HIỆN THỰC KỲ ẢO 151

(ĐC sưu tầm trên NET)


Kẻ song trùng: Bí ẩn linh hồn song sinh và lời giải

Hoa Hướng Dương |
Kẻ song trùng: Bí ẩn linh hồn song sinh và lời giải
Liệu có phải Tổng thống Lincoln đã gặp một "song trùng" cùa mình trong gương?

Đã bao giờ bạn gặp một người giống hệt mình dù không có anh em sinh đôi, hay nghe người khác kể vừa gặp một người rất giống bạn. Hiện tượng này có tên Doppelganger (kẻ song trùng).


Những truyền thuyết và các câu chuyện về "bãn ngã" khác đã tồn tại từ rất lâu trong văn hóa cổ của nhiều nước, những người dù không có quan hệ ruột thịt hay họ hàng gì lại giống nhau một cách lạ kỳ!
Liệu ai cũng có một người giống mình (có thể cùng thời đại hay thậm chí cách nhau hàng thiên niên kỷ)?
Trong văn hóa của Đức, kẻ song trùng thường là điềm xấu vì nó có thể báo hiệu cái chết và bệnh tật, do đó việc một người nhìn thấy một người khác giống mình là điều cấm kỵ.
Kẻ song trùng (Doppelganger) là gì?
Doppelganger là một từ có gốc xuất phát từ tiếng Đức nghĩa là kẻ song trùng, tức cùng tồn tại (có thể không cùng một thời điểm lịch sử) có ngoại hình giống nhau dù chẳng có liên quan họ hàng gì.
Doppelganger đôi lúc còn được gọi là "quỷ sinh đôi’, ám chỉ rằng chúng có thể sẽ cố gắng cung cấp lời khuyên cho người mà chúng ám ảnh, nhưng lời khuyên đó có thể gây lầm lạc và rất hiểm độc.
Chúng cũng có thể gieo vào đầu óc nạn nhân những ý tưởng nham hiểm hoặc đẩy họ vào trạng thái mất lý trí. Vì lý do này, mọi người đã được khuyên rằng, bằng mọi giá không nên cố gắng liên hệ với doppelgänger của chính họ.
Những truyền thuyết cổ về kẻ song trùng
1. Tranh cổ về đề tài song trùng
Một trong những miêu tả nổi tiếng nhất về doppelganger đến từ bản phác thảo năm 1851 và tranh màu nước năm 1864 với tựa đề ‘Họ Gặp Bản Thân Họ Như Thế Nào?’ của họa sĩ Dante Gabriel Rossetti.
Theo các mô tả về bức tranh, hai người tình thời trung cổ đang đi dạo trong khu rừng thì bất chợt nhìn thấy một người giống người nữ một cách siêu thường.
Người nam rút kiếm ra trong sự ngạc nhiên tột độ, trong khi người tình của anh đổ gục xuống bất tỉnh.
Hình tượng doppelgänger xuất hiện trong các tác phẩm thơ ca yêu thích của Rossetti như là bài thơ "Romaunt of Margaret" và "Poe’s Silence của Elizabeth Barrett Browning".
2. Kẻ song trùng trong lịch sử văn hóa các nước

Trong thần thoại Hy Lạp, Narcissus đã phải lòng chính hình ảnh phản chiếu của mình
Trong thần thoại Hy Lạp, Narcissus đã phải lòng chính hình ảnh phản chiếu của mình
Chủ đề về kẻ song trùng đã có một lịch sử lâu dài, đặc biệt trong văn học, ở những câu chuyện Gothic, các nhân vật chính đã bị ma ám và bám đuổi bởi các bản sao xấu xa giống hệt họ.
Tuy nhiên, thần thoại về những kẻ song trùng có nguồn gốc cổ xưa hơn rất nhiều.
Một trong những tài liệu cổ nhất về Doppelganger là trong kinh Zurvanism, một nhánh của Zoroastrian. Tôn giáo này đã hiện thực hóa sự trừu tượng của “lửa” bằng một cặp song sinh, Ahura Mainyu và Ahura Mazda - tượng trưng cho thiện và ác.
Một trong những đề cập sớm nhất về kẻ song trùng có thể được tìm thấy trong môn phái Zurvanite của Hỏa Giáo.
Giáo phái này bỏ qua khái niệm tính hai mặt trừu tượng chung chung của Hỏa giáo thành khái niệm song sinh tồn tại trong cùng một “thời gian”.
Với cách lý giải này, cặp song sinh Ahura Mazda (Ormuzd) và Angra Mainyu (Ahriman) là hiện thân vĩnh cửu của thiện và ác.

Trong thần thoại Ai Cập cổ đại, ‘ka’ là một thực thể “linh hồn song sinh” có cùng trí nhớ và cảm giác như chủ thể của một người. Hình minh họa
Trong thần thoại Ai Cập cổ đại, ‘ka’ là một thực thể “linh hồn song sinh” có cùng trí nhớ và cảm giác như chủ thể của một người. Hình minh họa
Chuyện dân gian Bắc Âu những sinh mệnh ma quỷ đến trước chủ thể của chúng, thế chỗ họ trong các hoạt động khác nhau và tiến hành các hành động trước đó.
Linh hồn với các bước chân, giọng nói, mùi hương, hoặc hình dáng và cử chỉ giống với chủ thể sẽ đến một địa điểm hoặc thực hiện một hoạt động trước họ.
Dẫn tới việc các nhân chứng tin rằng họ đã nhìn hoặc nghe thấy người thật trước khi người đó thực sự đến.
Người dân ở Quần Đảo Orkney ở Scotland sợ một loài vật giống tiên, nhỏ bé gọi là “trow”. Theo truyền thuyết, trow sẽ sinh hạ ra những đứa trẻ hay ốm yếu.
Những phụ nữ có thai sẽ được canh gác cẩn mật khỏi lũ trow, bởi vì chúng sẽ thường ăn trộm những đứa trẻ loài người khỏe mạnh và thay thế bằng chính những đứa trẻ của chúng.
Những đứa trẻ này sẽ biến đổi thành những bản sao y hệt của những đứa trẻ bị ăn trộm đó.
Tương tự, rất nhiều các thần thoại của thổ dân châu Mỹ cũng nói đến vai trò của đôi song sinh. Truyền thuyết của người Hopi đề cập đến đôi song sinh với tên gọi là Đứa Con của Mặt Trời và Đứa Con của Nước.
Người Hopi cũng tin vào tính đối ngẫu giữa Dương Gian và Âm Phủ: Rằng bất kể điều gì xảy ra ở nơi Dương Gian này, thì điều ngược lại sẽ xảy ra dưới Âm Phủ.
Những trường hợp có thật về kẻ song trùng
Chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên vì những trường hợp giống nhau tới kỳ lạ sau:
1. Abraham Lincoln và bản sao của mình
Trong số các trường hợp đáng lưu ý nhất phải kể đến là trải nghiệm của Abraham Lincoln, được ghi chép bởi Noah Brooks trong cuốn sách của anh ‘Washington vào thời Lincoln’ (1895).
Theo ghi chép của anh, thì một thời gian ngắn sau khi Lincoln được bầu làm tổng thống vào năm 1860, ông trở về nhà vào một ngày và nhìn vào tấm gương gần bàn làm việc, và ông nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của ông phân làm hai.
Lincoln nói: “…gần như đầy đủ; nhưng khuôn mặt của tôi có hai hình ảnh riêng biệt và giống hệt nhau".
Kì quái hơn nữa là, sau khi gặp bản sao của mình, Lincoln và gia đình liên tục gặp chuyện xui xẻo. Đó là cuộc nội chiến nước Mỹ xảy ra ngay sau khi ông nhậm chức.
Hay đứa con thứ 3 của ông là William Wallace Lincoln qua đời năm 1862 khi mới hơn 11 tuổi và cuối cùng là chính bản thân Lincoln bị ám sát năm 1865 sau khi tái đắc cử lần thứ 2.
2. Nhà văn Pháp nổi tiếng Guy de Maupassant

Hình minh họa
Hình minh họa
Nhà văn Pháp nổi tiếng Guy de Maupassant lại có những trải nghiệm khá thân thiết với hồn ma bản sao của mình. Hồn ma này thậm chí còn kể chuyện cho nhà văn nghe.
Ông thừa nhận cuốn truyện ngắn kinh dị “Le Horla” được ông viết bắt đầu từ câu chuyện của hồn ma này. Tuy nhiên, cho dù thân thiết đến mấy, ông cũng không tránh khỏi cái chết ít lâu sau đó.
Từ đó, truyện ngắn “Le Horla” đã trở thành tác phẩm cuối cùng của ông.
3. Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) là một đại thi hào văn học, chính trị gia nổi tiếng của Đức

Đại thi hào Goethe
Đại thi hào Goethe
Một ngày nọ, sau khi chia tay với một cô gái có tên Frederika, Goethe buồn bã cưỡi ngựa đi trên một con đường đi bộ. Bất chợt ông nhìn thấy một người bí ẩn đang cưỡi ngựa tiến về phía mình.
Người đó không ai khác chính là Goethe nhưng lại mang trang phục hoàn toàn khác. Hình ảnh này biến mất ngay sau đó và Goethe nhanh chóng quên về nó.
8 năm sau, Goethe lại cưỡi ngựa trên con đường đi bộ năm xưa theo hướng ngược lại (cũng để gặp lại Frederika). Và đó cũng là lúc ông nhận ra rằng mình đang mang trang phục y hệt của “người giống mình” mà ông đã thấy 8 năm trước
4. Catherine Đại đế
Catherine Đại đế là vị nữ hoàng đầy quyền lực và là một nhân vật nguy hiểm của Nga vào thế kỉ 18. Bà không hề sợ sệt trước những chuyện như việc nhìn thấy doppelganger của mình tiếp quản vương miện.
Truyện kể lại rằng, một đêm, nữ hoàng Catherine đang nằm nghỉ thì 2 cô hầu gái bảo rằng họ vừa mới trông thấy bà vào phòng thiết triều.
Bà đã đến điều tra sự việc ngay sau đó, và bắt gặp chính mình đang điềm tĩnh ngồi trên ngai vàng. Nữ hoàng ngay lập tức lệnh cho lính gác bắn “hồn ma” này.
Không ai nhắc đến gì đến chuyện doppelganger của nữ hoàng Catherine có bị ảnh hưởng bởi chuyện đó không; nhưng vị nữ hoàng này đã qua đời một thời gian không lâu sau đó.
5. Nữ hoàng Elizabeth I
Nữ hoàng Elizabeth I (trị vì Anh Quốc từ năm 1558-1603) nổi tiếng là một nữ quốc vương am tường, bình tĩnh và có uy tín. Bà là người chẳng bao giờ muốn dính líu với những hiện tượng siêu nhiên.
Tuy nhiên, Nữ hoàng Elizabeth I đã nhìn thấy doppelganger của mình nằm bất động trên giường y hệt một thi hài.
Và điều này đã trở thành một nổi ám ảnh lớn vì nó mang đến dấu hiệu của tử thần. Nữ hoàng Elizabeth I đã mất không lâu sau khi nhìn thấy bản sao của mình.
Giải thích khoa học về hiện tượng bí ẩn này
Một hiện tượng tâm thần
Vậy niềm tin vào linh hồn song sinh đến từ đâu và liệu có bất kỳ sự thật nào trong đó?

Những người nổi tiếng là bản sao của mình
Những người nổi tiếng là bản sao của mình
Trong khi rất nhiều người ngày nay vẫn còn tin tưởng vào sự tồn tại của một bản thể sinh đôi, một số nhà khoa học cho rằng:
Hiện tượng này xảy ra do chấn thương hoặc sự kích thích vào các bộ phận nhất định của não bộ, từ đó gây ra các sai lệch trong khả năng nhận thức không gian.
Một số khác thì khách quan hơn cho rằng đa số chỉ là do các chứng rối loạn thần kinh trong đó có chứng rối loại đa nhân cách và tâm thần phân liệt

Ellen và bản sao lịch sử
Ellen và bản sao lịch sử
Hay một số cách lý giải khoa học cho rằng đây là kết quả của một ảo ảnh, ảo giác hoặc là vì chúng ta đang sống trong một thế giới song song mà trong đó tất cả mọi thứ trong thế giới này đều sẽ có bản sao trong các không gian khác.
Một số nhà nghiên cứu khoa học thần bí thì cho rằng ai cũng có một bóng ma của chính mình. Nhưng bạn sẽ không bao giờ được gặp vì điều này sẽ gây ra mất cân bằng trong tự nhiên.
Còn nếu điều đó xảy ra, định mệnh khiến bạn phải chết để cân bằng lại.

Ozil cũng có bản sao
Ozil cũng có bản sao
Tại Mỹ, năm 2006, một nhà nghiên cứu có tên Brunelle triển khai một dự án tìm kiếm những cặp đôi giống hệt nhau mà không hề có mối quan hệ gì trước đó.
Ông đã rất bất ngờ khi số lượng các cặp đôi được tìm thấy ngày càng gia tăng. Và điều kỳ lạ là không có ai gặp vấn đề xui xẻo hay chết chóc cả.
Nghiên cứu này được đăng trên tạp chí Science làm người ta lập tức nghĩ tới Doppelganger. Điều này dấy lên khả năng rằng bất cứ người nào trên thế giới cũng có một anh chị em song sinh bằng da bằng thịt ở đâu đó.
Sự ngẫu nhiên của tự nhiên
Có một sự thật là không ai trên thế giới hoàn toàn giống nhau, kể cả những người sinh đôi. Do đó hiện tượng này mang tính ngẫu nhiên và trùng hợp hơn là những truyền thuyết đáng sợ xoay quanh.
Và sự giống nhau mà truyền thuyết gọi là sinh đôi cũng chỉ là... gần giống!
Nghiên cứu mới đây của một nhóm chuyên gia thuộc Đại học California, Berkeley cho thấy, gene di truyền chính là nhân tố quyết định sự khác nhau giữa người với người
Nghiên cứu mới đây của một nhóm chuyên gia thuộc Đại học California, Berkeley cho thấy, gene di truyền chính là nhân tố quyết định sự khác nhau giữa người với người
Khi so sánh gene của người hiện đại với gene của người Neanderthal và Denisovan cổ xưa, các chuyên gia nhận ra rằng: Sự đa dạng của khuôn mặt người là một đặc điểm tiến hóa từ rất lâu.
Do vậy, trải qua thời gian, tùy theo môi trường, điều kiện và hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân, gene di truyền biến đổi kéo theo khuôn mặt các thế hệ sau của họ sẽ có sự thay đổi tương ứng.
Nghiên cứu trên được đăng trên tạp chí Nature Communications.
theo Trí Thức Trẻ


Độ "điên không giống ai" của những thần đồng Toán học thế giới

Hoa Hướng Dương |
Độ "điên không giống ai" của những thần đồng Toán học thế giới
Hình minh họa

Trước khi được cả thế giới công nhận tài năng, các nhà toán học này đều gặp những trở ngại trong cuộc sống. Người thì bị mù, người thì bị cho là "điên", lập dị...



Toán học là một bộ môn khoa học tư duy trừu tượng cao, thể hiện vẻ đẹp của trí tuệ con người và được ví là ngôn ngữ của vũ trụ. Do đó các nhà Toán học cũng là những người có trí tuệ siêu phàm.
1. Sự vĩ đại của thiên tài Euler dù bị mù

Leonhard Euler là một nhà toán học và nhà vật lý học Thụy Sĩ. Ông (cùng với Archimedes và Newton) được xem là một trong những nhà toán học lừng lẫy nhất.
Leonhard Euler là một nhà toán học và nhà vật lý học Thụy Sĩ. Ông (cùng với Archimedes và Newton) được xem là một trong những nhà toán học lừng lẫy nhất.
Ông được xem là thần đồng toán học từ thuở nhỏ. Ông làm giáo sư toán học tại Sankt-Peterburg, sau đó tại Berlin, rồi trở lại Sankt-Peterburg.
Ông là nhà toán học viết nhiều nhất: Tất cả các tài liệu ông viết chứa đầy 75 tập. Ông là nhà toán học quan trọng nhất trong thế kỷ 18 và đã suy ra nhiều kết quả cho môn vi tích phân mới được thành lập.
Khả năng phi phàm dù bị mất đi đôi mắt
Do làm việc quá sức, ông bị mất đi thị giác một mắt rồi sau đó mất hoàn toàn. Cũng như Bethoven, ông phải vật lộn với nó để tiếp tục sáng tạo.
Do làm việc quá sức, ông bị mất đi thị giác một mắt rồi sau đó mất hoàn toàn. Cũng như Bethoven, ông phải vật lộn với nó để tiếp tục sáng tạo.
Ông bị mù hoàn toàn trong 17 năm cuối cuộc đời, nhưng khoảng thời gian đó là lúc ông cho ra hơn nửa số bài ông viết. Ông vẫn viết được vì ông có trí nhớ siêu thường và có thể dùng óc để tính toán được.
Có chuyện kể rằng có khi ông và người phụ tá của ông tính kết quả của một dãy số với 17 con số và nhận biết được là đáp số của ông và của người phụ tá khác nhau trong con số thứ 50. Khi họ tính lại thì thấy rằng ông đã tính đúng!
Người ta ước tính rằng, phải làm việc 8 giờ một ngày trong suốt 50 năm để có thể ghi chép bằng tay tất cả những công trình của ông.
Phải đợi đến năm 1910, mới có một bộ sưu tập, tụ hợp tất cả các công trình này một cách đầy đủ, và nó được chứa trong 70 tập sách.
2. Tesla và khả năng toán học siêu phàm
Mặc dù thành công trong lĩnh vực Vật Lý với những phát minh ngoài sức tưởng tượng của người khác, Tesla cũng là một thiên tài Toán Học bẩm sinh.
Mặc dù thành công trong lĩnh vực Vật Lý với những phát minh ngoài sức tưởng tượng của người khác, Tesla cũng là một thiên tài Toán Học bẩm sinh.
Nikola Tesla sinh năm 1856 trong một ngôi làng của Croatia. Mẹ ông là Đuka Tesla, một phụ nữ tài năng, bà tạo ra những công cụ thủ công, thiết bị cơ khí.
Nikola tin rằng trí nhớ siêu phàm (eidetic memory) và khả năng sáng tạo vô tận của ông được thừa hưởng từ mẹ.
Năm 1870, Tesla chuyển tới Karlovac để nhập học ở Higher Real Gymnasium. Tai đây ông bị ảnh hưởng sâu sắc bởi Martin Sekulić - một giáo viên dạy toán.
Tesla có thể tính được tích phân trong đầu, điều làm cho giáo viên của ông không tin và nghĩ rằng Tesla đã gian lận. Ông tốt nghiệp vào năm 1873 (sớm hơn một năm của cấp học).
Năm 1875, Tesla nhập học Đại học Bách Khoa của Áo, tại thành phố Graz. Trong năm đầu, ông không hề bỏ một buổi giảng nào, đạt được thứ hạng cao nhất. Vượt qua 9 bài kiểm tra (gần gấp đôi so với thông thường).
Trong lá thư ca ngợi của hiệu trưởng tới cha ông, trong đó ghi rằng: "Con trai ông là một ngôi sao hạng nhất". Tesla làm việc từ 3 giờ sáng cho đến 11 giờ tối, không có ngày nghỉ lễ, hay chủ nhật, kể cả trường hợp đặc biệt.
Sau cái chết của cha ông năm 1879. Tesla tìm được một đống là thư được gửi bởi những giáo sư cho cha ông cảnh báo rằng nếu Nikola không rời khỏi trường, ông ấy có thể chết bởi làm việc quá sức.
Sau cái chết của cha ông năm 1879. Tesla tìm được một đống là thư được gửi bởi những giáo sư cho cha ông cảnh báo rằng nếu Nikola không rời khỏi trường, ông ấy có thể chết bởi làm việc quá sức.
Nikola Tesla là một nhà khoa học bị đánh giá là khá “điên” đối với nhiều người. Ông mắc một hội chứng đó là chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế OCD.
Có những tin đồn rằng Tesla đã từng làm việc suốt 84 giờ không ngủ. Và những giấc ngủ của ông cũng luôn chập chờn, đứt quãng. Thậm chí còn có một số người cho rằng ông nảy sinh ra phát minh trong giấc ngủ của mình
3. John Nash- Vẻ đẹp của trí tuệ

Nếu đã từng xem bộ phim tiểu sử Một tâm hồn đẹp (A Beautiful Mind) bạn sẽ bị ấn tượng bởi khả năng Toán học kỳ diệu mà John Nash có được như một món quà của Thượng đế. Hình minh họa
Nếu đã từng xem bộ phim tiểu sử Một tâm hồn đẹp (A Beautiful Mind) bạn sẽ bị ấn tượng bởi khả năng Toán học kỳ diệu mà John Nash có được như một món quà của Thượng đế. Hình minh họa
John Forbes Nash ( 1928 – 2015) là một nhà toán học người Mỹ với chuyên ngành lý thuyết trò chơi và hình học vi phân.
Các học thuyết của ông được sử dụng trong kinh tế, điện toán, trí tuệ nhân tạo, sinh học tiến hóa, kế toán và chính trị. Năm 1994, ông nhận được giải thưởng Nobel về kinh tế cùng với hai nhà lý thuyết trò chơi khác, Reinhard Selten và John Harsanyi.
Các học thuyết của ông được sử dụng trong kinh tế, điện toán, trí tuệ nhân tạo, sinh học tiến hóa, kế toán và chính trị. Năm 1994, ông nhận được giải thưởng Nobel về kinh tế cùng với hai nhà lý thuyết trò chơi khác, Reinhard Selten và John Harsanyi.
Từ bé Nash đã tỏ ra lập dị khác người, tính tình hướng nội, không ham chơi đùa mà chỉ thích đọc sách. Ở trường tiểu học, cậu bị thầy giáo chê là đầu óc "có vấn đề" vì hay dùng những cách kỳ quặc để giải các bài toán.
Lên trung học, biểu hiện đó càng khiến mọi người ngạc nhiên: Có lần khi giải bài tập toán, thầy giáo viết đầy bảng, thế mà Nash chỉ dùng vài thao tác đơn giản là tìm ra lời giải.
Thấy con có năng khiếu toán, cha mẹ cho Nash học chương trình toán cao cấp ngay khi cậu còn đang ở trung học.
Nhờ học giỏi, Nash nhận được học bổng của Học viện Công nghệ Carnegie (nay là trường đại học Carnegie Mellon University).
Năm đầu tiên Nash học ngành hóa, năm sau chuyển sang học toán. Một lần anh đến gặp thầy hướng dẫn khoa học là giáo sư R.J. Duffin, trình bày một phát hiện toán học mới của mình.
Năm đầu tiên Nash học ngành hóa, năm sau chuyển sang học toán. Một lần anh đến gặp thầy hướng dẫn khoa học là giáo sư R.J. Duffin, trình bày một phát hiện toán học mới của mình.
Ông thầy vô cùng ngạc nhiên khi thấy cậu học trò trẻ này đã tự chứng minh được Định lý điểm bất động Brouwer (Brouwer Fixpoint Theorem) mà cậu chưa biết rằng trước đây đã có nhà toán học làm được điều đó.
Trong tiểu thuyết, Sylvia Nasar dẫn lời một đồng nghiệp của Nash: "Tất cả các nhà toán học đều đồng thời sống trong hai thế giới khác hẳn nhau.
Một thế giới thanh cao thuần khiết kiểu triết gia Plato và một thế giới với cuộc đời hiện thực ngắn ngủi, hỗn độn, đòi hỏi phải luôn luôn thích ứng mọi biến đổi".
Riêng Nash thì ông còn sống 30 năm trong một thế giới đặc biệt nữa, đó là thế giới hoang tưởng của người điên dại.
4. Carl Friedrich Gauss- Hoàng tử toán học

Carl Friedrich Gauss (1777 – 1855) là một nhà toán học và nhà khoa học người Đức tài năng, người đã có nhiều đóng góp lớn cho các lĩnh vực khoa học, như lý thuyết số, giải tích, hình học vi phân, khoa trắc địa, từ học, thiên văn học và quang học.
Carl Friedrich Gauss (1777 – 1855) là một nhà toán học và nhà khoa học người Đức tài năng, người đã có nhiều đóng góp lớn cho các lĩnh vực khoa học, như lý thuyết số, giải tích, hình học vi phân, khoa trắc địa, từ học, thiên văn học và quang học.
Được mệnh danh là "hoàng tử của các nhà toán học", với ảnh hưởng sâu sắc cho sự phát triển của toán học và khoa học.
Gauss được xếp ngang hàng cùng Leonhard Euler, Isaac Newton và Archimedes như là những nhà toán học vĩ đại nhất của lịch sử.
Từ lúc nhỏ tuổi, Gauss đã thể hiện mình là một thần đồng, để lại nhiều giai thoại, trong đó có nhắc đến những phát kiến đột phá về toán học ngay ở tuổi thiếu niên.
Ông đã hoàn thành quyển Disquisitiones Arithmeticae, vào năm 24 tuổi. Công trình này đã tổng kết lý thuyết số và hình thành lĩnh vực nghiên cứu này như một ngành toán học mà ta thấy ngày nay.
Theo giai thoại kể lại, tài năng bẩm sinh của Gauss được phát hiện khi ông mới lên ba, qua việc ông sửa lại lỗi của cha trong tính toán tài chính.
Một câu chuyện khác kể rằng khi ông học tiểu học, thầy giáo yêu cầu học sinh tính cộng các số nguyên từ 1 đến 100. Gauss đã trả lời đúng chỉ trong vài giây bằng một cách giải nhanh và độc đáo.
Năm 1796, Gauss đã có đột phá toán học đầu tiên khi ông chứng minh rằng mọi đa giác đều với số cạnh bằng số nguyên tố Fermat.
(Và, do đó, mọi đa giác đều với số cạnh bằng tích của các số nguyên tố Fermat khác nhau và lũy thừa của 2) đều có thể dựng được bằng compa và thước kẻ.
Đây là một khám phá quan trọng trong ngành dựng hình, một bài toán đã làm đau đầu nhiều nhà toán học từ thời Hy Lạp cổ đại.
Năm 23 tuổi sau ba tháng làm việc miệt mài, ông đã tiên đoán vị trí của hành tinh Ceres và tính toán này đã được kiểm chứng lại cho thấy sai số nhỏ hơn... nửa độ.
Các công trình của ông đã trở thành công cụ tính toán quan trọng cho thiên văn học thời này
5. Pontryagin- Nghị lực phi thường

Lev Semenovich Pontryagin (1908-1988) là một nhà toán học Nga. Ông sinh ra tại Moskva và bị mất thị lực trong một vụ nổ bếp dầu lúc ống 14 tuổi.
Lev Semenovich Pontryagin (1908-1988) là một nhà toán học Nga. Ông sinh ra tại Moskva và bị mất thị lực trong một vụ nổ bếp dầu lúc ống 14 tuổi.
Bên cạnh khả năng thiên phú và niềm đam mê Toán học, các nhà Toán học cũng là những người có nghị lực phi thường giúp họ hoạt động trong lĩnh vực khó khăn này.
Mặc dù bị mù ông vẫn có khả năng trở thành nhà toán học nhờ vào sự giúp đỡ của mẹ mình. Ông nghiên cứu chủ yếu trong một số lĩnh vực toán học, bao gồm các phần hình học của hình học tôpô.
Trong hồi ký của mình đã viết, ngay ngày đầu đến trường sau khi xuất viện, những giờ học toán trước tai nạn hoàn toàn bình thường đã trở nên rất khó hiểu.
Nhưng cuối cùng Pontryagin vẫn yêu và gắn cả cuộc đời với toán nhờ sự hỗ trợ hết mình của mẹ.
Mẹ đọc to cho con trai nghe những cuốn sách và tài liệu toán học cho dù bà không có trình độ về lĩnh vực này. Với những ký hiệu xa lạ trong các công thức không biết, mẹ diễn đạt bằng hình ảnh.
Câu chuyện này không chỉ là bài học về ý chí và nghị lực phi thường nó còn là một câu chuyện về tình yêu vô bờ bến mà người mẹ dành cho con trai dù người mẹ đó phải kiên trì và không có chút hiểu biết nào về nó.
Dù phải vật lộn để có thể học Toán, những gì ông để lại vô cùng quan trọng và có ý nghĩa với nền Toán học như lý thuyết đối ngẫu về tính tương đồng.
Ông đặt nền móng cho lý thuyết trừu tượng của biến đổi Fourier, mà ngày nay được gọi là tính đối ngẫu Pontryagin. Trong lĩnh vực hình học tôpô ông đề xuất vấn đề cơ bản về lý thuyết đồng đều trong.
Điều này dẫn ông tới đề xuất trong những năm 1940 về lý thuyết các lớp đặc trưng, mà ngày nay được gọi là các lớp Pontryagin, được thiết kế để triệt tiêu đa tạp là biên.
Ngoài ra, trong lý thuyết toán tử cũng có những trường hợp đặc biệt của không gian Krein được gọi là không gian Pontryagin.
Những nghiên cứu sau này của ông tập trung vào lý thuyết điều khiển tối ưu. Nguyên lý cực đại của ông là cơ sở cho lý thuyết tối ưu hiện đại.
Ông cũng đề xuất ý tưởng về nguyên lý bang-bang, để miêu tả các tình huống hoặc là nên dùng 'điều khiển' cực đại trong một hệ thống hoặc là không.
theo Trí Thức Trẻ

Bí ẩn con số có thể "mở ra vũ trụ" của nhà bác học "điên" thiên tài

Hoa Hướng Dương |
Bí ẩn con số có thể "mở ra vũ trụ" của nhà bác học "điên" thiên tài

Một khám phá mới cho thấy Tesla cũng là một thiên tài Toán học.


Vốn được mệnh danh là "nhà bác học điên thiên tài" với nhiều ý tưởng táo bạo thể hiện tầm nhìn rộng lớn của ông trong Vật lý, nhưng ít ai biết được rằng, Tesla cũng là một thiên tài Toán học.
Mới đây, một bản vẽ của ông được tìm thấy tiết lộ phương pháp độc đáo của ông trong việc nhân các con số một cách vô cùng đơn giản.
Phương pháp độc đáo với hệ cơ số 12 của Tesla
Phương pháp độc đáo với hệ cơ số 12 của Tesla
Bức vẽ được phát hiện tại một phân xưởng lâu đời tại trung tâm Arizona (Mỹ) bởi nghệ sĩ địa phương, Abe Zucca.
Chúng được cho là được Tesla tạo ra vào những ngày cuối tại phòng thí nghiệm năng lượng tự do của ông (Tesla’ Free Energy), Wardenclyffe.

Những phát minh quan trọng trong cuộc đời Tesla
Những phát minh quan trọng trong cuộc đời Tesla
Bản thảo này cũng tiết lộ nhiều lời giải đáp cho nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời về Toán học.
Nhiều bản thảo cũng được tìm thấy cùng với nó trong một cái rương nhỏ, chúng chủ yếu liên quan tới việc nghiên cứu năng lượng của ông và đa số liên quan tới Vật lý.

Vì tính cách lập dị và những tuyên bố kỳ lạ và khó tin về sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Tesla bị cô lập và bị coi là một nhà bác học điên lúc cuối đời. Ông qua đời năm 86 tuổi trong một phòng khách sạn ở New York với một số tiền ít ỏi trong túi
Vì tính cách lập dị và những tuyên bố kỳ lạ và khó tin về sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Tesla bị cô lập và bị coi là một nhà bác học điên lúc cuối đời. Ông qua đời năm 86 tuổi trong một phòng khách sạn ở New York với một số tiền ít ỏi trong túi
Rất nhiều chú thích nghệch ngoạc trên những bản thảo này, trong đó một số đã được công bố sau đó, nhưng một số là những tài liệu chưa từng được biết đến. Đáng chú ý nhất là bản đồ xoắn ốc phép nhân Toán học.
Phương pháp này nếu được ứng dựng có thể thay thế những cơ số thông dụng như cơ số 10 và tạo ta một cuộc cách mạng.
Phương pháp này nếu được ứng dựng có thể thay thế những cơ số thông dụng như cơ số 10 và tạo ta một cuộc cách mạng.
Abe Zucca đã sao chép chúng và đưa cho những nhà Toán học, các nhà tư tưởng… Chỉ vài ngày sau đó một thầy giáo Toán học tại trường Phổ thông địa phương, Joey Grether đã tìm cách giải mã hệ thống và thu được những kết quả khả quan.

Tesla và Einstein (1920)
Tesla và Einstein (1920)
Joey Grether cho rằng hình xoắn ốc không chỉ khảo sát phép nhân như một mạng xen lẫn, nó còn chỉ ra cái nhìn trực quan bao hàm cách mà những con số được sắp xếp trong 12 vị trí của mạng.

Năm 1870, Tesla chuyển tới Karlovac để nhập học ở Higher Real Gymnasium. Tai đây ông bị ảnh hưởng sâu sắc bởi Martin Sekulić - một giáo viên dạy toán. Tesla có thể tính được tích phân trong đầu, điều làm cho giáo viên của ông không tin và nghĩ rằng Tesla đã gian lận. Ông tốt nghiệp vào năm 1873 (sớm hơn một năm của cấp học)
Năm 1870, Tesla chuyển tới Karlovac để nhập học ở Higher Real Gymnasium. Tai đây ông bị ảnh hưởng sâu sắc bởi Martin Sekulić - một giáo viên dạy toán. Tesla có thể tính được tích phân trong đầu, điều làm cho giáo viên của ông không tin và nghĩ rằng Tesla đã gian lận. Ông tốt nghiệp vào năm 1873 (sớm hơn một năm của cấp học)
“Hình vẽ này cho phép chúng ta nhìn những con số như một hình mẫu, sự tạo thành các số nguyên tố, số sinh đôi, siêu hợp số, phép nhân và chia, cũng như một vài hệ thống khác, tôi nghĩ rằng, nó đã được khám phá”.
Bản thân sơ đồ rất trực quan, cho phép học sinh nhìn thấy làm thế nào mà những con số tương tác lẫn nhau trên hình xoắn ốc dựa trên 12 vị trí và mở rộng cho bội của 12.
Đó là lý do một năm có 12 tháng, 12 inch bằng 1 foot, 24 giờ trong một ngày…

Tesla là một thiên tài bị lãng quên
Tesla là một thiên tài bị lãng quên
Tesla xây dựng biểu đồ này như một chiếc đồng hồ có 12 vị trí, ông còn chú thích: “Nếu bạn biết sự tráng lệ của những số 3, 6, 9 là bạn đã có chìa khóa để hiểu vũ trụ”.

Tesla cũng là thiên tài Toán học
Tesla cũng là thiên tài Toán học
Rất khó để nói hết sự biến hóa của chiếc bảng này.
Tuy nhiên, Grether nghĩ rằng: “Nếu chúng ta có thể để học sinh sử dụng kỹ thuật này, chơi đùa với nó, và giúp chúng tìm ra cách sử dụng nó, chúng ta có thể vượt qua sự sợ hãi truyền thống của mọi người với Toán học”.
“Thay vào việc ghi nhớ những bảng cửu chương, chúng ta có thể học vị trí của chúng để hiểu tốt hơn cách chúng hoạt động cùng nhau”.

Tôi không sợ họ đánh cắp ý tưởng của mình, tôi chỉ sợ họ không hiểu chút nào về nó. - Tesla
"Tôi không sợ họ đánh cắp ý tưởng của mình, tôi chỉ sợ họ không hiểu chút nào về nó." - Tesla
Một điều thú vị nhỏ là, biểu đồ xoắn ốc này được đề ngày 12/12/1912. Có lẽ hệ đếm cơ số 12 chính là hệ thống ưa thích mà thiên tài Tesla đã sử dụng trong cuộc đời nghiên cứu của mình.
Như là chìa khóa mở ra vũ trụ như ông đã nói.
theo Trí Thức Trẻ

Vũ khí này sẽ "tiễn" Trái Đất về thời nguyên thủy ngay tức khắc

Trang Ly |
Vũ khí này sẽ "tiễn" Trái Đất về thời nguyên thủy ngay tức khắc
Chiến tranh hạt nhân có thể "tiễn" Trái Đất về thời nguyên thủy ngay tức khắc. Hình minh họa

Chứng kiến sự leo thang của vũ khí hạt nhân trên toàn thế giới, các nhà khoa học đã đưa ra kịch bản đáng sợ cho loài người và Trái Đất nếu một ngày chiến tranh hạt nhân xảy ra.



Chiến tranh hạt nhân, hay chiến tranh nguyên tử, là chiến tranh mà trong đó vũ khí hạt nhân được sử dụng.
Khác với chiến tranh thông thường, chiến tranh hạt nhân có mức độ và phạm vi phá hủy lớn hơn nhiều và gây những hậu quả lâu dài trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ sau cuộc chiến.
Một cuộc chiến tranh hạt nhân trên quy mô lớn có thể dẫn đến sự hủy diệt tất cả các dạng sống trên Trái Đất. Và có thể "tiễn" hành tinh xanh của chúng ta trở về thời nguyên thủy, sơ khai.
Vũ khí hạt nhân: Sức mạnh hay sự hủy diệt?
Tính cho tới nay, chỉ có hai quả bom hạt nhân đã được sử dụng trong chiến tranh tại Hiroshima và Nagasaki (Nhật Bản) trong Thế chiến II. Cả hai quả bom này đã cho thế giới thấy sức công phá và hủy diệt khủng khiếp của chúng.
Nhưng, không vì vậy mà các kho dự trữ hạt nhân giảm xuống, nhất là sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh, số lượng đầu đạn hạt nhân tăng lên một cách chóng mặt.
Business Insider đã có bài mô tả tiềm năng vũ khí hạt nhân của các nước.
Theo đó, tính đến năm 2014, trên thế giới có 10 quốc gia hạt nhân, trong đó mạnh nhất là hai cường quốc Nga và Mỹ với khoảng 8.500 và 7.500 đầu đạn hạt nhân.

ICBM Titan II mang đầu đạn W53 Mt, khiến nó là vũ khí hạt nhân mạnh nhất của Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh. Ảnh: Wikipedia
ICBM Titan II mang đầu đạn W53 Mt, khiến nó là vũ khí hạt nhân mạnh nhất của Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh. Ảnh: Wikipedia
Tiếp đến là 3 cường quốc Anh, Pháp và Trung quốc tương đương nhau với số đầu đạn 225, 300 và 250.
Và cuối cùng là 3 tân quốc gia hạt nhân là Ấn Độ, Pakistan, Iran, Israel. Dù “chậm chân” hơn khoảng 20 - 30 năm, nhưng nay đã có trong kho khoảng trên dưới 100 đơn vị.
Ngoài ra, Triều Tiên sở hữu con số nhỏ nhoi ước tính không quá 10 quả bom, mà chủ yếu là loại bom Plutonium thô sơ.
Bảng thống kê vũ khí của các cường quốc hạt nhân.
Bảng thống kê vũ khí của các cường quốc hạt nhân.

Tiềm năng các quốc gia hạt nhân trên thế giới. Đồ họa: BI
Tiềm năng các quốc gia hạt nhân trên thế giới. Đồ họa: BI
Với tiềm năng khác nhau giữa các quốc gia hạt nhân như vậy, một cuộc chiến tranh hạt nhân nếu xảy ra cũng có thể ở mức độ ác liệt rất khác nhau.
Xét cho cùng, tai họa của một cuộc chiến tranh xảy ra, dù ở quy mô lớn nhỏ nào, cũng gây hậu quả rất lớn, nhiều mặt và lâu dài đến loài người trên toàn cầu.
Chiến tranh hạt nhân khiến Trái Đất "méo mó" thế nào?
Các nhà nghiên cứu đã đặt bài toán với giả thiết về hậu quả từ một cuộc chiến tranh hạt nhân ở hai mức độ khác nhau. Họ nhấn mạnh, đây chỉ là giả thuyết và hoàn toàn không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào.
Ở cấp độ nhỏ
Xảy ra trong một khu vực trong phạm vi hẹp của quốc gia, trong đó mỗi phía cho nổ 50 quả bom nhỏ (tổng 100 quả) loại 15 koloton, tương đương quả bom ở Hiroshima năm 1945.
Tai họa đầu tiên sẽ là giết chết hàng loạt con người trong địa phận nổ bom. Cái chết này chủ yếu do những lý do cơ học như: Gia tăng áp suất, gió mạnh từ 250 đến 400 km/giờ làm đổ sập nhà cửa và trụ điện…
Thảm họa hạt nhân sẽ giết chết hàng trăm triệu người ngay lập tức. Hình minh họa
Thảm họa hạt nhân sẽ giết chết hàng trăm triệu người ngay lập tức. Hình minh họa
Chưa kể, nhiệt độ tăng lên hàng nghìn độ gây ra những đám cháy khắp vùng.
Còn tiếp theo sau đó, những người sống sót sẽ tiếp tục bị chiếu bởi những tia bức xạ do các mảnh vỡ của bom vung ra khắp nơi, dẫn đến cái chết sớm hoặc bị bệnh tật kéo dài và chết chậm.
Đó là đối với con người. Còn đối với Trái Đất và sinh vật sống thì sao?
Một cuộc chiến tranh hạt nhân quy mô nhỏ sẽ làm nhiệt độ trái đất giảm 2 đến 3 độ. Lượng mưa hàng năm cũng giảm 9%.
Với 100 đầu đạn hạt nhân cùng nổ sẽ nén 5 triệu tấn carbon đen vào khí quyển. Nó sẽ hấp thụ nhiệt lượng từ Mặt Trời, ngăn chúng tiếp cận bề mặt Trái Đất.
Ảnh mô tả carbon đen ngăn cản ánh nắng Mặt Trời và sẽ gây tử vong cho con người.
Ảnh mô tả carbon đen ngăn cản ánh nắng Mặt Trời và sẽ gây tử vong cho con người.
Sau một thời gian, carbon đen sẽ rơi xuống theo mưa, nhưng các nhà khoa học không thể xác định chính xác thời gian chúng biến mất khỏi bầu khí quyển.
Sau một năm, nhiệt độ trung bình trên toàn Trái Đất sẽ giảm 1,1 độ C. Sau 5 năm, nhiệt độ Trái Đất sẽ giảm 3 độ C.
Nhưng 20 năm sau, nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng lên và chúng ta chỉ lạnh hơn 1 độ C so với trước khi chiến tranh hạt nhân nổ ra.
Ở cấp độ toàn diện
Cấp độ này xảy ra khi các nước sử dụng với số lượng lớn vũ khí hạt nhân tấn công toàn bộ một quốc gia, bao gồm cả mục tiêu quân sự và dân sự.
Cuộc tấn công như vậy nhằm phá hủy toàn bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, quân sự của một quốc gia thông qua tấn công hạt nhân áp đảo.
Nếu xảy ra cuộc chiến hạt nhân trên quy mô toàn diện như thế này thì có thể khiến cho loài người tuyệt chủng.
Đây là một trong những thảm họa khiến loài người tự diệt vong. Hình min họa
Đây là một trong những thảm họa khiến loài người tự diệt vong. Hình min họa
Hoặc, chỉ có một số ít sống sót (những người ở những vùng xa cuộc chiến) nhưng với mức sống và tuổi thọ chỉ tương đương với thời kỳ trước Trung cổ trong nhiều thế kỷ.
Ngoài ra, nó cũng sẽ hủy diệt hệ sinh thái và tác động khủng khiếp đến khí hậu Trái Đất.
“Mùa đông hạt nhân” là một giả thuyết mà các nhà khoa học Mỹ đưa ra vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Các nhà nghiên cứu cho rằng, sau chiến tranh hạt nhân, thời tiết và khí hậu Trái đất sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Đại chiến hạt nhân sẽ làm cho nhiệt độ bề mặt Trái đất giảm ở mức rất lớn.
Đại chiến hạt nhân sẽ làm cho nhiệt độ bề mặt Trái đất giảm ở mức rất lớn.
Tức là đại chiến hạt nhân sẽ làm cho nhiệt độ bề mặt Trái Đất giảm ở mức rất lớn. Các vụ nổ hạt nhân trong không trung sẽ làm cho một lượng lớn khói bụi "chu du" vào lớp khí quyển.
Kết quả là, đại bộ phận bức xạ Mặt Trời đi vào tầng khí quyển bị lớp khói bụi hạt nhân này hấp thu và lượng ánh sáng Mặt trời xuống được tới Trái Đất giảm rõ rệt.
Bầu trời bị bao trùm bởi khói và bụi trở nên u ám, cây cối vì vậy không thể sống được dẫn đến lượng oxi giảm đi nhanh chóng, sự sống cũng lụi tàn.
Rõ ràng, một cuộc chiến tranh hạt nhân, dù lớn dù nhỏ, cũng tác hại lớn và gây chết chóc khôn xiết cho con người, không chỉ trong phạm vi một hai quốc gia tham chiến mà còn ảnh hưởng rộng lớn.
Thậm chí cho tất cả loài người trên toàn cầu; không loại trừ một quốc gia nào.
Bởi vậy, ngày nào vũ khí hạt nhân còn tồn tại thì nỗi ám ảnh về Ngày Tận thế khiến Trái Đất quay trở về thời tiền sử mấy trăm vạn năm trước sẽ luôn hiện diện.
Xem video:
Video mô phỏng vụ nổ hạt nhân
* Bài viết tham khảo các nguồn: Wikipedia, Zing, VNN, Kenh14
theo Trí Thức Trẻ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32