy, GRU đã trở thành mũi nhọn của các cuộc tấn công chính trị chống Moscow.
Trong suốt quãng thời gian khá kín tiếng từ khi được thành lập năm 1918, GRU dưới thời Thượng tướng Korobov lại bất đắc dĩ "nổi tiếng", trở thành công cụ chính của Nga nhằm thể hiện vai trò quan trọng trên toàn cầu.
Bất chấp những cáo buộc kể trên, các điệp viên GRU vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chiến quan trọng tại Ukraine. Đặc biệt, mạng lưới mạnh mẽ tình báo quân sự Nga đã giúp đẩy lùi khủng bố ở Syria, giúp chính quyền của Tổng thống Syria Bashar al-Assad kiểm soát lại phần lớn lãnh thổ đất nước.
Những thành tựu này đã mang về danh hiệu cao quý Anh hùng của Liên bang Nga cho Tướng Korobov năm 2017.
Và hơn hết, các hoạt động này đã chứng minh khả năng của Nga nói chung và GRU nói riêng trong việc vươn tầm ảnh hưởng trên trường quốc tế; đồng thời, chứng tỏ Moscow là một "đối thủ" xứng tầm khiến phương Tây luôn phải dè chừng.
Dù vậy, sự ra đi của Tướng Korobov sẽ khiến ông Putin phải bổ nhiệm người kế nhiệm lãnh đạo một cơ quan cực kỳ quan trọng của Bộ Quốc phòng cũng như đối với an ninh nước Nga.
Ứng cử viên sáng giá cho vị trí lãnh đạo GRU là Phó Đô đốc Igor O. Kostyukov, 57 tuổi, người đảm nhiệm chức vụ quyền Giám đốc cơ quan này từ sau khi ông Korobov bị bệnh.
Theo nhà báo Sergey Kanev, ông Kostyukov là người lãnh đạo chi nhánh GRU ở Italia và hiện đang giám sát các hoạt động chiến sự ở Syria. Vị Phó Đô đốc này cũng ngồi cạnh Tổng thống Vladimir Putin trong buổi lễ Kỷ niệm 100 năm ngày thành lập GRU.
Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, ông Putin có thể chỉ định một người từ các cơ quan gián điệp SVR RF hoặc FSB, để khôi phục lòng tin vào GRU.
theo Công an Nhân dân

Giám đốc tình báo Anh cảnh báo Moskva không nên coi thường London

Người đứng đầu MI6 cáo buộc Nga sử dụng chất độc thần kinh trên đất Anh, nhưng khẳng định London không muốn leo thang căng thẳng.



Giám đốc MI6 Alex Younger. Ảnh: MI6.
Giám đốc MI6 Alex Younger. Ảnh: MI6.
"Nga đã sử dụng vũ khí hóa học trên lãnh thổ Anh. Tôi khuyên Nga và những nước muốn thay đổi cách sống của chúng ta rằng họ không nên coi thường quyết tâm, cũng như khả năng của Anh và các đồng minh.", Reuters dẫn lời giám đốc Cục Tình báo Mật của Anh (MI6) Alex Younger hôm nay phát biểu tại trường đại học St. Andrews, nơi ông từng theo học.
Đây là bài diễn thuyết quan trọng thứ hai của Younger kể từ khi được bổ nhiệm làm giám đốc MI6 hồi năm 2014. Nó diễn ra trong bối cảnh Anh chuẩn bị rời khỏi Liên minh châu Âu, cũng như căng thẳng với Nga vẫn ở mức cao sau vụ cựu điệp viên hai mang Sergei Skripal và con gái bị đầu độc vào tháng 3.
"Mục tiêu của chúng ta là cho Moskva thấy những lợi ích họ muốn đạt được từ hành động này sẽ không xứng đáng với những nguy cơ nó mang lại. Chúng ta không muốn gây bất ổn hay leo thang căng thẳng với Nga", Younger nói thêm.
Skripal, 66 tuổi, bị bắt năm 2004 và lĩnh án 13 năm tù năm 2006 vì hoạt động gián điệp cho Anh, sau đó được trả tự do trong cuộc trao đổi điệp viên và tới Anh tị nạn. Ông và con gái Yulia bị ám sát bằng chất độc thần kinh Novichok hôm 4/3 tại thành phố Salisbury, miền nam nước Anh. Họ được xuất viện sau nhiều tuần điều trị tích cực.
Vụ đầu độc khiến căng thẳng giữa Nga và phương Tây leo thang, khi Moskva bị cáo buộc đứng sau cuộc tấn công. Hàng loạt quốc gia phương Tây đã trục xuất các nhà ngoại giao Nga, cũng như áp đặt nhiều lệnh cấm vận nhằm vào nước này. Nga liên tục bác bỏ cáo buộc của Anh và các đồng minh.
Vũ Anh

Phi công Xô Viết hy sinh thân mình ngăn hoạt động tình báo của CIA

TUẤN SƠN (tổng hợp) |

Phi công Xô Viết hy sinh thân mình ngăn hoạt động tình báo của CIA
Máy bay trinh sát RF-4C Phantom của Không quân Iran.

Cách đây 45 năm, ngày 28-12-1973, Đại úy phi công Xô Viết Gennady N. Eliseev đã điều khiển máy bay tiêm kích Mig-21 lao thẳng vào máy bay trinh sát RF-4C Phantom đang trinh thám trong không phận Liên Xô.

Tới thời điểm hiện tại, các thông tin liên quan tới vụ việc đã được giải mật. Trong vụ việc, người phi công Liên Xô 35 tuổi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình với đất nước khi ngăn chặn hoạt động của chiến dịch tình báo thu thập những thông tin nhạy cảm về không phận Liên Xô mang mật danh Dark Gene (Tạm dịch: Gen tối) của Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA). Chiến dịch trên được thực hiện dưới vỏ bọc hợp tác với Không quân Iran trong thời chiến tranh Lạnh.
Chương trình "Gen tối"
Theo các thông tin được phía Iran và Mỹ công bố ở thời điểm đó, chiếc máy bay trinh sát RF-4C được điều khiển bởi Thiếu tá Không quân Iran Mohamed Shokouhnia (phi công chính) và Đại tá Không quân Mỹ John Saunders (hoa tiêu, kỹ thuật) đã bị bắn hạ khi vô tình xâm phạm không phận Liên Xô.
Sự "nhầm lẫn" trên xảy ra máy bay RF-4C là khí tài quân sự mới được phía Mỹ chuyển giao cho Iran.
Tuy nhiên, các thông tin tình báo được giải mật khẳng định, cả 2 phi công trên đều là thành viên của chương trình thu thập thông tin tình báo tuyệt mật mang mật danh "Gen tối". Đây là chương trình hợp tác giữa Không quân Iran và CIA trong giai đoạn 1960-1970.
Trong giai đoạn sau năm 1953 tới trước cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979, Iran được coi là đồng minh thân cận của Mỹ ở Cận Đông. Giai đoạn này, Iran là đối tác cung cấp dầu thô chính, tin cậy của Mỹ tại Cận Đông.
Để đổi lại, Tehran nhận được sự hậu thuẫn về kinh tế, quân sự và chính trị từ Washington. Mỹ đã hào phóng cung cấp vũ khí, trang bị quân sự và cử chuyên gia hỗ trợ đào tạo Quân đội Iran để đổi lại dầu mỏ.
Mục đích chính của chương trình "Gen tối" là tìm kiếm và khai thác các điểm yếu trong hệ thống phòng không-không quân Liên Xô ở khu vực giáp biên giới Iran kéo dài từ vùng Caucasus tới Trung Á để sẵn sàng cho hoạt động quân sự có thể xảy ra.
Đánh giá về chương trình "Gen tối", chuyên gia quân sự Sebastien Roblin cho biết, trong năm 1971, Iran đã tiếp nhận khoảng 2 phi đội máy bay trinh sát RF-4C sửa đổi đặc biệt (24 chiếc) dành cho nhiệm vụ tình báo nhằm vào Liên Xô.
Các máy bay RF-4C của Iran được trang bị hệ thống ghi hình độ phân giải cao ở mũi máy bay hoặc các thùng chứa thiết bị ghi hình không ảnh đặc biệt ở dưới cánh.
Những thiết bị trinh sát đặc biệt này cho phép RF-4C có thể thu thập thông tin tình báo trong mọi điều kiện thời gian, thời tiết và ở nhiều độ cao khác nhau. Ngoài các thiết bị trinh sát tình báo, RF-4C cũng có ra-đa và vũ khí như máy bay tiêm kích F-4 Phantom thông thường.
Các máy bay RF-4C nói trên được điều khiển với kíp phi công hỗn hợp Mỹ và Iran. Chương trình đã thực hiện thành công nhiều điệp vụ tại khu vực giáp biên giới Liên Xô trước biến cố "đụng độ" với Đại úy Gennady N. Eliseev.
"Tên lửa sống" MiG-21
Sau nhiều lần theo dõi, ngày 28-11-1973, hệ thống phòng không Liên Xô một lần nữa ghi nhận hoạt động bất thường, xâm phạm không phận tại biên giới giáp Iran.
Nhận lệnh, Đại úy Gennady N. Eliseev, Trung đoàn phó Trung đoàn không quân số 982, đã cất cánh cùng máy bay MiG-21 lên ngăn chặn.
Phi công Xô Viết hy sinh thân mình ngăn hoạt động tình báo của CIA - Ảnh 1.
Máy bay tiêm kích đánh chặn Mig-21 của Không quân Liên Xô.

Sau một khoảng thời gian tìm kiếm, máy bay Mig-21 của phi công Gennady N. Eliseev đã bắt kịp chiếc RF-4C. Lúc này, máy bay trinh sát của Iran đang rời khỏi không phận Liên Xô với tốc độ siêu âm (Mach 1.4). Phi công Gennady N. Eliseev quyết định bắn hạ chiếc RF-4C vì nó từ chối tín hiệu yêu cầu hạ cánh.
Tuy nhiên, cả hai tên lửa K-13 Atoll chiếc MiG-21 phóng đi không hạ được mục tiêu.
Đồng thời, súng máy hàng không 23mm trên máy bay cũng gặp vấn đề kỹ thuật và không thể khai hỏa, phi công Gennady N. Eliseev đã quyết định lao máy bay Mig-21 đang điều khiển vào máy bay đối phương khi nhận diện đây là máy bay trinh sát đặc biệt quan trọng của đối phương.
Cú va chạm ở tốc độ siêu âm đã phá nát chiếc MiG-21 và phi công Gennady N. Eliseev hy sinh. Tuy nhiên, chiếc RF-4C cũng bị hạ và hai phi công buộc phải nhảy dù. Sau khi tiếp đất, cả Mohamed Shokouhnia và John Saunders bị lực lượng Biên phòng Liên Xô bắt giữ.
Họ được trao trả cho phía Iran 2 tuần sau đó để đổi lại những mảnh vỡ quan trọng của một vệ tinh Liên Xô rơi trên lãnh thổ Iran. Vụ việc đã làm bại lộ chương trình "Gen tối" và buộc CIA phải chấm dứt nó.
Đại úy phi công Gennady N. Eliseev được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.
Về phía phi công Mohamed Shokouhnia, ông này tiếp tục phục vụ Không quân Iran và một lần nữa bị máy bay Mig bắn hạ trong cuộc chiến Iran-Iraq năm 1982.
theo Quân đội nhân dân

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32