TÌNH YÊU CUỘC SỐNG 10
(ĐC sưu tầm trên NET)
Thế thì tiễn biệt nhau thôi, vướng bận lòng nhau làm gì thêm nữa?
Người đã cũ nghĩa là người không còn vương đến hiện tại, tương lai. Hãy cất gọn vào tim nhân một ngày trời không nổi bão. Yêu thương nhuốm màu kỷ niệm, tôn trọng quá khứ trong nhau là cách để tôn trọng tim mình. Đừng khơi nhớ gợn thương làm gì nữa nhé những trái tim tội nghiệp. Dứt khoát một lần để cơn đau này tắt ngấm, được không?
Tình đã cũ nghĩa là chúng ta đã đi về hai hướng riêng biệt. Người thành người dưng, thành người xa lạ. Hãy để người đi không một chút muộn phiền, quay đầu về phía nhau chỉ khiến mắt thêm cay và lòng thêm đắng. Chúng ta đã dũng cảm chia tay nhau, thì hãy chia tay cả những buồn vui trước đó, được không?
Có thể vì còn yêu nên lòng còn níu, tim còn yếu mềm thổn thức từng
đêm. Nhưng dại khờ đong đầy theo năm tháng cũng cạn kiệt. Vắt sức mình
cho nhớ mong cũng khô gầy. Ai rồi cũng sẽ nhận ra chẳng có tình yêu nào
là mãi mãi, nhất là tình yêu với một người đã ở xa.
Thôi thì người cứ đi và ta vẫn dại khờ cứ ở. Nhưng là ở lại sâu một góc khuất của tim mềm, rồi nương náu vào một vài ngày cong mình thương nhớ. Đuổi nỗi nhớ đi rồi ta cũng cất bước ra đi. Có như thế bước mới nhẹ và tim mới đỏ đầy, với tìm một thương yêu khác tròn vẹn hơn.
Thôi thì chào nhau một lần như một nụ cười không vướng bận. Sẽ chẳng còn nước mắt để khóc cho tình đau, chẳng còn nụ cười hờ hững trách vội ai quên lời đã hứa. Tình chết yểu là do tình không muốn lớn, có tim ai nào muốn thế, chỉ là lẽ tự nhiên thôi.
Cứ đi về phía trước như thể ngày mai luôn hửng nắng và tim đã gọn gàng bởi những vết xước đã lành da. Gắng gượng lên để thấy rồi nỗi đau nào cũng sẽ trôi xa. Không ngày này thì một ngày nào đó khác. Chỉ là một lần tiễn biệt nhau, thay cho câu cảm ơn hay lời chào. Nhắc nhớ rằng, chúng ta đã từng thuộc về nhau, trong tim nhau, ít nhất một lần của những ngày đã cũ…
Điều quý giá nhất
Quang sinh ra trong một
gia đình nghèo. Bố Quang là thương binh, làm nghề sửa xe ở đầu phố. Mẹ
Quang bán hàng ăn sáng trước cổng trường cấp 3 gần nhà. Còn nhắc đến nhà
Hạnh, ai cũng phải trầm trồ trước cái gia tài mà họ có được sau bao năm
buôn bán lớn. Nhà Hạnh chỉ có mình Hạnh, và vì thế khi chuyện tình của
Hạnh với Quang bắt đầu, không ai không đặt một dấu chấm hỏi.
Quang gặp Hạnh trong một đêm đông lạnh. Chiếc xe máy đắt tiền mà Hạnh
đi thủng săm buộc cô phải dắt bộ. Và chính Quang – người đi cùng đoạn
đường đã giúp Hạnh đưa chiếc xe đó đến cửa hàng của bố mình để sửa. Nhìn
bộ dạng của Hạnh lúc đó hẳn chẳng ai có một cảm giác dễ chịu: tóc nhuộm
đủ thứ màu gớm ghiếc và gương mặt phủ lên một lớp phấn dày bự. Ngồi
cùng Hạnh đợi chiếc xe được sửa xong, liếc nhìn đồng hồ Quang thấy đã
quá 11h đêm, bèn nhắc: “Sao em không điện thoại về cho bố mẹ em con gái
mà về muộn thế này chắc bố mẹ em lo lắm”.
Dù trời tối, nhưng Quang vẫn nhận ra đôi mắt Hạnh ầng ậc nước, Hạnh nói bằng cái giọng bất cần nhưng vẫn không giấu nổi sự nghẹn ngào: “Làm gì có ai lo chứ, họ bận đủ thứ chẳng có sức mà lo đâu, em quen rồi”. Và đêm đó, Quang tình nguyện đưa Hạnh về với nỗi trăn trở về một người con gái có gì đó như đang phải trải qua sự cô đơn nhiều lắm.
Sau lần gặp đó, họ trao đổi cho nhau số điện thoại. Và mỗi lần trò chuyện cùng Hạnh, Quang hiểu được tâm hồn người con gái mà người ngoài nhìn vào thường nói: “Sướng không biết đường sướng”. Bố mẹ Hạnh lao vào làm ăn và chẳng để tâm tới con mình. Hạnh lớn lên trong thiếu hụt sự quan tâm của bố mẹ và sự dư thừa của cải mà cũng chính bố mẹ cô tạo ra. Chính vì thế mà Hạnh nổi loạn, phá phách và ngang tàn. Nhưng thực ra trong con người tưởng chừng “hư hỏng” đó là một trái tim đa cảm và khát khao yêu thương hơn ai hết.
Chính những dòng tin nhắn, những sự sẻ chia từ chàng trai nhà nghèo tên Quang ấy đã dần giúp Hạnh thay đổi bản thân mình. Cô muốn sống một cuộc sống tốt hơn. Quang cứ lặng lẽ, âm thầm bên Hạnh để Hạnh nhận ra mình không hề cô độc. Và khi Hạnh bắt đầu thay đổi lối sống của mình, từ ngoại hình, lời ăn tiếng nói đến tính cách cũng chính là lúc họ nhận ra, trái tim họ đập cùng một nhịp.
Họ bắt đầu yêu bằng cuộc hèn hò đầu tiên bên một quán nước nhỏ. Quang không tin vào mắt mình khi thấy Hạnh. Mái tóc với đủ thứ màu, xoăn tít được thay bằng mái tóc đen, dài ngang vai và duỗi thẳng điệu đà. Khuôn mặt mộc của cô chỉ được tô điểm bằng một màu son hồng nhạt nhưng lại làm cô đẹp hơn bao giờ hết. Cô mặc một chiếc áo sơ mi màu trắng trông thật hiền. Họ đến với nhau và cuộc tình của họ không ít những lời bàn ra, tán vào.
Người thì cho rằng Quang là kẻ hám tiền, quyết tâm yêu và lấy Hạnh
chỉ để được làm rể một gia đình giàu có. Kẻ lại bảo sao Quang con nhà
hiền lành tử tế lại đi yêu một con bé từng biết “đủ mùi đời”, ăn nói
xấc xược… Khi nghe những lời phán xét cay nghiệt ấy, Hạnh đã gục đầu
vào vai Quang mà khóc nức lên: “Anh ơi, em xin thề, em từng nổi loạn,
nhưng lí do của hành động đó là vì em muốn bố mẹ em quan tâm đến em, chứ
tuyệt nhiên em vẫn giữ mình trong trắng. Xin anh hãy tin em!”. Quang
không nói gì, anh nhẹ nhàng đặt lên mắt Hạnh một nụ hôn đầy sự trân
trọng.
Không chỉ có vậy, tình yêu của Quang và Hạnh gặp phải sự phản đối quyết liệt từ phía hai gia đình. Khi biết con trai mình đem lòng yêu Hạnh, bố mẹ Quang e dè sợ miệng đời chua ngoa lại nghĩ nhà mình hám của, mặt khác, Hạnh là một cô gái xuất thân giàu có, liệu có phù hợp làm dâu con nhà nghèo như mình không?! Lần đó, chính Hạnh đã tìm đến tận nơi thuyết phục bố mẹ Quang: “Con biết, con còn nhiều thiếu xót lắm, để làm dâu, làm vợ con còn phải học hỏi và cố gắng rất nhiều vì con vốn không phải làm gì. Nhưng con xin hai bác cho con cơ hội, vì con và anh Quang yêu nhau thật lòng. Chính anh Quang đã làm thay đổi cuộc đời con, nếu không có anh ấy chắc con đã để cuộc đời mình trôi xuôi rồi. Xin hai bác hãy cho con cơ hội!”.
Hạnh nói và làm, cô thường xuyên đến nhà Quang, xin bác gái dạy cho cách nấu nướng, rồi dọn dẹp nhà cửa… Thấy hai đứa yêu nhau nhiều quá, bố mẹ Quang ban đầu ái ngại nhưng dần già rồi cũng chấp thuận.
Bố mẹ Hạnh tất nhiên có cái lí do to đùng để phản đối, mẹ Hạnh rít lên: “Con ơi là con, yêu ai không yêu lại đi yêu cái thằng khố rách áo ôm như thế thì nhờ cậy gì, mà chắc gì nó đã yêu mày thật lòng hay nó chỉ nhăm nhe cái gia tài nhà mình hả con. Mày cứ bỏ nó đi, rồi mẹ giới thiệu cho một thằng con nhà giàu có mà nương tựa, cả đời tha hồ mà hưởng thụ. Còn mày mà cứ quyết tâm lấy nó thì đừng tơ tưởng đến một đồng một hào nào, cũng chẳng có của hồi môn hồi miếc gì hết”.
Hạnh nhìn sâu vào mắt mẹ: “Bố mẹ có bao giờ biết tình yêu có sức mạnh như thế nào không? Có lẽ bố mẹ không biết, chính anh Quang đã giúp con thoát khỏi sự bế tắc của mình, và chỉ bên người đàn ông đó con mới hạnh phúc thôi. Những của cải và tiền bạc xin bố mẹ cứ giữ cho riêng mình, vì con đã có một thứ của cải lớn nhất đời rồi, đó là tình yêu”.
Hạnh và Quang cưới nhau trong một lễ cưới giản dị và ấm cúng. Ai trong đám cưới đó cũng rưng rưng xúc động khi cô dâu nói về cái mà cô nhận được từ người đàn ông của cuộc đời cô. Và tất cả những ai đã từng nghĩ về một nguyên cớ nào khác đều nhận ra rằng chỉ có tình yêu mới là điều đáng quý nhất.
(nguồn: Hoài Thu – Internet)
Dù trời tối, nhưng Quang vẫn nhận ra đôi mắt Hạnh ầng ậc nước, Hạnh nói bằng cái giọng bất cần nhưng vẫn không giấu nổi sự nghẹn ngào: “Làm gì có ai lo chứ, họ bận đủ thứ chẳng có sức mà lo đâu, em quen rồi”. Và đêm đó, Quang tình nguyện đưa Hạnh về với nỗi trăn trở về một người con gái có gì đó như đang phải trải qua sự cô đơn nhiều lắm.
Sau lần gặp đó, họ trao đổi cho nhau số điện thoại. Và mỗi lần trò chuyện cùng Hạnh, Quang hiểu được tâm hồn người con gái mà người ngoài nhìn vào thường nói: “Sướng không biết đường sướng”. Bố mẹ Hạnh lao vào làm ăn và chẳng để tâm tới con mình. Hạnh lớn lên trong thiếu hụt sự quan tâm của bố mẹ và sự dư thừa của cải mà cũng chính bố mẹ cô tạo ra. Chính vì thế mà Hạnh nổi loạn, phá phách và ngang tàn. Nhưng thực ra trong con người tưởng chừng “hư hỏng” đó là một trái tim đa cảm và khát khao yêu thương hơn ai hết.
Chính những dòng tin nhắn, những sự sẻ chia từ chàng trai nhà nghèo tên Quang ấy đã dần giúp Hạnh thay đổi bản thân mình. Cô muốn sống một cuộc sống tốt hơn. Quang cứ lặng lẽ, âm thầm bên Hạnh để Hạnh nhận ra mình không hề cô độc. Và khi Hạnh bắt đầu thay đổi lối sống của mình, từ ngoại hình, lời ăn tiếng nói đến tính cách cũng chính là lúc họ nhận ra, trái tim họ đập cùng một nhịp.
Họ bắt đầu yêu bằng cuộc hèn hò đầu tiên bên một quán nước nhỏ. Quang không tin vào mắt mình khi thấy Hạnh. Mái tóc với đủ thứ màu, xoăn tít được thay bằng mái tóc đen, dài ngang vai và duỗi thẳng điệu đà. Khuôn mặt mộc của cô chỉ được tô điểm bằng một màu son hồng nhạt nhưng lại làm cô đẹp hơn bao giờ hết. Cô mặc một chiếc áo sơ mi màu trắng trông thật hiền. Họ đến với nhau và cuộc tình của họ không ít những lời bàn ra, tán vào.
Không chỉ có vậy, tình yêu của Quang và Hạnh gặp phải sự phản đối quyết liệt từ phía hai gia đình. Khi biết con trai mình đem lòng yêu Hạnh, bố mẹ Quang e dè sợ miệng đời chua ngoa lại nghĩ nhà mình hám của, mặt khác, Hạnh là một cô gái xuất thân giàu có, liệu có phù hợp làm dâu con nhà nghèo như mình không?! Lần đó, chính Hạnh đã tìm đến tận nơi thuyết phục bố mẹ Quang: “Con biết, con còn nhiều thiếu xót lắm, để làm dâu, làm vợ con còn phải học hỏi và cố gắng rất nhiều vì con vốn không phải làm gì. Nhưng con xin hai bác cho con cơ hội, vì con và anh Quang yêu nhau thật lòng. Chính anh Quang đã làm thay đổi cuộc đời con, nếu không có anh ấy chắc con đã để cuộc đời mình trôi xuôi rồi. Xin hai bác hãy cho con cơ hội!”.
Hạnh nói và làm, cô thường xuyên đến nhà Quang, xin bác gái dạy cho cách nấu nướng, rồi dọn dẹp nhà cửa… Thấy hai đứa yêu nhau nhiều quá, bố mẹ Quang ban đầu ái ngại nhưng dần già rồi cũng chấp thuận.
Bố mẹ Hạnh tất nhiên có cái lí do to đùng để phản đối, mẹ Hạnh rít lên: “Con ơi là con, yêu ai không yêu lại đi yêu cái thằng khố rách áo ôm như thế thì nhờ cậy gì, mà chắc gì nó đã yêu mày thật lòng hay nó chỉ nhăm nhe cái gia tài nhà mình hả con. Mày cứ bỏ nó đi, rồi mẹ giới thiệu cho một thằng con nhà giàu có mà nương tựa, cả đời tha hồ mà hưởng thụ. Còn mày mà cứ quyết tâm lấy nó thì đừng tơ tưởng đến một đồng một hào nào, cũng chẳng có của hồi môn hồi miếc gì hết”.
Hạnh nhìn sâu vào mắt mẹ: “Bố mẹ có bao giờ biết tình yêu có sức mạnh như thế nào không? Có lẽ bố mẹ không biết, chính anh Quang đã giúp con thoát khỏi sự bế tắc của mình, và chỉ bên người đàn ông đó con mới hạnh phúc thôi. Những của cải và tiền bạc xin bố mẹ cứ giữ cho riêng mình, vì con đã có một thứ của cải lớn nhất đời rồi, đó là tình yêu”.
Hạnh và Quang cưới nhau trong một lễ cưới giản dị và ấm cúng. Ai trong đám cưới đó cũng rưng rưng xúc động khi cô dâu nói về cái mà cô nhận được từ người đàn ông của cuộc đời cô. Và tất cả những ai đã từng nghĩ về một nguyên cớ nào khác đều nhận ra rằng chỉ có tình yêu mới là điều đáng quý nhất.
(nguồn: Hoài Thu – Internet)
Truyện tình có thực giữa đời
Mang trong mình căn bệnh
hiểm nghèo, Dương Mạnh Kiên (thôn 5, xã Quảng Châu, TP Hưng Yên) đã từng
nhiều lần nghĩ đến cái chết để tự giải thoát cho mình và cho những
người thân yêu. Nhưng số phận run rủi đã cho Kiên làm quen được với
người con gái quê tận Đồng Tháp. Hai con người ở hai phương trời xa lạ
đã gặp nhau, yêu nhau và làm nên một câu chuyện cổ tích giữa thời hiện
đại…
Tuổi thơ bệnh tật
Dương Mạnh Kiên sinh năm 1987, là con cả trong một gia đình có ba anh em trai thì cả ba người cùng bị mắc một căn bệnh hiểm nghèo: máu không đông (tên khoa học là Hemophilli). Lên bảy tuổi, trong một lần bị ngã bình thường, tay của Kiên sưng tấy lên mãi không khỏi. Lo lắng trước tình trạng bất thường của con, bố mẹ Kiên đã đưa Kiên lên bệnh viện tỉnh.
Tại đây, các bác sĩ chẩn đoán Kiên bị viêm cơ có mủ. Nhưng khi làm tiểu phẫu thì không thấy mủ mà máu tươi thì chảy mãi không cầm. Hai tuần trụ tại bệnh viện tỉnh, bệnh không khỏi mà thể trạng Kiên ngày càng yếu đi, mặt mày xanh như tàu lá, bàn tay co quắp lại. Thấy thế, một bác sĩ khuyên gia đình nên đưa Kiên lên Bệnh viện Nhi Trung ương. Tại đây, các bác sĩ đã kết luận Kiên bị chứng rối loạn đông máu. Nghe tin mà như sét đánh ngang tai, mẹ Kiên đã ngất ngay tại chỗ.
Kể từ ngày ấy, bệnh viện đã trở thành ngôi nhà thứ hai của Kiên. Kiên ở viện thậm chí còn nhiều hơn ở nhà. Tuổi thơ nhọc nhằn trôi theo những lần tiếp máu, những xét nghiệm liên miên. Và cũng từ ngày đó, của cải trong nhà cứ lần lượt ra đi để đổi lấy những bịch máu duy trì sự sống cho Kiên.
Nhà nghèo nên không phải lúc nào lên cơn đau đớn, Kiên cũng có thể đến bệnh viện ngay được. Thế là trong cái khó ló cái khôn, Kiên nghĩ ra một cách để giảm đau tạm thời là dùng dây chun buộc chặt chân rồi treo lên cửa sổ. Trong thời gian ấy bố mẹ Kiên sẽ đi xoay tiền đưa con đi bệnh viện.
Cả Kiên và hai người em trai chân tay đều bị biến dạng, teo tóp. Các khuỷu tay và khuỷu chân không gập lại được, đi lại như rô bốt. Thế nên ở nhà Kiên, nếu dải chiếu ăn cơm thì ba anh em phải ngồi ba mâm vì chân không thể quặp lại được.
Cuộc gặp gỡ định mệnh
Kiên ngồi đó, bên người vợ hiền và đứa con gái xinh xắn kể lại cho chúng tôi nghe những khoảnh khắc định mệnh của đời mình. Hết quãng đời tuổi thơ lại sang cả quãng đời tuổi trẻ, Kiên không biết thứ gì hơn ngoài những lần truyền máu và những tháng ngày rã rời đóng đô tại bệnh viện. Tuyệt vọng và bế tắc, Kiên đã từng nghĩ đến cái chết để giải thoát cho mình và cho bố mẹ khỏi khổ. Nhưng cuộc điện thoại của một người con gái xa lạ đã kéo Kiên ra khỏi vũng lầy tuyệt vọng. Người con gái ấy chính là vợ Kiên sau này.
Ngày đó, khi đang nằm treo chân bên cửa sổ nghe đài, đến mục kết bạn qua tổng đài đã làm Kiên chú ý. Kiên đã lấy điện thoại và nhắn tới số của tổng đài. Không ngờ một lúc sau, họ đã gửi cho Kiên năm số điện thoại để kết bạn. Nghĩ là, chẳng để làm gì nên trò chơi của Kiên chỉ dừng lại ở đó. Nhưng bẵng đi khoảng vài ngày, một số điện thoại lạ đã gọi cho Kiên, nói giọng miền Nam rất ngọt. Kiên hỏi sao cô ấy lại biết số của mình thì cô ấy nói cô ấy tham gia mục kết bạn và không hiểu sao cô ấy bỏ qua bốn số điện thoại kia và chỉ chọn số của Kiên để gọi. Cô gái ấy tên là Đoàn Thị Kim Sơn, sinh năm 1986, quê ở Đồng Tháp.
Thế rồi sau cuộc điện thoại làm quen ấy, ngày nào đôi trẻ cũng nhắn tin và chia sẻ cùng nhau rồi họ gửi cả ảnh cho nhau xem. Đến khi cảm nhận được tình cảm của cả hai bên đã khá gắn bó, Kiên lấy hết dũng khí để kể cho Sơn nghe về tình trạng sức khỏe của mình. Kiên nói ra là để cho lòng thanh thản và cũng là để cho người bạn gái ấy đỡ tốn thêm thời gian vô ích với mình. Nhưng thật không ngờ, sau khi nghe Kiên nói, Sơn đã không những không có ý định dừng lại mối quan hệ này mà còn hẹn sau Tết sẽ ra thăm Kiên.
Khỏi phải nói, từ sau khi bạn gái hứa như vậy, Kiên đã vui như chưa
từng bao giờ được vui như thế. Dù trong lòng vẫn phấp phỏng lo rằng, chả
ích gì đâu, nếu cô ấy ra và nhìn thấy gia cảnh cũng như bệnh tật của
bản thân mình, nhưng con tim yếu đuối vẫn luôn hy vọng sẽ có một kết
thúc có hậu dù rất mong manh.
Như một giấc mơ, sáng mồng 4 Tết năm 2009, người bạn gái nhỏ đã có mặt tại nhà Kiên. Không chỉ Kiên vui mà cả gia đình Kiên ai nấy đều hoan hỉ. Ai cũng hy vọng đây sẽ là sự khởi đầu tốt đẹp cho một mối quan hệ sâu sắc hơn. Tuy vui là vậy, nhưng mẹ của Kiên khi ấy vẫn nghĩ rằng mình phải có trách nhiệm khẳng định lại tình trạng bệnh tật của con trai mình cho Sơn biết. Còn quyết định ra sao đó là quyền của Sơn.
Bà bảo với Sơn rằng: “Cháu nên cân nhắc kỹ càng trước khi quyết định. Con của bác nó bị bệnh máu không đông không có khả năng chữa khỏi, sức khỏe rất yếu. Có thể bây giờ hai đứa yêu nhau nên chưa cảm thấy gì, sau này sống chung với Kiên, thấy Kiên bệnh tật triền miên cháu chán mà bỏ nó thì coi như lỡ dở một đời. Lúc đó, cháu khổ mà Kiên cũng khổ”.
Trước những lời cảnh tỉnh của mẹ Kiên, Sơn vẫn không mảy may dao động. Có thể Sơn đã không nghĩ nhiều đến thế. Sơn chỉ biết rằng mình thực sự yêu Kiên và ở bên Kiên, Sơn thấy mình hạnh phúc. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, hội ngộ chưa đầy 24 tiếng thì Sơn đã phải cùng gia đình đưa Kiên đi cấp cứu. Và ròng rã hơn một tuần trời sau đó, không phải là những chuyến đi chơi lãng mạn, nhiều kỷ niệm mà thay vào đó là những ngày vất vả chăm sóc người yêu trong bệnh viện.
Sơn làm những việc đó tự nguyện và tự nhiên cứ như thể nó là trách nhiệm của Sơn vậy. Sau lần ra thăm gia cảnh của người yêu, nhất là sau khi tận mắt chứng kiến những cơn đau hành hạ Kiên, Sơn đã hứa với lòng sẽ cùng Kiên vượt qua tất cả. Trước khi về lại Đồng Tháp, hai người đã nghiêm túc tính tới chuyện trăm năm.
Và một kết thúc có hậu
Về lại Đồng Tháp, vì đột ngột thông báo với gia đình là sẽ kết hôn với một chàng trai ngoài Bắc nên Sơn đã vấp phải sự phản đối dữ dội của những người thân trong gia đình. Bố mẹ và các em của Sơn không muốn Sơn lấy chồng xa nhưng khi thấy Sơn quyết tâm quá cũng đành xuôi lòng.
Về phần Kiên, để chuẩn bị cho đám cưới của mình diễn ra suôn sẻ không gặp sự cố gì, Kiên đã phải đi tiếp máu và nằm viện trước đó một tuần. Người ta đi đón dâu thì rộn ràng, náo nhiệt còn Kiên đi lấy vợ chỉ có hai mẹ con. Dù rất muốn làm đẹp mặt cô dâu nhưng gia đình Kiên không chạy đâu ra tiền để mời thêm vài người bà con vào đón dâu cho ra dáng một đám cưới.
Đường xá xa xôi, đến khi vào đó lại phải đi lại nhiều để tiếp khách, người Kiên như lả đi và đôi chân sưng phù lên. Kiên bảo: “Nếu như phải tiếp khách thêm chỉ khoảng mười lăm phút nữa thôi chắc em sẽ nằm lăn tại nhà cô dâu mất”. Bước chân ra khỏi nhà vợ cũng là lúc Kiên không thể tự mình đi được nữa. Thế là, một bên mẹ, một bên vợ sốc hai bên nách chú rể lên xe. Và kể từ lúc lên xe, Kiên nằm bất động.
Ra Bắc, đoàn rước dâu đã không thể về nhà để chia vui với gia đình mà phải chạy thẳng đến Bệnh viện huyết học để cấp cứu chú rể. Chẳng có đêm tân hôn, chỉ có những ngày căng thẳng lo cho sức khỏe của chồng. Hai ngày sau đó, Kiên mới được về nhà và làm cơm báo hỉ. Tôi hỏi, có phút giây nào đó Sơn cảm thấy chạnh lòng và hối hận vì quyết định vội vã của mình không thì Sơn cười bảo rằng: “Chạnh lòng thì có chứ hối hận thì không”.
Từ ngày lấy nhau, căn bệnh quái ác vẫn hành hạ Kiên triền miên. Sức khỏe yếu nên Kiên không thể theo đuổi một công việc ổn định, thường thì ai thuê gì Kiên làm nấy. Lúc thì quét sơn, khi lại làm điện nước. Mọi chi phí trong nhà hầu hết đều dựa vào những đồng tiền ít ỏi từ công may thuê của Sơn. Không những thế, tháng nào Kiên cũng phải đi viện ít nhất một lần thế nên tiền kiếm được bao nhiêu cũng không đủ lo cho bệnh tật của chồng. Vất vả là vậy nhưng Sơn không một lời ca thán. Tất cả những lần chồng ốm đau, Sơn đều ở bên động viên và chăm chút cho Kiên.
Sau hơn hai năm lấy nhau, giờ đôi trẻ đã có lưng vốn để dành là cô con gái xinh xắn và rất đáng yêu. Bé Dương Huyền Diệu Thảo ra đời chính là món quà ý nghĩa nhất mà ông trời đã ban tặng cho hai con người dám sống cho tình yêu. Vẫn biết rằng cuộc sống phía trước còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng với tình yêu lớn lao mà họ đã và đang dành cho nhau, tôi tin rằng hạnh phúc sẽ luôn mỉm cười bên họ.
(Nguồn: Hoàng Dương – Internet)
Dương Mạnh Kiên sinh năm 1987, là con cả trong một gia đình có ba anh em trai thì cả ba người cùng bị mắc một căn bệnh hiểm nghèo: máu không đông (tên khoa học là Hemophilli). Lên bảy tuổi, trong một lần bị ngã bình thường, tay của Kiên sưng tấy lên mãi không khỏi. Lo lắng trước tình trạng bất thường của con, bố mẹ Kiên đã đưa Kiên lên bệnh viện tỉnh.
Tại đây, các bác sĩ chẩn đoán Kiên bị viêm cơ có mủ. Nhưng khi làm tiểu phẫu thì không thấy mủ mà máu tươi thì chảy mãi không cầm. Hai tuần trụ tại bệnh viện tỉnh, bệnh không khỏi mà thể trạng Kiên ngày càng yếu đi, mặt mày xanh như tàu lá, bàn tay co quắp lại. Thấy thế, một bác sĩ khuyên gia đình nên đưa Kiên lên Bệnh viện Nhi Trung ương. Tại đây, các bác sĩ đã kết luận Kiên bị chứng rối loạn đông máu. Nghe tin mà như sét đánh ngang tai, mẹ Kiên đã ngất ngay tại chỗ.
Kể từ ngày ấy, bệnh viện đã trở thành ngôi nhà thứ hai của Kiên. Kiên ở viện thậm chí còn nhiều hơn ở nhà. Tuổi thơ nhọc nhằn trôi theo những lần tiếp máu, những xét nghiệm liên miên. Và cũng từ ngày đó, của cải trong nhà cứ lần lượt ra đi để đổi lấy những bịch máu duy trì sự sống cho Kiên.
Nhà nghèo nên không phải lúc nào lên cơn đau đớn, Kiên cũng có thể đến bệnh viện ngay được. Thế là trong cái khó ló cái khôn, Kiên nghĩ ra một cách để giảm đau tạm thời là dùng dây chun buộc chặt chân rồi treo lên cửa sổ. Trong thời gian ấy bố mẹ Kiên sẽ đi xoay tiền đưa con đi bệnh viện.
Cả Kiên và hai người em trai chân tay đều bị biến dạng, teo tóp. Các khuỷu tay và khuỷu chân không gập lại được, đi lại như rô bốt. Thế nên ở nhà Kiên, nếu dải chiếu ăn cơm thì ba anh em phải ngồi ba mâm vì chân không thể quặp lại được.
Cuộc gặp gỡ định mệnh
Kiên ngồi đó, bên người vợ hiền và đứa con gái xinh xắn kể lại cho chúng tôi nghe những khoảnh khắc định mệnh của đời mình. Hết quãng đời tuổi thơ lại sang cả quãng đời tuổi trẻ, Kiên không biết thứ gì hơn ngoài những lần truyền máu và những tháng ngày rã rời đóng đô tại bệnh viện. Tuyệt vọng và bế tắc, Kiên đã từng nghĩ đến cái chết để giải thoát cho mình và cho bố mẹ khỏi khổ. Nhưng cuộc điện thoại của một người con gái xa lạ đã kéo Kiên ra khỏi vũng lầy tuyệt vọng. Người con gái ấy chính là vợ Kiên sau này.
Ngày đó, khi đang nằm treo chân bên cửa sổ nghe đài, đến mục kết bạn qua tổng đài đã làm Kiên chú ý. Kiên đã lấy điện thoại và nhắn tới số của tổng đài. Không ngờ một lúc sau, họ đã gửi cho Kiên năm số điện thoại để kết bạn. Nghĩ là, chẳng để làm gì nên trò chơi của Kiên chỉ dừng lại ở đó. Nhưng bẵng đi khoảng vài ngày, một số điện thoại lạ đã gọi cho Kiên, nói giọng miền Nam rất ngọt. Kiên hỏi sao cô ấy lại biết số của mình thì cô ấy nói cô ấy tham gia mục kết bạn và không hiểu sao cô ấy bỏ qua bốn số điện thoại kia và chỉ chọn số của Kiên để gọi. Cô gái ấy tên là Đoàn Thị Kim Sơn, sinh năm 1986, quê ở Đồng Tháp.
Thế rồi sau cuộc điện thoại làm quen ấy, ngày nào đôi trẻ cũng nhắn tin và chia sẻ cùng nhau rồi họ gửi cả ảnh cho nhau xem. Đến khi cảm nhận được tình cảm của cả hai bên đã khá gắn bó, Kiên lấy hết dũng khí để kể cho Sơn nghe về tình trạng sức khỏe của mình. Kiên nói ra là để cho lòng thanh thản và cũng là để cho người bạn gái ấy đỡ tốn thêm thời gian vô ích với mình. Nhưng thật không ngờ, sau khi nghe Kiên nói, Sơn đã không những không có ý định dừng lại mối quan hệ này mà còn hẹn sau Tết sẽ ra thăm Kiên.
Như một giấc mơ, sáng mồng 4 Tết năm 2009, người bạn gái nhỏ đã có mặt tại nhà Kiên. Không chỉ Kiên vui mà cả gia đình Kiên ai nấy đều hoan hỉ. Ai cũng hy vọng đây sẽ là sự khởi đầu tốt đẹp cho một mối quan hệ sâu sắc hơn. Tuy vui là vậy, nhưng mẹ của Kiên khi ấy vẫn nghĩ rằng mình phải có trách nhiệm khẳng định lại tình trạng bệnh tật của con trai mình cho Sơn biết. Còn quyết định ra sao đó là quyền của Sơn.
Bà bảo với Sơn rằng: “Cháu nên cân nhắc kỹ càng trước khi quyết định. Con của bác nó bị bệnh máu không đông không có khả năng chữa khỏi, sức khỏe rất yếu. Có thể bây giờ hai đứa yêu nhau nên chưa cảm thấy gì, sau này sống chung với Kiên, thấy Kiên bệnh tật triền miên cháu chán mà bỏ nó thì coi như lỡ dở một đời. Lúc đó, cháu khổ mà Kiên cũng khổ”.
Trước những lời cảnh tỉnh của mẹ Kiên, Sơn vẫn không mảy may dao động. Có thể Sơn đã không nghĩ nhiều đến thế. Sơn chỉ biết rằng mình thực sự yêu Kiên và ở bên Kiên, Sơn thấy mình hạnh phúc. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, hội ngộ chưa đầy 24 tiếng thì Sơn đã phải cùng gia đình đưa Kiên đi cấp cứu. Và ròng rã hơn một tuần trời sau đó, không phải là những chuyến đi chơi lãng mạn, nhiều kỷ niệm mà thay vào đó là những ngày vất vả chăm sóc người yêu trong bệnh viện.
Sơn làm những việc đó tự nguyện và tự nhiên cứ như thể nó là trách nhiệm của Sơn vậy. Sau lần ra thăm gia cảnh của người yêu, nhất là sau khi tận mắt chứng kiến những cơn đau hành hạ Kiên, Sơn đã hứa với lòng sẽ cùng Kiên vượt qua tất cả. Trước khi về lại Đồng Tháp, hai người đã nghiêm túc tính tới chuyện trăm năm.
Và một kết thúc có hậu
Về lại Đồng Tháp, vì đột ngột thông báo với gia đình là sẽ kết hôn với một chàng trai ngoài Bắc nên Sơn đã vấp phải sự phản đối dữ dội của những người thân trong gia đình. Bố mẹ và các em của Sơn không muốn Sơn lấy chồng xa nhưng khi thấy Sơn quyết tâm quá cũng đành xuôi lòng.
Về phần Kiên, để chuẩn bị cho đám cưới của mình diễn ra suôn sẻ không gặp sự cố gì, Kiên đã phải đi tiếp máu và nằm viện trước đó một tuần. Người ta đi đón dâu thì rộn ràng, náo nhiệt còn Kiên đi lấy vợ chỉ có hai mẹ con. Dù rất muốn làm đẹp mặt cô dâu nhưng gia đình Kiên không chạy đâu ra tiền để mời thêm vài người bà con vào đón dâu cho ra dáng một đám cưới.
Đường xá xa xôi, đến khi vào đó lại phải đi lại nhiều để tiếp khách, người Kiên như lả đi và đôi chân sưng phù lên. Kiên bảo: “Nếu như phải tiếp khách thêm chỉ khoảng mười lăm phút nữa thôi chắc em sẽ nằm lăn tại nhà cô dâu mất”. Bước chân ra khỏi nhà vợ cũng là lúc Kiên không thể tự mình đi được nữa. Thế là, một bên mẹ, một bên vợ sốc hai bên nách chú rể lên xe. Và kể từ lúc lên xe, Kiên nằm bất động.
Ra Bắc, đoàn rước dâu đã không thể về nhà để chia vui với gia đình mà phải chạy thẳng đến Bệnh viện huyết học để cấp cứu chú rể. Chẳng có đêm tân hôn, chỉ có những ngày căng thẳng lo cho sức khỏe của chồng. Hai ngày sau đó, Kiên mới được về nhà và làm cơm báo hỉ. Tôi hỏi, có phút giây nào đó Sơn cảm thấy chạnh lòng và hối hận vì quyết định vội vã của mình không thì Sơn cười bảo rằng: “Chạnh lòng thì có chứ hối hận thì không”.
Từ ngày lấy nhau, căn bệnh quái ác vẫn hành hạ Kiên triền miên. Sức khỏe yếu nên Kiên không thể theo đuổi một công việc ổn định, thường thì ai thuê gì Kiên làm nấy. Lúc thì quét sơn, khi lại làm điện nước. Mọi chi phí trong nhà hầu hết đều dựa vào những đồng tiền ít ỏi từ công may thuê của Sơn. Không những thế, tháng nào Kiên cũng phải đi viện ít nhất một lần thế nên tiền kiếm được bao nhiêu cũng không đủ lo cho bệnh tật của chồng. Vất vả là vậy nhưng Sơn không một lời ca thán. Tất cả những lần chồng ốm đau, Sơn đều ở bên động viên và chăm chút cho Kiên.
Sau hơn hai năm lấy nhau, giờ đôi trẻ đã có lưng vốn để dành là cô con gái xinh xắn và rất đáng yêu. Bé Dương Huyền Diệu Thảo ra đời chính là món quà ý nghĩa nhất mà ông trời đã ban tặng cho hai con người dám sống cho tình yêu. Vẫn biết rằng cuộc sống phía trước còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng với tình yêu lớn lao mà họ đã và đang dành cho nhau, tôi tin rằng hạnh phúc sẽ luôn mỉm cười bên họ.
(Nguồn: Hoàng Dương – Internet)
Bức vẽ cuối cùng
Những tia nắng dịu dàng
của một chiều thu muộn cuối cùng cũng tắt hẳn sau mấy tán cây xanh rợp.
Hoàng hôn lập tức khoác lên nghĩa trang một màu trầm buồn u ám, cái sắc
màu như muốn làm người ta tan chảy trong nỗi cô đơn.
Hoàng vẫn ngồi yên trước ngôi mộ nằm khuất trong một góc tĩnh lặng,
nơi có những bụi hoa hồng leo bò lan lên cả tấm bia cẩm thạch. Nhìn anh
khi ấy người ta rất khó đoán được bao nhiêu tuổi, bởi nỗi đau quặn thắt
cứ hằn sâu trên từng nét mặt, khiến anh như đã trải qua cả một cuộc đời
dài dằng dặc buồn thương. Hoàng đã vượt được qua những năm cô đơn khủng
khiếp ấy chỉ với một niềm tin rằng, Châu đang bình yên và hạnh phúc bên
gia đình nhỏ của mình. Dù có chết đi sống lại, anh cũng không thể tưởng
tượng được rằng, đón mình trong ngày về ấy lại chỉ có nấm mồ lạnh ngắt,
không thể tin nổi rằng sẽ không bao giờ còn được ôm lấy bờ vai cô, lùa
tay vào mái tóc cô, hay ghé sát môi thì thầm bên tai cô, rằng anh yêu và
nhớ cô tới chừng nào.
Một cơn đau đớn tột cùng như trào lên bóp nghẹt trái tim Hoàng, anh gục xuống, cảm thấy máu toàn thân đã trở nên lạnh ngắt.
“Anh là… Hoàng phải không?”
Một giọng nam trầm đầy u uẩn chợt vang lên phía sau tạm thời kéo Hoàng ra khỏi nỗi đau thương giằng xé. Anh ngẩng đầu lên, quay lại. Đó là một người đàn ông lớn hơn Hoàng vài tuổi, trông đơn giản nhưng lịch thiệp. Điều khiến Hoàng lập tức chú ý đến là đứa bé đứng sát bên hông người đó. Anh đứng dậy, loạng choạng như muốn ngã. Đôi mắt của Châu, đôi mắt lúc nào cũng như ướt đẫm, đôi mắt luôn đau đáu trong từng giấc ngủ chập chờn của anh, đang mở to trên khuôn mặt đứa bé. Hoàng vội bám vào bia mộ để khỏi gục ngay xuống đó.
Trong khi bé Lâm mải mê với những bông hoa trắng hồng xinh xinh phủ đầy mộ mẹ, hai người đàn ông lặng lẽ ngồi trên chiếc ghế dài cách đó không xa, mỗi người đuổi theo một ý nghĩ khác nhau. Khá lâu sau đó, Hoàng mới cất được thành lời, dù cổ họng anh vẫn nghẹn đắng.
“Cô ấy có đau đớn không?”
“Cũng không quá lâu. Cô ấy cũng đã giành giật sự sống suốt 2 ngày. Trước khi đi, cô ấy chỉ tỉnh lại vài phút…”.
“Tất cả là tại tôi”, Hoàng tưởng như lồng ngực anh đã vỡ vụn ra.
“Không. Châu đi rất thanh thản. Cô ấy muốn tôi chuyển cho anh mấy thứ”. Câu nói ấy được thốt ra khó khăn nhưng giống như một gánh nặng trên vai vừa trút xuống. “Cô ấy tin rằng thế nào cũng có ngày anh quay lại”.
“Tôi…”, giọng Hoàng tắc nghẹn, cảm giác mất mát lại lan khắp cơ thể, trở thành những mũi kim đâm vào từng góc tâm hồn sâu kín nhất. Anh chỉ mong chồng Châu sẽ dừng lại, bất cứ điều gì anh ấy nói ra lúc này chỉ càng khiến anh dễ sụp đổ hơn.
“Dù sao thì tôi cũng đã tha thứ cho anh. Không, có khi tôi còn phải cảm ơn anh. Quãng thời gian ấy, Châu đã vô cùng hạnh phúc”.
Long dắt bé Lâm đi sau khi đặt chiếc hộp gỗ lấy từ trong vòm ngôi mộ xuống cạnh Hoàng. Còn lại một mình trong nghĩa trang lạnh ngắt, Hoàng nằm vật ra ghế, ôm chặt lấy di vật cuối cùng của Châu, khóc không thành tiếng.
Ở tuổi 30, Châu không đẹp một cách lồ lộ như thời thiếu nữ, mà ở cô luôn toát lên một vẻ dịu dàng, duyên dáng và đằm thắm tuyệt vời. Làm ở bộ phận truyền thông của một công ty lớn, Châu thường xuất hiện trước mặt mọi người trong phong thái tự tin, cởi mở nhưng vẫn đoan trang, có chừng mực, thêm vào đó là một chút thông minh, hóm hỉnh và cách thả hồn vào câu chuyện khiến người đối diện thường bị chinh phục chỉ sau vài lần tiếp xúc. Đó là lý do khiến nhiều người đàn ông vẫn nhấp nhổm dù biết rằng cô đã có chồng.
Tụi con gái trẻ trong công ty thường bộc lộ thẳng thắn sự ngưỡng mộ
đối với Châu – nếu như đánh giá bề ngoài, cô có đủ các yếu tố khiến
người ta thèm muốn: một vị trí xứng đáng với năng lực của bản thân, một
người chồng nghiêm chỉnh, đứng đắn, biết làm ăn, một cô con gái lên 3
xinh xắn đáng yêu, kinh tế gia đình ở mức trung bình. Song trong cái
lồng son đẹp đẽ ấy, Châu vẫn cứ cựa quậy không yên.
Khi đó, cuộc hôn nhân của Châu đã bước sang năm thứ 7, vượt qua cái ngưỡng 5 năm mà người ta thường gọi là “thời kỳ khủng hoảng đầu tiên”. Dù vậy, Châu dường như vẫn chưa thể nắm bắt được gì. Từ một người đàn ông lãng mạn, Long trở nên khô khan và vị kỷ. Dường như đối với anh, gia đình đó là bất biến và anh không còn cần phải cố gắng gì hơn trong tình cảm. Anh có thể đi chơi thể thao suốt buổi tối thay vì đưa cô đi xem phim trong những ngày hiếm hoi cô được nghỉ. Thảng hoặc có hôm dậy sớm, anh vô tư nằm xem ti vi dù biết cô thích đến nhường nào một buổi sáng cuối tuần, được nằm lười nhác trên giường thêm một chút và nghe tiếng nhạc du dương phát ra từ chiếc máy quay đĩa họ giữ từ thời độc thân. Anh bắt đầu hút thuốc và nhiều đêm về muộn với hơi thở nồng nặc mùi bia rượu, sau đó lao vào hôn vợ một cách nồng nhiệt thái quá mà không để ý đến cảm xúc rất dễ dàng đổ vỡ của cô. Dù bị những nhu cầu vật chất của ngày thường cuốn trôi đi, nhưng tận trong sâu thẳm tâm hồn, Châu vẫn là một người phụ nữ lãng mạn và nhạy cảm. Chính vì thế, những dòng cảm xúc cô tưởng như đã chết từ lâu, bất chợt ùa về dữ dội khi cô gặp Hoàng. Linh hồn lang thang phiêu bạt trên sa mạc cằn khô như tìm được nơi ký thác.
Lớp tập huấn do công ty mẹ tổ chức ở Lâm Đồng chỉ kéo dài hơn 1 tháng, nhưng thời gian đó đủ để cho Châu và Hoàng “tìm được nhau”. Hoàng làm ở bộ phận kỹ thuật của công ty, thực ra hai người cũng đã biết nhau từ trước khi quen khá lâu. Làm ở các tầng khác nhau, nên thỉnh thoảng lắm Châu mới gặp Hoàng ở thang máy, cũng có khi là trong căng tin của công ty. Không phải cô chưa từng chú ý đến anh, ở anh có một vẻ gì đó rất đặc biệt. Hoàng không đẹp trai, không nổi bật, thậm chí anh luôn khoác lên mình cái vẻ xù xì thô ráp và có phần cứng nhắc của người thuần túy làm kỹ thuật. Anh hay ngồi cách biệt ở một góc gần sân của căng tin, đôi lúc cùng vài đồng nghiệp nam, nhưng ít khi hòa hợp hẳn vào bọn họ. Đôi lần Châu nghe thấy mấy con bé cùng phòng nhắc đến Hoàng như một kẻ lập dị và khó gần cùng những lời bình phẩm chẳng mấy hay ho. Chỉ vậy thôi.
Khóa tập huấn ấy có tới gần 100 học viên đến từ nhiều chi nhánh, phân công ty cả nước, được tổ chức trong khuôn viên đại học Đà Lạt khiến Châu cảm thấy hứng thú vô cùng. Đã nhiều năm qua kể từ ngày tốt nghiệp, cô vẫn ao ước được quay lại sống trong không khí của một lớp học đúng nghĩa với những người bạn vô tư. Ở đó không có sự cạnh tranh, không quyền lợi, không đấu đá mệt mỏi. Người ta nhìn nhau bằng mắt sạch.
Buổi lên lớp đầu tiên, vị giảng viên người Mỹ bất ngờ đưa ra một câu hỏi cực kỳ thú vị liên quan đến nghệ thuật. Học viên tỏ ra lúng túng, nó gần như không liên quan gì đến nội dung khóa tập huấn về kỹ năng cạnh tranh đó. Trong khi tất cả còn đang bàn tán, Hoàng đứng lên. Anh trả lời bằng một thứ tiếng Anh mềm mại và cực kỳ chuẩn xác. Châu lập tức chuyển sự chú ý của mình từ vị diễn giả sang Hoàng và sửng sốt khi phát hiện ra, lúc nói trông anh khác hẳn ngày thường, say sưa và đầy đam mê, khiến lớp vỏ xù xì anh vẫn khoác lên mình như được giũ sạch lúc nào. Khi Hoàng kết thúc, một ý nghĩ đầy trẻ con trỗi dậy, Châu lập tức dùng tất cả vốn hiểu biết của mình để phản bác lại quan điểm của Hoàng. Dường như anh cũng bị bất ngờ, ngay buổi tối hôm đó, khi mở máy tính, Châu thấy Hoàng đã add nick của cô và cả hai tiếp tục tranh luận trên yahoo chat. Đêm ấy, Châu ngủ gục trên bàn phím, miệng hé cười.
Thực ra, sau này Châu cũng không nhớ rõ lắm về những ngày đầu tiên ấy, chỉ biết cô đã trải qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Bất chợt một ngày, cô muốn được quan tâm đến anh, muốn được nói những điều riêng tư nhất với anh. Không biết từ bao giờ, Hoàng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của cô. Cô sống lại cái thời đã trôi qua lâu lắm, cái thời sôi nổi đầy đam mê của tuổi trẻ mà cô đã không sống hết khi còn ở đó. Châu giống như một thiếu nữ ngoan đạo bị nhốt trong tháp ngà lần đầu trốn mẹ đi chơi, háo hức, hồi hộp, sung sướng trước thế giới rộng lớn đầy màu sắc lung linh bên ngoài, nhưng lại không quên mặc cảm tội lỗi vì đã làm trái lời người lớn. Cô hạnh phúc nhưng run rẩy bước vào thế giới của anh với niềm mong mỏi được chia sẻ nhiều hơn, được đón nhận nhiều hơn, và cũng hy vọng mình sẽ mang lại cho anh điều đó.
Nhưng rồi trong những giây phút lý trí vượt lên, Châu lại thấy đau khổ và lo sợ đến cùng cực. Cô biết tình cảm của mình chỉ làm hại cuộc đời anh, rõ ràng cô sẽ không bao giờ từ bỏ gia đình để đến với anh và làm cho anh hạnh phúc. Tiếp tục tiến xa hơn với cô, anh sẽ chỉ nhận được nỗi thất vọng và một tương lai mù mịt. Nhưng mỗi khi nhìn ánh mắt dịu dàng, cháy bỏng yêu thương của Hoàng, nghe giọng nói như toát lên từ tâm hồn tuyệt đẹp của anh, cô biết, mình sẽ không bao giờ dừng lại.
Ngày cuối cùng của kỳ tập huấn, lớp tổ chức bế mạc ở Nha Trang. Suốt cả đêm đó, trong khi mọi người vẫn vui vẻ cuốn xoay trong những điệu nhạc ở sàn khách sạn, Châu và Hoàng lặng lẽ ngồi bên nhau trên bờ biển. Lần đầu tiên cô ngả đầu vào vai anh, nghe anh kể về những mảnh đất anh đã đi qua, về ước mơ thời thơ bé, về khát khao được đến Paris để thỏa mãn niềm đam mê hội họa. “Lúc ấy, anh sẽ vẽ em đứng trước biển, đôi mắt ướt đẫm nhưng bừng cháy khát khao như đợi anh tìm đến”, Hoàng ghé vào tai Châu thì thầm. Đêm ấy, lần đầu họ đến với nhau, như hai kẻ cô đơn nhất trên thế gian tìm được tâm hồn đồng điệu. Gần sáng, Châu thiếp đi trong vòng tay anh, hàng nước mắt lăn dài trên má.
Một thời gian dài sau đó, hai người vẫn thường xuyên liên lạc qua chat hay điện thoại. Nhiều hôm Châu làm muộn, Hoàng lại chờ để đưa cô về. Thỉnh thoảng Châu ghé qua căn nhà nhỏ nằm khuất trong vòm cây cổ thụ của Hoàng, chỉ đơn giản là ngồi bên anh dưới tán cây xanh rợp mát để thấy lòng thanh thản, bình yên. Nhưng rồi những phút bình yên như thế cũng không nhiều, điều Châu lo sợ cuối cùng cũng đến, cô bắt đầu nói dối chồng để được ở bên Hoàng nhiều hơn. Điều đó làm Châu đau khổ, khi ở trước mặt Hoàng, cô cố giấu đi, nhưng tâm hồn nhạy cảm của anh nhận ra rằng, họ đang dấn sâu hơn vào bi kịch. Nhìn Châu khắc khoải buồn thương, lòng Hoàng luôn quặn thắt. Anh cố gắng bù đắp cho cô, cố yêu thương cô nhiều hơn, nhưng rồi vẫn lờ mờ nhận ra tình yêu của mình đang giết chết cô dần dần.
Lối thoát cuối cùng cũng đến, mùa thu năm ấy, Hoàng bỗng nhiên nhận được thừa kế từ một người bác họ không con cái. Châu động viên anh dùng số tiền đó đi Paris học hội họa, thậm chí còn giúp anh làm đơn gửi đến trường Mỹ thuật hoàng gia Paris. Đó là những ngày thực sự khó khăn với Hoàng, anh bị giằng xé dữ dội. Trước hôm Hoàng bay, Châu đến và ở lại với anh suốt đêm. Không ngờ đó là lần cuối Hoàng được nhìn thấy Châu. Ngày hôm sau, trên đường ra sân bay tiễn Hoàng, trong làn nước mắt nhạt nhòa, Châu mất phương hướng, đâm thẳng vào một chiếc ô tô. Suốt 3 năm ở Paris, anh như người trốn chạy cuộc đời bằng cách không liên lạc với ai, và chỉ biết chuyện sau khi về nước.
Chiều hôm đó, một chiều chớm đông se lạnh, Hoàng mang theo giá vẽ đến nghĩa trang. Anh đứng trước ngôi mộ phủ đầy những dây hoa hồng leo hồi lâu, rồi bắt đầu cầm cọ vẽ. Khuôn mặt Châu dần dần hiện lên, mỗi nét cọ là một nhát dao cứa vào trái tim Hoàng, nhưng anh vẫn không dừng lại, dường như chỉ có động tác đó mới khiến nỗi đau trong anh vơi bớt. Khi vệt sáng cuối cùng sắp tắt, cũng là lúc bức họa hoàn thành. Bức tranh vẽ người thiếu phụ mong manh đứng bên bờ biển, mắt đăm đắm nhìn vào những con sóng tít xa. Mái tóc dài của cô bị gió thổi rối tung, dài mãi ra, quấn lấy cơ thể nhỏ nhoi ấy như một sợi dây trói không sao thoát được.
Hoàng gần như kiệt sức, người anh ướt đẫm mồ hôi, lạnh ngắt, nhưng trên khuôn mặt bạc nhược ấy bỗng nở một nụ cười. Anh thắp nến, bật chiếc radio nhỏ mang theo, và trong tiếng nhạc của bài “Dạ khúc”, anh mở chiếc hộp gỗ mà Châu để lại. Một bức thư anh viết cho cô trong thời gian tập huấn, cuốn nhật ký Châu ghi lại những chuyện tình của họ và cả nội tâm giằng xé, những bông hoa hồng leo anh hái trong vườn nhà rồi ép khô gửi cho cô. Những khoảnh khắc tươi đẹp lướt qua trước mắt Hoàng. Anh đã yêu cô từ khi nào nhỉ? Từ lần bất chợt trông thấy cô đùa với bóng nắng trong khuôn viên của công ty? Từ lần tình cờ gặp cô khóc trên sân thượng? Từ buổi học đầu tiên trong kỳ tập huấn? Anh chỉ biết khi đến gần cô, anh cảm giác như đã yêu cô từ hàng thế kỷ trước. Cô trở thành hơi thở, thành sự sống của anh, không có cô, anh chỉ còn là một cái xác không hồn. Nhưng anh lại không thể giữ cô ở bên cạnh mình. Hồi đó, anh đã muốn nói với cô rằng hãy cùng đi với anh đến Paris biết bao, nhưng anh hiểu, cô sẽ không bao giờ rời bỏ cái gia đình nhỏ ấy, hoặc nếu có đi cùng anh, cô sẽ đau khổ suốt quãng đời còn lại.
Hoàng châm lửa vào bức thư rồi thả lại trong chiếc hộp gỗ. Lửa nhanh chóng bùng lên, thiêu cháy điểm tựa cuối cùng của đời anh. Anh nhìn lại khuôn mặt Châu trên bức vẽ một lần nữa, rồi cũng châm lửa đốt. Khuôn mặt cô biến dạng dần, những sợi dây trói buộc cuộc đời cô cũng hóa thành tro bụi. Trước khi cháy hết, ngọn lửa còn bùng lên một cách ma quái rồi mới lụi tàn.
“Vĩnh biệt em”.
(Nguồn: Hạ Liên – Internet)
Một cơn đau đớn tột cùng như trào lên bóp nghẹt trái tim Hoàng, anh gục xuống, cảm thấy máu toàn thân đã trở nên lạnh ngắt.
“Anh là… Hoàng phải không?”
Một giọng nam trầm đầy u uẩn chợt vang lên phía sau tạm thời kéo Hoàng ra khỏi nỗi đau thương giằng xé. Anh ngẩng đầu lên, quay lại. Đó là một người đàn ông lớn hơn Hoàng vài tuổi, trông đơn giản nhưng lịch thiệp. Điều khiến Hoàng lập tức chú ý đến là đứa bé đứng sát bên hông người đó. Anh đứng dậy, loạng choạng như muốn ngã. Đôi mắt của Châu, đôi mắt lúc nào cũng như ướt đẫm, đôi mắt luôn đau đáu trong từng giấc ngủ chập chờn của anh, đang mở to trên khuôn mặt đứa bé. Hoàng vội bám vào bia mộ để khỏi gục ngay xuống đó.
Trong khi bé Lâm mải mê với những bông hoa trắng hồng xinh xinh phủ đầy mộ mẹ, hai người đàn ông lặng lẽ ngồi trên chiếc ghế dài cách đó không xa, mỗi người đuổi theo một ý nghĩ khác nhau. Khá lâu sau đó, Hoàng mới cất được thành lời, dù cổ họng anh vẫn nghẹn đắng.
“Cô ấy có đau đớn không?”
“Cũng không quá lâu. Cô ấy cũng đã giành giật sự sống suốt 2 ngày. Trước khi đi, cô ấy chỉ tỉnh lại vài phút…”.
“Tất cả là tại tôi”, Hoàng tưởng như lồng ngực anh đã vỡ vụn ra.
“Không. Châu đi rất thanh thản. Cô ấy muốn tôi chuyển cho anh mấy thứ”. Câu nói ấy được thốt ra khó khăn nhưng giống như một gánh nặng trên vai vừa trút xuống. “Cô ấy tin rằng thế nào cũng có ngày anh quay lại”.
“Tôi…”, giọng Hoàng tắc nghẹn, cảm giác mất mát lại lan khắp cơ thể, trở thành những mũi kim đâm vào từng góc tâm hồn sâu kín nhất. Anh chỉ mong chồng Châu sẽ dừng lại, bất cứ điều gì anh ấy nói ra lúc này chỉ càng khiến anh dễ sụp đổ hơn.
“Dù sao thì tôi cũng đã tha thứ cho anh. Không, có khi tôi còn phải cảm ơn anh. Quãng thời gian ấy, Châu đã vô cùng hạnh phúc”.
Long dắt bé Lâm đi sau khi đặt chiếc hộp gỗ lấy từ trong vòm ngôi mộ xuống cạnh Hoàng. Còn lại một mình trong nghĩa trang lạnh ngắt, Hoàng nằm vật ra ghế, ôm chặt lấy di vật cuối cùng của Châu, khóc không thành tiếng.
Ở tuổi 30, Châu không đẹp một cách lồ lộ như thời thiếu nữ, mà ở cô luôn toát lên một vẻ dịu dàng, duyên dáng và đằm thắm tuyệt vời. Làm ở bộ phận truyền thông của một công ty lớn, Châu thường xuất hiện trước mặt mọi người trong phong thái tự tin, cởi mở nhưng vẫn đoan trang, có chừng mực, thêm vào đó là một chút thông minh, hóm hỉnh và cách thả hồn vào câu chuyện khiến người đối diện thường bị chinh phục chỉ sau vài lần tiếp xúc. Đó là lý do khiến nhiều người đàn ông vẫn nhấp nhổm dù biết rằng cô đã có chồng.
Khi đó, cuộc hôn nhân của Châu đã bước sang năm thứ 7, vượt qua cái ngưỡng 5 năm mà người ta thường gọi là “thời kỳ khủng hoảng đầu tiên”. Dù vậy, Châu dường như vẫn chưa thể nắm bắt được gì. Từ một người đàn ông lãng mạn, Long trở nên khô khan và vị kỷ. Dường như đối với anh, gia đình đó là bất biến và anh không còn cần phải cố gắng gì hơn trong tình cảm. Anh có thể đi chơi thể thao suốt buổi tối thay vì đưa cô đi xem phim trong những ngày hiếm hoi cô được nghỉ. Thảng hoặc có hôm dậy sớm, anh vô tư nằm xem ti vi dù biết cô thích đến nhường nào một buổi sáng cuối tuần, được nằm lười nhác trên giường thêm một chút và nghe tiếng nhạc du dương phát ra từ chiếc máy quay đĩa họ giữ từ thời độc thân. Anh bắt đầu hút thuốc và nhiều đêm về muộn với hơi thở nồng nặc mùi bia rượu, sau đó lao vào hôn vợ một cách nồng nhiệt thái quá mà không để ý đến cảm xúc rất dễ dàng đổ vỡ của cô. Dù bị những nhu cầu vật chất của ngày thường cuốn trôi đi, nhưng tận trong sâu thẳm tâm hồn, Châu vẫn là một người phụ nữ lãng mạn và nhạy cảm. Chính vì thế, những dòng cảm xúc cô tưởng như đã chết từ lâu, bất chợt ùa về dữ dội khi cô gặp Hoàng. Linh hồn lang thang phiêu bạt trên sa mạc cằn khô như tìm được nơi ký thác.
Lớp tập huấn do công ty mẹ tổ chức ở Lâm Đồng chỉ kéo dài hơn 1 tháng, nhưng thời gian đó đủ để cho Châu và Hoàng “tìm được nhau”. Hoàng làm ở bộ phận kỹ thuật của công ty, thực ra hai người cũng đã biết nhau từ trước khi quen khá lâu. Làm ở các tầng khác nhau, nên thỉnh thoảng lắm Châu mới gặp Hoàng ở thang máy, cũng có khi là trong căng tin của công ty. Không phải cô chưa từng chú ý đến anh, ở anh có một vẻ gì đó rất đặc biệt. Hoàng không đẹp trai, không nổi bật, thậm chí anh luôn khoác lên mình cái vẻ xù xì thô ráp và có phần cứng nhắc của người thuần túy làm kỹ thuật. Anh hay ngồi cách biệt ở một góc gần sân của căng tin, đôi lúc cùng vài đồng nghiệp nam, nhưng ít khi hòa hợp hẳn vào bọn họ. Đôi lần Châu nghe thấy mấy con bé cùng phòng nhắc đến Hoàng như một kẻ lập dị và khó gần cùng những lời bình phẩm chẳng mấy hay ho. Chỉ vậy thôi.
Khóa tập huấn ấy có tới gần 100 học viên đến từ nhiều chi nhánh, phân công ty cả nước, được tổ chức trong khuôn viên đại học Đà Lạt khiến Châu cảm thấy hứng thú vô cùng. Đã nhiều năm qua kể từ ngày tốt nghiệp, cô vẫn ao ước được quay lại sống trong không khí của một lớp học đúng nghĩa với những người bạn vô tư. Ở đó không có sự cạnh tranh, không quyền lợi, không đấu đá mệt mỏi. Người ta nhìn nhau bằng mắt sạch.
Buổi lên lớp đầu tiên, vị giảng viên người Mỹ bất ngờ đưa ra một câu hỏi cực kỳ thú vị liên quan đến nghệ thuật. Học viên tỏ ra lúng túng, nó gần như không liên quan gì đến nội dung khóa tập huấn về kỹ năng cạnh tranh đó. Trong khi tất cả còn đang bàn tán, Hoàng đứng lên. Anh trả lời bằng một thứ tiếng Anh mềm mại và cực kỳ chuẩn xác. Châu lập tức chuyển sự chú ý của mình từ vị diễn giả sang Hoàng và sửng sốt khi phát hiện ra, lúc nói trông anh khác hẳn ngày thường, say sưa và đầy đam mê, khiến lớp vỏ xù xì anh vẫn khoác lên mình như được giũ sạch lúc nào. Khi Hoàng kết thúc, một ý nghĩ đầy trẻ con trỗi dậy, Châu lập tức dùng tất cả vốn hiểu biết của mình để phản bác lại quan điểm của Hoàng. Dường như anh cũng bị bất ngờ, ngay buổi tối hôm đó, khi mở máy tính, Châu thấy Hoàng đã add nick của cô và cả hai tiếp tục tranh luận trên yahoo chat. Đêm ấy, Châu ngủ gục trên bàn phím, miệng hé cười.
Thực ra, sau này Châu cũng không nhớ rõ lắm về những ngày đầu tiên ấy, chỉ biết cô đã trải qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Bất chợt một ngày, cô muốn được quan tâm đến anh, muốn được nói những điều riêng tư nhất với anh. Không biết từ bao giờ, Hoàng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của cô. Cô sống lại cái thời đã trôi qua lâu lắm, cái thời sôi nổi đầy đam mê của tuổi trẻ mà cô đã không sống hết khi còn ở đó. Châu giống như một thiếu nữ ngoan đạo bị nhốt trong tháp ngà lần đầu trốn mẹ đi chơi, háo hức, hồi hộp, sung sướng trước thế giới rộng lớn đầy màu sắc lung linh bên ngoài, nhưng lại không quên mặc cảm tội lỗi vì đã làm trái lời người lớn. Cô hạnh phúc nhưng run rẩy bước vào thế giới của anh với niềm mong mỏi được chia sẻ nhiều hơn, được đón nhận nhiều hơn, và cũng hy vọng mình sẽ mang lại cho anh điều đó.
Nhưng rồi trong những giây phút lý trí vượt lên, Châu lại thấy đau khổ và lo sợ đến cùng cực. Cô biết tình cảm của mình chỉ làm hại cuộc đời anh, rõ ràng cô sẽ không bao giờ từ bỏ gia đình để đến với anh và làm cho anh hạnh phúc. Tiếp tục tiến xa hơn với cô, anh sẽ chỉ nhận được nỗi thất vọng và một tương lai mù mịt. Nhưng mỗi khi nhìn ánh mắt dịu dàng, cháy bỏng yêu thương của Hoàng, nghe giọng nói như toát lên từ tâm hồn tuyệt đẹp của anh, cô biết, mình sẽ không bao giờ dừng lại.
Ngày cuối cùng của kỳ tập huấn, lớp tổ chức bế mạc ở Nha Trang. Suốt cả đêm đó, trong khi mọi người vẫn vui vẻ cuốn xoay trong những điệu nhạc ở sàn khách sạn, Châu và Hoàng lặng lẽ ngồi bên nhau trên bờ biển. Lần đầu tiên cô ngả đầu vào vai anh, nghe anh kể về những mảnh đất anh đã đi qua, về ước mơ thời thơ bé, về khát khao được đến Paris để thỏa mãn niềm đam mê hội họa. “Lúc ấy, anh sẽ vẽ em đứng trước biển, đôi mắt ướt đẫm nhưng bừng cháy khát khao như đợi anh tìm đến”, Hoàng ghé vào tai Châu thì thầm. Đêm ấy, lần đầu họ đến với nhau, như hai kẻ cô đơn nhất trên thế gian tìm được tâm hồn đồng điệu. Gần sáng, Châu thiếp đi trong vòng tay anh, hàng nước mắt lăn dài trên má.
Một thời gian dài sau đó, hai người vẫn thường xuyên liên lạc qua chat hay điện thoại. Nhiều hôm Châu làm muộn, Hoàng lại chờ để đưa cô về. Thỉnh thoảng Châu ghé qua căn nhà nhỏ nằm khuất trong vòm cây cổ thụ của Hoàng, chỉ đơn giản là ngồi bên anh dưới tán cây xanh rợp mát để thấy lòng thanh thản, bình yên. Nhưng rồi những phút bình yên như thế cũng không nhiều, điều Châu lo sợ cuối cùng cũng đến, cô bắt đầu nói dối chồng để được ở bên Hoàng nhiều hơn. Điều đó làm Châu đau khổ, khi ở trước mặt Hoàng, cô cố giấu đi, nhưng tâm hồn nhạy cảm của anh nhận ra rằng, họ đang dấn sâu hơn vào bi kịch. Nhìn Châu khắc khoải buồn thương, lòng Hoàng luôn quặn thắt. Anh cố gắng bù đắp cho cô, cố yêu thương cô nhiều hơn, nhưng rồi vẫn lờ mờ nhận ra tình yêu của mình đang giết chết cô dần dần.
Lối thoát cuối cùng cũng đến, mùa thu năm ấy, Hoàng bỗng nhiên nhận được thừa kế từ một người bác họ không con cái. Châu động viên anh dùng số tiền đó đi Paris học hội họa, thậm chí còn giúp anh làm đơn gửi đến trường Mỹ thuật hoàng gia Paris. Đó là những ngày thực sự khó khăn với Hoàng, anh bị giằng xé dữ dội. Trước hôm Hoàng bay, Châu đến và ở lại với anh suốt đêm. Không ngờ đó là lần cuối Hoàng được nhìn thấy Châu. Ngày hôm sau, trên đường ra sân bay tiễn Hoàng, trong làn nước mắt nhạt nhòa, Châu mất phương hướng, đâm thẳng vào một chiếc ô tô. Suốt 3 năm ở Paris, anh như người trốn chạy cuộc đời bằng cách không liên lạc với ai, và chỉ biết chuyện sau khi về nước.
Chiều hôm đó, một chiều chớm đông se lạnh, Hoàng mang theo giá vẽ đến nghĩa trang. Anh đứng trước ngôi mộ phủ đầy những dây hoa hồng leo hồi lâu, rồi bắt đầu cầm cọ vẽ. Khuôn mặt Châu dần dần hiện lên, mỗi nét cọ là một nhát dao cứa vào trái tim Hoàng, nhưng anh vẫn không dừng lại, dường như chỉ có động tác đó mới khiến nỗi đau trong anh vơi bớt. Khi vệt sáng cuối cùng sắp tắt, cũng là lúc bức họa hoàn thành. Bức tranh vẽ người thiếu phụ mong manh đứng bên bờ biển, mắt đăm đắm nhìn vào những con sóng tít xa. Mái tóc dài của cô bị gió thổi rối tung, dài mãi ra, quấn lấy cơ thể nhỏ nhoi ấy như một sợi dây trói không sao thoát được.
Hoàng gần như kiệt sức, người anh ướt đẫm mồ hôi, lạnh ngắt, nhưng trên khuôn mặt bạc nhược ấy bỗng nở một nụ cười. Anh thắp nến, bật chiếc radio nhỏ mang theo, và trong tiếng nhạc của bài “Dạ khúc”, anh mở chiếc hộp gỗ mà Châu để lại. Một bức thư anh viết cho cô trong thời gian tập huấn, cuốn nhật ký Châu ghi lại những chuyện tình của họ và cả nội tâm giằng xé, những bông hoa hồng leo anh hái trong vườn nhà rồi ép khô gửi cho cô. Những khoảnh khắc tươi đẹp lướt qua trước mắt Hoàng. Anh đã yêu cô từ khi nào nhỉ? Từ lần bất chợt trông thấy cô đùa với bóng nắng trong khuôn viên của công ty? Từ lần tình cờ gặp cô khóc trên sân thượng? Từ buổi học đầu tiên trong kỳ tập huấn? Anh chỉ biết khi đến gần cô, anh cảm giác như đã yêu cô từ hàng thế kỷ trước. Cô trở thành hơi thở, thành sự sống của anh, không có cô, anh chỉ còn là một cái xác không hồn. Nhưng anh lại không thể giữ cô ở bên cạnh mình. Hồi đó, anh đã muốn nói với cô rằng hãy cùng đi với anh đến Paris biết bao, nhưng anh hiểu, cô sẽ không bao giờ rời bỏ cái gia đình nhỏ ấy, hoặc nếu có đi cùng anh, cô sẽ đau khổ suốt quãng đời còn lại.
Hoàng châm lửa vào bức thư rồi thả lại trong chiếc hộp gỗ. Lửa nhanh chóng bùng lên, thiêu cháy điểm tựa cuối cùng của đời anh. Anh nhìn lại khuôn mặt Châu trên bức vẽ một lần nữa, rồi cũng châm lửa đốt. Khuôn mặt cô biến dạng dần, những sợi dây trói buộc cuộc đời cô cũng hóa thành tro bụi. Trước khi cháy hết, ngọn lửa còn bùng lên một cách ma quái rồi mới lụi tàn.
“Vĩnh biệt em”.
(Nguồn: Hạ Liên – Internet)
Em mãi là chỗ dựa của anh
– Mình sẽ là chỗ dựa của cậu.
– Sống dựa vào một thứ gì đó…
– Em có thể thôi đi được không? Dựa vào thứ gì đó thì đã làm sao, chẳng lẽ điều đó làm em bận lòng đến vậy sao?
– Phải, rất bận lòng. Vì anh không phải là em, vì chúng ta giống nhau nhưng anh tự do, còn em phải dựa vào những thứ này!
Gia Lâm quỳ xuống bằng hai đầu gối đã chai sần, dùng hết sức vẩy đôi tay giả ra trước mặt Gia Hưng. Sống một cuộc sống mặc cảm hơn 11 năm nay, Lâm đau đớn mỗi lần đối diện với chính hình ảnh của mình trong gương, dối diện với người anh song sinh của cậu. Đôi vai gầy khẽ run lên, Lâm mở to mắt nhìn vô hồn về phía xa xăm, để mặc những giọt nước mắt rơi lã chã, mặc cho Hưng “lý thuyết” đủ điều.
Cách đây 12 năm, có nghĩa là khi Lâm vẫn là một đứa bé 3 tuổi bình thường, lành lặn, cậu không hề bị đem ra so bì với Hưng, vì hai đứa giống nhau như hai giọt nước. Rồi cho đến khi cả hai lên 4, sức khỏe của Lâm yếu đi, cậu thường bị khó thở, ngất xỉu đột ngột, bác sĩ chuẩn đoán cậu bị tim bẩm sinh và phải nhập viện ngay. Một cú sốc dành cho đôi vợ chồng trẻ, nước mắt người cha không thể rơi vì đã bị nghẹn đắng nơi cổ họng, người mẹ trẻ chỉ còn biết ôm con trai bé bỏng vào lòng, cô rửa mặt bằng nước mắt mỗi ngày trước khi Lâm được nhập viện. Ca mổ diễn ra trong vài giờ đồng hồ, hai ngày trôi qua, không ai nghe được tin tức gì của Lâm từ phòng hồi sức. Năm ngày sau, bác sĩ cho mẹ cậu vào thăm, nhưng người mẹ chết lặng khi nhìn con mình thoi thóp thở bằng bình oxy, chân tay bầm tím một nửa dưới. Cô đứng lạnh người nhìn bác sĩ, những gì ông ấy nói khiến cô không còn cảm nhận được vị mặn của nước mắt nữa, cô chỉ thấy đắng, đắng đến đau đớn nơi trái tim.
“Con trai của chị phải được tiến hành cắt bỏ tứ chi ngay, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Vì sức khỏe của cháu quá yếu, máu lại dễ đông…” Vị bác sĩ nói rất nhiều, rất nhiều, nhưng người mẹ trẻ chỉ đứng lắc đầu khóc lóc xót thương cho con trai mình, hàng loạt những ưu đãi được đưa ra, người mẹ nghèo chỉ còn biết ngậm ngùi gật đầu trước số phận của con trai mình – đồng ý cắt bỏ tứ chi của Lâm và bệnh viện sẽ nuôi cậu suốt đời.
Hai đứa lớn lên trong bệnh viện, ăn cơm bệnh viện, ngủ cùng bệnh nhân, dường như nơi đây chính là nhà của chúng kể từ khi cha chúng về quê làm thuê kiếm tiền, để lại mình mẹ ôm hai đứa con thơ. Dần quen với cuộc sống toàn màu trắng, Lâm và Hưng nhận được nhiều tình thương từ những người bệnh ở dăm bữa, nửa tháng. Ai cũng thương mẹ con họ, nhưng càng ngày, thứ tình thương ấy khiến Lâm cảm thấy mình đang bị thương hại. Ánh mắt của mọi người nhìn cậu trìu mến biết bao, cũng có người rơi nước mắt, có người ôm cậu vào lòng, có người cho cậu nhiều đồ chơi, quần áo, nhưng rồi họ cũng ra về, lãng quên cậu bé không có tứ chi. 5 tuổi, Lâm bắt đầu tập đi bằng chân giả, những bước đi đầu tiên sao mà khó đến thế, cậu đã nhiều lần òa khóc chỉ vì quá đau đớn bởi những cú vấp ngã, không đi chân giả thì hai đầu gối cậu sẽ bị thương, mỗi lần như vậy lòng người mẹ như bị chiếc dao sắc nhọn cứa vào. 10 tuổi, bệnh viện làm cho Lâm đôi tay giả, nó khiến cậu bớt mặc cảm khi ra đường. Cuộc sống của Lâm tưởng chừng sẽ trôi qua lặng lẽ cho đến khi Hưng vào học cấp 3.
“Đồ tàn phế vô dụng!” – Cha của Lâm đã gọi cậu như vậy mỗi lần ông uống say. Phải rồi, vì Lâm không đi học, cậu chỉ học hết tiểu học rồi ở nhà vì cậu không thể làm nhiều hơn thế với đôi tay, đôi chân giả. Mỗi lần nhìn Hưng cắp sách đến trường, Lâm ngồi một góc trong căn phòng nồng nặc mùi thuốc sát trùng để làm gì cậu cũng không biết, nhưng đơn giản chỉ vì Lâm muốn như vậy thôi. “Em ở nhà ngoan, anh sẽ về bày cho em học.” – Hưng đã nói như vậy mỗi lần đi học, như một thói quen, đó là câu chào hỏi Hưng dành cho Lâm trước khi ra khỏi nhà đến trường học. Điều đó khiến Lâm bớt đi phần nào mặc cảm, có lẽ vì vậy mà Lâm mới ngồi một góc, nhưng không để làm gì cả.
Một năm sau, gia đình họ chuyển ra ngoài, họ thuê một phòng trọ gần chỗ Hưng đi học, bệnh viện sẽ chu cấp cho Lâm mỗi tháng 2 triệu để sinh hoạt. Mẹ cậu kiếm thêm tiền bằng chiếc xe đẩy bán nước, bán café ngoài vỉa hè trước cổng trường của Hưng. Người mẹ nghèo chỉ học hết lớp 3, chập chững biết hết mặt chữ thì nghỉ học vì gia đình quá nghèo, bởi thế, Hưng chính là niềm hy vọng của bà, một đứa con trai lành lặn, khỏe mạnh, khôi ngô.
Rồi cái tuổi bắt đầu xuất hiện những cảm xúc rung động đầu đời đến, vì Hưng học hành rất khá và cũng khôi ngô nên không ít bạn nữ viết thư tỏ tình với cậu. Nhưng cậu chỉ để ý duy nhất một người, một cô bé đã từng xuất hiện trong bệnh viện, từng ở căn phòng cậu đã sống, cũng từng mang căn bệnh giống như em trai cậu. Từ tình thương, cảm xúc nhiều hơn khi cậu vô tình gặp lại cô bé vào đầu năm cấp 3, học chung lớp và cô bé càng ngày càng xinh, không còn tiều tụy như lúc cô còn nằm trong bệnh viện nữa. Tự lúc nào không hay, cậu đã dành một chỗ trong trái tim mình cho cô bạn học chung lớp này.
– Sống dựa vào một thứ gì đó có mệt mỏi không Lam?
– Dĩ nhiên là có rồi, như Lam nè, sống dựa vào thuốc, nếu không có thuốc, Lam có thể ra đi bất cứ lúc nào.
Nụ cười nhạt mang chút vẻ buồn buồn hiện trên gương mặt hiền lành của Lam, Hưng thở dài, nghĩ ngợi.
– Vậy chẳng nhẽ cứ sống trong mệt mỏi nếu mình bắt buộc phải dựa vào thứ gì đó cả đời sao?
– Cũng tùy lúc thôi Hưng ạ. Như Lam nè, có những lúc chán ghét những viên thuốc vô cùng, đó là lúc Lam đang chơi vui mà bị mẹ mắt đi uống thuốc. Nhưng khi Lam mệt mỏi thật sự, những viên thuốc lại là thứ duy trì, tiếp thêm sự sống cho Lam. Hì.
– Cũng phải. Giá như Gia Lâm nghĩ được như vậy.
– Lại có chuyện gì xảy ra với Lâm à?
Sự lo lắng hiện trên gương mặt của Lam, Hưng nhìn Lam rồi thở dài.
– Hôm qua hai anh em Hưng lại cãi nhau, dạo này tính nó kỳ cục lắm, toàn nói nhảm những chuyện không đâu.
– Hưng đừng trách Lâm, Lam rất hiểu những gì mà Lâm phải chịu, vì Lam cũng từng như vậy.
– Ừm… có lẽ Hưng đã sai…
Gió về chiều thổi mạnh hơn, từng làn gió quấn quýt bên mái tóc dài của Lam, cô bé nhắm mắt để cảm nhận luồng không khí trong lành của gió mang đến. Ngồi bên cạnh, Hưng lén nhìn cô bạn, trái tim cậu đang đập nhanh hơn một nhịp và cậu nhận ra có lẽ thứ tình cảm mình dành cho Lam đã lớn lên rất nhiều.
***
Lâm đi chân giả, cậu cố gắng dùng răng để đeo tay giả. Xong xuôi, Lâm đi ra phụ mẹ bán hàng, tất cả những gì cậu có thể giúp mẹ là nhắc lại cho mẹ những gì khách đã gọi, vì cậu có trí nhớ khá tốt. Nhưng ngoài việc đó ra, cậu đến đây cũng vì muốn nhìn thấy một người, nhìn thấy nụ cười của người đó dành cho cậu hay bất kì ai đi bên cạnh.
– A, chào Lâm, Lâm ra phụ mẹ bán hàng hả? Hưng đang họp nhóm, chắc sắp ra rồi đó.
– Chào Lam, Lam khỏe không?
– Ngày nào Lâm cũng hỏi câu này, không thấy chán à? Sao Lâm không hỏi Lam được điểm cao không, hay là Lam đói bụng chưa chẳng hạn…
Nói xong, Lam nhìn mặt Lâm vẫn đơ ra, cô bé không nhịn được phải phì cười, nhưng cô chợt lặng người khi nghe câu trả lời của Lâm.
– Vì Lâm chỉ muốn biết Lam có khỏe hay không thôi, chỉ cần Lam khỏe thì Lâm cũng thấy khỏe re à.
Lâm cười, nụ cười của Lâm làm Lam cảm thấy sống mũi mình cay cay, hai dòng nước ngân ngấn trực trào ra. Lam vội quay đi lấy tay gạt lẹ. Lâm đưa bàn tay giả lên, quẹt qua lại vài giọt mồ hôi lấm tấm trên trán.
– Sao thế Lam?
– Bụi bay vào mắt đó mà. Hôm nay thấy Lâm vui vẻ ghê, Lam thấy Lâm vui là Lam cũng vui lây à.
– Lam chọc Lâm hả? A, anh Hưng ra rồi.
Sự thật là Lam không hề trêu chọc Lâm, mỗi lần nhìn thấy Lâm tươi cười, cô đều cảm thấy trong lòng mình ấm lại, không còn sự nặng nề của việc học, không còn sự mệt mỏi với đống thuốc. Yên bình. Chẳng ai có thể nhận ra sự khác biệt giữa hai anh em Lâm nếu họ chỉ nhìn vào khuôn mặt. Nhưng ai cũng ngầm hiểu, giữa hai anh em có sự khác biệt khá lớn về số phận. Một người có thể hưởng được tất cả những điều tốt đẹp mà một người bình thường có thể nhận được, còn người kia chỉ dám mơ ước cuộc sống bình thường, rất bình thường, nhưng không được, vì luôn có một tấm gương phản chiếu hình ảnh của cậu, một hình hài lành lặn, đẹp đẽ biết bao.
– Hưng giúp Lam chuyển món quà này đến tay Lâm nha.
– Tại sao Lam không đưa cho nó luôn.
– Lam cũng không biết nữa, nhưng mỗi lần gặp Lâm, Lam lại chỉ muốn khóc thôi, nhất là khi Lâm cười…
– Sao cơ?
– Lam không biết, chỉ biết là những lúc Lâm cười là Lam lại khóc. Giúp Lam nha.
Lam quay đầu chạy vào lớp, bỏ lại mình Hưng với một mớ cảm xúc hỗn độn. Về đến nhà, Hưng đưa món quà cho Lâm, Lâm hạnh phúc nhận lấy món quà bằng đôi tay thật khi nghe anh nói là quà của Lam. Cậu mở ra, là một chiếc mũ phớt màu nâu, trên mũ có thêu một chữ L. Lâm ngầm hiểu đó là tên của mình, đội lên đầu, cậu đứng trước gương ngắm nghía. Nụ cười tắt dần khi nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của anh mình trong gương, cậu quá thấp khi không đi chân giả. Gạt chiếc mũ xuống một cách nặng nề, cậu đến bên tủ, cất gọn chiếc mũ vào ngăn đồ của mình và có ý nghĩ sẽ không bao giờ đội nó. Hưng nhìn em trai, có chút tê tái trong lòng, cậu lại nghĩ về câu nói của Lam ban sáng, không hiểu vì sao Lam lại khóc khi nhìn thấy Lâm cười.
– Không đội mũ Lam tặng à?
– Lâm cất rồi, đội ra đường sẽ bị bám bụi, bám bụi phải giặt, giặt thì mau cũ lắm. Không đội đâu.
– Linh tinh quá, quà tặng thì phải dùng chứ. Chẳng lẽ Lâm chê xấu.
– Không! Không phải! Không xấu chút nào, rất đẹp. Nhưng…
Lâm cúi mặt, nghĩ ngợi về cảnh hôm qua đứng trước gương, cậu cảm thấy lòng nặng trĩu.
– Nhưng sao?
– Nhưng… nó đẹp và nó không hợp với Lâm.
– Tại sao không chứ? Lam tặng Lâm vì Lam thấy nó hợp với Lâm, dù tất cả nói không đẹp thì chỉ cần Lam thấy đẹp là được rồi. Giống như Lâm thấy Lam khỏe thì Lâm cũng khỏe ý mà.
– Thật không? Đẹp thật không?
– Thật mà, tin Lam đi.
Lam nháy mắt rồi cười dịu dàng làm Lâm đứng im vài giây. Cậu đang cảm thấy trái tim yếu ớt của mình trở nên mạnh mẽ, đập liên hồi và còn muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, mặt cậu nóng ran. Trời hôm nay không nắng gắt, có gió. Một cơn gió thoảng qua làm mái tóc của Lam khẽ bay bay, Lâm lảo đảo đứng không vững, tim cậu đập nhanh đến mức muốn ngất xỉu. Cậu mờ ảo nhận ra thứ cảm xúc mãnh liệt đang trào dâng trong trái tim mình. Đưa tay lên lau mồ hôi, cậu chợt tỉnh… “Thì ra là tay giả, chân giả nữa này, cả trái tim này cũng không hoàn toàn là thật. Vậy thì mày đang làm gì thế hả Lâm?” – Một ý nghĩ thoáng qua, Lâm quay đi, mắt ướt át.
– Sao thế Lâm?
– Bụi bay vào mắt thôi, không sao đâu Lam. Lâm mệt quá, về trước nha. Xin lỗi Lam.
Bước từng bước khó nhọc, Lâm muốn vứt bỏ tất cả đống đồ giả này, dù phải bò trên đường, dù đầu gói tóe máu cũng được. Nhưng cậu không đủ can đảm để làm điều đó, vì cậu phụ thuộc vào chúng đã lâu, vì đã quen với cảm giác có chúng.
***
– Anh đã từng thích ai chưa?
– Sao em hỏi vậy?
– Vì em muốn biết cảm giác thích một ai đó là như thế nào thôi.
– Em thích ai rồi hả? Em trai.
Hưng quay sang, đặt tay lên vai Lâm, đôi mắt tỏ vẻ dò xét.
– Không, chả là sáng nay em thấy có anh đó với chị đó…
Lâm tự bịa ra một câu chuyện để làm Hưng không đặt ánh mắt dò xét vào mình nữa. Cậu nói một cách trống rỗng, còn tâm trí lại đang bị nhốt vào một góc nào đó trong trái tim chật hẹp kia. Cậu nghĩ sẽ không đi đến đâu nếu cậu thích một người tuyệt vời như Lam, sẽ không làm cho Lam hạnh phúc khi ở bên một thằng “tật nguyền vô dụng” như cậu và cậu nghĩ rất nhiều, rất nhiều.
Những ngày sau đó, Lâm không ra phụ mẹ nữa. Cậu thu mình trong một góc phòng như hồi còn sống trong bệnh viện, lau chùi thật sạch tay, chân giả và cố gắng thôi không nghĩ ngợi về Lam nữa.
– Sao mấy ngày nay Lam không thấy Lâm ra phụ cô vậy Hưng?
– Nó kêu mệt, suốt ngày ngồi ở nhà, không biết đang nghĩ gì nữa.
– Thế à? Tí nữa tan học Lam cùng về với Hưng nha.
– Ấy, tan học Hưng còn ở lại ôn đề, tháng sau đi thi tỉnh rồi, cuối cấp mà vẫn phải ôn thi học sinh giỏi.
– Vậy Lam qua một mình nha.
Hưng im lặng, nghĩ ngợi điều gì đó rồi gật đầu nhẹ. Cậu không nói gì nữa, cúi đầu quay đi. Nắng gắt, Lam bước nhanh dưới tán lá bàng hai bên đường.
– Lâm ơi! Lâm ơi Lâm!
-Ai vậy?
-Lam nè, mở cừa cho Lam với.
– Lâm mệt lắm, Lam về đi, Lâm không muốn gặp người lạ.
Lam nghe xong, im lặng không gọi gì nữa. Cô bé cảm thấy lòng mình có gì đó hụt hẫng, như kẻ say bước hụt ngã nhào. Đứng thêm vài phút, cô lặng lẽ quay lưng ra về. Cũng vài phút sau, Lâm vùng dậy khỏi giường, vội vàng đi chân giả đi ra mở cửa phòng. Không có ai ngoài bóng của cậu dưới ánh nắng qua khe hở phía trên mái nhà, cậu ngồi xuống, mắt nhìn về phía xa xăm, hụt hẫng.
– Hưng giúp Lam đưa Lâm đến chỗ Lam với Hưng hay ngồi nói chuyện nhé.
– Tại sao?
Hưng dừng việc giải đề, ngước mắt lên nhìn Lam.
– Tại vì Lam có chuyện muốn nói với Lâm. Giúp Lam được không?
“Không được!” – Hưng đã nghĩ sẽ nói như vậy, nhưng cậu không đủ can đảm để thốt ra hai từ ấy, cậu sẽ làm Lam buồn, đó là điều mà Hưng chưa bao giờ làm. Cho nên…
– Ừm, Hưng sẽ cố gắng hết sức.
– Cảm ơn Hưng nhiều nha, đúng là bạn thân của Lam, tuyệt nhất quả đất.
Hai từ “bạn thân” lúc này đối với Hưng sao mà nghe chua chát đến thế. Nhưng dù sao vẫn tốt hơn là không có gì cả.
***
– Anh dẫn em ra đây làm gì?
– Lam có chuyện muốn nói với em, em đừng trẻ con như vậy nữa, hãy lắng nghe xem cô ấy muốn nói gì. Biết đâu… biết đâu là điều em mong muốn thì sao?
Lâm im lặng. Vài phút sau, Lam đến, Hưng đi, để lại khoảng không gian riêng cho hai người. Sự yên lặng bao chùm một góc công viên. Cuối cùng Lam phải lên tiếng trước.
– Lâm sao thế? Tại sao lại không muốn gặp Lam nữa?
– Tại vì… tại vì… Lâm thấy mình không xứng với Lam.
– Gì mà xứng với không xứng. Làm bạn cũng phải xem có xứng hay không mới chơi sao? Lâm đang nghĩ cái gì vậy? Trả lời Lam đi.
– Vì Lâm thích Lam!
Nói rồi Lâm cố gắng chống tay đứng dậy, bước thật nhanh với đôi chân giả, bỏ lại phía sau một người tròn xoe mắt, nước mắt lưng tròng.
– Lâm! Đứng lại!
Lam chạy theo, đặt bàn tay nhỏ bé lên vai Lâm.
– Lâm đừng quay lại. Giờ thì Lam đã hiểu vì sao mỗi lần nhìn Lâm cười, Lam lại rơi nước mắt rồi.
– Vì sao?
– Vì… khi nhìn Lâm cười, Lam mới nhận ra giá trị của cuộc sống. Lâm cười là lúc Lâm hạnh phúc và Lam cũng thấy hạnh phúc, hạnh phúc đến rơi nước mắt.
Trời chiều đổ bóng hai con người đứng ôm nhau trong niềm hạnh phúc. Chẳng ai biết được ngày mai rồi sẽ thế nào. Dù bạn là ai, là người có số phận như thế nào thì chỉ cần sống trọn vẹn với mỗi ngày có nghĩa là ngày mai cũng là ngày hạnh phúc trong đời bạn.
Từ sau gốc cây tùng, tôi nhận ra em trai mình và người con gái tôi yêu thầm đang hạnh phúc trong cái ôm ấm áp. Trái tim tôi hơi nhói, nhưng lòng tôi thanh thản. Vì ít nhất em trai tôi cũng tìm được ý nghĩa của cuộc sống, tìm được một chỗ dựa thật sự chứ không phải với mấy thứ đồ giả như nó nghĩ nó sẽ dựa vào chúng suốt đời. Tôi nhận ra, tình yêu thương chân thành là điều duy nhất có thể hàn gắn tâm hồn con người.
(Theo Greenstar (MASK) – Internet)
– Sống dựa vào một thứ gì đó…
– Em có thể thôi đi được không? Dựa vào thứ gì đó thì đã làm sao, chẳng lẽ điều đó làm em bận lòng đến vậy sao?
– Phải, rất bận lòng. Vì anh không phải là em, vì chúng ta giống nhau nhưng anh tự do, còn em phải dựa vào những thứ này!
Gia Lâm quỳ xuống bằng hai đầu gối đã chai sần, dùng hết sức vẩy đôi tay giả ra trước mặt Gia Hưng. Sống một cuộc sống mặc cảm hơn 11 năm nay, Lâm đau đớn mỗi lần đối diện với chính hình ảnh của mình trong gương, dối diện với người anh song sinh của cậu. Đôi vai gầy khẽ run lên, Lâm mở to mắt nhìn vô hồn về phía xa xăm, để mặc những giọt nước mắt rơi lã chã, mặc cho Hưng “lý thuyết” đủ điều.
Cách đây 12 năm, có nghĩa là khi Lâm vẫn là một đứa bé 3 tuổi bình thường, lành lặn, cậu không hề bị đem ra so bì với Hưng, vì hai đứa giống nhau như hai giọt nước. Rồi cho đến khi cả hai lên 4, sức khỏe của Lâm yếu đi, cậu thường bị khó thở, ngất xỉu đột ngột, bác sĩ chuẩn đoán cậu bị tim bẩm sinh và phải nhập viện ngay. Một cú sốc dành cho đôi vợ chồng trẻ, nước mắt người cha không thể rơi vì đã bị nghẹn đắng nơi cổ họng, người mẹ trẻ chỉ còn biết ôm con trai bé bỏng vào lòng, cô rửa mặt bằng nước mắt mỗi ngày trước khi Lâm được nhập viện. Ca mổ diễn ra trong vài giờ đồng hồ, hai ngày trôi qua, không ai nghe được tin tức gì của Lâm từ phòng hồi sức. Năm ngày sau, bác sĩ cho mẹ cậu vào thăm, nhưng người mẹ chết lặng khi nhìn con mình thoi thóp thở bằng bình oxy, chân tay bầm tím một nửa dưới. Cô đứng lạnh người nhìn bác sĩ, những gì ông ấy nói khiến cô không còn cảm nhận được vị mặn của nước mắt nữa, cô chỉ thấy đắng, đắng đến đau đớn nơi trái tim.
“Con trai của chị phải được tiến hành cắt bỏ tứ chi ngay, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Vì sức khỏe của cháu quá yếu, máu lại dễ đông…” Vị bác sĩ nói rất nhiều, rất nhiều, nhưng người mẹ trẻ chỉ đứng lắc đầu khóc lóc xót thương cho con trai mình, hàng loạt những ưu đãi được đưa ra, người mẹ nghèo chỉ còn biết ngậm ngùi gật đầu trước số phận của con trai mình – đồng ý cắt bỏ tứ chi của Lâm và bệnh viện sẽ nuôi cậu suốt đời.
Hai đứa lớn lên trong bệnh viện, ăn cơm bệnh viện, ngủ cùng bệnh nhân, dường như nơi đây chính là nhà của chúng kể từ khi cha chúng về quê làm thuê kiếm tiền, để lại mình mẹ ôm hai đứa con thơ. Dần quen với cuộc sống toàn màu trắng, Lâm và Hưng nhận được nhiều tình thương từ những người bệnh ở dăm bữa, nửa tháng. Ai cũng thương mẹ con họ, nhưng càng ngày, thứ tình thương ấy khiến Lâm cảm thấy mình đang bị thương hại. Ánh mắt của mọi người nhìn cậu trìu mến biết bao, cũng có người rơi nước mắt, có người ôm cậu vào lòng, có người cho cậu nhiều đồ chơi, quần áo, nhưng rồi họ cũng ra về, lãng quên cậu bé không có tứ chi. 5 tuổi, Lâm bắt đầu tập đi bằng chân giả, những bước đi đầu tiên sao mà khó đến thế, cậu đã nhiều lần òa khóc chỉ vì quá đau đớn bởi những cú vấp ngã, không đi chân giả thì hai đầu gối cậu sẽ bị thương, mỗi lần như vậy lòng người mẹ như bị chiếc dao sắc nhọn cứa vào. 10 tuổi, bệnh viện làm cho Lâm đôi tay giả, nó khiến cậu bớt mặc cảm khi ra đường. Cuộc sống của Lâm tưởng chừng sẽ trôi qua lặng lẽ cho đến khi Hưng vào học cấp 3.
“Đồ tàn phế vô dụng!” – Cha của Lâm đã gọi cậu như vậy mỗi lần ông uống say. Phải rồi, vì Lâm không đi học, cậu chỉ học hết tiểu học rồi ở nhà vì cậu không thể làm nhiều hơn thế với đôi tay, đôi chân giả. Mỗi lần nhìn Hưng cắp sách đến trường, Lâm ngồi một góc trong căn phòng nồng nặc mùi thuốc sát trùng để làm gì cậu cũng không biết, nhưng đơn giản chỉ vì Lâm muốn như vậy thôi. “Em ở nhà ngoan, anh sẽ về bày cho em học.” – Hưng đã nói như vậy mỗi lần đi học, như một thói quen, đó là câu chào hỏi Hưng dành cho Lâm trước khi ra khỏi nhà đến trường học. Điều đó khiến Lâm bớt đi phần nào mặc cảm, có lẽ vì vậy mà Lâm mới ngồi một góc, nhưng không để làm gì cả.
Một năm sau, gia đình họ chuyển ra ngoài, họ thuê một phòng trọ gần chỗ Hưng đi học, bệnh viện sẽ chu cấp cho Lâm mỗi tháng 2 triệu để sinh hoạt. Mẹ cậu kiếm thêm tiền bằng chiếc xe đẩy bán nước, bán café ngoài vỉa hè trước cổng trường của Hưng. Người mẹ nghèo chỉ học hết lớp 3, chập chững biết hết mặt chữ thì nghỉ học vì gia đình quá nghèo, bởi thế, Hưng chính là niềm hy vọng của bà, một đứa con trai lành lặn, khỏe mạnh, khôi ngô.
Rồi cái tuổi bắt đầu xuất hiện những cảm xúc rung động đầu đời đến, vì Hưng học hành rất khá và cũng khôi ngô nên không ít bạn nữ viết thư tỏ tình với cậu. Nhưng cậu chỉ để ý duy nhất một người, một cô bé đã từng xuất hiện trong bệnh viện, từng ở căn phòng cậu đã sống, cũng từng mang căn bệnh giống như em trai cậu. Từ tình thương, cảm xúc nhiều hơn khi cậu vô tình gặp lại cô bé vào đầu năm cấp 3, học chung lớp và cô bé càng ngày càng xinh, không còn tiều tụy như lúc cô còn nằm trong bệnh viện nữa. Tự lúc nào không hay, cậu đã dành một chỗ trong trái tim mình cho cô bạn học chung lớp này.
– Sống dựa vào một thứ gì đó có mệt mỏi không Lam?
– Dĩ nhiên là có rồi, như Lam nè, sống dựa vào thuốc, nếu không có thuốc, Lam có thể ra đi bất cứ lúc nào.
Nụ cười nhạt mang chút vẻ buồn buồn hiện trên gương mặt hiền lành của Lam, Hưng thở dài, nghĩ ngợi.
– Vậy chẳng nhẽ cứ sống trong mệt mỏi nếu mình bắt buộc phải dựa vào thứ gì đó cả đời sao?
– Cũng tùy lúc thôi Hưng ạ. Như Lam nè, có những lúc chán ghét những viên thuốc vô cùng, đó là lúc Lam đang chơi vui mà bị mẹ mắt đi uống thuốc. Nhưng khi Lam mệt mỏi thật sự, những viên thuốc lại là thứ duy trì, tiếp thêm sự sống cho Lam. Hì.
– Cũng phải. Giá như Gia Lâm nghĩ được như vậy.
– Lại có chuyện gì xảy ra với Lâm à?
Sự lo lắng hiện trên gương mặt của Lam, Hưng nhìn Lam rồi thở dài.
– Hôm qua hai anh em Hưng lại cãi nhau, dạo này tính nó kỳ cục lắm, toàn nói nhảm những chuyện không đâu.
– Hưng đừng trách Lâm, Lam rất hiểu những gì mà Lâm phải chịu, vì Lam cũng từng như vậy.
– Ừm… có lẽ Hưng đã sai…
Gió về chiều thổi mạnh hơn, từng làn gió quấn quýt bên mái tóc dài của Lam, cô bé nhắm mắt để cảm nhận luồng không khí trong lành của gió mang đến. Ngồi bên cạnh, Hưng lén nhìn cô bạn, trái tim cậu đang đập nhanh hơn một nhịp và cậu nhận ra có lẽ thứ tình cảm mình dành cho Lam đã lớn lên rất nhiều.
***
Lâm đi chân giả, cậu cố gắng dùng răng để đeo tay giả. Xong xuôi, Lâm đi ra phụ mẹ bán hàng, tất cả những gì cậu có thể giúp mẹ là nhắc lại cho mẹ những gì khách đã gọi, vì cậu có trí nhớ khá tốt. Nhưng ngoài việc đó ra, cậu đến đây cũng vì muốn nhìn thấy một người, nhìn thấy nụ cười của người đó dành cho cậu hay bất kì ai đi bên cạnh.
– A, chào Lâm, Lâm ra phụ mẹ bán hàng hả? Hưng đang họp nhóm, chắc sắp ra rồi đó.
– Chào Lam, Lam khỏe không?
– Ngày nào Lâm cũng hỏi câu này, không thấy chán à? Sao Lâm không hỏi Lam được điểm cao không, hay là Lam đói bụng chưa chẳng hạn…
Nói xong, Lam nhìn mặt Lâm vẫn đơ ra, cô bé không nhịn được phải phì cười, nhưng cô chợt lặng người khi nghe câu trả lời của Lâm.
– Vì Lâm chỉ muốn biết Lam có khỏe hay không thôi, chỉ cần Lam khỏe thì Lâm cũng thấy khỏe re à.
Lâm cười, nụ cười của Lâm làm Lam cảm thấy sống mũi mình cay cay, hai dòng nước ngân ngấn trực trào ra. Lam vội quay đi lấy tay gạt lẹ. Lâm đưa bàn tay giả lên, quẹt qua lại vài giọt mồ hôi lấm tấm trên trán.
– Sao thế Lam?
– Bụi bay vào mắt đó mà. Hôm nay thấy Lâm vui vẻ ghê, Lam thấy Lâm vui là Lam cũng vui lây à.
– Lam chọc Lâm hả? A, anh Hưng ra rồi.
Sự thật là Lam không hề trêu chọc Lâm, mỗi lần nhìn thấy Lâm tươi cười, cô đều cảm thấy trong lòng mình ấm lại, không còn sự nặng nề của việc học, không còn sự mệt mỏi với đống thuốc. Yên bình. Chẳng ai có thể nhận ra sự khác biệt giữa hai anh em Lâm nếu họ chỉ nhìn vào khuôn mặt. Nhưng ai cũng ngầm hiểu, giữa hai anh em có sự khác biệt khá lớn về số phận. Một người có thể hưởng được tất cả những điều tốt đẹp mà một người bình thường có thể nhận được, còn người kia chỉ dám mơ ước cuộc sống bình thường, rất bình thường, nhưng không được, vì luôn có một tấm gương phản chiếu hình ảnh của cậu, một hình hài lành lặn, đẹp đẽ biết bao.
– Hưng giúp Lam chuyển món quà này đến tay Lâm nha.
– Tại sao Lam không đưa cho nó luôn.
– Lam cũng không biết nữa, nhưng mỗi lần gặp Lâm, Lam lại chỉ muốn khóc thôi, nhất là khi Lâm cười…
– Sao cơ?
– Lam không biết, chỉ biết là những lúc Lâm cười là Lam lại khóc. Giúp Lam nha.
Lam quay đầu chạy vào lớp, bỏ lại mình Hưng với một mớ cảm xúc hỗn độn. Về đến nhà, Hưng đưa món quà cho Lâm, Lâm hạnh phúc nhận lấy món quà bằng đôi tay thật khi nghe anh nói là quà của Lam. Cậu mở ra, là một chiếc mũ phớt màu nâu, trên mũ có thêu một chữ L. Lâm ngầm hiểu đó là tên của mình, đội lên đầu, cậu đứng trước gương ngắm nghía. Nụ cười tắt dần khi nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của anh mình trong gương, cậu quá thấp khi không đi chân giả. Gạt chiếc mũ xuống một cách nặng nề, cậu đến bên tủ, cất gọn chiếc mũ vào ngăn đồ của mình và có ý nghĩ sẽ không bao giờ đội nó. Hưng nhìn em trai, có chút tê tái trong lòng, cậu lại nghĩ về câu nói của Lam ban sáng, không hiểu vì sao Lam lại khóc khi nhìn thấy Lâm cười.
– Không đội mũ Lam tặng à?
– Lâm cất rồi, đội ra đường sẽ bị bám bụi, bám bụi phải giặt, giặt thì mau cũ lắm. Không đội đâu.
– Linh tinh quá, quà tặng thì phải dùng chứ. Chẳng lẽ Lâm chê xấu.
– Không! Không phải! Không xấu chút nào, rất đẹp. Nhưng…
Lâm cúi mặt, nghĩ ngợi về cảnh hôm qua đứng trước gương, cậu cảm thấy lòng nặng trĩu.
– Nhưng sao?
– Nhưng… nó đẹp và nó không hợp với Lâm.
– Tại sao không chứ? Lam tặng Lâm vì Lam thấy nó hợp với Lâm, dù tất cả nói không đẹp thì chỉ cần Lam thấy đẹp là được rồi. Giống như Lâm thấy Lam khỏe thì Lâm cũng khỏe ý mà.
– Thật không? Đẹp thật không?
– Thật mà, tin Lam đi.
Lam nháy mắt rồi cười dịu dàng làm Lâm đứng im vài giây. Cậu đang cảm thấy trái tim yếu ớt của mình trở nên mạnh mẽ, đập liên hồi và còn muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, mặt cậu nóng ran. Trời hôm nay không nắng gắt, có gió. Một cơn gió thoảng qua làm mái tóc của Lam khẽ bay bay, Lâm lảo đảo đứng không vững, tim cậu đập nhanh đến mức muốn ngất xỉu. Cậu mờ ảo nhận ra thứ cảm xúc mãnh liệt đang trào dâng trong trái tim mình. Đưa tay lên lau mồ hôi, cậu chợt tỉnh… “Thì ra là tay giả, chân giả nữa này, cả trái tim này cũng không hoàn toàn là thật. Vậy thì mày đang làm gì thế hả Lâm?” – Một ý nghĩ thoáng qua, Lâm quay đi, mắt ướt át.
– Sao thế Lâm?
– Bụi bay vào mắt thôi, không sao đâu Lam. Lâm mệt quá, về trước nha. Xin lỗi Lam.
Bước từng bước khó nhọc, Lâm muốn vứt bỏ tất cả đống đồ giả này, dù phải bò trên đường, dù đầu gói tóe máu cũng được. Nhưng cậu không đủ can đảm để làm điều đó, vì cậu phụ thuộc vào chúng đã lâu, vì đã quen với cảm giác có chúng.
***
– Anh đã từng thích ai chưa?
– Sao em hỏi vậy?
– Vì em muốn biết cảm giác thích một ai đó là như thế nào thôi.
– Em thích ai rồi hả? Em trai.
Hưng quay sang, đặt tay lên vai Lâm, đôi mắt tỏ vẻ dò xét.
– Không, chả là sáng nay em thấy có anh đó với chị đó…
Lâm tự bịa ra một câu chuyện để làm Hưng không đặt ánh mắt dò xét vào mình nữa. Cậu nói một cách trống rỗng, còn tâm trí lại đang bị nhốt vào một góc nào đó trong trái tim chật hẹp kia. Cậu nghĩ sẽ không đi đến đâu nếu cậu thích một người tuyệt vời như Lam, sẽ không làm cho Lam hạnh phúc khi ở bên một thằng “tật nguyền vô dụng” như cậu và cậu nghĩ rất nhiều, rất nhiều.
Những ngày sau đó, Lâm không ra phụ mẹ nữa. Cậu thu mình trong một góc phòng như hồi còn sống trong bệnh viện, lau chùi thật sạch tay, chân giả và cố gắng thôi không nghĩ ngợi về Lam nữa.
– Sao mấy ngày nay Lam không thấy Lâm ra phụ cô vậy Hưng?
– Nó kêu mệt, suốt ngày ngồi ở nhà, không biết đang nghĩ gì nữa.
– Thế à? Tí nữa tan học Lam cùng về với Hưng nha.
– Ấy, tan học Hưng còn ở lại ôn đề, tháng sau đi thi tỉnh rồi, cuối cấp mà vẫn phải ôn thi học sinh giỏi.
– Vậy Lam qua một mình nha.
Hưng im lặng, nghĩ ngợi điều gì đó rồi gật đầu nhẹ. Cậu không nói gì nữa, cúi đầu quay đi. Nắng gắt, Lam bước nhanh dưới tán lá bàng hai bên đường.
– Lâm ơi! Lâm ơi Lâm!
-Ai vậy?
-Lam nè, mở cừa cho Lam với.
– Lâm mệt lắm, Lam về đi, Lâm không muốn gặp người lạ.
Lam nghe xong, im lặng không gọi gì nữa. Cô bé cảm thấy lòng mình có gì đó hụt hẫng, như kẻ say bước hụt ngã nhào. Đứng thêm vài phút, cô lặng lẽ quay lưng ra về. Cũng vài phút sau, Lâm vùng dậy khỏi giường, vội vàng đi chân giả đi ra mở cửa phòng. Không có ai ngoài bóng của cậu dưới ánh nắng qua khe hở phía trên mái nhà, cậu ngồi xuống, mắt nhìn về phía xa xăm, hụt hẫng.
– Hưng giúp Lam đưa Lâm đến chỗ Lam với Hưng hay ngồi nói chuyện nhé.
– Tại sao?
Hưng dừng việc giải đề, ngước mắt lên nhìn Lam.
– Tại vì Lam có chuyện muốn nói với Lâm. Giúp Lam được không?
“Không được!” – Hưng đã nghĩ sẽ nói như vậy, nhưng cậu không đủ can đảm để thốt ra hai từ ấy, cậu sẽ làm Lam buồn, đó là điều mà Hưng chưa bao giờ làm. Cho nên…
– Ừm, Hưng sẽ cố gắng hết sức.
– Cảm ơn Hưng nhiều nha, đúng là bạn thân của Lam, tuyệt nhất quả đất.
Hai từ “bạn thân” lúc này đối với Hưng sao mà nghe chua chát đến thế. Nhưng dù sao vẫn tốt hơn là không có gì cả.
***
– Anh dẫn em ra đây làm gì?
– Lam có chuyện muốn nói với em, em đừng trẻ con như vậy nữa, hãy lắng nghe xem cô ấy muốn nói gì. Biết đâu… biết đâu là điều em mong muốn thì sao?
Lâm im lặng. Vài phút sau, Lam đến, Hưng đi, để lại khoảng không gian riêng cho hai người. Sự yên lặng bao chùm một góc công viên. Cuối cùng Lam phải lên tiếng trước.
– Lâm sao thế? Tại sao lại không muốn gặp Lam nữa?
– Tại vì… tại vì… Lâm thấy mình không xứng với Lam.
– Gì mà xứng với không xứng. Làm bạn cũng phải xem có xứng hay không mới chơi sao? Lâm đang nghĩ cái gì vậy? Trả lời Lam đi.
– Vì Lâm thích Lam!
Nói rồi Lâm cố gắng chống tay đứng dậy, bước thật nhanh với đôi chân giả, bỏ lại phía sau một người tròn xoe mắt, nước mắt lưng tròng.
– Lâm! Đứng lại!
Lam chạy theo, đặt bàn tay nhỏ bé lên vai Lâm.
– Lâm đừng quay lại. Giờ thì Lam đã hiểu vì sao mỗi lần nhìn Lâm cười, Lam lại rơi nước mắt rồi.
– Vì sao?
– Vì… khi nhìn Lâm cười, Lam mới nhận ra giá trị của cuộc sống. Lâm cười là lúc Lâm hạnh phúc và Lam cũng thấy hạnh phúc, hạnh phúc đến rơi nước mắt.
Trời chiều đổ bóng hai con người đứng ôm nhau trong niềm hạnh phúc. Chẳng ai biết được ngày mai rồi sẽ thế nào. Dù bạn là ai, là người có số phận như thế nào thì chỉ cần sống trọn vẹn với mỗi ngày có nghĩa là ngày mai cũng là ngày hạnh phúc trong đời bạn.
Từ sau gốc cây tùng, tôi nhận ra em trai mình và người con gái tôi yêu thầm đang hạnh phúc trong cái ôm ấm áp. Trái tim tôi hơi nhói, nhưng lòng tôi thanh thản. Vì ít nhất em trai tôi cũng tìm được ý nghĩa của cuộc sống, tìm được một chỗ dựa thật sự chứ không phải với mấy thứ đồ giả như nó nghĩ nó sẽ dựa vào chúng suốt đời. Tôi nhận ra, tình yêu thương chân thành là điều duy nhất có thể hàn gắn tâm hồn con người.
(Theo Greenstar (MASK) – Internet)
Tạm biệt anh, người tình đã cũ!
Người đã cũ nghĩa là người không còn vương đến hiện tại, tương lai. Hãy cất gọn vào tim nhân một ngày trời không nổi bão.
Nhớ về một người đã cũ và một chuyện tình đã xa mà lòng nhâm nhẩm đắng, tim nhâm nhẩm đau thì phiền lòng lắm nhỉ?Thế thì tiễn biệt nhau thôi, vướng bận lòng nhau làm gì thêm nữa?
Người đã cũ nghĩa là người không còn vương đến hiện tại, tương lai. Hãy cất gọn vào tim nhân một ngày trời không nổi bão. Yêu thương nhuốm màu kỷ niệm, tôn trọng quá khứ trong nhau là cách để tôn trọng tim mình. Đừng khơi nhớ gợn thương làm gì nữa nhé những trái tim tội nghiệp. Dứt khoát một lần để cơn đau này tắt ngấm, được không?
Tình đã cũ nghĩa là chúng ta đã đi về hai hướng riêng biệt. Người thành người dưng, thành người xa lạ. Hãy để người đi không một chút muộn phiền, quay đầu về phía nhau chỉ khiến mắt thêm cay và lòng thêm đắng. Chúng ta đã dũng cảm chia tay nhau, thì hãy chia tay cả những buồn vui trước đó, được không?
Thôi thì người cứ đi và ta vẫn dại khờ cứ ở. Nhưng là ở lại sâu một góc khuất của tim mềm, rồi nương náu vào một vài ngày cong mình thương nhớ. Đuổi nỗi nhớ đi rồi ta cũng cất bước ra đi. Có như thế bước mới nhẹ và tim mới đỏ đầy, với tìm một thương yêu khác tròn vẹn hơn.
Thôi thì chào nhau một lần như một nụ cười không vướng bận. Sẽ chẳng còn nước mắt để khóc cho tình đau, chẳng còn nụ cười hờ hững trách vội ai quên lời đã hứa. Tình chết yểu là do tình không muốn lớn, có tim ai nào muốn thế, chỉ là lẽ tự nhiên thôi.
Cứ đi về phía trước như thể ngày mai luôn hửng nắng và tim đã gọn gàng bởi những vết xước đã lành da. Gắng gượng lên để thấy rồi nỗi đau nào cũng sẽ trôi xa. Không ngày này thì một ngày nào đó khác. Chỉ là một lần tiễn biệt nhau, thay cho câu cảm ơn hay lời chào. Nhắc nhớ rằng, chúng ta đã từng thuộc về nhau, trong tim nhau, ít nhất một lần của những ngày đã cũ…
webcamdong.com- Sưu tầm
Nhận xét
Đăng nhận xét